Cụ thể, nhà nước đã banhành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công chứng để điều chỉnhcác mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động công chứng, trong đó có Luậtcông chứng s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VŨ DUY THÁI
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG – TỪ THỰC TIỄN CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VŨ DUY THÁI
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG – TỪ THỰC TIỄN CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Chuyên ngành:
Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI THỊ THANH THÚY
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đãđược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Người cam đoan
Vũ Duy Thái
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa
học –TS Bùi Thị Thanh Thuý đã dành thời gian, tâm sức và đóng góp nhiều ý
kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình tôi nghiên cứu đề tài luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học việnHành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo đã nhiệttình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ để tôi có thêm động lực trong họctập, nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Vũ Duy Thái
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG 8
1.1 Công chứng và pháp luật về công chứng 8
1.2 Thực hiện pháp luật về công chứng 18
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội thành phố Hà Nội có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp luật về công chứng của các Văn phòng công chứng 34
2.2 Đánh giá về thực trạng thực hiện pháp luật về công chứng của các Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội 36
Tiểu kết chương 2 50
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG – TỪ THỰC TIỄN VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 51
3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về công chứng 51
3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về công chứng – từ thực tiễn Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội 53
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân do dân và vìdân, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Một trong những đặc điểm
cơ bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam đó là nhà nước mà trong đó cácquyền tự do dân chủ và lợi ích chính đáng của con người được pháp luật bảođảm, mọi hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền tự do, lợi ích chính đángcủa người dân đều bị nghiêm trị
Để xây dựng nhà nước pháp quyền ngoài việc xây dựng một hệ thốngpháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ thì một số vấn đề đặt ra là phải xây dựng chođược những cơ chế an toàn và hiệu quả, ngăn chặn mọi hành vi vi phạm phápluật, vi phạm quyền công dân
Chính vì thế, từ lâu Nhà nước ta đã tồn tại một chế định pháp luật, chophép ngăn ngừa những vi phạm pháp luật, phòng ngừa tranh chấp, khiếu kiệntrong giao dịch dân sự, kinh tế và thương mại đó là chế định công chứng thuộclĩnh vực bổ trợ tư pháp Với chức năng mang lại tính xác thực, tính hợp phápcho các giao dịch, hợp đồng, pháp luật công chứng được coi là công cụ để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên tham gia giao dịch, mặt khác thôngqua hoạt động công chứng, nhà nước thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát củamình đối với các giao dịch dân sự, nhằm bảo đảm sự ổn định trong xã hội, đồngthời tạo ra sự cân bằng giữa nhu cầu tự do giao kết hợp đồng, giao dịch của các
cá nhân, tổ chức và chức năng quản lý của Nhà nước Bên cạnh đó, trong quátrình tố tụng (khi có tranh chấp xảy ra), hoạt động công chứng còn đóng góp vaitrò hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử của Tòa án, thông qua việc cung cấpchứng cứ không thể phản bác, bảo đảm cho hoạt động này được khách quan,nhanh chóng, chính xác, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 8Xuất phát từ việc nhận thức rõ được vai trò quan trọng của pháp luật côngchứng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế vàthương mại góp phần phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, Đảng và Nhànước ta luôn chú trọng đến việc phát triển hoạt động công chứng và xây dựngpháp luật về công chứng ngày một hoàn thiện hơn Cụ thể, nhà nước đã banhành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công chứng để điều chỉnhcác mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động công chứng, trong đó có Luậtcông chứng số 53/2014/QH13 được Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam thông qua ngày 20 tháng 06 năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01tháng 01 năm 2015.
Trong những năm qua, tại thành phố Hà Nội, việc thực hiện pháp luậtcông chứng đã được đông đảo người dân quan tâm khi thực hiện các giao dịchdân sự Là một thành phố lớn, với mật độ dân số đông đúc nên có rất nhiều cáccông việc giao dịch liên quan đến hoạt động công chứng Do vậy, việc ra đời cácVăn phòng công chứng đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo sự chặt chẽtrong các giao dịch có tính pháp lý đối với người dân trên địa bàn thành phố HàNội Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động công chứng ởthành phố Hà Nội vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nảy sinh như: Trình độ nănglực chuyên môn của đội ngũ Công chứng viên, chuyên viên nghiệp vụ còn nhiềuhạn chế; Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật công chứng chưa được chútrọng, sự hiểu biết về công chứng cũng như ý thức pháp luật của người dân, đặcbiệt là người dân lao động hiểu biết về công chứng còn nhiều hạn chế Hệ thốngcác văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực công chứng còn nhiều mâu thuẫn,chồng chéo gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động côngchứng
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Thực hiện pháp
luật về công chứng - từ thực tiễn các Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học chuyên
ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động công chứng với tư cách là một chế định bổ trợ Tư pháp trong
hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.Đồng thời hoạt động công chứng cũng cóvai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy, trongthời gian qua đã có nhiều đề tài tập trung nghiên cứu và tìm hiểu về lĩnh vực nàyvới nhiều cách tiếp cận khác nhau Cụ thể là một số công trình sau: “Những điềucần thiết về công chứng nhà nước”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,năm 1992 của tác giả Nguyễn Văn Yểu và Dương Đình Thành; “Giới thiệu vàinét xây dựng và hoàn thiện công chứng nhà nước ở thành phố Hà Nội”,Tạpchíthông tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 1995.Đây là hai công trình rất cógiá trị và được coi như là cuốn cẩm nang đối với những người nghiên cứu vềcông chứng cũng như những người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực hoạt độngcông chứng Ngoài ra, cũng cần đề cập đến một số công trình khác như: “Nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi côngchứng, chứng thực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, chứng thực ởnước ta hiện nay”, của tác giả Đặng Văn Khanh, luận án tiến sỹ Luật học, (HàNội, năm 2000) [27] Nội dung của đề tài luận án, tác giả đã tập trung luận giảimột cách tường minh về bản chất và sự khác nhau của hai hoạt động công chứng
và chứng thực xuất phát từ thẩm quyền thực hiện các hoạt động này Tác giảcũng đã tập trung đề cập đến phạm vi của mỗi hoạt động và các giá trị pháp lýcủa văn bản công chứng; chứng thực, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện vềquy định pháp luật trong hoạt động công chứng
Đề cập về vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng
thực, tác giả Trần Ngọc Nga với đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực; công chứng nhà nước, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta”
luận văn thạc sĩ Luật học,Hà Nội, năm 1996 [30] Công trình đã nghiên cứu mộtcách có hệ thống về quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng và chứngthực dưới góc độ luật học Trong nội dung đề tài luận văn nàytác giả đã luận giải
về sự khác nhau mang tính bản chất giữa hai hoạt động công chứng và chứng
Trang 10thực theo thẩm quyền thực hiện và tính chất pháp lý của mỗi sự kiện Tác giảcũng đã trình bày những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước dưới góc độ lýluận và quản lý nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể đó là công chứng và chứngthực Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về công chứng và chứngthực như:Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công “Xây dựng nội dung cơ bảnquản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực từ thực tiễn tỉnhBình Phước” của Tác giả Nguyễn Minh Hợi, Tp Hồ Chí Minh, năm 2006 [25].Nội dung luận văn, tác giả đã nêu những vấn đề lý luận về công chứng, chứngthực,đưa ra khái niệm về công chứng, nguồn gốc ra đời hoạt động công chứng,chứng thực, nhu cầu công chứng, chứng thực của người dân; sự cần thiết kháchquan phải quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng Từ thực tiễn tổ chức
và hoạt động của hệ thống cung ứng dịch vụ công chứng, chứng thực trên địabàn tỉnh Bình Phước, tác giả đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựngnhững mô hình cung ứng dịch vụ công chứng trên phạm vi toàn quốc
