Sự thay đổi mô hình các cấp xét xử của Tòa án; thay đổi cơ sở pháp lý cơ bản từ Pháp lệnhgiải quyết các vụ án hành chính thành Luật tố tụng hành chính năm 2010, đặcbiệt là lần sửa đổi nă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN TRUNG THÙY NGHIÊN
XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH - TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiền pháp và luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP
VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Địa điểm: Tầng 2, Nhà A, Học viện Hành chính Quốc gia
Số: 77 – Đường Nguyễn Chí Thanh – Quận Đống Đa – Thành phố
Hà Nội
Thời gian: ………
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc giahoặc trên website Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính quốc gia
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Những năm qua, hoạt động xét xử án hành chính trên cả nước đã bắt đầutrở nên phổ biến, có sự tăng dần về số vụ và tính chất phức tạp so với giai đoạntrước Tuy nhiên, cũng bởi tính chất mới mẻ và phức tạp nên xét xử án hànhchính hiện nay tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc công tác xét xử Sự thay đổi
mô hình các cấp xét xử của Tòa án; thay đổi cơ sở pháp lý cơ bản từ Pháp lệnhgiải quyết các vụ án hành chính thành Luật tố tụng hành chính (năm 2010), đặcbiệt là lần sửa đổi năm 2015, làm phát sinh rất nhiều nghĩa vụ và trách nhiệmmới đối với hệ thống tòa án.Trong khi đó, số lượng khiếu kiện hành chính trên
cả nước không ngừng gia tăng; đặc biệt ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trungương luôn là cấp có tổng số vụ án hành chính được thụ lý cao nhất
Thực tế cho thấy, hoạt động xét xử vụ án hành chính của Tòa Hànhchính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cũng không phải một ngoại lệ Với
số lượng án lớn, nội dung phức tạp và liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lýhành chính nhà nước, Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội rấtphù hợp trở thành căn cứ để phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm, là tàiliệu tham khảo và áp dụng nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hành chínhtại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên phạm vi cả nước
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Xét xử vụ án hành
chính từ thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc
sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tới nay, liên quan tới mảng đề tài này đã có rất nhiều tác phẩm và côngtrình nghiên cứu cá nhân có chất lượng, trở thành cơ sở khoa học cả về lýluận và thực tiễn Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về đề tài xét xử án hành chính tạiTòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn chưa vẫn chưa được khai thác và quan tâmđúng mức Vì vậy việc lựa chọn đề tài “Xét xử án hành chính từ thực tiễn Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội” trên tinh thần kế thừa những nghiên cứutrước đó nhưng có hướng tiếp cận cụ thể, không trùng khớp với các côngtrình đã được công bố
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Phân tích hệ thống pháp luật hiện hành về hoạt động tố tụng hành chính,đánh giá hoạt động xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố HàNội để chỉ ra những khó khăn, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệthống pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác xét xử vụ án hành chính tại Tòa ánnhân dân Hà Nội nói riêng, Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cả nước nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận cùng quy định của pháp luậthiện hành về tố tụng hành chính làm căn cứ soi chiếu thực tiễn xét xử vụ ánhành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Phân tích, đánh giá thực trạng xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhândân thành phố Hà Nội (giai đoạn 2013 đến hết 2017), chỉ ra những thành công,hạn chế
- Rút ra các vấn đề trọng tâm, nêu giải pháp hoàn thiện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tình hình xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân thành phố HàNội, đánh giá trên cơ sở phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận và hệ thống vănbản pháp luật hiện hành về lĩnh vực tố tụng hành chính
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – Lenin
- Phương pháp quan sát thực tế;
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, hồ sơ, bản án;
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp số liệu; đánh giá, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã đề cập và hệ thống hóa các vấn đề lý luận trong hoạtđộng Xét xử vụ án hành Trên cơ sở thực tiễn xét xử vụ án hành chính tạiTAND Thành phố Hà Nội, luận văn đưa ra đề xuất, giải pháp hữu ích, gópphần hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử vụ án hành chính trên
