1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỊA vị PHÁP lý HÀNH CHÍNH của CHẤP HÀNH VIÊN TRUNG cấp từ THỰC TIỄN các cơ QUAN THI HÀNH án dân sự TỈNH QUẢNG BÌNH

118 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 92,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thi hành án dân sự, Chấp hành viên nói chung và Chấp hành viên trung cấp nói riêng là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật;

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌ

C VIỆ

N HÀ NH CH ÍN

H QU ỐC GI A

ĐINH QUANG THÀNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH

C Ủ A C

Trang 2

HẤP HÀNH VIÊN TRUNG CẤP - TỪ THỰC TIỄN CÁC CƠ QUAN THI

HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH QUẢNG

BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌ

C VI ỆN HÀ NH CH ÍN

H QU ỐC GI A

ĐINH QUANG THÀNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH

C Ủ A C

Trang 4

HẤP HÀNH VIÊN TRUNG CẤP - TỪ

THỰC TIỄN CÁC CƠ QUAN THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Công trình luận văn tốt nghiệp này do tôi trực tiếp nghiên cứu, thực hiện và thể hiện quan điểm cá nhân tôi trên cơ sở nghiên cứu khoa học trung thực Những thông tin, tài liệu và số liệu trong luận văn này của tôi là chính xác, trung thực.

Tôi cũng cam kết và đảm bảo các nội dung trình bày trong luận văn, các kết quả nghiên cứu, kết luận khoa học trong luận văn này không trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trước đây.

Thừa Thiên Huế, ngày tháng

Học viên

Đinh Quang Thành

Trang 6

LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện luận văn , tôi luôn luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Thị Cúc, người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành

luận văn này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, các Khoa, Phòng cũng như các thầy cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, trong việc thu thập số liệu, thông tin cần thiết phục vụ thực hiện luận văn tốt nghiệp.

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Luật Hành chính - Luật Hiến pháp LH3.T2 đã cùng tôi chia sẽ kiến thức

và kinh nghiệm trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.

Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã hết sức cố gắng trong việc tiếp thu, trau dồi những kiến thức đóng góp của Quý thầy, cô giáo và bạn

bè, đã tham khảo thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, song khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được thông tin góp ý của Quý thầy, cô và bạnđọc.

Xin chân thành cảm ơn!./.

Học viên Đinh Quang Thành

Trang 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHẤP

HÀNH VIÊN TRUNG CẤP THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 9

1.1 Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự 9

1.1.1 Quan niệm, lịch sử hình thành Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân

Trang 8

1.3.4 Năng lực của Chấp hành viên trung cấp 29

1.3.5 Ý thức pháp luật trong xã hội 29

1.3.6 Một số yếu tố khác: 30

Tóm tắt Chương 1 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRUNG CẤP TRONG CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH QUẢNG BÌNH 33

2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình tác động đến địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp .33

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

2.1.4 Về văn hóa - xã hội: 36

2.1.5 Về quốc phòng - an ninh 37

2.2 Tổng quan tổ chức và hoạt động của các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình 38

2.2.1 Cơ cấu tổ chức 38

2.2.2 Tình hình đội ngũ Chấp hành viên trung cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 41

2.2.3 Kết quả công tác thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình từ năm 2012 đến năm 2017 43

2.3 Thực tế địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình 50

2.3.1 Địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn chung của chấp hành viên và nhiệm vụ, quyền hạn riêng của Chấp hành viên trung cấp 50 2.3.2 Địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong việc thực

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự:

Trang 9

2.4 Đánh giá địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi

hành án dân sự tỉnh Quảng Bình 82

2.4.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 82

2.4.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 85

Tóm tắt chương 2 88

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRUNG CẤP TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 89

3.1 Phương hướng nâng cao địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong thi hành án dân sự 89

3.1.1 Cần bảo đảm tính độc lập của Chấp hành viên trung cấp 89

3.1.2 Cần phân định rõ hơn về thẩm quyền, trách nhiệm của Chấp hành viên trung cấp 92

3.1.3 Tăng quyền hạn cho Chấp hành viên trung cấp và Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh 92

3.1.4 Nâng cao địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp đồng bộ với cải cách tư pháp, cải cách hành chính 94

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự 94

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự 94

3.2.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án dân sự.96 3.2.3 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của Chấp hành viên trung cấp.97 3.2.4 Kiểm soát tốt hoạt động của Chấp hành viên trung cấp 98

3.2.5 Nâng cao ý thức pháp luật cho các bên liên quan 100

KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

THADS TNHH UBND XHCN

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng Chấp hành viên trung cấp tính đến ngày 30/9/2017

42 Bảng 2.2: Kết quả thi hành án dân sự về việc của cơ quan thi hành án tỉnhQuảng Bình từ năm 2012 đến năm 2017 44 Bảng 2.3: Kết quả thi hành án dân sự về tiền của cơ quan thi hành án tỉnhQuảng Bình từ năm 2012 đến năm 2017 45 Bảng 2.4 Kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của các cơ quan Thihành án dân sự tỉnh Quảng Bình từ năm 2012 đến năm 2017: 72

