1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT về LUẬT sư từ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH

102 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 85,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “ về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” ; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chín

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGÔ BÁ DIỆU LINH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ

-TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGÔ BÁ DIỆU LINH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ

-TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN BÁ CHIẾN

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Thừa thiên Huế, ngày tháng năm 2018

Học viên

Ngô Bá Diệu Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Việc viết nên Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu

ở nhà trường, với sự giảng dạy, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của thầy, cô Học viện Hành chính quốc gia, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác và sự cố gắng nỗ lực của bản thân.

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bá Chiến đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ dạy cho tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu trong thời gian thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội và phân viện Miền Trung; cô giáo chủ nhiệm lớp LH3 - T2, bạn bè đồng môn và anh chị em cơ quan đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này.

Mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.

Trân trọng cảm ơn !

Học viên Ngô Bá Diệu Linh

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ 7

1.1 Luật sư và khái niệm về luật sư 7

1.2 Thực hiện pháp luật về luật sư 28

Tiểu kết Chương 1 41

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 42

2.1 Một số nét về đặc điểm, tình hình tỉnh Quảng Bình tác động đến thực hiện pháp luật về luật sư 42

2.2 Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về luật sư trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 45

Tiểu kết Chương 2 67

Chương 3 GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH 68

3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật về luật sư và pháp luật chuyên ngành khác có liên quan 68

3.2 Phát triển tăng cường đội ngũ luật sư về số lượng và chất lượng.77 3.3 Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật 82

Tiểu kết Chương 3 89

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 6

Ủy ban nhân dân

Tổ chức thương mại Quốc tế

Xã hội chủ nghĩa nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Thực hiện pháp luật là một hoạt động xã hội mang tính pháp lý quan trọng, của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã quy định: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều bị xử lý theo pháp luật.

Thực hiện pháp luật là một phạm trù pháp lý với nội hàm đầy đủ gồm: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Thực hiện pháp luật về luật sư là hoạt động thực hiện các quy phạm pháp luật đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành trên lĩnh vực tổ chức và hoạt động luật sư.

Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước từ tháng 9 năm 1945 đến nay Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về lĩnh vực luật sư như: sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945; sắc lệnh số 64/SL ngày 18/6/1949; sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949; pháp lệnh luật sư năm 1987, pháp lệnh luật sư năm 2001; Luật luật sư năm

2006 và luật sửa đổi bổ sung Luật luật sư năm 2012 Ngoài ra, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 cũng quy định : “Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo, tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý ” (điều 133 Hiến pháp năm 1980) Các đạo luật khác như bộ luật

HS, bộ luật TTHS, bộ luật TTDS, luật TTHC cũng quy định sự tham gia của luật sư, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của luật sư trong các giai đoạn tiến hành tố tụng giải quyết các loại vụ án Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành nhiều nghị định, thông tư để

Trang 8

luật sư Đặc biệt nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “ về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” ; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “ về chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 ” đã đề ra các chủ trương, định hướng quan trọng đối với sự phát triển luật sư và hoạt động luật sư, xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ trong hoạt động hành nghề, phát huy tốt vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

Ngày 30/3/2009 Ban bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư Đây là chỉ thị đầu tiên của Đảng về tổ chức và hoạt động luật sư, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với sự phát triển của

tổ chức, hoạt động luật sư và là định hướng cho hoạt động thực hiện pháp luật về luật sư trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Có thể nói chưa bao giờ ở nước ta có hẳn một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực luật sư và hoạt động luật sư như hiện nay Thể chế về luật sư và hoạt động luật sư đã được hoàn thiện một bước, quá trình thực hiện pháp luật về luật sư thời gian qua nhất

là từ khi Luật luật sư được ban hành (cuối năm 2006) trở lại đây đã đạt được nhiều kết quả tiến bộ Đội ngũ luật sư đã phát triển nhanh về số lượng, chất lượng được nâng cao Tổ chức hành nghề luật sư đã được thành lập nhiều, quản trị điều hành bước đầu có tiến bộ Hoạt động luật sư đã thực sự khởi sắc, số lượng vụ việc và chất lượng cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư khi tham gia vụ việc ngày càng tăng nhanh đóng góp tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc

tế, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần vào việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, thực thi pháp quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức nói chung và hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động tố tụng nói riêng Vị thế của luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trong sự nghiệp bảo vệ công lý được nâng cao.

Trang 9

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật về luật sư vẫn còn nhiều tồn tại yếu kém Số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp, chất lượng tham gia tố tụng của luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp, số lượng luật sư chuyên sâu về các lĩnh vực, đầu

tư, kinh doanh, thương mại còn rất ít, hoạt động của luật sư, tổ chức hành nghề luật

sư chưa mang tính chuyên nghiệp Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về luật

sư còn bị coi nhẹ, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hoạt động luật sư với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn hạn chế do chưa phân định rõ và hợp lý giữa hoạt động quản lý nhà nước với trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư Pháp luật về tổ chức hoạt động luật sư mặc dù

đã từng bước hoàn thiện song vẫn còn tồn tại, bất cập; pháp luật về tố tụng đã mở rộng đáng kể quyền của luật sư khi tham gia tố tụng nhưng chưa có sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của Luật luật sư dẫn đến nhiều vướng mắc, cản trở hoạt động luật sư và hoạt động của các tổ chức cá nhân có liên quan

Từ thực tiễn trên, để việc thực hiện pháp luật về luật sư có hiệu quả vấn đề cấp thiết là cần nghiên cứu, đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém và bất cập của pháp luật, tạo hành lang pháp lý

và điều kiện thuận lợi cho luật sư và hoạt động luật sư phát triển.

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “ Thực hiện pháp luật về luật

sư - từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình ” (mã số 60 38 01 02 chuyên ngành luật Hiến pháp và luật hành chính) làm luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị góp một phần nhỏ vào sự phát triển luật sư và hoạt động luật sư trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn:

Do vai trò quan trọng của luật sư và hoạt động luật sư đối với sự phát triển của xã hội, xu thế phát triển nhanh của nghề luật sư trong những năm gần đây nên đã có nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu về vấn đề này với nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau Có thể dẫn ra một số đề tài đã được nghiên cứu như :

- Đê tài “ Bàn về khái niệm và đặc điểm nghề luật sư ” do luật sư Phan Trung

Trang 10

Hoài ĐLS TP Hồ Chí Minh Thực Hiện (2008).

- Đê tài “ Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật

về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam

” do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp thực hiện (2005).

- Đê tài “ Vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay ” chủ nhiệm đè tài Thạc sĩ Nguyễn Sỹ Giao, Viện khoa học

thanh tra (2011).

- Chuyên đề “ Pháp luật về luật sư nước ngoài và tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, thực trạng và kiến nghị ” do Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện (2014).

- Đê tài “ Giải pháp đào tạo luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc

tế ” do học viện tư pháp thực hiện (2011).

Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí như:

- Bài viết: “ Vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính ” của luật

sư nguyễn Thành Vĩnh, thongtinphapluatdansu.edu.vn (2009)

- Bài viết: “ Chiến lược phát triển nghề luật sư còn thiếu sót ” của luật sư Ngô Ngọc Trai, moj.gov.vn (2011)

- Bài viết: “ Xóa bỏ rào cản với nghề luật sư ” của Vạn Bảo, plo.vn (2012) Mặc dù các đề tài, chuyên đề và bài viết nêu trên mới chỉ đề cập đến khía

cạnh về hành nghề luật sư ở Việt Nam chưa có đề tài nào nghiên cứu đề cập đến vấn đề “ Thực hiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam ”, tuy vậy đây

là những tài liệu nghiên cứu cần thiết được tôi lựa chọn tham khảo khi

thực hiện đề tài luận văn của mình.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích:

Để trả lời câu hỏi: Việc thực hiện công trình nghiên cứu để làm cái gì ?; tôi

xác định mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ các hình thức thực hiện pháp

luật về luật sư, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về luật sư Trên cơ sở kết

quả nghiên cứu của luận văn sẽ chỉ ra những yếu kém, bất cập đồng thời đề xuất

Trang 11

một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về luật sư trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Nhiệm vụ:

Để thực đạt được mục đích luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Khái quát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về luật sư, hoạt động luật sư và thực hiện pháp luật về luật sư.

- Đánh giá thực trạng hoạt động luật sư và thực hiện pháp luật về luật sư từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình, chỉ ra những tồn tại, yếu kém và những bất cập thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật về luật sư

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về luật sư.

- Đề xuất, kiến nghị khắc phục tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện pháp luật về luật sư và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về luật sư.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của

luận văn Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu khoa học của Luận văn là tình hình thực hiện pháp luật về luật sư trong giải quyết các hoạt động tố tụng theo

Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian : Trong phạm vi thực tiễn của tỉnh Quảng Bình.

- Về thời gian : Chủ yếu từ sau khi Luật luật sư được ban hành (năm 2006)

cho đến nay ( năm 2017)

Về số liệu khảo sát việc thực hiện pháp luật về lu ật sư, luận văn phân tích các số liệu giai đoạn từ năm 2013 - 2017 tại Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để giải quyết các yêu cầu đề tài đặt ra trong qua trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp luận:

- Phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch

Trang 12

Phương pháp nghiên cứu:

- So sánh, phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp và dựa trên quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển luật sư và hoạt động luật sư trong quá trình cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế làm cơ sở lý luận, để nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về luật sư tại tỉnh Quảng Bình.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện pháp luật

về luật sư, hoàn thiện thể chế về luật sư ở nước ta, nâng cao vị thế của luật sư và hoạt động luật sư trong sự nghiệp bảo vệ công lý, xây dựng xã hội dân chủ, công

bằng, văn minh.

- Luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo và những người làm thực tiễn.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về luật sư

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về luật sư trên địa bàn tỉnh Quảng

Bình

Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về luật sư từ

thực tiễn tỉnh Quảng Bình

6

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ

1.1 Luật sư và pháp luật về luật sư

1.1.1 Khái niệm luật sư

Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư Phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là nhân tố quyết định trong hoạt động hành nghề luật sư Người muốn hành nghề luật sư phải được công nhận là luật

sư, đó là quy định chung mà pháp luật về luật sư của các nước trên thế giới đều quy định Tuy vậy qua nghiên cứu pháp luật về luật sư của nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Nhật bản, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc không thấy đưa ra

khái niệm luật sư mà chỉ quy định tiêu chuẩn để trở thành luật sư Tiêu chuẩn phổ biến để trở thành luật sư là: công dân ở nước sở tại, có bằng cử nhân luật, có phẩm chất đạo đức tốt Ngoài các tiêu chuẩn trên người muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần thi đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư (tùy vào quy định pháp luật của từng nước) thẩm quyền công nhận luật sư có thể do Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư, xin dẫn ra quy định tại

một số nước như:

Ở Hoa Kỳ muốn trở thành luật sư chỉ cần qua một kỳ thi Quốc gia mà không phải qua đào tạo nghề và tập sự hành nghề luật sư Tòa án Bang là

cơ quan có thẩm quyền công nhận luật sư và cho phép hành nghề luật sư [58]

Ở Nhật bản người muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề (không phải qua tập sự hành nghề) và phải đăng ký vào danh sách luật sư của Liên Đoàn luật sư Nhật Bản tại một Đoàn luật sư địa phương [58]

Ở Anh người muốn công nhận luật sư phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề (đào tạo hành nghề và đào tạo kỹ năng hành nghề) Hiệp hội luật sư cấp giấy công nhận luật sư [58]

Trang 14

Ở Pháp người muốn hành nghề luật sư phải qua một khóa đào tạo nghề và phải tập sự hành nghề luật sư sau đó đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư là trở thành luật sư Trước khi trở thành luật sư phải tuyên thệ trước một Tòa án [58]

Ở Trung Quốc người muốn được công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư phải thi đỗ kỳ thi Quốc gia, Bộ Tư pháp là cơ quan nhà nước thực hiện công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư cho người thi đỗ Chứng chỉ hành nghề luật sư được cấp cho người đã được công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư; đã qua tập sự hành nghề một năm, có phẩm chất đạo đức tốt, chứng chỉ hành nghề luật sư do Sở Tư pháp cấp tỉnh trực thuộc trung ương cấp [58]

Từ các quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới khái niệm luật sư được hiểu là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận là luật sư.

Ở Việt Nam chế định luật sư và hành nghề luật sư đã hình thành từ thời Pháp thuộc Tư sau năm 1945 chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa

đã ban hành một số văn bản pháp luật về luật sư, tạo hành lang pháp lý cho các luật sư hoạt động hành nghề Tuy nhiên không có văn bản pháp luật nào quy định làm rõ khái niệm luật sư và hành nghề luật sư.

Năm 1987 (18/12/1987) nhà nước ta ban hành pháp lệnh tổ chức luật sư đầu tiên, đưa chế định luật sư ở nước ta đến gần với thông lệ quốc tế, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của đội ngũ luật sư chuyên nghiệp trong nước Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 không đưa ra định nghĩa, khái niệm về luật sư mà chỉ quy định muốn làm luật sư thì phải đủ điều kiện và gia nhập Đoàn luật sư Việc gia nhập Đoàn luật sư phải được hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua theo đề nghị của ban chủ nhiệm Người mới gia nhập Đoàn luật sư phải qua thời gian tập

sự sáu tháng đến hai năm và một kỳ kiểm tra do Đoàn luật sư tổ chức mới được công nhận là luật sư (điều 12 pháp lệnh luật sư năm 1987) Người được công nhận luật sư được cấp thẻ luật sư, thẻ luật sư do ban chủ nhiệm cấp cho các luật

sư (điểm 4 mục II thông tư 313- TT/LS ngày 15 tháng 4 năm 1989 của Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành quy chế đoàn luật sư).

Trang 15

Như vậy theo quy định của pháp lệnh tổ chức luật sư thì một người muốn được công nhận là luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư Thẩm quyền công nhận luật sư hay chấp nhận gia nhập Đoàn luật sư thuộc hội nghị toàn thể đoàn luật sư, thẻ luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật

sư, được sử dụng khi hành nghề và sinh hoạt của Đoàn luật sư.