Tiếp đến, luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công với đề tài “Quản lýnhà nước về công chứng, chứng thực trên địa bàn cấp quận” của tác giả PhanHùng Nam, Học viện hành chính, Hà Nội, năm 2008 [29] Ở đề tài này, tác giả
đã tiếp cận vấn đề theo giác độ của hoạt động quản lý nhà nước, luận văn lấythực tiễn từ hoạt động công chứng, chứng thực ở cấp quận, huyện trên địa bànthành phố Hà Nội làm không gian tham khảo về công chứng, chứng thực Tácgiả Phan Hùng Nam đã rất thành công trong việc đề cập những vấn đề lý luận vềquản lý nhà nước về công chứng, chứng thực với tư cách là một hoạt động quản
lý nhà nước trên lĩnh vực hành chính – Tư pháp Tuy nhiên, bên cạnh những kếtquả đạt được đó thì luận văn cũng có những hạn chế đó là luận văn mới chỉ dừnglại ở việc nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng hoạt động công chứng ở cấp Quậntrong khi đó vào thời điểm này, việc chứng thực đã được chuyển phần lớn nộidung về cho cấp xã, còn công chứng được chuyển giao cho các Phòng côngchứng, Văn phòng công chứng (trực thuộc Sở Tư pháp)
Trang 11Bên cạnh các công trình kể trên còn có các công trình nghiên cứu về côngchứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ở địa phương cụ thể đó là đề tài về
“Thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ở tỉnhLâm Đồng hiện nay” - luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Đoàn Xuân Sơn,Học viện chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2011 Nội dung luậnvăn đã tập trung tìm hiểu về thực trạng, đánh giá thực trạng và đề xuất một sốgiải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồngthế chấp quyền sử dụng đất ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay
Có thể nói, nhìn nhận một cách tổng quan cho thấy, hầu hết các công trìnhnghiên cứu về hoạt động công chứng và chứng thực đã có nhiều cách tiếp cậnkhác nhautrên cơ sở những lý luận về hoạt động công chứng và chứng thực.Cáccông trình cũng đã đưa ra những góc nhìn đa chiều về công tác côngchứng.Đồng thời, việc nghiên cứu thực trạng về hoạt động công chứng ở một sốđịa phương cũng đã cho những người trực tiếp tham gia hoạt động công chứng
có những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình tác nghiệp
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích khung lý thuyết và thựctiễn thực hiện pháp luật về công chứng từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảođảm thực hiện pháp luật về công chứng của các Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật về công chứng và thựchiện pháp luật về công chứng trong đó nêu lên khái niệm, phân tích đặc điểm,vai trò, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật công chứng;
Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật công chứng của các Vănphòng công chứng ở thành phố Hà Nội, làm rõ những thành tựu đạt được, nhữnghạn chế yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế yếu kém đó;
Trên cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về công chứng, thực trạng thực
Trang 12hiện pháp luật về công chứng của các Văn phòng công chứng ở thành phố HàNội, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, luận văn bướcđầu đề xuất các giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về côngchứng ở thành phố Hà Nội.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực hiện pháp luật công chứng – từ thực tiễn của Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạngthực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2012 đếnnăm 2016,
- Phạm vi không gian: thành phố Hà Nội
- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu thực hiện pháp luật công chứng
ở ba góc độ về tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên và thủ tục, hoạtđộng công chứng của các Văn phòng công chứng trên địa bàn Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cũng như quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về nhà nước pháp luật nói chung và về thực hiện pháp luậtcông chứng nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứngcủa triết học Mác-Lênin theo quan điểm phát triển toàn diện, lịch sử cụ thể.Ngoài ra, luận văn cũng kết hợp các phương pháp như phân tích, tổng hợp, lịch
sử, thống kê, so sánh…nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của
đề tài
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn thựchiện pháp luật về công chứng; Nâng cao nhận thức của công dân đối với hoạtđộng công chứng; Đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc thực hiệnpháp luật về công chứng của các cơ quan, tổ chức liên quan đến hoạt động côngchứng hợp đồng giao dịch Luận văn chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và nguyênnhân của việc thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nộihiện nay
Luận văn cũng nêu ra những yêu cầu khách quan của nhiệm vụ hoàn thiệnpháp luật công chứng, qua đó đề ra các quan điểm và giải pháp bảo đảm thựchiện pháp luật công chứng ở Việt Nam trong tiến trình cải cách thủ tục hànhchính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận vềcông chứng nói chung và thực tiễn hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố
Hà Nội nói riêng nhằm thống nhất nhận thức về bản chất, nội dung của thực hiệnpháp luật về công chứng và làm phong phú lý luật chung về Nhà nước và phápluật Luận văn có thể là tài liệu tham khảo của các tổ chức hành nghề côngchứng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục nghiên cứu về công chứng củacác cơ quan liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của luận văn gồm 3 chương bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật công chứng của
các văn phòng công chứng
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về công chứng củacác Văn
phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về
công chứng- từ thực tiễn Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
1.1.Công chứng và pháp luật về công chứng
1.1.1 Khái niệm công chứng
Công chứng do người Pháp đưa vào Việt Nam trong những năm 30 củathế kỉ XX Nhưng mãi đến năm 1987, công chứng mới được đề cập đầu tiêntrong hệ thống pháp luật Việt Nam Tại thời điểm này công chứng được hiểu là
“Công quyền đứng ra làm chứng”, cụ thể là Nhà nước trao thẩm quyền cho một
tổ chức hành nghề công chứng của Nhà nước được phép nhân danh Nhà nước đểxác định các quan hệ giao dịch dân sự và thương mại
Trước Luật Công chứng 2014, công chứng có nhiều định nghĩa được ghinhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Thông tư574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 của Bộ Tư pháp là văn bản quy phạm
pháp luật đầu tiên của nhà nước ta quy định về lĩnh vực công như sau: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước với mục đích giúp công dân, cơ quan tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản sự kiện đó, làm cho văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản sự kiện đó làm cho các văn bản sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Khái niệm này cũng có những hạn chế như:
Thứ nhất, là chưa xác định được chủ thể công chứng, đối tượng hoạt động
của công chứng cũng như nội dung việc công chứng
Thứ hai, là chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của cơ
quan nhà nước khác
Ngày 27 tháng 02 năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã ban
hành Nghị định số 45/HĐBT đưa ra khái niệm Công chứng là: “Công chứng nhà
nước là việc xác nhận tính xác thực của các Hợp đồng, giấy tờ theo quy định của Pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan
Trang 15nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ được công chứng có giá trị chứng cứ”.
So với Thông tư 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 của Bộ Tưpháp, thì khái niệm công chứng được quy định ở Nghị định số 45/HĐBT ngày
27 tháng 02 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng được xác định cụ thể rõ ràng hơntuy nhiên vẫn còn những hạn chế như sau:
Chưa xác định được chủ thể của hoạt động công chứng
Quy định “chứng nhận tính xác thực của hợp đồng, giấy tờ” ở Nghị địnhnày còn nói quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quảkhác nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng
Ngày 18 tháng 05 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/NĐ-CP
về tổ chức và hoạt động của công chứng theo đó, khái niệm công chứng đã được
những sửa đổi và được hiểu như sau: “Công chứng là việc xác nhận tính xác thực
về các hợp đồng, giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật,
Nghị định số 31/NĐ-CP Ngày 18 tháng 05 năm 1996 của Chính phủ về tổchức và hoạt động của công chứng nhà nước, bước đầu có sự phân biệt hành vicông chứng và hành vi chứng thực Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành vi công
chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt Quy định “chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ” ở Nghị định này còn quá chung, khó hiểu,
dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt động công
chứng
Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được táchbạch khỏi khái niệm chứng thực Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được
xác định khoa học hơn Theo Nghị định này, “Công chứng là việc Phòng công
chứng chứng nhận tính xác thực của Hợp đồng được giao kết hoặc của giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ
Trang 16giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” (Khoản 1 Điều 2).
Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số
75/2000/NĐ-CP đã xác định được khái niệm chứng thực “là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y các giấy tờ hợp đông giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” (Khoản 2 Điều 2) Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã thay đổi tên gọi từ “Phòng công chứng nhà nước” ở các văn bản pháp lý trước đó thành “Phòng công chứng” đã xác định được chủ thể của hoạt động của công chứng là Phòng công chứng Công
chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận…” (Điều 2) Tuy nhiên, việc xácđịnh như vậy cũng chưa chính xác vì thực chất hành vi chứng nhận trong hoạtđộng công chứng chính là hành vi của Công chứng viên, người Công chứng viênphải chịu trách nhiệm về hành vi công chứng của mình trước pháp luật cũng nhưtrước tổ chức cá nhân có yêu cầu công chứng Vì vậy, quy định chủ thể của hoạtđộng công chứng là Phòng công chứng là chưa làm rõ được bản chất của vấn đề,chưa xác định một cách đúng đắn vai trò, vị trí và trách nhiệm của người Côngchứng viên trọng hoạt động nghề nghiệp
Cùng với thời gian, khái niệm công chứng được các văn bản quy phạm phápluật trên đưa ra ngày càng một hoàn thiện hơn Tuy nhiên, các khái niệm này vẫnchưa làm rõ được bản chất của công chứng do pháp luật công chứng ở nước ta làmột ngành luật non trẻ, chưa tiếp cận nhiều và chưa hội nhập được với nền côngchứng thế giới, các khái niệm công chứng nêu trên đều chưa trả lời thấu đáo vấn đề:
Ai là chủ thể có thẩm quyền công chứng? Công chứng cho ai? hình thức côngchứng là gì? Công chứng mang tính bắt buộc hay tự nguyện? phạm vi giới hạn củaviệc công chứng đến đâu? Vì vậy, việc hoàn thiện về pháp luật công chứng mộtyêu cầu cấp thiết trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế Quốc tế Trước yêu cầu
đó Luật công chứng đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11
Trang 17năm 2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI và có hiệu lực thi hành từ ngày 01tháng 07 năm 2007 theo đó khái niệm công chứng được xác định như sau:
Điều 2 Luật công chứng 2006 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Với khái niệm trên cho thấy, công chứng là hoạt động mang tính bắt buộc
để áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch có tính chất quantrọng, phức tạp hoặc những giao dịch có giá trị lớn mà nhà nước đòi hỏi cần phải
có sự định hướng và kiểm soát các giao dịch đó nhằm mục đích phòng ngừanhững rủi ro có thể xảy ra cho các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trongcác giao dịch dân sự thương mại, những lợi ích vật chất và phi vật chất được thểhiện trong những cam kết thỏa thuận diễn ra trong đời sống hàng ngày, là yêucầu chính đáng và là mong muốn của người tham gia giao dịch Vì vậy, côngchứng còn được đặt ra nhằm phục vụ rộng rãi cho các đối tượng có nhu cầu tựnguyện công chứng các hợp đồng giao dịch
Luật công chứng ra đời là một bước tiến mới của công chứng Việt Nam, làmthay đổi nhiều vấn đề về công chứng Việt Nam Tuy về mặt nội dung của LuậtCông chứng vẫn còn nhiều điều cần giải quyết cho phù hợp với tình hình thực tiễncủa hoạt động công chứng ở nước ta và theo sát được những mặt tiến bộ của côngchứng thế giới, song cũng phải công nhận rằng Luật công chứng năm 2006 đã đưa
ra khái niệm về công chứng tương đối hoàn thiện, thể hiện được bản chất của mộtnền công chứng đang trên con đường hoàn thiện và hội nhập quốc tế Khái niệmcông chứng trong Luật công chứng đã chỉ ra được chủ thể của hoạt động côngchứng là Công chứng viên, điều đó thể hiện đúng bản chất của hoạt động côngchứng Vì vậy, ngay trong khái niệm này đã chỉ rõ nghĩa vụ của người Công chứngviên là phải chứng nhận tính xác thực tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch điềunày có ý nghĩa khi ký tên vào văn bản công chứng việc giao kết các hợp đồng, giaodịch đó người Công chứng viên phải chịu trách nhiệm bảo đảm
Trang 18rằng sự giao kết đó là xác thực về thời gian và địa điểm giao kết, chủ thể giaokết và nội dung của hợp đồng, giaodịch được giao kết đó là hợp pháp.
Đứng trên phương diện lập pháp, Luật công chứng là đạo luật đầu tiên củanước ta về công chứng, sự ra đời của Luật công chứng đã đánh dấu bước pháttriển nhảy vọt về chất lượng công tác xây dựng pháp luật đối với lĩnh vực bổ trợ
tư pháp Đặc biệt Luật công chứng năm 2006 đã thể hiện một số quan điểm mới,tiến bộ khi xây dựng và hoàn thiện chế định công chứng, tương thích với chếđịnh khác trong hệ thống pháp luật nói chung và phù hợp với thông lệ quốc tếnói riêng như xây dựng mô hình công chứng hành nghề tự do
Ngày 20/06/2014, Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng số53/2014/QH13 (Luật công chứng 2014) với 10 chương, 81 điều, quy định vềcông chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, việc hành nghề công chứng,
thủ tục công chứng và quản lý nhà nước về công chứng Luật Công chứng 2014
có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 Trong đó tại Khoản 1, Điều 2 quy định “Côngchứng là việc Công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứngnhận tính xác thực hợp pháp của hợp đồng giao dịch dân sự khác bằng văn bản(sau đây gọi là hợp đồng giao dịch), tính xác thực hợp pháp không trái đạo đức
xã hội của bản dịch giấy tờ Văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặcngược lại từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theoquy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêucầu công chứng” Khác với khái niệm công chứng được quy định trong LuậtCông chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 đã quy định cụ thể hơn vềkhái niệm công chứng “công chứng là việc công chứng viên của một tổ chứchành nghề công chứng”
Như vậy, qua nghiên cứu khái niệm công chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về công chứng thì có thể hiểu khái niệm công chứng như sau:
“Công chứng là hoạt động nhà nước, được ủy quyền cho một tổ chức, đó là tổ chức
hành nghề công chứng; Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ của công chứng viên theo quy định của pháp luật Các hoạt động công
Trang 19chứng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các tổ chức khác; Các loại giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”
1.1.2 Pháp luật về công chứng
Từ khái niệm công chứng, chúng ta có thể tiếp cận khái niệm pháp luật về
công chứng như sau: Pháp luật về công chứng là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa Nhà nước với tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên khi quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện hành nghề; giữa tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên với các cá nhân, tổ chức trong xã hội khi tiến hành hoạt động công chứng.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, pháp luật về công chứng được tiếpcận ở một số nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, về tổ chức hành nghề công chứng
Tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Khoản 5, Điều 2 Luật
Công chứng 2014 quy định “Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan” Pháp luật
về công chứng quy định về nguyên tắc thành lập tổ chức hành nghề công chứng,phòng công chứng, thành lập phòng công chứng, chuyển đổi, giải thể phòngcông chứng; văn phòng công chứng, thành lập và đăng ký hoạt động văn phòngcông chứng, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng,cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng,đăng báo nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, thay đổi thànhviên hợp danh của văn phòng công chứng, hợp nhất sát nhập văn phòng côngchứng, chuyển nhượng văn phòng công chứng, thu hồi quyết định cho phépthành lập, chấm dứt hoạt động văn phòng công chứng; quyền của tổ chức hànhnghề công chứng, nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng Nội dung về tổchức hành nghề công chứng được quy định từ Điều 18 đến Điều 33 trongChương III của Luật Công chứng số 53/2014/QH13 Luật quy định khuyếnkhích phát triển Văn phòng công chứng theo định hướng xã hội hóa, quy định
Trang 20việc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng, trong trườnghợp không chuyển đổi được thì mới giải thể Phòng công chứng Văn phòng côngchứng phải do hai công chứng viên trở lên thành lập, được tổ chức và hoạt độngtheo quy định của Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật có liênquan đối với loại hình công ty hợp danh Tên gọi của Văn phòng được đặt theo