Trang 5phạm vi cả nước nói chung và tại TAND Thành phố Hà Nội nói riêng Kếtquả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong hoạt độngnghiên cứu khoa học.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xét xử vụ án hành chính
Chương 2: Thực trạng xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhân dânThành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động xét xử vụ
án hành chính từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1.1 Những khái niệm cơ bản về xét xử vụ án hành chính
1.1.1 Vụ án hành chính
Vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính được Tòa án có thẩmquyền thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối vớiquyết định hành chính, hành vi hành chính mà chủ thể khiếu kiện cho rằngviệc thực hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính đó gây ảnh hưởngđến quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Một vụ việc được coi là vụ án hành chính khi và chỉ khi có yêu cầu khởikiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với quyết định hành chính, hành vihành chính và khiếu kiện này được Tòa án thụ lý
1.1.2 Xét xử vụ án hành chính
Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việcnhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đónhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độtrái hay không trái pháp luật của vụ việc
Xét xử vụ án hành chính là việc phán xét của Tòa án về tính hợp phápcủa các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộcthôi việc do cơ quan hành chính nhà nước ban hành bị khiếu kiện trên cơ sởLuật Tố tụng Hành chính
Trang 6Xét xử vụ án hành chính có những đặc thù riêng xuất phát từ chủ thể vàđối tượng của tranh chấp hành chính, vì vậy việc xét xử vụ án hành chính cónhiều điểm khác biệt:
các quyết địnhhành chính, hành vi hành chính ban hành bởi c .
Thứ hai, xét xử vụ án hành chính là mảng công tác đặc thù trong các loại
xét xử của Tòa án hiện nay khi có chủ thể bị xét xử là cơ quan hành chính nhànước, cán bộ, công chức, người được trao thẩm quyền quản lý hành chính.Trong khi đó, nhóm chủ thể này có quyền nhân danh nhà nước ban hành cácvăn bản pháp luật để đặt ra các quy phạm hoặc mệnh lệnh cụ thể buộc đốitượng bị quản lý có liên quan phải thực hiện
chính ở nước ta có nhiều điểm khác biệt Nếu tại nhiều quốc gia, việc xét xửhành chính tuân theo quy trình, thủ tục tố tụng dân sự, thì tại Việt Nam, xét
xử án hành chính được dựa trên những quy định của pháp luật Tố tụng Hành
các quy đị
Thứ tư, khác với tố tụng dân sự, trong tố tụng hành chính không có thủ
tục “hòa giải” mà thay vào đó là thủ tục “đối thoại”
Thứ năm, việc xét xử vụ án hành chính không làm mất hiệu lực của
quyết định hành chính, hành vi hành chính hay bản án hành chính đã có hiệulực thi hành trừ trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp
Trang 7- Tòa án nhân dân;
- Viện Kiểm sát nhân dân
Những người tiến hành tố tụng, gồm:
- Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Thư ký Tòa án;
- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên;
- Kiểm tra viên, Thẩm tra viên;
- Hội thẩm nhân dân tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm (trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn)
1.2.1.2 Người tham gia Tố tụng Hành chính
Đương sự
Luật Tố tụng Hành chính (2015) quy định: “Đương sựbao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Cụ thể: Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính
đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộcthôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnhtranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (gọi chung làdanhsách cử tri)
Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành
vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy
không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính cóliên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác
đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tốtụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đương sự đủ điều kiện tham xét xử án hành chính là người có đầy đủnăng lực pháp luật và năng lực hành vi Tố tụng Hành chính hoặc có người đạidiện hợp pháp theo quy định pháp luật
Một số chủ thể khác phát sinh trong các trường hợp cụ thể như:
Người đại diện của đương sự, áp dụng cho các trường hợp đương sự là
người chưa thành niên hoặc có hạn chế về năng lực hành vi
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thường là các
Trang 8luật sư; trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quyđịnh của Luật trợ giúp pháp lý.