Năm 2001 nhà nước ban hành pháp lệnh luật sư thay thế pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, lần đầu tiên khái niệm luật sư được đặt ra Điều 1 pháp lệnh luật sư năm 2001 quy định: “Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư” Điều 7 Pháp lệnh Luật sư quy định: “Người muốn được hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư và có Chứng chỉ hành nghề luật sư” mà không quy định về tiêu chuẩn luật sư thủ tục và thẩm quyền công nhận luật sư Người được gia nhập Đoàn luật sư

để trở thành luật sư phải qua tập sự và kỳ kiểm tra hết tập sự và nếu đạt yêu cầu thì được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật

sư (điều 13 pháp lệnh luật sư) Khoản 4 điều 13 pháp lệnh luật sư năm 2001 quy định:

“Người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được hành nghề với đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của luật sư” trong đó có quyền hành nghề luật sư.

Theo quy định tại điều 29 Nghị định 94/2001/NĐ- CP ngày 12/12/2001 của chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật sư thì thành viên của các Đoàn luật sư là các luật sư và được Ban chủ nhiệm cấp thẻ Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành viên Đoàn luật sư của người được cấp thẻ Như vậy chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ tư pháp cấp là giấy tờ xác nhận tư cách luật sư, là giấy chứng nhận của Nhà nước về quyền hành nghề luật sư của người được cấp chứng chỉ.

Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 thì luật sư là người

có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành ngề luật sư.

Chứng chỉ hành nghề luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư và luật

sư sử dụng khi hành nghề; Thành viên Đoàn luật sư là các luật sư được Ban chủ

nhiệm cấp thẻ luật sư, thẻ luật sư được sứ dụng trong sinh hoạt ĐLS.

Trang 16

Năm 2006 Luật luật sư được Nhà nước ban hành (thay thế các pháp lệnh và sắc lệnh về luật sư đã ban hành trước đây) khái niệm luật sư được quy định tại điều 2 như sau: “luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ Pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Để làm rõ tiêu chuẩn quy định tại điều 2, điều 10 Luật luật sư quy định tiêu chuẩn luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”.

Về khái niệm luật sư quy định tại Luật luật sư năm 2006 hiện tại đang có nhiều cách hiểu khác nhau, tập trung vào 3 nhóm quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng theo quy định tại điều 2 Luật luật sư thì có thể hiểu luật sư là người có chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng; lý giải của quan điểm này thì một người cho dù đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư thì vẫn không được gọi là luật sư, chỉ được gọi luật sư khi một người có chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ Pháp lý cho khách hàng Thực tế hiện nay có nhiều người có chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật

sư nhưng họ không hành nghề trong văn phòng luật sư hay công ty luật, hoặc không hành nghề với tư cách cá nhân thì không thể nói rằng họ không phải là luật sư; với nội dung quy định tại điều 2 Luật luật sư thì đây là quy định “ hành nghề luật sư ” hay “ hoạt động luật sư ” chứ chưa hoàn toàn quy định về luật sư.

Quan điểm thứ 2 cho rằng khái niệm luật sư và điều kiện hành nghề luật sư có nội dung trùng nhau và đề nghị quy định khái niệm luật sư theo hướng luật sư là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Pháp luật và được cơ quan Nhà nước cấp

chứng chỉ hành nghề; khi luật sư đủ tiêu chuẩn theo luật quy định, được cơ quan Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề luật sư thì có quyền hành nghề và đăng ký hoạt động

mà không nhất thiết phải gia nhập một Đoàn luật sư Theo quan điểm này thì

Trang 17

luật sư là người đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điều 10 Luật luật sư và được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.

Quan điểm thứ 3 cho rằng luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, có nghĩa là được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư

và thẻ luật sư thì mới được gọi là luật sư và như vậy giấy tờ xác nhận một người là luật sư là thẻ luật sư Bởi vì phải có chứng chỉ hành nghề luật sư thì mới được gia nhập Đoàn luật sư và mới được cấp thẻ luật sư.

Hiện nay ở nước ta có tình trạng số người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư nhiều hơn số người được cấp thẻ luật sư bởi vì đã có nhiều người đã được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư nhưng không gia nhập Đoàn luật sư vì nhiều lý do khác nhau Những người này tuy có đủ tiêu chuẩn luật sư,

đủ khả năng hành nghề luật sư nhưng lại chưa được mang danh luật sư và chưa được công nhận là luật sư vì chưa gia nhập Đoàn luật sư.

Theo tôi người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư đương nhiên họ được phép hành nghề luật sư Tuy nhiên theo nhiều quy định của Luật luật sư thì chứng chỉ hành nghề luật sư mới chỉ là một trong số những điều kiện để được phép hành nghề luật sư Khi đã có chứng chỉ hành nghề luật sư còn phải gia nhập Đoàn luật sư và được Liên đoàn luật sư Việt Nam cấp thẻ luật sư thì mới được

phép hành nghề luật sư.

Tham khảo pháp luật về luật sư của nhiều nước trên thế giới, hầu như không có nước nào quy định muốn hành nghề luật sư phải qua hai giai đoạn là được công nhận là luật sư và được cấp phép hành nghề luật sư.

Qua phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau:

Luật sư là công dân Việt Nam trung thành với Tổ Quốc, tuân thủ Hiến pháp

và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã qua đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm

hành nghề, được cơ quan nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, phải gia nhập Đoàn luật sư, được Liên đoàn luật sư cấp thẻ luật sư và thực hiện dịch vụ

Trang 18

1.1.2 Địa vị pháp lý của luật sư

Điều 3 Luật luật sư năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012 quy định chức năng xã hội của luật sư như sau: “ Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ” Điều này chứng tỏ luật sư có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng

và phát triển đất nước Để thực hiện tốt vai trò của mình đòi hỏi luật sư phải thực hiện có hiệu quả các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

1.1.2.1 Quyền của luật sư

Theo khoản 1 điều 21 Luật luật sư thì luật sư có các quyền sau đây:

- Được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề luật sư, theo quy định của Luật luật sư và quy định của pháp luật có liên quan Theo điểm

a khoản 1 điều 21 và khoản 2 điều 9 Luật luật sư thì luật sư được nhà nước bảo đảm quyền hành nghề trong phạm vi:

Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các

vụ án về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật; thực hiện tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc liên quan đến pháp luật, thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.

Luật luật sư, pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính có quy định bảo đảm quyền hành nghề của luật sư, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động của luật sư.

- Quyền đại diện cho khách hàng theo quy định của pháp luật

Trang 19

Đại diện theo ủy quyền là một chế định của pháp luật dân sự Theo đó, đại diện là một người nhân danh và vì lợi ích của người khác, xác lập, thực hiện một giao dịch, làm thay một công việc trong phạm vi đại diện Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đều có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc làm việc khác thay cho mình.

Quyền đại diện cho khách hàng của luật sư rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính Quyền này chỉ bị hạn chế trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật như: người vợ, người chồng trong vụ án yêu cầu ly hôn phải trực tiếp đến Tòa án để giải quyết không được ủy quyền cho luật sư hoặc người khác đại diện, luật sư nhận ủy quyền cho người vợ hoặc người chồng trong trường hợp này là không đúng pháp luật.