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác thi hành án dân sự có thể coi là khâu, là công đoạn cuối cùng

để buộc một hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm về dân sự theo các nội dung phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan tố tụng Hay nói cách khác, thi hành án dân sự

là việc tổ chức thực thi trên thực tế các quyền, nghĩa vụ về phần dân sự như thanh toán tiền, xử lý tài sản, xử lý vật chứng, thực hiện các công việc, các hành vi và các nghĩa vụ khác của các chủ thể được quy định trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Trong thi hành án dân sự, Chấp hành viên nói chung và Chấp hành viên trung cấp nói riêng là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; đồng thời, Chấp hành viên trung cấp là người có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khá lớn, có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị nói riêng và của Hệ thống cơ quan Thi hành án dân sự nói chung, là những nhân tố tích cực, quan trọng góp phần đưa hệ thống các cơ quan Thi hành

án dân sự hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.

Thực trạng công tác thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số tồn tại như số vụ việc không có điều kiện thi hành tồn đọng qua các năm ngày càng gia tăng, hiện tượng tiêu cực, vô tâm, tắc trách, vi phạm những nghĩa vụ hoặc lạm dụng những quyền hạn theo quy định của pháp luật còn nhiều Mặt khác, hành lang pháp lý cho Chấp hành viên nói chung và Chấp hành viên trung cấp nói riêng thực hiện nhiệm vụ chưa đầy đủ Chẳng hạn, muốn tổ chức cưỡng chế thi hành án phải có lực lượng công an bảo vệ những người tham gia công

Trang 13

tác cưỡng chế, nếu cơ quan công an không phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo

vệ sự an toàn về người và tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự cũng không thể tổ chức cưỡng chế thi hành án…Việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Chấp hành viên trung cấp nói riêng và của cơ quan thi hành án dân

sự nói chung còn phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp của các ngành, các cấp có liên quan như chính quyền địa phương và một số cơ quan chuyên môn khác….Đây chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả hoạt động của công tác thi hành án dân sự và địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp.

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ra đời đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong công tác thi hành án dân sự, đó là tạo ra một nền tảng hành lang pháp lý cơ bản nhất, phù hợp, hiệu quả của công tác thi hành án dân sự.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm

2014 được ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 đã hoàn thiện hơn

về nhiều mặt của thể chế pháp lý đối với công tác thi hành án dân sự.

Sau hơn sáu năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm

2008 và hơn 02 năm thực hiện những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật Thi hành án dân sự, văn bản luật này đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở những điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, Luật Thi hành án dân sự được ban hành và các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, quyết định được ban hành nhằm cụ thể hóa, đi vào đời sống xã hội làm thành một chỉnh thể hệ thống pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật, các trình tự, thủ tục, cơ cấu tổ chức, nhân sự của hệ thống các

cơ quan thi hành án dân sự để đưa các bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết

Trang 14

phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại, ra tổ chức thi hành trên thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Thứ hai, Luật thi hành án dân sự và các nghị định, thông tư và các văn bản dưới luật khác quy định về thi hành án dân sự hiện hành đã quy định một cách đầy đủ, rõ ràng, trao quyền, gắn trách nhiệm, nâng cao rõ rệt địa vị pháp lý, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các chức danh của những công chức làm công tác thi hành án dân sự, trong đó có chức danh Chấp hành viên trung cấp, đối tượng được nghiên cứu trong luận văn này.

Mặc dù vậy, nhìn dưới góc độ một người nghiên cứu và lựa chọn đề tài về địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 vẫn còn tồn tại một số bất cập nổi bật như sau:

Một là, hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành còn có sự cắt khúc, tách rời, thiếu đồng bộ và thiếu mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, dẫn đến một số mặt hiệu quả phối hợp, hiệu quả, hiệu lực trong việc tổ chức đưa bản án, quyết định ra thi hành còn chưa thực sự tương xứng với vai trò, tầm quan trọng của hoạt động này.

Hai là, trong Luật Thi hành án dân sự hiện hành, chỉ quy định

về Chấp hành viên trung cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn chung của Chấp hành viên chứ không quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn riêng của Chấp hành viên trung cấp.

Vì những bất cập, tồn tại nêu trên, tác giả chọn đề tài “Địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp – Từ thực tiễn các cơ quan Thi hành

án dân sự tỉnh Quảng Bình” để nghiên cứu làm rõ về vị trí, tầm quan trọng, địa

vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trên phương

Trang 15

diện lý luận và trên thực tế công tác thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình, từ đó mong muốn sẽ góp phần đề xuất các giải pháp, phương hướng nhằm nâng cao địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát, tìm hiểu và rà soát các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự và liên quan đến vai trò, tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án dân

sự, các chức danh trong tổ chức thi hành án dân sự, có các công trình sau:

a) Đề tài nghiên cứu khoa học

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Đề án kiện toàn mô hình tổ chức

và đội ngũ cán bộ thi hành án để thực hiện có hiệu quả Luật Thi hành án dân

sự năm 2008”, mã số 2010-8219 do PGS.TS Nguyễn Văn Luyện, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự làm chủ nhiệm đề tài;