Người làm chứng: là người biết các tình tiết liên quan tới nội dung vụ án
được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng Người mất năng lực hành vi dân sựkhông thể là người làm chứng
Người giám định: Là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy
định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định được các bênđương sự thỏa thuận lựa chọn hoặc được Tòa án trưng cầu để giám định đốitượng theo yêu cầu của các bên đương sự
Người phiên dịch: Trong trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng
được tiếng Việt Người phiên dịch phải được các bên đương sự thỏa thuận lựachọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu đề phiên dịch
1.2.2 Đối tượng của xét xử vụ án hành chính
Căn cứ Luật Tố tụng Hành chính, đối tượng xét xử vụ án hành chính gồmquyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc
Quyết định hành chính bị kiện là văn bản do cơ quan hành chính nhà
nước, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành, quyết định về vấn đề cụ thểtrong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặcmột số đối tượng cụ thể mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế,chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nộidung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức, cá nhân
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổchức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, thực hiện hoặc khôngthực hiện công vụ theo quy định của pháp luật mà hành vi đó gây ảnh hưởngđến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việcđối với công chức thuộc quyền quản lý của mình
Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
là quyết định được ban hành bởi Hội đồng cạnh tranh hoặc Bộ trưởng Bộcông thương về việc xem xét lại một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định
Trang 9xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc Thủtrưởng cơ quan quản lý cạnh tranh
1.2.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Điều 32
Luật Tố tụng Hành chính (2015) Theo Luật Tố tụng Hành chính (2015), đối
với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấphuyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thì thẩm quyền giải quyết theothủ tục sơ thẩm thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh (chứ không thuộc thẩmquyền của Tòa án cấp huyện như quy định của Luật Tố tụng Hành chính năm2010) Quy định này có ý nghĩa trong việc thúc đẩy dân chủ, công khai, minhbạch nền hành chính, tạo điều kiện để thẩm phán thực hiện tốt nguyên tắc độclập và chỉ tuân theo pháp luật
1.3 Vai trò của xét xử vụ án hành chính
Xét xử vụ án hành chính có nhiều ưu điểm hơn giải quyết khiếu nại hànhchính trong việc bảo đảm tính công bằng, dân chủ trong mối quan hệ côngdân – nhà nước,tăng cường sự kiểm soát để nâng cao hiệu quả, đảm bảo tínhpháp chế trong hoạt động quản lý nhà nước
Thứ nhất, xét xử vụ án hành chính là phương thức bảo vệ và đảm bảocác quyền, lợi ích của công dân
Thứ
1.4 Các yếu tố đảm bảo hoạt động xét xử vụ án hành chính
Các yếu tố chung bảo đảm cho xét xử vụ án hành chính bao gồm: cáchthức tổ chức bộ máy nhà nước và việc phân quyền cho hệ thống Tòa án; hệthống pháp luật tố tụng hiện hành và hệ thống pháp luật trong lĩnh vực quản
lý hành chính nhà nước
Các yếu tố riêng bảo đảm cho xét xử vụ án hành chính bao gồm: yếu tốnhân lực, tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trìnhgiải quyết vụ án