- Quyền hành nghề luật sư, lựa chọn hình thức hành nghề luật sư

và hình thức tổ chức hành nghề luật sư.

Theo quy định tại điều 2, điều 10 và điều 11 của Luật luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 thì luật sư có quyền hành nghề luật sư sau khi được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề, gia nhập đoàn luật sư và được Liên đoàn luật sư Việt Nam cấp thẻ luật sư Tuy vậy, để được hành nghề, luật sư phải làm thủ tục đăng ký hoạt động, quyết định hình thức hành nghề và hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo quy định tại điều 35 và điều 50 Luật luật sư.

Về hình thức hành nghề luật sư theo quy định tại điều 23 Luật luật sư thì luật

sư có quyền lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề sau đây: Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư (điều 32) hoặc hành nghề với tư cách cá nhân (điều 49).

Về hình thức tổ chức hành nghề luật sư, theo quy định tại mục 2 chương III

Luật luật sư thì luật sư có quyền lựa chọn thành lập văn phòng luật sư hoặc công ty luật, làm tổ chức hành nghề của mình Văn phòng luật sư được tổ chức hoạt động theo hình thức doanh nghiệp tư nhân (điều 33); Công ty luật được tổ chức hoạt động

theo hình thức công ty hợp doanh hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn (điều 34) Trong

Trang 20

thức tổ chức hành nghề bằng thủ tục đăng ký lại tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

- Quyền được hành nghề luật sư trên toàn lãnh thổ Việt Nam và hành nghề luật sư ở nước ngoài

Với tư cách pháp nhân là “ Doanh nghiệp ” “ công ty ” các văn phòng luật sư, công ty luật có thể hoạt động ở bất cứ nơi đâu trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của luật doanh nghiệp Mặt khác, theo quy định tại điều 41 Luật luật sư thì ngoài trụ sở chính, văn phòng luật sư, công ty luật được quyền mở chi nhánh ở bất kỳ địa phương nào trên lãnh thổ Việt nam Điều này thể hiện địa bàn hoạt động hành nghề luật sư không bị hạn chế, tùy theo khả năng, điều kiện của văn phòng luật sư, công ty luật.

Theo quy định tại điều 43, 44 Luật luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư ở trong nước có quyền đặt cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài, được cử luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài theo yêu cầu của khách hàng Tuy nhiên khi luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài phải tuân theo quy định của Luật luật sư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Ngoài các quyền cơ bản nêu trên, pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và

tố tụng hành chính còn quy định luật sư khi tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các vụ án hành chính

có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung, xem xét các biên bản về hoạt động tố tụng và các quyết định tố tụng có liên quan đến người mà mình bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, tham gia hỏi và tranh luận tại phiên tòa, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng (điều 58 bộ luật tố tụng hình

sự) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố

tụng dân sự, tố tụng hành chính; thu thập, cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án,

sao chụp tài liệu có tại hồ sơ vụ án Tham gia hòa giải, phiên tòa, yêu cầu thay đổi

người tiến hành tố tụng trong các vụ, việc dân sự và các vụ án hành chính; giúp

đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 21

họ, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng

cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình (khoản 6 điều 70, điều 76 bộ luật tố tụng dân sự; khoản 6 điều 55, điểu 61 luật tố tụng hành chính).

1.1.2.2 Nghĩa vụ của luật sư

Theo quy điịnh của khoản 2 điều 21 và khoản 1 điiều 9 Luật luật

sư thì luật sư có các nghĩa vụ sau đây:

- Tuân theo các nguyên tắc hành nghề luật sư.

Điều 5 Luật luật sư quy định năm nguyên tắc hành nghề đối với luật sư: + Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật: Trong nhà nước pháp quyền, mọi công dân đều phải thượng tôn pháp luật, đề cao pháp luật và tuân thủ pháp luật Đó là nghĩa vụ chung của mọi công dân, trong đó có giới luật sư Luật sư có nghĩa vụ

sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, nhưng không được gợi ý hay khuyên khách hàng vi phạm hay không tôn trọng pháp luật Là người am hiểu pháp luật hơn ai hết luật sư phải là tấm gương sáng về ý thức tôn trọng pháp luật và chấp hành pháp luật.

+ Tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư: Ngày

20 tháng 7 năm 2011 hội đồng luật sư toàn quốc đã ban hành bộ quy tắc gồm

27 quy tắc về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, trong đó các quy tắc về đạo đức rất được đề cao Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và tự chịu trách nhiệm cá nhân bởi uy tín, nghề nghiệp của mình với mục tiêu phụng sự công lý và tôn trọng pháp luật thì trước hết phải xuất phát từ một nền tảng đạo đức Nếu không xuất phát từ nền tảng này thì luật sư khó có thể

có ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật khi hành nghề.

Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư có giá trị như là các chuẩn mực về đạo đức và ứng xử của giới luật sư, là tiêu chí để luật sư tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lựa chọn cách ứng xử trong sinh hoạt và hoạt động hành nghề luật

sư, là thước đo phẩm chất, uy tính và kỹ năng hành nghề của luật sư.

+ Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan: Trong môi trường phải

hoạt động độc lập, quan hệ tiếp xúc với khách hàng và nhiều đối tác, đòi hỏi luật sư

Trang 22

phải trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không vì lợi ích vật chất hoặc bất kỳ áp lực nào khác để làm trái pháp luật, đạo đức nghề nghiệp Độc lập, trung thực đòi hỏi ở luật sư không chỉ đối với các đối tác trong quan hệ giao dịch, thực hiện tham gia tố tụng mà còn phải độc lập, trung thực với cả khách hàng của mình.

+ Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng: Đó là một trong những tiêu chí quan trọng để luật sư hướng tới khi thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng Luật sư phải tận tâm với công việc, phát huy mọi năng lực, kinh nghiệm,

sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của khách hàng theo quy định của pháp luật.

+ Luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động hành nghề luật sư của mình: Như mọi công dân khác trong xã hội, khi luật sư có hành vi làm trái các quy định của pháp luật, gây thiệt hại, ảnh hưởng xấu đến tổ chức, cơ quan, cá nhân và xã hội thì cũng phải chịu trách nhiệm về những việc làm sai trái

đó của mình và cũng phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy phiên tòa, không được cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ mà luật sư biết rõ là sai sự thật Không phát ngôn những điều biết rõ là sai sự thật trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc những nơi công cộng, nhằm gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Tham gia tố tụng trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu: Khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và được sự phân công của đoàn luật

sư, tổ chức hành nghề luật sư thì luật sư có nghĩa vụ tham gia kịp thời để đảm bảo cho việc xử lý vụ án hình sự được nhanh chóng, thuận lợi, đảm bảo quyền bào chữa theo quy định pháp luật của bị can, bị cáo.

- Thực hiện trợ giúp pháp lý: Trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách

nhân đạo của Đảng và nhà nước nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều được hưởng

quyền bình đẳng trước pháp luật, giúp người nghèo, người có công với cách mạng,

Trang 23

đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, người khuyết tật bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp, nâng cao hiểu biết pháp luật cho các đối tượng được trợ giúp, góp phần bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội.

Thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư đối với các đối tượng được trợ giúp đã được Luật luật sư quy định tại điều 31 Khi thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí, luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ, việc có thù lao.

Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý thông qua ba hình thức: Thực hiện trợ giúp pháp lý theo nghĩa vụ được quy định tại pháp luật luật sư; thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách làm cộng tác viên của trung tâm trợ giúp pháp lý; thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách là luật sư thành viên của tổ chức hành nghề luật sư tham gia trợ giúp pháp lý trong phạm vi đăng ký Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 do Chính phủ ban hành cũng yêu cầu, đề cao trách nhiệm và nghĩa vụ của luật sư trong công tác trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác.

- Tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ: Nghĩa vụ bồi dưỡng

về chuyên môn nghiệp vụ của luật sư là bắt buộc, được quy định trong Luật luật sư và thông tư số 10 năm 2014 của Bộ Tư pháp Xã hội đang không ngừng thay đổi và phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, pháp luật của nhà nước

có sự thay đổi để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh, các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được ban hành nhiều hơn, do vậy cập nhật kiến thức pháp luật mới, nghiên cứu, học tập để nâng cao kiến thức, kỹ năng hành nghề là yêu cầu tất yếu đối với luật sư Nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích cập nhật đầy đủ, kịp thời kiến thức pháp luật, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức luật sư đáp ứng được yêu cầu ngày

càng cao của công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế đối với đội ngũ luật sư.

- Luật sư không được thực hiện các hành vi quy định tại khoản 1 điều 9 Luật

luật sư: Đó là các hành vi, cung cấp dịch vụ pháp lý cho các khách hàng có lợi ích

Trang 24

đối lập nhau trong cùng vụ việc; cố ý cung cấp hoặc xúi dục khách hàng cung cấp tài liệu, chứng cứ giả, sai sự thật, khiếu nại tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật; tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng khi chưa được sự đồng ý của khách hàng; sách nhiễu, lừa dối khách hàng; lợi dụng việc hành nghề, danh nghĩa luật sư để thực hiện các mục đích xấu, xúc phạm cá nhân, tổ chức đây là các hành vi trái pháp luật, trái nguyên tắc hành nghề luật sư và trái với quy tắc đạo đức và ứng xử hành nghề luật sư, do vậy đòi hỏi luật sư cần phải tuyệt đối tuân thủ nghĩa vụ này.

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của luật sư

Quyền và nghĩa vụ của luật sư như đã trình bày phân tích ở phần trên được quy định đầy đủ trong pháp luật luật sư và các pháp luật có liên quan: Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính Quyền và nghĩa vụ của luật sư là hai khái niệm khác nhau nhưng là một thể thống nhất có ý nghĩa quan trọng, xác nhận địa vị pháp lý của luật sư Quyền và nghĩa vụ của luật sư có tác động qua lại bổ trợ cho nhau khi thực hiện Trong quyền của luật sư có hàm chứa các nghĩa vụ của luật sư, ngược lại trong nghĩa vụ của luật sư có quyền của luật sư, ví dụ: Luật sư có quyền sử dụng các biện pháp quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng, đây cũng chính là nghĩa

vụ của luật sư đối với khách hàng Thực hiện tốt quyền của luật sư cũng có nghĩa

đã thực hiện được một phần nghĩa vụ của luật sư và là điều kiện để thực hiện các nghĩa vụ của luật sư Thực hiện tốt các nghĩa vụ của luật sư là nhân tố đảm bảo cho luật sư thực hiện tốt các quyền của mình mà pháp luật đã quy định.

Chỉ khi nào luật sư thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình thì hiệu quả cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư cho khách hàng được tốt nhất, vai trò, năng lực, uy tính của luật sư được khẳng định và nâng cao trong xã hội, mục tiêu trách nhiệm xã hội của luật sư “ góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ” mới có điều kiện đạt được.

Trang 25

1.1.3 Đặc điểm (tính chất) hoạt động của luật sư

Hoạt động của luật sư là hoạt động pháp luật trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật

sư, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần bảo vệ pháp chế và xây dựng nhà nước pháp quyền Hoạt động của luật sư không giống hoạt động bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì hoạt động của luật sư còn phải tuân theo quy chế, đạo đức nghề nghiệp Điều này tạo nên nét đặc thù riêng của hoạt động luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến

kỹ năng hành nghề, đặc biệt là các kỹ năng tranh tụng của các luật sư.

Xét về tính chất, đặc điểm hoạt động của luật sư có thể rút ra ba đặc điểm (tính chất) cơ bản.

Nói đến trợ giúp pháp lý là nói đến sự giúp đỡ, bênh vực không vụ lợi của luật sư cho những người thuộc đối tượng trợ giúp và có nhu cầu trợ giúp Những người được trợ giúp thường là những người bị ức hiếp, bị đối xử bất công, trái pháp luật trong xã hội hay những người nghèo, người già cô đơn, người chưa thành niên mà không có sự cưu mang giúp đỡ của gia đình Do đó đặc điểm (tính chất) này thể hiện hoạt động của luật sư không chỉ là bổn phận, trách nhiệm xã hội mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.

Trang 26

1.1.3.2 Đặc điểm (tính chất) hướng dẫn

Tư vấn pháp luật là lĩnh vực hành nghề quan trọng của luật sư Đặc biệt trong điều kiện nhu cầu về tư vấn phấp luật trong xã hội ngày càng tăng như hiện nay Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, luật sư thực hiện việc hướng dẫn cho khách hàng hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật, gợi ý, đề xuất với khách hàng phương hướng xử lý vụ việc, giúp khách hàng tháo gỡ vướng mắc, giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật và đạo lý, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của khách hàng.

Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế, các luật sư đã mở rộng và phát triển tư vấn trong các lĩnh vực kinh doanh, đầu tư, thương mại Trong lĩnh vực dân sự thì tư vấn về đất đai, hôn nhân gia đình là mảng tư vấn sôi động nhất; về quan hệ thương mại, kinh doanh, hợp tác với nước ngoài các luật sư đã thực hiện tốt việc hướng dẫn pháp luật, giúp các khách hàng là chủ doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng giải quyết tranh chấp phát sinh mang lại

hiệu quả cho doanh nghiệp, nâng cao uy tính và vị thế luật sư.

Sự tham gia của luật sư vào quá trình tố tụng giải quyết các loại vụ án ngày càng tăng lên, không chỉ giúp khách hàng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

mà còn góp phần trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án giúp giải quyết xét

xử án được nhanh chóng, chính xác, hạn chế oan sai, để lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội Việc tham gia bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong các vụ án cũng như các vụ, việc không những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền lợi hợp pháp chính đáng của tổ

Trang 27

chức, cá nhân, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và nhà nước ta đang thực hiện.

Biểu hiện của đặc điểm (tính chất) phản biện trong hoạt động của luật sư là bằng năng lực, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp của mình, luật sư đưa ra những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến, quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc, vụ án nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai, từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ sai trái, bảo vệ công lý và quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của khách hàng Nghị quyết số

49 của Bộ chính trị đã xác định bản án của Tòa án phải dựa vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa điều đó cũng khẳng định tính chất quan trọng

phản biện của luật sư.