họ, tên của công chứng viên
Thứ hai, về công chứng viên.Luật Công chứng 2014 quy định chặt chẽ về
tiêu chuẩn công chứng viên, quy định thời gian đào tạo nghề công chứng làmười hai tháng; quy định người được miễn đào tạo nghề công chứng phải thamgia khóa bồi dưỡng trước khi đề nghị bổ nhiệm, được giảm một nửa thời giantập sự và cũng phải tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; bổsung quy định về bổ nhiệm lại; bổ sung một số quyền và nghĩa vụ đối với côngchứng viên
Nội dung pháp luật quy định về công chứng viên bao gồm:
Về tiêu chuẩn công chứng viên:
Theo Điều 8 Luật Công chứng 2014: “Tiêu chuẩn công chứng viên Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm công chứng viên:
Điều 10 của Luật này;
4 Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng;
5 Bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng”
Về thời gian đào tạo công chứng:Luật Công chứng năm 2014 tăng thời gian
đào tạo công chứng từ 06 tháng lên 12 tháng
Trang 21Về những đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng
Bên cạnh việc kéo dài thời gian công tác thực tế đối với thẩm phán, kiểmsát viên, điều tra viên, luật sư từ 3 năm lên 5 năm, Luật Công chứng 2014 cũng
bổ sung quy định những đối tượng được miễn đào tạo này phải tham gia khóabồi dưỡng với thời gian là 3 tháng về kỹ năng hành nghề công chứng và Quy tắcđạo đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đềnghị bổ nhiệm công chứng viên
Về bổ nhiệm công chứng viên: Pháp luật công chứng quy định tất cả các đối
tượng muốn được bổ nhiệm công chứng viên đều phải trải qua thời gian tập sựhành nghề công chứng Tất cả các đối tượng đề nghị bổ nhiệm đều phải tuân thủmột trình tự chung sau khi đã đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự Cụ thể làngười đề nghị bổ nhiệm lập hồ sơ đề nghị gửi Sở Tư pháp địa phương nơi đăng
ký tập sự; Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, đề nghị Bộ trưởng Bộ Tưpháp bổ nhiệm đối với những trường hợp đáp ứng yêu cầu hoặc trả lời bằng vănbản trong trường hợp từ chối đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyếtđịnh bổ nhiệm công chứng viên trong thời hạn hai mươi ngày làm việc sau khinhận được văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ của Sở Tư pháp Người bị Sở Tưpháp từ chối đề nghị bổ nhiệm hoặc bị Bộ Tư pháp từ chối bổ nhiệm đều cóquyền khiếu nại theo quy định của pháp luật
Về bổ nhiệm lại công chứng viên: Để phù hợp với thực tế, pháp luật công
chứng quy định về bổ nhiệm lại công chứng viên trong một số trường hợp cụ thểnhư công chứng viên đã được miễn nhiệm theo nguyện vọng cá nhân hoặcchuyển làm công việc khác, công chứng viên đã bị miễn nhiệm do không còn đủtiêu chuẩn công chứng viên, do bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
do kiêm nhiệm công việc khác hoặc do không hành nghề công chứng trong thờihạn quy định khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn công chứng viên và lý do miễn nhiệmkhông còn thì được xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên Đồng thời, pháp luậtcông chứng cũng quy định rõ những trường hợp không được xem xét bổ nhiệmlại công chứng viên, bao gồm công chứng viên đã bị miễn nhiệm do bị xử phạt
Trang 22hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng mà còn tiếptục vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai
mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc, do bị kết tội bằngbản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Về quyền và nghĩa vụ của công chứng viên: Pháp luật công chứng quy định
rõ quyền và nghĩa vụ của công chứng viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũcông chứng viên, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động công chứng, trong đó cócác quyền và nghĩa vụ mới như quyền được pháp luật bảo đảm quyền hành nghềcông chứng, quyền tham gia thành lập Văn phòng công chứng hoặc làm việctheo chế độ hợp đồng cho tổ chức hành nghề công chứng, được từ chối côngchứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội,công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật này và cácnghĩa vụ mới như giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng;trường hợp từ chối yêu cầu công chứng thì phải giải thích rõ lý do cho người yêucầu công chứng, giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được ngườiyêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; thamgia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm; chịu trách nhiệm trước phápluật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình; chịutrách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng mà mình
là công chứng viên hợp danh; đặc biệt, công chứng viên có trách nhiệm tham gia
tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; chịu sự quản lý của cơ quannhà nước có thẩm quyền, của tổ chức hành nghề công chứng mà mình làm côngchứng viên và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên mà mình làthành viên; và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và các văn bản quyphạm pháp luật khác có liên quan
Về các hành vi công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng bị nghiêm cấm:
Đáng lưu ý là không cho phép công chứng viên, tổ chức hành nghề côngchứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài
Trang 23trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký; ép buộc người khác sửdụng dịch vụ của mình hay quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng
về công chứng viên và tổ chức mình; công chứng viên cũng không được phéptham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiệnhoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch màmình nhận công chứng hay đồng thời hành nghề tại 02 tổ chức hành nghề côngchứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác
Thứ ba, về thủ tục và hoạt động công chứng
Thủ tục công chứng là trình tự, thủ tục thực hiện các quy định về côngchứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn, công chứng hợp đồng, giaodịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng,thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản, thời hạn côngchứng, địa điểm công chứng, chữ viết trong văn bản công chứng, ký, điểm chỉtrong văn bản công chứng, việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng, sửa lỗi
kỹ thuật trong văn bản công chứng, công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏhợp đồng, giao dịch, người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng
vô hiệu, phạm vi áp dụng, công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, côngchứng di chúc, công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, công chứng vănbản khai nhận di sản, công chứng văn bản từ chối nhận di sản, nhận lưu giữ dichúc Nội dung về thủ tục công chứng được quy định từ Điều 40 đến Điều 61trong Chương III của Luật Công chứng số 53/2014/QH13
Hoạt động về công chứng là tất cả những hành vi mà công chứng viên vàcác bên tham gia công chứng phải thực hiện nhằm xem xét tính hợp pháp củahợp đồng, văn bản giao dịch từ đó, đảm bảo cho công chứng viên đi đến việcquyết định công chứng hay từ chối công chứng đối với hợp đồng, văn bản giaodịch đó, các nội dung cụ thể mà công chứng viên phải thực hiện là rất rộng lớn
từ việc xem xét tư cách chủ thể tham gia các hợp đồng, giao dịch khác, đốitượng tài sản giao dịch, cho đến các thỏa thuận cam kết của các bên trong hợp
Trang 24đồng, giao dịch, có thể nhận thấy các nội dung thực hiện pháp luật công chứng
mà công chứng viên và các tổ chức, cá nhân tham gia công chứng phải tiếnhành Tuy vậy có thể khái quát nội dung thực hiện pháp luật công chứng gồmcác vấn đề cơ bản sau:
1.2 Thực hiện pháp luật về công chứng
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về công chứng
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm chonhững quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợppháp của các chủ thể pháp luật Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và
pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích nhằm làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật [18;tr.349].