Trang 10cơ quan xét xử độc lập, để đảm bảo việc giải quyết khiếu kiện hành chínhđược khách quan và công tâm hơn so với giải quyết khiến nại của cơ quanhành chính nhà nước Bên cạnh đó, xét xử vụ án hành chính còn là phươngthức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong nền hành chính nhà nước, là phươngthức kiểm tra, giám sát hữu hiệu đối với các cơ quan hành chính và công chứcnhà nước nhằm ngăn ngừa hiện tượng làm quyền, lộng quyền, trốn tránh tráchnhiệm Hoạt động này góp phần loại trừ những hiện tượng tiêu cực, cửaquyền, quan liệu trong bộ máy hành chính, giúp xây dựng nền hành chínhtrong sạch, năng động, chuyên nghiệp và ngày càng hiện đại, hoạt động hiệuquả hơn trong việc phục vụ người dân, đồng thời tạo dựng lòng tin vững vàngcủa người dân trong hoạt động quản lý của nhà nước.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị trên địa bàn và Quá trình phát triển của Tòa hành chính Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trungtâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan trungương Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan đại diệnngoại giao, tổ chức quốc tế và nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoạiquan trọng nhất của đất nước Song song cùng sự sôi động của nền kinh tế vàquá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, Hà Nội cũng đang phải đối mặt vớinhiều khó khăn nảy sinh từ cơ chế chính sách, quy mô, cấp độ, tính phức tạptrong quản lý giữa các địa phương, trên địa bàn phát sinh nhiều tranh chấp,khiếu kiện trên mọi lĩnh vực đời sống Các vụ án được giải quyết tại tòa ánngày càng gia tăng về số lượng cũng như độ phức tạp, đòi hỏi toàn ngành Tòa
án trên địa bàn thành phố không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng giảiquyết vụ án hành chính để đảm bảo kỷ luật, kỷ cương quản lý hành chính nhànước trên địa bàn cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.Tòa Hành chính thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội là Tòachuyên trách xét xử sơ thẩm những vụ án hành chính theo quy định của phápluật Tố tụng Hành chính; xét xử phúc thẩm những vụ án hành chính mà bản
Trang 11án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bịkháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng Tòa Hành chínhthuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội có vai trò quan trọng của mìnhtrong việc bảo đảm tôn trọng quyền công dân, quyền con người, tạo ra một cơchế kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước rõ nét Với chức năng xét xử hànhchính, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chínhnhà nước giữa công dân với cơ quan hành chính nhà nước, Tòa Hành chính
đã góp phần thúc đẩy các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chứcnhà nước phải tự nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyện môn và ý thứctrách nhiệm, đồng thời có những thay đổi phù hợp trong thủ tục cũng nhưphương thức điều hành, quản lý xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho công dânthực hiện đầy đủ các quyền tự do dân chủ của mình
2.2 Tình hình xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 -2017
2.2.1 Cơ sở pháp lý của xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Cho đến nay, hoạt động xét xử của Tòa Hành chính thuộc Tòa án nhândân Thành phố Hà Nội được thực hiện dựa trên các văn bản chủ đạo sau:Luật Tố tụng Hành chính (năm 2015)
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020
Các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, như:
- Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật Tố tụngHành chính của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sửa đổi một sốkhoản tại Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP);
- Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP sửa đổi Nghị quyết HĐTP hướng dẫn thi hành quy định của Luật Tố tụng Hành chính của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
02/2011/NQ Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP về biểu mẫu trong Tố tụng Hành chính của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Bên cạnh các căn cứ pháp lý điều chỉnh trực tiếp hoạt động Tố tụngHành chính trong giải quyết vụ án hành chính, tòa án trong quá trình xét xửcòn cần phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật có tính chuyên môn, riêng
Trang 12biệt như luật đất đai, tài chính, lao động, dân sự,… để được đưa ra khởi kiện.