- Đề án cấp Bộ: “Khảo sát khoa học về quy trình, thủ tục thi hành các bản án có tài sản thi hành là bất động sản và các giải pháp nhằm đảm bảo tính thống nhất cho các quy trình này” do bà Đinh Thị Mai Phương làm chủ nhiệm theo Quyết định số 2678/QĐ-BTP ngày

09/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

b) Luận án Tiến sĩ Luật học

- Đề tài: “Hoàn thiện pháp luật Thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, năm 2008;

- Đề tài: “Hiệu quả áp dụng pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ Luật học tại Học viện Chính trị -Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Đặng Đình Quyền, năm 2012.

c) Luận văn Thạc sĩ Luật học

Trang 16

- Đề tài: “Đổi mới tổ chức thi hành án dân sự ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Quang Thái, năm 2003.

án dân sự ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thị Phíp, năm 2009;

Đề tài: “Áp dụng pháp luật thi hành án dân sự của cơ quan Thi hành án ở thành phố Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Hoàng Giang, năm 2010;

- Đề tài: “Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở thành phố Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thị Kim Tuyến, năm 2010;

- Đề tài: “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật tại Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, mã số: 60.38.30 của tác giả Phan Huy Hiếu, năm 2012;

- Đề tài: “Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thành Bắc năm 2013;

- Đề tài: “Xây dựng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội của tác giả Nguyễn Xuân Thái năm 2016;

- Đề tài: “Địa vị pháp lý của Thẩm tra viên thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật tại Học viện khoa học xã hội,

mã số: Mã số: 60.38.01.02 của tác giả Nguyễn Hồng Nhung, năm 2016.

Ngoài ra, còn có các tài liệu tham khảo khác như: Giáo trình Kỹ năng

Thi hành án dân sự (phần chung và phần nghiệp vụ) và Tài liệu bồi dưỡng

Trang 17

ngạch Chấp hành viên trung cấp của Học viện Tư pháp; Sổ tay nghiệp vụ thi hành án dân sự - Tổng cục Thi hành án dân sự….

Các đề tài kể trên, nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về thi hành án dân

sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về địa vị pháp lý hành chính của

Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình. Do

đó, đề tài “Địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp

– Từ thực tiễn các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình” là một đề tài khoa học độc lập, không có sự trùng lắp với các đề tài đã được nghiên cứu, công bố trước đó Tuy nhiên, đề tài mà tác giả nghiên cứu vẫn mang tính thời

sự, tính thực tế và kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra trong thi hành án dân sự tại Quảng Bình.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

Thứ nhất, Phân tích thực trạng địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp từ thực tiễn công tác thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình, đánh giá kết quả đạt được, nêu ra những tồn tại, bất cập khi thực hiện quyền hạn, chức trách của chấp hành viên trung cấp tại các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Thứ hai , tìm ra các nguyên nhân của tồn tại và bất cập để đưa ra các đề xuất mang tính khoa học nhằm nâng cao địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp các cơ quan thi hành án dân sự.

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

sau:Để đạt được mục tiêu trên, luận văn này sẽ thực hiện các nhiệm vụ

- Nghiên cứu, phân tích sâu hơn, làm rõ về cơ sở lý luận về

Trang 18

pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp;

- Nghiên cứu, phản ánh thực trạng địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp từ thực tiễn công tác thi hành án dân sự tại tỉnh

Quảng Bình;

- Đề xuất, kiến nghị một số nội dung, quan điểm nhằm nâng cao địa vị pháp lý hành chính, hiệu quả hoạt động của Chấp hành viên trung cấp nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công trình sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, cơ

sở khoa học, các quy định của pháp luật và thực tiễn về địa vị pháp

lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò, thẩm quyền, phạm vi hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự trong các cơ quan Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình gồm: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình và 08 Chi cục Thi hành án dân sự các huyện, thành phố, thị xã trực thuộc, không đề cập đến hoạt động của Chấp hành viên trung cấp tại cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Quốc phòng và Phòng thi hành án dân sự quân khu.

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2012 – 2017.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận để thực hiện đề tài này là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm:

- Phương pháp tổng hợp các luận điểm khoa học, phân tích, so sánh các luận điểm khoa học, các căn cứ pháp lý…Phương pháp này được áp dụng trong phần cơ sở lý luận tại Chương 1 của luận văn.

Trang 19

- Phương pháp thống kê, phân tích, khảo sát thực tế, so sánh được sử dụng cho những nội dung nêu tại Chương 2 của luận văn.

- Phương pháp phân tích, tổng hợp và quy nạp áp dụng tại Chương 3 của luận văn.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trước hết, việc thực hiện đề tài này sẽ góp phần phân tích sâu hơn

về địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân

sự ở các khía cạnh cơ bản như khái niệm, quan niệm về địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự, nội dung cơ bản địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp.

Mặt khác, về mặt thực tiễn, đề tài này này hướng tới mục đích vận dụng vào thực tiễn để nâng cao hơn nữa địa vị pháp lý hành chính, hiệu quả công tác của Chấp hành viên trung cấp tại các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình nói riêng và trong hệ thống thi hành án dân sự nói chung.