Tuy vẫn còn những điểm khác nhau về việc đưa ra khái niệm về thực hiệnpháp luật, nhưng về bản chất đều có một số điểm chung là thực hiện pháp luật làhoạt động thực tế của chủ thể pháp luật có mục đích, làm cho những quy địnhcủa pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Trên cơ sở khái niệm thựchiện pháp luật, chúng tôi đi sâu nghiên cứu khái niệm thực hiện pháp luật vềcông chứng Qua nghiên cứu cho thấy đối với lĩnh vực công chứng hợp đồng vàcác giao dịch khác, trên cơ sở các quy định của pháp luật các tổ chức, cá nhânhành nghề công chứng hiện thực hóa nó bằng những quy trình, các bước tiếnhành cụ thể, với những yêu cầu, những điều kiện rõ ràng để hiểu rõ có ý thứctuân theo Yêu cầu đặt ra đối với tổ chức, cá nhân hành nghề công chứng khôngchỉ là việc thực hiện công chứng hợp đồng các giao dịch theo thẩm quyềnchuyên môn, theo thủ tục luật định khi tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng,
mà yêu cầu quan trọng hơn, ý nghĩa thiết thực hơn là các tổ chức, cá nhân hànhnghề công chứng phải hiện thực hóa được các quy định của pháp luật hiện hànhtrở thành những nhu cầu tự thân của các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch dân
sự, nghĩa là bằng những hành động thực tiễn, tổ chức cá nhân hành nghề côngchứng phải làm cho các bên tham gia quan hệ nhận thức được rằng: Công chứng
Trang 25hợp đồng, các giao dịch không còn là sự bắt buộc, sự gượng ép phải thực hiệnkhi họ ký kết hợp đồng, mà nó trở thành điều mà họ mong muốn được làm, đượcNhà nước hỗ trợ và cung ứng dịch vụ này để đảm bảo cho sự an toàn cho họtrong suốt quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng Với ý nghĩa này, thực hiệnpháp luật công chứng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hóađịnh hướng của Nhà nước về quản lý và kiểm soát hoạt động công chứng Mặtkhác, trên cơ sở thực hiện việc công chứng của công chứng viên, hợp đồng vănbản đó trở thành tôn chỉ mục đích, thành nguyên tắc để cho các chủ thể tham giaquan hệ, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên và đảm bảo trật
tự chung mà pháp luật quy định Công chứng viên phải là người lính bảo đảm antoàn pháp lý cho các giao dịch, là người chốt chặn các rủi ro có thể xảy ra chocác bên tham gia giao dịch dân sự
Thực hiện pháp luật về công chứng là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực
có phạm vi khá rộng, nên thực hiện pháp luật về công chứng không chỉ bó hẹptrong phạm vi pháp luật về hình thức (pháp luật công chứng), mà còn trải rộngtrong đó có nhiều mảng pháp luật về nội dung khá đồ sộ (như pháp luật đất đai,pháp luật dân sự, pháp luật về giao dịch bảo đảm, về hôn nhân gia đình, doanhnghiệp…) Vai trò của công chứng viên không chỉ là làm theo những gì mà phápluật nêu trên quy định, mà còn có trách nhiệm to lớn là đưa pháp luật đó vàothực thi trong thực tế cuộc sống một cách có hiệu quả Đảm bảo những vấn đề
đó bằng những biểu hiện cụ thể như: Thông qua việc công chứng hợp đồng côngchứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của loại hợp đồng này, tạo
ra một văn bản công chứng có giá trị thi hành buộc các bên tham gia và hợpđồng phải tự giác thực hiện những trách nhiệm và nghĩa vụ đã cam kết, thỏathuận trong hợp đồng Nếu không thực hiện, bằng quyền uy và sức mạnh cưỡngchế của Nhà nước buộc các chủ thể phải thực hiện, trong trường hợp cố tìnhkhông thực hiện, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng phải chịu những biệnpháp chế tài của pháp luật Mặt khác, khi hợp đồng và các văn bản giao dịchkhác đã được công chứng viên thực hiện công chứng, chúng trở thành giá trị
Trang 26chứng cứ để cơ quan tố tụng áp dụng giải quyết khi có tranh chấp, mâu thuẫn vàbất đồng sảy ra Khẳng định như vậy là vì những tình tiết, sự kiện trong văn bảncông chứng không phải chứng minh trừ trường hợp bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu thực hiện pháp luật về công
chứng như sau: Thực hiện pháp luật về công chứng là hoạt động có mục đích của các công chứng viên, các tổ chức, các nhân nhằm hiện thực hóa các quy phạm pháp luật về công chứng và các quy phạm pháp luật khác có liên quan, để làm cho các quy phạm pháp luật này trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ công chứng và tạo cho các loại hợp đồng, các văn bản đưa ra công chứng có giá trị thi hành và giá trị chứng cứ.
1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về công chứng
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về công chứng mang tính chất là hoạt động
bổ trợ tư pháp
Cùng với các hoạt động như: Luật sư, Giám định tư pháp…Công chứngcũng là một trong những hoạt động được sắp xếp vào nhóm công tác bổ trợ tư pháp.Đây là những hoạt động không chỉ liên quan đến lợi ích của khách hàng mà còn cómối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là cơ quanhành pháp và cơ quan tư pháp.Bằng hoạt động nghề nghiệp của mình, Công chứngviên (cũng như luật sư, giám định viên…) có thể gây ảnh hưởng đến công lý, tácđộng đến cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội Hay nói cách khác, việc sửdụng dịch vụ pháp lý từ các hoạt động bổ trợ tư pháp nêu trên của người dân giúp
họ có thể tiếp cận công lý một cách dễ dàng hơn.Hoạt động công chứng là quá trìnhtác nghiệp của công chứng viên trong việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp, hợphiến và không trái với đạo đức và các quy tắc ứng xử của xã hội Sự xác nhận nàyvừa như là một sự định hướng, vừa như là một sự kiểm định lại những cam kết,những thỏa thuận trong hợp đồng có tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hiệnhành hay không Điều này góp phần vào việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủthể trong việc tôn trọng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm lẫn nhau trong quá trình kýkết và thực hiện
Trang 27hợp đồng, không bên nào vì bất kỳ hành vi nào trái pháp luật gây phương hạihay cản trở việc hưởng quyền của phía bên kia Đồng thời đó cũng là cơ sở đểcác chủ thể tuân thủ và chấp hành nghĩa vụ và trách nhiệm trước Nhà nước.Không chỉ thế, thông qua sự xác nhận của công chứng viên về tính xác thực củahợp đồng bằng văn bản, nó trở thành “bằng chứng sống” phục vụ cho các cơquan hữu quan trong quá trình tố tụng Nó có tác dụng bổ sung và hỗ trợ quantrọng cho các cơ quan chức năng khi thực hiện nhiệm vụ của mình Vì vậy, thựchiện pháp luật về công chứng thực chất là hoạt động bổ trợ tư pháp.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về công chứng đề cao tính độc lập, chủ động,
sáng tạo của công chứng viên và tính tự chịu trách nhiệm của người yêu cầucông chứng
Tính độc lập của người công chứng viên thể hiện rõ nét trong nguyên tắchành nghề công chứng, công chứng viên phải tự chịu trách nhiệm trước phápluật về văn bản công chứng do mình chứng nhận Trong quá trình tác nghiệp,công chứng viên có quyền lựa chọn phương án giải quyết nếu cho rằng cách giảiquyết đó là phù hợp với quy định của pháp luật Đây cũng chính là điều kiện chophép công chứng viên chủ động, sáng tạo trong áp dụng pháp luật vào việc thựchiện nghiệp vụ chuyên môn Các hợp đồng giao dịch được yêu cầu công chứngrất đa dạng đòi hỏi vai trò chủ động, linh hoạt và tính chịu trách nhiệm của côngchứng viên Vì vậy, chỉ một thái độ thờ ơ, bất cẩn của công chứng viên cũng cóthể gây ra hậu quả khôn lường.Nếu không xem xét một cách kỹ lưỡng thì không
ai có thể khẳng định chắc chắn sẽ không có rủi ro xảy ra Chính vì tính chất đặcbiệt đó, vai trò của công chứng viên là hết sức quan trọng trong việc phối hợpvới các cơ quan liên quan, để phục vụ cho quá trình thực hiện công chứng.Trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, công chứng viên cóquyền từ chối không công chứng hợp đồng giao dịch mà khi nhận thấy rằngkhông đầy đủ cơ sở pháp lý, thậm chí công chứng viên có quyền từ chối khôngcông chứng hợp đồng ngay cả khi nhận thấy sự thỏa thuận của các bên tham giaquan hệ có dấu hiệu mờ ám, không minh bạch, không rõ ràng, tiềm ẩn nguy cơ
Trang 28xung đột, các giấy tờ pháp lý có dấu hiệu giả mạo…
Tuy nhiên, chỉ nâng cao năng lực, trách nhiệm của công chứng viên, sẽkhông thể đảm bảo cho sự trung thực, chính xác về thông tin đối với tài sản vàcác yếu tố khác, cũng sẽ không thể đảm bảo độ an toàn cho giao dịch đó, nếunhư không quy định trách nhiệm và nghĩa vụ cho người yêu cầu công chứng.Khẳng định điều đó bởi lẽ, hoạt động công chứng của công chứng viên về hợpđồng, về giao dịch cụ thể nào đó trước tiên phải dựa trên những thông tin, nhữngbằng chứng mà chủ thể yêu cầu công chứng cung cấp Trên cơ sở thông tin đó,công chứng viên mới đối chiếu với pháp luật để kiểm định tính đúng đắn và hợppháp của những thông tin đó.Vì vậy, pháp luật hiện hành cũng quy định nhữngyêu cầu đối với chủ thể có yêu cầu công chứng Không chỉ dừng lại ở việc xuấttrình các giấy tờ, chủ thể tham gia giao kết còn phải cam kết trước công chứngviên về tính hợp pháp của các giấy tờ đó và chịu trách nhiệm trước pháp luật vềcam kết đó.Các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng cũng phải chứng minh tưcách pháp lý của mình trước công chứng viên.Trên cơ sở cam kết của chủ thể,công chứng viên bằng những chuyên môn nghiệp vụ của mình sẽ kiểm định vàxác nhận hợp pháp của những cam kết đó
Thứ ba, thực hiện pháp luật về công chứng phải tuân theo các trình tự thủ tục được pháp luật quy định.