Từ đặc điểm, tính chất của hoạt động luật sư, chúng ta thấy rằng không

dễ dàng để thực hiện hoạt động luật sư Ở các nước phát triển nghề luật sư được coi trọng trong xã hội, người được phép hành nghề luật sư phải trải qua nhiều chương trình đào tạo và phải là người hội đủ nhiều phẩm chất như thông minh, trong sáng, trung thực, dũng cảm Luật sư phải biết lấy pháp luật, đạo đức xã hội, lẽ sống công bằng và chân lý khách quan làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp của mình thì mới được tinh tưởng và trân trọng.

1.1.4 Pháp luật về luật sư

Theo học thuyết Mac – LêNin về nhà nước và pháp luật thì pháp luật chỉ phát sinh và tồn tại trong xã hội có giai cấp.

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thực hiện kể cả bằng biện pháp cưỡng chế để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp

luật) thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, được

Trang 28

nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Pháp luật về luật sư là một bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật nhà nước, được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, có chứa đựng các quy phạm pháp luật về luật sư, Hiến pháp, các sắc lệnh của Chủ tịch nước, Luật luật sư, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, các pháp lệnh luật sư, các nghị định của chính phủ, thủ tướng chính phủ và các quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan

nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn thi hành các quy định của pháp luật về luật

sư.

Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm pháp luật về luật sư như sau: Pháp luật

về luật sư là tập hợp hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động luật

sư, xác định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội; quy định các quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư và chế

độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề luật sư.

1.1.5 Quá trình hình thành, phát triển pháp luật về luật sư ở nước ta

Năm 1884, sau khi thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt đã nhập quốc tịch Pháp Các luật

sư chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp Sau đó, với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư Tiến thêm một bước, nhà cầm quyền Pháp ký Sắc lệnh ngày 25/5/1930 về tổ chức Luật

sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật

sư không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả trước Toà án Việt Nam; không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp.

Khi cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, bộ máy tư

pháp nước ta cũng được tổ chức lại Hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam

Trang 29

Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu chính quyền mới đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh số 46/SL duy trì tổ chức luật sư cũ trong đó có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 khẳng định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân, cụ thể Điều 67 của Hiến Pháp quy định “ Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư ”.

Do hoàn cảnh lịch sử với cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ kế tiếp nhau, toàn dân ta đã phải tập trung sức người, sức của cho nhiệm vụ cứu nước Với điều kiện đó, tổ chức luật sư không thể duy trì Nhiều luật gia, luật sư đã ra mặt trận, lên chiến khu hoặc tham gia vào hoạt động tư pháp tại các vùng do chính quyền ta kiểm soát, nghề luật sư giai đoạn này gặp muôn vàn khó khăn Tuy thế, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền bào chữa trước Toà án của bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi trong Hiến pháp Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình.

Tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1959 (Điều 101) đã quy định "Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm"; tiếp đó Hiến pháp nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 ngoài việc khẳng định bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp

cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Để thực hiện quy định của Hiến pháp, trong giai đoạn triển khai xây dựng

văn bản pháp luật về tổ chức luật sư, đội ngũ bào chữa viên tiếp tục được củng

cố và phát triển, cụ thể ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số

691/QLTPK về công tác bào chữa, trong đó quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện

Trang 30

làm bào chữa viên, quy định ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một Đoàn bào chữa viên.

Sau ngày thống nhất đất nước, với yêu cầu khách quan, mang tính sống còn là phải đổi mới, xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp và mở rộng dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 đã mở đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới Đường lối đổi mới do Đại hội vạch ra đã tác động sâu rộng đến mọi mặt hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp Các đạo luật về tố tụng được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, trong đó có việc tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước Toà án và các cơ quan tố tụng khác.

Trong bối cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành ngày 18/12/1987.

Có thể nói, đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Pháp lệnh quy định rõ tiêu chuẩn được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư và

tổ chức các Đoàn luật sư ở các tỉnh, thanh phố trực thuộc Trung ương Chỉ sau gần

10 năm thi hành Pháp lệnh, ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Đoàn luật sư; đội ngũ luật sư trong cả nước đã đạt tới con số hàng ngàn luật sư Hoạt động luật sư cũng có bước phát triển đáng kể Ngoài việc tăng cường một bước về số lượng và chất lượng tham gia tố tụng của luật sư trong các vụ án hình sự, dân sự, các luật sư đã từng bước mở rộng hoạt động hành nghề sang lĩnh vực tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.

Khi bước sang nửa cuối thập niên 90, đất nước ta bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình đổi mới, trong đó nhu cầu đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ chế thị trường, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, hội nhập quốc tế ngày càng trở lên sâu sắc, ở mức độ cao hơn.

Để đáp ứng nhu cầu mới, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã được ban hành Nội

dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật

sư ở nước ta theo hướng chính quy hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề

Trang 31

luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam.

Hoạt động hành nghề của luật sư cũng được tăng lên đáng kể về phạm vi

và chất lượng Có thể nói, Pháp lệnh luật sư năm 2001 là văn bản mở đầu cho quá trình chuyên nghiệp hoá và hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam, đã tạo một bộ mặt mới với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư ở nước ta.

Cùng với bước phát triển và những yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hoá, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta đã có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ với những sự kiện quan trọng mang tính chất đột phá Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã tạo ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ quan trọng là phải chuyển đổi hệ thống pháp luật và các thiết chế cùng cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban thành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007.

Sau hơn năm năm thực hiện, Luật luật sư năm 2006 đã bộc lộ bất cập, một

số quy định của luật không còn phù hợp với đòi hỏi phát triển của hoạt động luật

sư và quá trình phát triển của đất nước Do vậy ngày 20/11/2012 Quốc hội đã thông qua luật số 20/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động luật sư nhằm nâng cao chất lượng luật sư, chất lượng hành nghề luật sư, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư hành nghề và bổ sung một số quy định nhằm phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trước những yêu cầu mới của cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, bảo đảm cho hoạt động luật sư tiếp tục phát triển ổn định và bền vững.

Hiến pháp năm 2013, Hiến pháp mới nhất của nước ta cũng tiếp tục quy

định: “ người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, có quyền

Trang 32

bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của đương sự được bảo đảm ” (khoản 7 điều 103) Để thi hành Luật luật sư, Chính phủ đã ban hành nghị định 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết, thông tư hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về luật sư, thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động luật sư phát triển.

Hệ thống pháp luật về luật sư đã được ban hành tuy còn một số quy định cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện nhưng đã đi vào đời sống, đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng một đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Có thể nói, Luật Luật sư là mốc son đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của pháp luật về luật sư ở Việt Nam,

và qua đó mở ra nhiều triển vọng mới mẽ cho nghề luật sư.

1.1.6 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về luật sư và hoạt động luật sư

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc

tế, việc khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nghề luật sư và tổ chức luật sư trong chỉnh thể thống nhất cùng các chủ thể tư pháp khác đã được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các chức danh tư pháp ngày càng cao, thông qua việc thực hiện chức năng xã hội của mình, đội ngũ luật

sư và hoạt động luật sư phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu qủa với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật.