Luận văn này sẽ là một tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự nói chung và các Chấp hành viên trung cấp nói riêng.

7 Cơ cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở Lý luận địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự.

Chương 2: Thực trạng địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý

hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự.

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRUNG CẤP THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự

1.1.1 Quan niệm, lịch sử hình thành Chấp hành viên trung cấp thi hành án

là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Dựa vào những quy định trên cho thấy, Chấp hành viên trung cấp trước hết là công chức Nhà nước.

Trong mỗi cơ quan khác nhau thì có những chức danh khác nhau để thực thi nhiệm vụ của cơ quan đó Chẳng hạn, đối với cơ quan Tòa án thì người thực hiện chức năng xét xử là Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp hay đối với cơ quan Viện kiểm sát thì người thực

Trang 21

hiện chức năng công tố là Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp Tại các Cơ quan thi hành án dân sự đều có các cán bộ làm nhiệm vụ thi hành án và các cán bộ làm các nhiệm vụ khác liên quan đến việc thi hành án, như thủ quỹ, kế toán, thủ kho Nhưng người

có nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác do pháp luật quy định được gọi là Chấp hành viên và theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì: “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều

2 của Luật này Chấp hành viên có ba ngạch: Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp”[29].

Hướng dẫn thực hiện Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Khoản 1 Điều 6 Thông tư 03/2017/TT -BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp Quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp

vụ các ngạch công chức chuyên ngành thi hành án dân sự thì: “Chấp hành viên trung cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, trực tiếp tổ chức thi hành, đôn đốc thi hành các vụ việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự".

Như vậy, theo tác giả Chấp hành viên trung cấp trước hết là công chức Nhà nước, được bổ nhiệm theo những tiêu chuẩn do pháp luật quy định, công tác tại các cơ quan Thi hành án dân sự ở cấp tỉnh, cấp huyện, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra Theo đó, chấp hành viên trung cấp sẽ nhân danh Nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa

án Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, chấp hành

Trang 22

viên trung cấp chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ.

1.1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành Chấp hành viên trung cấp

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 47, với 6 chương, gồm 12 điều, trong đó quy định nguyên tắc: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này”, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà Tại Thông tư

số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp "Về việc thi hành án Hình

và án Hộ" quy định cụ thể những nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Thông tư xác định trách nhiệm thi hành án của Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã và nhấn mạnh vai trò của

ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ thi hành

án Ở nước ta giai đoạn này tồn tại dưới hai hình thức là Thừa phát lại và Ban

Tư pháp xã.

Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về "Cải cách

bộ máy tư pháp và luật tố tụng" Sắc lệnh có 4 chương với 20 điều Tại Điều 19 Sắc lệnh quy định "Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm

vụ đem chấp hành các án Hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án

Hộ mà chính Tòa án huyện và Tòa án trên đã tuyên Việc phát mãi bất động sản và phân phối tiền bán được cũng do Tòa án huyện phụ trách Trong trường hợp có nhiều bất động sản rải rác ở nhiều huyện khác nhau thì Biện lý

sẽ chỉ định một Thẩm phán huyện để việc phát mãi đó vừa có lợi cho chủ nợ lẫn người mắc nợ" Theo quy định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng

Trang 23

Thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án.

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm

1960 quy định tại Điều 24: “Tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự” thì việc thi hành án dân sự do nhân viên chấp hành án thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp hành án được xác định rõ trong luật tổ chức Tòa án nhân dân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.

Ngày 13/10/1972, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên; cùng ngày này, Toà án nhân dân tối cao cũng ban hành Thông tư số 187-TC hướng dẫn thi hành Quyết định số 186- TC nêu trên, tên gọi “Chấp hành viên” được ra đời thay cho “nhân viên chấp hành án” để làm nhiệm vụ thi hành

án dân sự Chấp hành viên được đặt tại Toà án, dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Toà án Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định về dân sự, những khoản xử phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường, hoàn trả lại tài sản trong các bản án, quyết định hình sự; giúp Chánh án Tòa án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án tại các Tòa án nhân dân cấp dưới Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dưới

sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân dân nơi mình công tác.

Như vậy, chức danh Chấp hành viên ra đời từ năm 1972 và trở thành chức danh tư pháp độc lập với chức danh thẩm phán, được biên chế trong các Toà án nhân dân địa phương, có nhiệm vụ chuyên trách thi hành các bản án, quyết định của toà án dưới sự chỉ đạo của chánh án.

Bước ngoặt quan trọng, có tác động mạnh mẽ trong xây dựng, phát

triển đội ngũ cán bộ chấp hành viên được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiến

Trang 24

pháp năm 1980 - Hiến pháp của thời kỳ cả nước hoà bình, thống nhất, độc lập, quá độ lên CNXH Nhằm cụ thể hoá Hiến pháp mới, ngày 03/7/1981, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức toà án nhân dân thay thế Luật năm 1960 Điều 16 của Luật đã giao cho Bộ Tư pháp đảm nhiệm quản lý Tòa án nhân dân địa phương và công tác thi hành án dân sự.