Công chứng viên là người hoạt động trong lĩnh vực vừa mang tính chấtcông quyền, lại vừa mang tính chất dịch vụ công Tính chất công quyền thể hiện
ở chỗ Công chứng viên là chức danh tư pháp và do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổnhiệm để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch theo quyđịnh của pháp luật khi đã hội tủ đầy đủ các điều kiện được quy định tại Khoản 2,Điều 2và Điều 8 Luật công chứng 2014 như là công dân Việt Nam thường trú tạiViệt Nam, trung thành với tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩmchất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật…
Tính chất dịch vụ công tức là công chứng viên thực hiện một loại dịch vụcủa Nhà nước, nhưng được Nhà nước giao cho tổ chức hành nghề công chứng
Trang 29thực hiện Với tính chất nêu trên, khi thực hiện pháp luật về công chứng, côngchứng viên phải thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
và thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch được quy định tại chương V LuậtCông chứng năm 2014 Bên cạnh đó, ở mỗi loại hợp đồng mỗi loại giao dịch vớitính chất và đặc điểm khác nhau, công chứng viên cần phải nắm rõ tính chất đặcthù của mỗi loại hình giao dịch, các hợp đồng giao dịch rất đa dạng được kháchhàng yêu cầu công chứng Vì vậy, đòi hỏi người công chứng viên khi thực hiệnpháp luật về công chứng không chỉ chấp hành các quy định của pháp luật về quytrình, thủ tục của một công chứng viên đơn thuần, thực hiện các thao tác nghiệp
vụ các quy trình, trình tự và thủ tục của pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vựccông chứng như luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; (Bộ luậtdân sự năm 2015, luật các tổ chức tín dụng, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giaodịch bảo đảm, luật doanh nghiệp, luật hôn nhân gia đình, luật cư trú…đòi hỏingười công chứng viên phải am tường, phải thông suốt tất cả những quy trình,thủ tục đó của pháp luật hiện hành, đòi hỏi người công chứng viên buộc phảibiết, phải nắm rõ Bỏ qua bất kỳ một quy trình, công đoạn hoặc thủ tục nào nêutrên do sự lơ là, tắc trách hoặc thiếu hiểu biết của công chứng viên, đều có thểxảy ra những hậu quả khó lường
Thứ tư, thực hiện pháp luật về công chứng được triển khai trên phạm vi
rộng lớn
Thực hiện pháp luật về công chứng có phạm vi rất rộng lớn, như về khônggian các yêu cầu công chứng hợp đồng và các văn bản giao dịch khác được cánhân, tổ chức yêu cầu công chứng không chỉ diễn ra trên phạm vi một địaphương mà diễn ra trên mọi miền đất nước Kể từ khi nước ta thực hiện nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tham gia vào quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế thì các giao dịch giữa các tổ chức và cá nhân ngày càng nhiềulên, pháp luật về công chứng cũng ngày càng được hoàn thiện, việc thực hiệnpháp luật về công chứng cũng được thực hiện đồng bộ từ cơ quan nhà nước, tổchức, người dân Do đó, tại các tỉnh, thành phố trên cả nước đến nay đều đã
Trang 30thành lập được các tổ chức hành nghề công chứng để đám ứng tốt các yêu cầucông chứng hợp đồng và các văn bản giao dịch khác của tổ chức cá nhân.
Thứ năm, thực hiện pháp luật về công chứng được thể hiện thông qua các
hình thức khác nhau, do các chủ thể khác nhau (Nhà nước, tổ chức hành nghềcông chứng, công chứng viên, cá nhân, tổ chức xã hội) tiến hành
Hình thức thực hiện pháp luật về công chứng là cách thức mà các chủ thểtiến hành các hoạt động có mục đích, làm cho các quy định của pháp luật đi vàocuộc sống Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật về côngchứng có thể xác định các hình thức thực hiện pháp luật về công chứng như sau:
Tuân thủ pháp luật về công chứng: Là hình thức thực hiện pháp luật về
công chứng trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những quyđịnh cấm của pháp luật về công chứng và các văn bản pháp lý khác liên quanđến công chứng Trong hoạt động công chứng, công chứng viên và người yêucầu công chứng do động cơ vụ lợi cá nhân mà không thực hiện đúng về trình tự,thủ tục dẫn đến vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia và hoạtđộng công chứng thì đều phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước Tronghình thức này, đòi hỏi các chủ thể tham gia thiết lập hợp đồng giao dịch và côngchứng viên được chỉ định thực hiện hành vi công chứng đối với hợp đồng đó chỉđược thực hiện những gì mà pháp luật cho phép Các hành vi vi phạm pháp luậtnghiêm cấm thì tuyệt đối các chủ thể không được phép làm
Thi hành pháp luật về công chứng: Là một hình thức thực hiện pháp luật
về công chứng, trong đó các chủ thể pháp luật tự thực hiện nghĩa vụ pháp lý củamình bằng hành động tích cực Theo đó, trên cơ sở các quy định của pháp luật
đã quy định rõ, nếu chủ thể nao tham gia quan hệ pháp luật thì phải có nghĩa vụthực hiện một số yêu cầu mà pháp luật đã đặt ra.Nghĩa vụ đó không chỉ là nghĩa
vụ lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia quan hệ, mà còn là nghĩa vụ giữa các chủthể đó trước Nhà nước
Sử dụng pháp luật về công chứng: Là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các chủ thể thực hiện các quyền trong hoạt động công chứng để bảo vệ các
Trang 31quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hình thức này khác với hình thức tuân thủpháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ, chủ thể có thể thực hiện hoặc không thựchiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộcphải thực hiện Ở hình thức này được hiểu, quyền chủ động, linh hoạt và quyền tựquyết thuộc về các chủ thể tham gia thực hiện pháp luật về công chứng trên cơ sởpháp luật không cấm Các hành vi thực hiện của các chủ thể khi thực hiện côngchứng, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội So với haihình thức nêu trên thì hình thức này pháp luật dành quyền tự chủ và mở rộng hơncho các chủ thể thực hiện pháp luật Chẳng hạn, để bảo đảm việc thực thi pháp luật
về công chứng nói chung chấp hành nghiêm minh, cũng là nhằm bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp cho các công chứng viên và người yêu cầu công chứng
Áp dụng pháp luật về công chứng
Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả cao thì tất cả nhữngquy định của pháp luật hiện hành đều được thực hiện chính xác, triệt để Nhưngnếu chỉ thông qua các hình thức tuân theo, thi hành và sử dụng pháp luật thì sẽ
có nhiều các quy phạm pháp luật không được thực hiện, bởi nó còn tùy thuộcvào sự nhận thức, ý thức chấp hành của các chủ thể thực hiện pháp luật hoặc họkhông đủ khả năng thực hiện nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Khi đó cần phải có hoạt động áp dụng pháp luật.Trong lĩnh vựcpháp luật công chứng muốn các quy phạm pháp luật về công chứng được thựchiện triệt để thì cũng cần phải thể hiện bằng hình thức áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật công chứng là một hình thức thực hiện pháp luật vềcông chứng, trong đó Nhà nước thông qua các tổ chức hành nghề công chứng(Phòng Công chứng và Văn phòng công chứng) và Công chứng viên căn cứ vàoquy định của pháp luật về công chứng và pháp luật khác có liên quan để ra vănbản chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằngvăn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc các cá nhân, tổchức tự nguyện yêu cầu công chứng tạo cho văn bản công chứng có giá trị thihành và có giá trị chứng cứ
Trang 32Như vậy, thực hiện pháp luật về công chứng được thực hiện thông quabốn hình thức: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ápdụng pháp luật về công chứng Tuy nhiên, hình thức áp dụng pháp luật về côngchứng có sự khác biệt với các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và