Trong những năm qua, tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta đã nhận được

sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Nghị quyết số 08/NQ/TW ngày 02/01/2002 của

Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra các chủ trương, định hướng quan trọng đối với sự phát triển về số lượng, chất lượng luật sư, việc xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ trong hoạt động hành

Trang 33

nghề, phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư Đặc biệt ngày 30 tháng 3 năm 2009, Ban Bí Thư đã ban hành Chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư, đây

là Chỉ thị đầu tiên của Đảng về tổ chức và hoạt động luật sư Việc Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 33-CT/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với sự phát triển của tổ chức và hoạt động luật sư.

Thực hiện Chỉ thị này của Ban Bí thư, ngày 13 tháng 8 năm 2010 Ban

Bí thư Trung ương đã ban hành Quyết định 323- QĐ/TU về việc thành lập Đảng đoàn Liên đoàn luật sư Việt Nam và thành lập chi bộ đảng cơ quan Liên đoàn luật sư Việt Nam trực thuộc Đảng bộ Bộ Tư pháp.

Ở địa phương, việc triển khai thực hiện Chỉ thị cũng đã được các Tỉnh ủy, Thành ủy tích cực chủ động và quan tâm triển khai thực hiện có hiệu quả Nhiều Tỉnh ủy, Thành ủy đã ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị, quán triệt nội dung của Chỉ thị số 33-CT/TW tới các cơ quan, đơn vị, tổ chức và đội ngũ đảng viên tại địa phương nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của các cấp ủy, chính quyền địa phương về vị trí, vai trò của luật sư trong đời sống xã hội, nâng cao nhận thức của đông đảo đội ngũ luật sư về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với

tổ chức và hoạt động của mình Đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, Ban chủ nhiệm các Đoàn luật sư, tạo nền tảng cho sự phát triển tổ chức và hoạt động luật sư tại địa phương.

Để thực hiện mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất

là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ” “ Đào tạo phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ, trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề

Trang 34

cao trách nhiệm của tổ chức luật sư đối với thành viên của mình ” mà nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị đã đề ra.

Thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW nêu trên, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn luật sư để góp phần giải quyết các thách thức đối với công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 14/5/2008 Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định

số 544/QĐ- TTg về việc phê duyệt đề án đào tạo chuyên gia pháp luật, luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế “ nhằm có được một số chuyên gia pháp luật, luật sư am hiểu pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, giỏi kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có khả năng được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư của nước đang được đào tạo ” từng bước hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia pháp luật, luật sư tiêu chuẩn quốc tế.

Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đào tạo, bồi dưỡng để hình thành và phát triển được đội ngũ luật sư am hiểu luật pháp quốc tế, giỏi ngoại ngữ, có đủ khả năng tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế Đồng thời xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

Với những nghị quyết, quan điểm chỉ đạo của Đảng về định hướng, mục tiêu phát triển đội ngũ luật sư, hoạt động luật sư đến năm 2020, các quyết định của thủ tướng chính phủ phê duyệt các đề án về đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hoạt động luật sư ở nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để

phát triển hướng tới chuyên nghiệp và hội nhập.

1.2 Thực hiện pháp luật về luật sư

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về luật sư

Khi xây dựng những quy phạm pháp luật, nhà nươc nhằm mục đích điều chỉnh

các quan hệ xã hội đáp ứng lợi ích của nhân dân và xã hội Mục đích đó chỉ có thể đạt

được khi pháp luật được các chủ thể nghiêm chỉnh thực hiện trong đời sống xã hội.

Pháp luật với tầm quan trọng của nó không chỉ dừng lại bằng các đạo

Trang 35

luật, vì đó chỉ là pháp luật ở trạng thái “tĩnh”, vấn đề quan trọng là pháp luật phải trở thành chế độ pháp chế, được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân, trở thành phương thức quản lý xã hội.

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật Thực hiện pháp luật là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức,

cơ quan và công dân (kể cả tổ chức, công dân nước ngoài đang sinh sống và làm việc trên đất nước Việt Nam) Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và có trách nhiệm thực hiện đúng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các

cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa

và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật (điều 12 Hiến pháp năm 1992).

Hiện nay đang có nhiều cách định nghĩa về thực hiện pháp luật Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thì thực hiện pháp luật được hiêủ là: “ quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tiễn của các chủ thể pháp luật ”.

Theo giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật của trường Đại học tổng hợp Hà Nội “ thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của

Trang 36

Thấy rằng, các định nghĩa nêu trên đều có quan niệm tương đối đồng nhất

về nội dung cơ bản, đó là: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Tuy vậy, cũng có sự khác nhau trong các định nghĩa nêu trên, có định nghĩa nêu thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động,

có định nghĩa khác lại chỉ nêu thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình.

Theo tôi, hiện tượng, quá trình hay quá trình hoạt động đều là những phạm trù có nội hàm riêng của nó nhưng có cùng mục đích là thực hiện những quy định của pháp luật, làm cho những quy định ấy trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đáp ứng yêu cầu của pháp luật Tuy nhiên, hoạt động thực hiện pháp luật không chỉ là những hành

vi đơn lẻ, độc lập, cắt khúc mà nó luôn luôn là một quá trình Vì vậy, về khái niệm thực hiện pháp luật tôi đồng ý với các nội dung cơ bản trong các định nghĩa nêu trên và sắp xếp lại như sau: thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật.

Thực hiện pháp luật về luật sư là thực hiện pháp luật trong lĩnh vực luật sư và hoạt động hành nghề luật sư, cho nên khái niệm thực hiện pháp luật về luật sư cũng

có đầy đủ các nội dung của khái niệm thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời phải nêu được nội dung thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, hoạt động hành nghề luật sư, phạm vi quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, tính tự quản trong tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và xử lý vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp luật sư Trên cơ sở đó có thể nêu khái niệm thực hiện pháp luật về luật sư như sau: Thực hiện pháp luật về luật sư là quá trình thực hiện các quy phạm pháp luật về luật sư, hành nghề luật sư làm cho nó trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật, phát huy vị trí vai trò của luật sư, hoạt động hành nghề luật sư trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp

Trang 37

pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân 1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về luật sư

- Căn cứ vào tính chất, hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý

đã chia ra các hình thức thực hiện pháp luật như sau: Tuân thủ pháp luật; chấp hành pháp luật; sử dụng pháp luật; áp dụng pháp luật Việc phân chia thực hiện pháp luật thành các hình thức nêu trên có tính chất tương đối vì trong hình thức này chứa đựng cả những yếu tố của hình thức khác.

Tuân thủ pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức kiềm chế không thực hiện các hoạt động mà pháp luật ngăn cấm (hành vi không hành động).

Chấp hành pháp luật là việc thực hiện pháp luật, trong đó các cá nhân,

cơ quan, tổ chức thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình đối với các quy định pháp luật bắt buộc một cách chủ động, tích cực (hành vi hành động).

Sử dụng pháp luật là việc thực hiện pháp luật trong đó các cá nhân, cơ quan,

tổ chức thực hiện quyền chủ thể của mình hoặc không thực hiện quyền chủ thể của mình mà pháp luật cho phép thực hiện (hành vi hành động hoặc không hành động).

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật luôn gắn với công quyền, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể thực hiện quy định của pháp luật.