Đến năm 1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự đầu tiên, đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự, đặt cơ sở pháp luật cho công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ chấp hành viên thời kỳ đổi mới.

Trên cơ sở Pháp lệnh, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra Nghị định số 68/HĐBT ngày 06/3/1990, ban hành Quy chế chấp hành viên, quy định chỉ có chấp hành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của toà án Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định số lượng biên chế chấp hành viên cho từng địa phương Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định theo đề nghị của chánh án Toà án nhân dân các địa phương.

Theo Quy chế chấp hành viên, ở Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân huyện có chấp hành viên trưởng và các chấp hành viên Chánh án các toà án này có quyền ra các quyết định thi hành án; chấp hành viên trưởng, chấp hành viên có quyền ra các quyết định cưỡng chế, thực hiện cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động thi hành án của cơ quan thi hành án và chấp hành viên.

Thực tế cho thấy, tuy Bộ Tư pháp được giao chức năng quản lý nhà nước công tác thi hành án, song đội ngũ chấp hành viên vẫn thuộc biên chế của các toà án; chánh án là người trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ, mọi quyết định quan trọng trong thi hành án đều do chánh án quyết định Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định

Trang 25

của toà án nhưng thực tế chỉ là người thừa hành sự chỉ đạo của chánh án mà không có quyền năng thực sự để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, tuyển dụng và các chính sách, chế độ đối với đội ngũ cán bộ chấp hành viên chưa được quan tâm đúng mức, lại thường xuyên bị xáo trộn, vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng; tình trạng tồn đọng án dân sự chưa được thi hành không được khắc phục, trở thành mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong bối cảnh đó, Quốc hội khoá IX đã ra Nghị quyết thực hiện việc chuyển công tác thi hành án dân sự từ Toà án sang Chính phủ Để thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 21/4/1993, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (khoá IX) đã thông qua Pháp lệnh Thi hành án dân sự (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 01/6/1993 (Pháp lệnh năm 1993) Trên cơ sở Pháp lệnh năm 1993, hệ thống các

cơ quan Thi hành án dân sự đã được xây dựng trong cả nước; đội ngũ chấp hành viên đã được quy hoạch, kiện toàn, do Chính phủ thống nhất quản lý; chấp hành viên trở thành một chức danh tư pháp độc lập, có địa vị pháp lý rõ ràng, theo nguyên tắc: chỉ có chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự mới

có thẩm quyền tổ chức việc thi hành án dân sự.

Đến pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì ngạch Chấp hành viên gồm có Chấp hành viên cấp tỉnh và Chấp hành viên cấp huyện và được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ là 05 năm Tuy nhiên, việc quy định ngạch bậc của Chấp hành viên theo hai cấp đã phát sinh nhiều bất cập trong việc sắp xếp, điều động, luân chuyển Chấp hành viên giữa các cơ quan thi hành án dân sự trong phạm vi toàn quốc, không thu hút được cán bộ về công tác ở cơ quan thi hành án dân sự và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp.

Để khắc phục tình trạng trên, bảo đảm sự công bằng giữa công sức mà các Chấp hành viên bỏ ra với tính chất, yêu cầu công việc của họ thì Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm

Trang 26

2014 (Điều 17) đã quy định chấp hành viên có ba ngạch: sơ cấp, trung cấp và cao cấp dựa trên tiêu chuẩn về chuyên môn, trình độ, năng lực, nghiệp vụ, thâm niên, kinh nghiệm công tác mà không phụ thuộc vào đơn vị công tác (cơ quan thi hành án cấp huyện hay cơ quan thi hành án cấp tỉnh), thời hạn bổ nhiệm Chấp hành viên là không kì hạn Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên phải được đảm bảo để thi hành được đúng, kịp thời nội dung bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật Có thể nói, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về kiện toàn của hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự, các chức danh thi hành án dân sự, trong đó

có chức danh Chấp hành viên trung cấp, đây là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và trong cả những nội dung sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015, không có điều khoản riêng nào quy định chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn riêng của Chấp hành viên trung cấp Mà chức danh Chấp hành viên trung cấp được quy định tại Thông tư 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội; Quyết định số 01/2007/QĐ-BNV ngày 17/01/ 2007 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, hiện nay được thay thế bằng Thông tư 03/2017/TT-BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành thi hành án dân sự.

1.1.1.3 Một số quy định của pháp luật hiện hành về thi hành

án dân sự và Chấp hành viên trung cấp

Luật Thi hành án dân sự hiện hành không quy định chức trách, nhiệm

vụ, quyền hạn riêng của từng ngạch Chấp hành viên mà chỉ quy định, nhiệm

vụ, quyền hạn chung của Chấp hành viên Do vậy, Chấp hành viên trung cấp

Trang 27

thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 20 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, gồm: Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền; Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên; Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án; Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án; Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật; Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền

xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm; Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác; Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ; Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.

Ngoài nhiệm vụ, quyền hạn trên, pháp luật quy định Chấp

Trang 28

trung cấp không được làm những việc theo quy định tại Điều 21 Luật Thi hành

án dân sự được sửa đổi, bổ sung 2014 bao gồm: Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm; Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật; Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án; Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án; Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì; Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án; Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.