2.2.2 Kết quả xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2013 tới năm 2017
Theo báo cáo tổng kết từ năm 2013 tới năm 2017 của Tòa án Nhân dânThành phố Hà Nội, số vụ án được tòa thụ lý, giải quyết, xét xử như sau: Năm
2013, Tòa thụ lý 219 vụ việc, xét xử sơ thẩm 10 vụ, xét xử phúc thẩm 187 vụ.Năm 2014, Tòa thụ lý 152 vụ việc, xét xử sơ thẩm 14 vụ, xét xử phúc thẩm
121 vụ Năm 2015, Tòa thụ lý 121 vụ việc, xét xử sơ thẩm 9 vụ, xét xử phúcthẩm 72 vụ Năm 2016, Tòa thụ lý 166 vụ việc, xét xử sơ thẩm 50 vụ, xét xửphúc thẩm 86 vụ Năm 2017, Tòa thụ lý 467 vụ việc, xét xử sơ thẩm 73 vụ,xét xử phúc thẩm 111 vụ Đặc điểm người khởi kiện đa số là cá nhân (94% -100%), đối tượng bị khiếu kiện chủ yếu là cơ quan, tổ chức (90% - 95%).Không có vụ án nào trong quá trình xét xử phải áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời Một phần ba số vụ án có sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp cho đương sự và có sự tham gia của Viện kiểm sát
So sánh tương quan với các xét xử khác, số vụ án hành chính chiếm tỉ lệthấp trên tổng số vụ án được thụ lý và xét xử, tuy nhiên là án khó, số án tồnđọng chiếm tỉ lệ cao Khiếu kiện trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai
và trật tự xây dựng đô thị, thường chiếm trung bình từ 85% trong tổng sốkhiếu kiện hành chính hàng năm Đây là 2 trong số những lĩnh vực khiếu kiện
có tính chất phức tạp do hệ thống quy phạm pháp luật chưa thực sự đồng bộ,
có nhiều thay đổi về luật cũng như các Nghị định của Chính phủ
2.2.3 Đánh giá kết quả xét xử vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 – 2017
2.2.3.1 Những ưu điểm đã đạt được
Từ thực trạng xét xử vụ án hành chính trên địa Thành phố Hà Nội giai
đoạn 2013 - 2017, có thể thấy, cùng với chiến lược cải cách tư pháp, đổi mới
hoạt động trong lĩnh vực xét xử, Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội đã có những bước tiến căn bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượngxét xử Qua các năm, số lượng án hành chính được thụ lý và đưa ra xét xửngày càng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt sau giai đoạn sửa đổi luật Tố tụnghành chính, năm 2016 và 2017 Số lượng vụ án bị hủy, sửa có tỉ lệ giảm dần.Các phiên tòa xét xử có sự tham gia của Viện kiểm sát, Người bảo vệ quyền,
Trang 13lợi ích hợp pháp cho đương sự chiếm trên 30% Tòa Hành chính Tòa án nhândân Thành phố Hà Nội cũng có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Quản lýhành chính, Viện kiểm sát trong quá trình xác minh thu thập chứng cứ; hạnchế án quá hạn, tạm đình chỉ do lỗi chủ quan của thẩm phán Đồng thời côngtác đối thoại, tranh tụng tiếp tục được đẩy mạnh Hoạt động xét xử đúng quytrình, nghiêm minh, đảm bảo cho người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủquyền và nghĩa vụ của mình Chính vì vậy, hoạt động xét xử nói chung và xét
xử vụ án hành chính nói riêng đã và đang có những đóng góp tích cực trongviệc giữ vừng ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển, kinh tế, văn hóa xã hộitrên địa bàn thành phố Hà Nội
Vấn đề xác định đối tượng khởi kiện
Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính là quyết định hành chínhmang tính cá biệt do cơ quan hành chính có thẩm quyền ban hành hoặc hành
vi hành chính của công chức nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước ápdụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức được cho là xâm phạm tới quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó Mặc dù Luật đã có quy định(Điều 30 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015) về xác định đối tượng khởi kiệnthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, và Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011, được sửa đổi, bổ sung trong Nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vềHướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng Hành chính đã có hướngdẫn cụ thể hơn về vấn đề này Tuy nhiên như vậy vẫn chưa đủ chi tiết vì thực tế
áp dụng rất phức tạp, không chỉ người khởi kiện mà bản thân cơ quan tiến hành
tố tụng cũng có sự nhầm lẫn trong việc xác định đối tượng khởi kiện Đặc biệt,trong lĩnh vực đất đai, sự nhầm lẫn này diễn ra khá phổ biến
Vấn đề xác minh, thu thập chứng cứ
Trên thực tế vấn đề thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính luôn gặp