- Trên cơ sở các hình thức thực hiện pháp luật chung, thực hiện pháp luật về luật sư cũng được thể hiện qua bốn hình thức: Tuân thủ pháp luật về luật sư; chấp hành pháp luật về luật sư; sử dụng pháp luật về luật sư; áp dụng pháp luật về luật sư Theo đó có thể xác định các hình thức thực hiện pháp luật về luật sư như sau:

Tuân thủ pháp luật về luật sư là hình thức thực hiện pháp luật về luật sư trong

đó yêu cầu các chủ thể thực hiện pháp luật như luật sư, các tổ chức hành nghề luật

sư, các cơ quan tiến hành tố tụng không được thực hiện các quy định mà pháp luật về luật sư ngăn cấm như: Quy định nghiêm cấm luật sư tiết lộ thông tin về vụ,

Trang 38

người tiến hành tố tụng, cán bộ công chức viên chức khác để làm trái quy định của pháp luậttrong việc giải quyết vụ, việc; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hành nghề luật sư (khoản 1, 2 điều 9 Luật Luật sư).

Chấp hành pháp luật về luật sư là hình thức thực hiện pháp luật về luật sư có tính bắt buộc trong đó yêu cầu các chủ thể pháp luật thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định mà pháp luật luật sư yêu cầu, thực hiện bằng hành vi thực tế, cụ thể, hành động hoặc không hành động của chủ thể pháp luật như quy định: Người có bằng cử nhân luật muốn làm luật sư thì phải qua khóa đào tạo nghề luật sư; luật sư có yêu cầu cấp giấy chứng nhận người tham gia tố tụng thì phải xuất trình tại cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền đầy đủ ba loại giấy tờ sau đây: Thẻ luật sư, giấy yêu cầu luật sư của khách hàng và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật

sư hoạt động; cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền kiểm tra đầy đủ giấy tờ thì phải cấp giấy chứng nhận người tham gia tố tụng cho luật sư trong thời hạn không quá ba ngày (quy định tại điều 12, điều 27 Luật Luật sư)

Sử dụng pháp luật về luật sư là hình thức thực hiện pháp luật về luật

sư, trong đó chủ thể pháp luật có quyền lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện các quy phạm pháp luật tùy nghi mà pháp luật về luật sư quy định như điều 39 Luật Luật sư quy định tổ chức hành nghề luật sư có quyền thành lập chi nhánh văn phòng giao dịch trong nước, có quyền đặt các cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài, nhửng tổ chức hành nghề luật sư không đặt chi nhánh trong nước, không đặt cơ sở của mình ở nước ngoài cũng không vi phạm pháp luật mà đó là hành vi sử dụng pháp luật đúng; pháp luật tố tụng hình sự quy định luật sư có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu (điểm đ khoản 2 điều 58 bộ luật tố tụng hình sự); luật sư không sử dụng các quyền này khi tham gia tố tụng là lựa chọn hợp pháp, sử dụng đúng pháp luật

Áp dụng pháp luật về luật sư là hình thức thực hiện pháp luật về luật sư,

trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách có thẩm quyền khi

cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể pháp luật có

hành vi vi phạm pháp luật luật sư hoặc khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể đã

Trang 39

phát sinh trong thực hiện pháp luật về luật sư, nhưng có sự tranh chấp mà các chủ thể không thể tự giải quyết được và yêu cầu nhà nước can thiệp như: Luật sư trong hoạt động hành nghề có vi phạm, không còn đủ tiêu chuẩn luật sư thì bị Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư; tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương, hoạt động hành nghề luật sư có doanh thu nhưng không nộp thuế thì sẽ bị Ủy ban nhân dân tỉnh rút giấy phép đăng ký hoạt động (điều 83 Luật luật sư) Tổ chức hành nghề luật sư có tranh chấp với khách hàng về các nội dung của hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý mà không tự giải quyết được, có đơn khởi kiện thì Tòa án dân sự có thẩm quyền thụ lý, giải quyết, xét xử bằng một quyết định hoặc bản án

Như vậy thực hiện pháp luật về luật sư được thể hiện qua bốn hình thức: Tuân thủ pháp luật; chấp hành (thực hiện) pháp luật; sử dụng pháp luật;

áp dụng pháp luật nếu như tuân thủ pháp luật; chấp hành pháp luật; sử dụng pháp luật là những hình thức mà chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì hình thức áp dụng pháp luật luôn luôn có sự can thiệp của nhà nước thông qua các cơ quan công quyền hoặc nhà chức trách có thẩm quyền.

1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về luật sư

Hệ thống quy phạm pháp luật về luật sư ở nước ta hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp năm 2013, Luật luật sư năm 2006, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư năm 2012, bộ luật tố tụng hình

sự, bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, nghị định của chính phủ, thông tư của Bộ Tư pháp, Bộ công an, Nghị quyết của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và một số văn bản chuyên ngành khác điều chỉnh hầu hết các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực luật sư và hoạt động hành nghề luật sư.

Căn cứ tính chất, mục đích, phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật và chủ

thể pháp luật, có thể xác định nội dung thực hiện pháp luật về luật sư nên ba nội dung

chủ yếu sau: Thực hiện pháp luật về luật sư đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật

sư (nội dung 1); thực hiện pháp luật về luật sư đối với hoạt động hành nghề luật sư

(nội dung 2) và thực hiện pháp luật về luật sư đối với công tác quản lý

Trang 40

nhà nước về luật sư, hoạt động hành nghề luật sư và hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (nội dung 3).

- Thực hiện pháp luật về luật sư đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật

sư là thực hiện các quy định của pháp luật về luật sư đối với việc đào tạo, tập sự của người muốn trở thành luật sư, điều kiện, thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, gia nhập đoàn luật sư, cấp thẻ luật sư; trình tự, thủ tục thành lập tổ chức hành nghề luật sư, đăng ký hoạt động hành nghề luật sư; mở chi nhánh hành nghề luật sư ở trong nước và nước ngoài; thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho công ty luật nước ngoài, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài; luật sư nước ngoài hoạt động hành nghề tại Việt Nam (quy định tại chương II, mục 2 chương III, mục 3 chương VI Luật luật sư năm 2006, luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật luật sư năm 2012; Nghị định 123/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ; hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư).

- Thực hiện pháp luật về luật sư đối với hoạt động hành nghề luật sư là thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động hành nghề của luật sư (quy định tại mục 1, mục 3 chương III Luật luật sư) Quy định của pháp luật về luật sư tham gia vào quá trình giải quyết, xét xử các loại vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các vụ án hành chính (quy định tại các điều 57, 58, 59 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; điều 75, 76 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điều 61 luật tố tụng hành chính năm 2015) Hoạt động hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam (quy định tại mục 1,2 chướng VI Luật luật sư)

- Thực hiện pháp luật về luật sư đối với công tác quản lý nhà nước về luật sư, hoạt động hành nghề luật sư và hoạt động tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp

của luật sư là thực hiện các quy định của pháp luật về quyền hạn và trách nhiệm quản

lý nhà nước của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp đối

với luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trên lãnh thổ Việt Nam; hoạt động kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức hành

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w