Tại điều 167 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm

2014 quy định nội dung Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm thực hiện việc hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, miễn nhiệm Chấp hành viên và tại Điều 25 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về việc Chấp hành viên được cấp trang phục, phù hiệu khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp nghề nghiệp và các chế độ ưu đãi khác.

Bên cạnh đó, nhiệm vụ, quyền hạn Chấp hành viên trung cấp còn biểu hiện trực tiếp qua các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Theo khoản 1 Điều 22 Luật Thi hành

Trang 29

án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải là Chấp hành viên” Hướng dẫn thực hiện Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Điều 72 Nghị định số 62/2015/NĐ -CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ quy định: Chi Cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự: Phải là Chấp hành viên sơ cấp trở lên; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự phải

là Chấp hành viên trung cấp trở lên Do đó, Chấp hành viên trung cấp nếu đủ các điều kiện theo quy định thì có thể được bổ nhiệm làm Chi Cục trưởng, Phó Chi cục trưởng; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng thực hiện theo Điều 23 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014

và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Thông tư số 09/2015/TT -BTP ngày 26/6/2015 quy định việc phân cấp quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc Tổng cục Thi hành án dân và các cơ quan Thi hành án dân sự; Thông tư số 02/2017/TT-BTP ngày 23/3/2017 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc hệ thống tổ chức thi hành án dân sự.

1.1.2 Đặc điểm của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự

Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự có các đặc điểm cơ bản sau:

Chấp hành viên thi hành án dân sự nói chung và Chấp hành viên trung trung cấp là một công chức Ngay tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 03/2017/TT- BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành Thi hành án dân sự đã khẳng định rõ Chấp hành viên trung cấp là công chức như sau:

“ Chấp hành viên trung cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, trực tiếp tổ chức thi hành, đôn đốc thi hành các vụ việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính phức tạp, số

Trang 30

tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đến nhiều địa

phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành ándân sự” [17, tr.55]

Tại Điều 3 Thông tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư

pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành Thi hành án dân sự thì chức danh Chấp hành viên thi hành án dân sự được chia làm ba ngạch, với tên, mã ngạch như sau:

1 Chấp hành viên cao cấp Mã số ngạch: 03.299

2 Chấp hành viên trung cấp Mã số ngạch: 03.300

3 Chấp hành viên sơ cấp Mã số ngạch: 03.301

[02, tr.01]

1.1.3 Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân

sự 1.1.3.1 Bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật Thi hành án dân sự

được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì Chấp hành viên trung cấp do

Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm [36, tr.171].

Tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên trung cấp Theo quy định tại Khoản 1, Điều 18 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014,

để trở thành Chấp hành viên trung cấp cần thỏa mãn những điều kiện sau:

Là công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc, trung thực, liêm khiết,

có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân Luật trở lên, đã được đào tạo

về nghiệp vụ thi hành án dân sự, có thời gian làm công tác pháp luật theo quy định, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, ngoài các điều kiện theo quy định nêu trên để được bổ nhiệm vào ngạch Chấp hành viên trung cấp thì bắt buộc phải qua kỳ thi tuyển, hoặc xét tuyển Để tham dự kỳ thi tuyển này, Điều 57 nghị định số 62/2015/NĐ - CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi

Trang 31

hành án dân sự quy định: ngoài việc có đủ tiêu chuẩn của ngạch Chấp hành viên, người tham dự kỳ thi tuyển phải không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật nhưng chưa có kết luận, quyết định cuối cùng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Bên cạnh đó, để được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp thì ngoài những tiêu chuẩn chung đã nêu ở trên, người được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp phải có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên và trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên trung cấp Ngoài ra, theo quy định của Thông

tư số 03/2017/TT-BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành Thi hành án dân sự thì đối với mỗi ngạch Chấp hành viên phải có đủ tiêu chuẩn về năng lực và

trình độ khác nhau Đối với chấp hành viên trung cấp: - Về năng lực: Có kiến thức

lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để vận dụng vào công tác thi hành án dân sự; am hiểu các nội dung về hệ thống pháp luật hiện hành và pháp luật quốc tế liên quan đến công tác thi hành án của cấp mình; am hiểu sâu về nội dung pháp luật về thi hành án dân sự; áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án dân sự; nắm chắc tình hình kinh tế, xã hội của địa phương, của đất nước; có khả năng độc lập

tổ chức thực hiện công việc được giao; có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án; có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án, quyết định của tòa án; có khả năng phân tích, tổng hợp và soạn thảo được văn bản liên quan đến chức trách, nhiệm vụ được giao.

- Về trình độ: Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch Chấp hành viên

Trang 32

trung cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp; có ngoại ngữ trình độ

B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc; có trình độ tin học văn phòng; chủ trì hoặc tham gia xây dựng đề tài, đề án, công trình nghiên cứu khoa học về công tác thi hành án dân sự được áp dụng có hiệu quả trong

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thu hút người có kinh nghiệm làm công tác pháp luật ở các ngành khác từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thi hành án, bên cạnh những đối tượng đã được Luật Thi hành án dân sự 2008 và Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự và đã bổ sung thêm trường hợp người đã từng là chấp hành viên nhưng được bố trí làm nhiệm vụ khác và có

đủ điều kiện quy định tại khoản 1, Điều 18 thì có thể được bổ nhiệm chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua thi tuyển.