sử dụng pháp luật về công chứng Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuânthủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật về công chứng là hìnhthức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng phápluật về công chứng luôn luôn có sự tham gia của Nhà nước bằng cách tham giahoạt động của các công chứng viên hành nghề trong lĩnh vực vừa mang tính chấtcông quyền lại vừa mang tính chất dịch vụ công thực hiện trên cơ sở các quyđịnh của pháp luật có thể áp dụng hoặc không áp dụng thực hiện công chứng chomột số chủ thể không thuộc phạm vi pháp luật cho phép
1.2.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về công chứng
Tính chất quan trọng của việc thực hiện pháp luật công chứng không chỉthể hiện quan điểm và chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, bảo đảm sự an toàn cho các giao dịch dân sự, kinh tế thương mại củacông dân và các tổ chức, mà còn hướng đến việc tạo lập hành lang pháp lý chotiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam, các quy phạm pháp luật côngchứng không tồn tại một cách riêng biệt, đơn lẻ, mà gắn bó hữu cơ với nhautrong một chỉnh thể thống nhất với các quy phạm pháp luật dân sự, kinh tế, đấtđai, hôn nhân gia đình…Việc thực hiện pháp luật công chứng không chỉ làphương tiện Nhà nước sử dụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân,
mà còn là chỗ dựa cho nhân dân thực hiện các quyền lợi hợp pháp của mình.Cóthể nói các giá trị về công bằng xã hội mà thực hiện pháp luật công chứng manglại là chỗ dựa cho nhân dân và là điều kiện để công lý được duy trì Xem xét mộtcách tổng thể thực hiện pháp luật về công chứng có những vai trò sau:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về công chứng có vai trò hỗ trợ cho công
dân, tổ chức và bảo đảm an toàn cho các bên trong quan hệ dân sự, kinh tế bằngcách tạo lập văn bản công chứng (có giá trị chứng cứ không phải chứng minh
Trang 33theo quy định của pháp luật công chứng) bằng việc quy định trình tự thủ tục chặtchẽ, nghiêm ngặt trong quá trình tạo lập văn bản công chứng, kết hợp với sự tinhthông nghề nghiệp của công chứng viên, thực hiện pháp luật về công chứng bảođảm sự bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng,giao dịch tránh bị lừa dối, đe dọa, tránh sự nhầm lẫn về chủ thể, đối tượng nộidung của các hợp đồng giao dịch.
Không chỉ hỗ trợ công dân và tổ chức trong quan hệ dân sự, kinh tế,thương mại, thực hiện pháp luật về công chứng còn là biện pháp phòng ngừa cóhiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt tạo cho công dân và tổ chức khigiao kết hợp đồng có ý thức thận trọng hơn, có trách nhiệm hơn trong việc thểhiện ý chí của mình phù hợp với pháp luật đạo đức xã hội
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa, quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt được khẳngđịnh thì vai trò của thực hiện pháp luật về công chứng ngày càng được tằngcường Trong điều kiện hiện nay thực hiện pháp luật về công chứng còn là mộttrong những thiết chế đảm bảo quyền dân chủ, góp phần đảm bảo trật tự, ổn định
xã hội, làm lành mạnh hóa đời sống dân sự, tạo điều kiện để công dân và các tổchức thực hiện tốt hơn quyền tự do sở hữu, tự do định đoạt, đảm bảo các nguyêntắc của kinh tế thị trường
Như vậy, thực hiện pháp luật về công chứng chính là mộttrong nhữngphương tiện, công cụ tạo ra khả năng để công dân và các tổ chức tự bảo vệ cácquyền tự do và lợi ích chính đáng của mình, đồng thời góp phần nâng cao dân trípháp lý, mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm của công dân trong giao lưu dân
sự, kinh tế, tạo môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh góp phần thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước
Thứ hai, thực hiện pháp luật về công chứng góp phần hỗ trợ tích cực cho
Nhà nước trong việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật.Thực hiện phápluật về công chứng là phương tiện hữu hiệu để Nhà nước thực hiện việc quản lýhoạt động nghề nghiệp của công chứng viên, đồng thời nêu cao vai trò tự quản của
tổ chức hành nghề công chứng Nhà nước thực hiện việc quản lý hoạt
Trang 34động thông qua việc ban hành pháp luật và chính sách, nhằm tạo ra khuôn mẫu xử
sự chung, quy định các biện pháp, các chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.Thông qua thực hiện pháp luật về công chứng Nhà nước đảm bảo cho các côngchứng viên có năng lực, thực hiện được việc hành nghề chuyên nghiệp mà không bịcản trở hoặc can thiệp không đúng, không bị đe dọa truy tố hoặc bị xử lý bằng biệnpháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác vì bất kỳ một hành động nào docông chứng viên thực hiện phù hợp với trình tự thủ tục thực hiện công chứng vàtiêu chuẩn đạo đức của công chứng viên đã được pháp luật quy định
Mặt khác, thực hiện pháp luật về công chứng chính là hoạt động hànhnghề độc lập của công chứng viên, duy trì tính tự quản cao trong hoạt động nghềnghiệp của công chứng viên Thực hiện pháp luật về công chứng cũng đã pháthuy vai trò của công chứng viên trong các mặt của đời sống kinh tế xã hội và đốivới bản thân hệ thống chính trị, góp phần xây dựng và tổ chức vận hành có hiệulực các thiết chế dân chủ của hệ thống chính trị, làm cho các thiết chế ấy thực sự
là của dân, do dân và vì dân
Thứ ba, thực hiện pháp luật về công chứng có vai trò đưa chủ trương quan
điểm của Đảng đi vào cuộc sống nhằm thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảmcông bằng xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế Thực hiện pháp luật về côngchứng chính là một trong những phương tiện công cụ tạo ra khả năng để côngdân và các tổ chức tự bảo vệ các quyền tự do và lợi ích chính đáng của mình khithực hiện các giao dịch dân sự, đồng thời có điều kiện tham gia giám sát việcthực hiện các chính sách pháp luật của cơ quan nhà nước và công chức, viênchức nhà nước được trao quyền
Thứ tư, thực hiện pháp luật về công chứng có vai trò quan trọng trong việc
phục vụ nhân dân và xã hội.Thực hiện pháp luật về công chứng một mặt để côngchứng viên cung cấp các dịch vụ pháp lý chất lượng cho người dân, mặt kháccông chứng viên có thể tham gia vào các nhu cầu đa dạng của đời sống kinh tế
xã hội Thực hiện pháp luật về công chứng góp phần bảo vệ và phát triển các giátrị đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên, bảo vệ sự côngbằng xã hội, lòng tin vào công lý của con người
Trang 351.2.4 Nội dung thực hiện pháp luật về công chứng
Các quy phạm pháp luật về công chứng của nước ta hiện nay được ghinhận trong rất nhiều văn bản (Luật, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư,Quyết định ) của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, liên quan đến tất cả cácmặt về công chứng Trên cơ sở phân tích các nội dung của pháp luật công chứng
ở trên thì nội dung thực hiện pháp luật về công chứng bao gồm:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng
Thứ hai, thực hiện pháp luật về công chứng viên
Thứ ba, thực hiện pháp luật về thủ tục và hoạt động công chứng
Thực hiện pháp luật về thủ tục và hoạt động công chứng bao gồm;
-Thực hiện pháp luật đối với hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất;
- Thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, thuê tài sản;
- Thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho góp vốnbằng tài sản khác;
- Thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồng vay tiền, thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, hợp đồng bảo lãnh;
- Thực hiện pháp luật về công chứng di chúc và các giao dịch thừa kế khác;
- Thực hiện pháp luật về công chứng văn bản bán đấu giá bất động sản;
- Thực hiện pháp luật về công chứng về hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền;
- Nhận lưu giữ di chúc, cấp bản sao văn bản công chứng;
- Thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồng giao dịch khác
Như vậy, thực hiện pháp luật về công chứng là những hoạt động của các chủthể tham gia công chứng làm cơ sở lý luận đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật
về công chứng ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng
1.2.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về công chứng
Để đảm bảo việc thực hiện pháp luật về công chứng cần phải quan tâmđến nhiều yếu tố, từ chất lượng văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực công
Trang 36chứng; các yếu tố liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện pháp luật chođến các yếu tố như trình độ phát triển kinh tế, trình độ văn hóa, ý thức pháp luật,trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức, kinh tế, vật chấtbảo đảm thực hiện pháp luật Cụ thể:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng là yếu tố đầutiên, quyết định đến việc thực hiện pháp luật về công chứng Một hệ thống vănbản quy phạm pháp luật về công chứng đồng bộ, chính xác, chất lượng cao sẽgiúp việc thực hiện pháp luật về công chứng được kịp thời nhanh chóng đúngpháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như công việcquản lý nhà nước
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chứng và việc thực hiệnpháp luật về công chứng có mối quan hệ biện chứng, trong đó hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật về công chứng là yếu tố tiền đề, quyết định đến hiệu quảthực hiện pháp luật về công chứng Ngược lại, thực hiện pháp luật về côngchứng góp phần thực hiện hóa các văn bản quy phạm pháp luật góp phần vàohoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chứng
Thực tiễn công tác công chứng ở nước ta những năm qua cho thấy nhữngbất cập, hạn chế của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chứng Đây
là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những hạn chế trong quá trình thực hiện phápluật công chứng Do đó, việc thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoànthiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chứng là rất cần thiết, tạođiều kiện đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về công chứng
Thứ hai, cơ sở vật chất trang thiết bị và nguồn lực tài chính
Ở mỗi vùng, miền với điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau thì việc thựchiện pháp luật về công chứng cũng không nằm ngoài quy luật đó Trình độ pháttriển kinh tế, xã hội tạo ra tác phong, lối sống tuân thủ pháp luật, tạo ra cơ sở vậtchất cần thiết và điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung
và pháp luật về công chứng nói riêng Do đó, để đảm bảo pháp luật về
Trang 37công chứng chúng ta phải đầu tư phát triển kinh tế ở vùng sâu, vùng xa, vùngđồng bằng dân tộc thiểu số Việc xóa đói, giảm nghèo và đầu tư phát triển kinh
tế là điều kiện quan trọng để đảm bảo việc thực hiện pháp luật nói chung và thựchiện pháp luật về công chứng nói riêng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực tài chính cho hoạt động thựchiện pháp luật về công chứng, cũng là một trong những yếu tố mang tính quyếtđịnh đến chất lượng thực hiện pháp luật về công chứng Các yếu tố đảm bảo choviệc thực hiện pháp luật về công chứng như chất lượng văn bản pháp luật, trình
độ năng lực, phẩm chất của cán bộ làm công tác công chứng… đều phụ thuộc rấtnhiều vào cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực tài chính Nếu thiếu yếu tố vậtchất thì các hoạt động đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về công chứng sẽthiếu hoặc không hiệu quả Do đó, để đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật vềcông chứng thì phải quan tâm đến cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực tàichính phục vục cho công tác thực hiện pháp luật về công chứng
Thứ ba, yếu tố văn hóa
Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theonghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình
độ phát triển của một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồmtất cả những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống
Đảm bảo thực hiện pháp luật về công chứng phụ thuộc rất nhiều vào trình
độ văn hóa của người dân Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp do thiếu hiểubiết pháp luật về công chứng đã vi phạm pháp luật Tuy nhiên, vẫn có một sốngười có trình độ văn hóa nhất định nhưng do lợi ích cá nhân, ý thức pháp luậtchưa cao nên vẫn cố tình vi phạm pháp luật về công chứng Mặt khác chính sự
đa dạng dân tộc đã tạo ra những bản sắc văn hóa đặc trưngriêng có của các dântộc mà Đảng và Nhà nước ta đang bảo tồn, phát huy thì cũng còn lưu giữ, tồn tạinhững phong tục, tập quán lạc hậu cần xóa bỏ nhưng vẫn chưa thực hiện được.Như vậy, để đảm bảo thực hiện tốt pháp luật về công chứng cần phải nâng caotrình độ văn hóa của người dân
Trang 38Thứ tư, trình độ, năng lực, phẩm chất của công chứng viên
Trình độ, năng lực quản lý và phẩm chất chính trị đạo đức của viên chức
là những yếu tố quyết định bảo đảm thực hiện pháp luật đúng đắn, có hiệuquả.Trình độ, năng lực yếu kém, lại thiếu trách nhiệm, thiếu tính chủ động trongviệc triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì pháp luật
dù có đúng đắn cũng chỉ nằm trên giấy.Trình độ, phẩm chất chính trị, đạo đứccủa chuyên viên và công chứng viên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiệnpháp luật về công chứng Như vậy, để bảo đảm việc thực hiện pháp luật về côngchứng ngoài yêu cầu người làm công chứng phải có trình độ chuyên môn, amhiểu bản sắc dân tộc biết vận dụng linh hoạt pháp luật cần phải có phẩm chấtchính trị, đạo đức tốt, trong quá trình thực thi công vụ phải tích cực chủ động,nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về côngchứng
Trang 39Tiểu kết chương 1
Từ việc phân tích khái niệm công chứng qua các văn bản quy phạm phápluật trong từng thời kỳ cho thấy, bản chất công chứng là một hoạt động xã hộinghề nghiệp mang tính dịch vụ công Dịch vụ công là những hoạt động nhằmphục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
và tổ chức Như vậy, cung ứng dịch vụ công là một chức năng – chức năng xãhội của Nhà nước, là yếu tố quan trọng đảm bảo duy trì, củng cố chứng năngquản lý của Nhà nước
Thực hiện pháp luật về công chứng là một dạng quan hệ mà khi được thiếtlập chúng có mối quan hệ đan xen của nhiều lĩnh vực pháp luật như đất đai, nhà
ở, dân sự, kinh tế, thương mại, ngân hàng, công chứng…Vì vậy, yêu cầu tất yếukhách quan đối với Công chứng viên khi thực hiện công chứng không chỉ tuânthủ đúng pháp luật những vấn đề mang tính thủ tục, nghiệp vụ chuyên môn củamột Công chứng viên như: trung thực, thật thà, khách quan, công tâm và độclập, mà đòi hỏi Công chứng viên phải am tường các lĩnh vực pháp luật có liênquan bao gồm cả pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành để có đủ khả năngkiểm định, thẩm tra tính hợp pháp của giao dịch Có như vậy, các văn bản côngchứng do Công chứng viên thực hiện mới đảm bảo sự an toàn pháp lý cho cácbên tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại đảm bảo hợp đồng, giao dịch
có giá trị thi hành và có giá trị chứng cứ Từ đây, chúng ta nhận thức được rằng,thực hiện pháp luật về công chứng là sự hiện thực hóa các quy định của phápluật về công chứng vào đời sống thực tiễn, cũng là quá trình làm cho các hành vicủa các chủ thể tham gia giao dịch dân sự được đảm bảo an toàn về mặt pháp lý
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNGTRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội thành phố Hà Nội có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp luật về công chứng của các Văn phòng công chứng
2.1.1 Ảnh hưởng về đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lýđược minh họa qua bản đồ hành chính sau:
Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội, Nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng
bằng châu thổ sông hồng, thành phố Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên,
Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh vàHưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Hà Nội cách thành phố