Ngoài ra, Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 còn quy định trong trường hợp do nhu cầu cấp bách phải bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1, Điều 18 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014

đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp; có 10 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp; có 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm chấp hành viên Cao cấp không qua thi tuyển Việc xác định tiêu chuẩn và bổ nhiệm chấp hành viên trong một số trường hợp đặc biệt nêu trên được quy định cụ thể tại Điều 18 Luật Thi hành án dân

sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Điều 63 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

Chấp hành viên trung cấp được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm

Trang 33

thông qua hai hình thức đó là thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định tại Điều 62 và Điều 63 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP [08, tr.07].

Trên cơ sở kết quả thi nâng ngạch, xét chuyển ngạch, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định bổ nhiệm vào ngạch Chấp hành viên trung cấp theo quy định.

1.1.3.2 Miễn nhiệm, cách chức, điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên trung cấp

a) Miễn nhiệm, cách chức Chấp hành viên trung cấp

Theo quy định tại Điều 19 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi,

bổ sung năm 2014 thì Chấp hành viên trung cấp được miễn nhiệm trong các trường hợp sau: Chấp hành viên trung cấp đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan khác; Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên; Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì

lý do khác mà không còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.

Căn cứ theo Điều 19 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và khoản 8 Điều 3 Thông tư số 09/2015/TT-BTP ngày 26/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định việc phân cấp quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên cao cấp, Chấp hành viên trung cấp, Chấp hành viên sơ cấp sẽ do Bộ trưởng Bộ Tư pháp miễn nhiệm.

b) Điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên trung cấp Theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP

thì thẩm quyền điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên đang giữ

chức vụ lãnh đạo thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quyết định việc điều động,

Trang 34

luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên từ tỉnh này sang tỉnh khác, Chấp hành viên đang giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Thẩm tra viên đang giữ chức vụ Phó, Vụ trưởng và tương đương thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thuộc Thẩm quyền của

Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên trong địa bàn do mình quản lý Trường hợp điều động, luân chuyển Chấp hành viên đang giữ chức vụ lãnh đạo quản lý thì phải báo cáo xin ý kiến của người có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo trước khi thực hiện điều động, luân chuyển, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự [17, tr.57, 58].

1.2 Địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong thi hành án dân sự

1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp Địa vị pháp lý hành chính là tổng thể các quyền, nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật, phản ánh vị trí, tư cách pháp lý của chủ thể đó trong các

mối quan hệ pháp luật.

Địa vị pháp lý hành chính hay tư cách pháp lý của một chủ thể thể hiện

vị trí, vai trò của một chủ thể trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý phát sinh, ràng buộc, xác định quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, là cơ sở để xem xét và xử lý các mâu thuẫn, xung đột, tranh chấp pháp lý, là cơ sở cho việc thực thi quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của một cá nhân hay tổ chức trong một mối quan hệ pháp luật.

Theo đó, địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp chính là tổng thể các quyền, nghĩa vụ, tư cách, vị trí của Chấp hành viên trung cấp khi thực thi chức trách, nhiệm vụ, nghĩa vụ, quyền hạn trong mối quan hệ pháp luật thi hành án dân sự.

Trang 35

Với những phân tích, lập luận trên, để xác định rõ địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp trong thi hành án dân sự, pháp luật phải thể hiện được một cách rõ ràng, đầy đủ và toàn diện các quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trung cấp cũng như các mối quan hệ của Chấp hành viên trung cấp trong các nhóm quy định sau đây:

Thứ nhất, địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp phải được thể hiện ở nhiệm vụ, quyền hạn chung của Chấp hành viên và chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn riêng của Chấp hành viên trung cấp.

Thứ hai, địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thể hiện ở nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự.

Có thể quan niệm về địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự như sau: Địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự là tổng thể các quyền

và nghĩa vụ của Chấp hành viên trung cấp trong các quan hệ pháp luật

về thi hành án dân sự, thể hiện vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức trách, nhiệm vụ, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của Chấp hành viên trung cấp khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

1.2.2 Cấu thành địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp

Cấu thành địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp bao gồm các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Chấp hành viên trung cấp trong việc thực hiện các chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trung cấp a) Chức năng của Chấp hành viên trung cấp Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn chung của Chấp

Trang 36

theo quy định tại Điều 20 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 như đã trình bày ở phần trên thì Chấp hành viên trung cấp còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 03/2017/TT -BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành thi hành

án dân sự: Là người trực tiếp tổ chức thi hành, đôn đốc thi hành các vụ việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự.

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trung cấp:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 03/2017/TT -BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp thì Chấp hành viên trung cấp

có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 20 của Luật Thi hành án dân sự (có 10 nhiệm vụ, quyền hạn được trình bày ở phần trên).

- Triển khai thực hiện công tác thi hành án hành chính theo quy định của pháp luật;

- Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện quyết định thi hành án dân sự; đề xuất biện pháp, chỉ đạo việc thi hành các quyết định thi hành án dân

sự thuộc thẩm quyền; thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân theo quy định;

- Báo cáo kết quả công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, kiến nghị, đề xuất biện pháp tổ chức thi hành án dân sự, thi hành

án hành chính trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao;

- Hướng dẫn nghiệp vụ đối với Chấp hành viên sơ cấp, Thư

ký, Thư ký trung cấp thi hành án;

- Xây dựng văn bản chỉ đạo công tác thi hành án, biên soạn tài liệu và hướng dẫn, phổ biến nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành

Trang 37

- Giúp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nắm tình hình công tác thi hành án và việc chấp hành pháp luật trong công tác thi hành án thuộc thẩm quyền theo sự phân công;

- Tham gia nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm và thực tiễn thi hành án;

- Nghiên cứu, kiến nghị, sửa đổi bổ sung các văn bản về thi hành án,

đề xuất ý kiến đóng góp về hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án;

- Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật hoặc

do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự giao.

1.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên trung cấp với vai trò là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự

Khi được bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, thì Chấp hành viên trung thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự.

Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 23 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

- Đối với Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự: Ra quyết định về thi hành án theo thẩm quyền; Quản lý, chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự của

cơ quan thi hành án dân sự; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp tổ chức thi hành án; Yêu cầu cơ quan đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành; Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; Trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm

Trang 38

quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên; Tổ chức thực hiện chế

độ báo cáo, thống kê thi hành án; Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có quyền điều động, hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn và những việc khác theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.

- Đối với Phó thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự: Phó thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.

Ngoài ra, hiện nay theo phân cấp của Bộ Tư pháp tại Thông tư số 09/2015/TT- BTP ngày 26/6/2015 quy định việc phân cấp quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc Tổng cục Thi hành án dân và các cơ quan Thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh còn có vai trò rất lớn trong công tác quản lý cán bộ của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương Thông tư phân cấp nêu trên cho thấy phần lớn các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến công tác cán bộ địa phương có vai trò rất lớn của Thủ trưởng cơ quan quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp

1.3.1 Quy định của pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp

Pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ, chức trách, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của Chấp hành viên trung cấp Do đó, đây chính là yếu tố chính, yếu tố ảnh hưởng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý hành chính của Chấp

Trang 39

Ngược lại, nếu trường hợp pháp luật có những quy định bất cập, những nội dung không phù hợp thực tế thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tổ chức thi hành án dân sự nói chung và ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ, vài trò của Chấp hành viên trung cấp nói riêng.1.3.2 Chất lượng của Bản án, quyết định của Toà án

Một trong những yếu tố tác động đến địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp đó là nội dung bản án còn thiếu tính khả thi; có những bản án tuyên không rõ khiến cơ quan thi hành án dân sự

“ngẩn ngơ” chẳng biết phải thi hành sao… Từ đó, dẫn đến việc phát sinh khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự gia tăng Không những thế, việc các bản án tuyên không rõ, không thể thi hành còn tạo sự chây

ỳ trong nếp nghĩ của người dân dẫn đến việc coi thường luật Vì họ cảm thấy hoang mang và mất lòng tin đối với các cơ quan tư pháp.

1.3.3 Tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự

Cơ chế tổ chức, hoạt động của bộ máy của cơ quan thi hành án dân sự

có ảnh hưởng, tác động mang tính quyết định đến vai trò, địa vị và tư cách của Chấp hành viên trung cấp trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự.

Với thể chế, quy định của pháp luật ngày càng được hoàn thiện, cơ cấu

tổ chức cơ quan thi hành án được kiện toàn hơn đã mang lại hiệu quả hoạt động cho Chấp hành viên nói chung và Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự nói riêng, tạo ra vị thế, sự chuyên trách, thẩm quyền rõ ràng cho Chấp

Trang 40

hành viên trung cấp, qua đó khẳng định, củng cố và hoàn thiện địa vị pháp lý hành chính của Chấp hành viên trung cấp.

Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập nhất định trong việc tổ chức, hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự dẫn đến Chấp hành viên trung cấp vẫn gặp một số khó khăn nhất định trong hoạt động công vụ, ví dụ, theo luật định thì Chấp hành viên trung cấp là người trực tiếp tổ chức thi hành, đôn đốc thi hành các vụ việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự nhưng hiện nay pháp luật về thi hành án dân sự chưa có văn bản nào quy định về tiêu chí như thế nào là vụ việc phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn… Chấp hành viên trung cấp thực hiện nhiệm vụ chủ yếu theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan nới Chấp hành viên trung cấp công tác.

1.3.4 Năng lực của Chấp hành viên trung cấp

Năng lực, kỹ năng thi hành án dân sự, khả năng tư duy, trình

độ nghiệp vụ của Chấp hành viên trung cấp là yếu tố quyết định thành công trong công tác, khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của Chấp hành viên trung cấp trong công tác thi hành án dân sự.

Thực tế cho thấy, hiện nay vẫn còn nhiều vụ việc có điều kiện thi hành nhưng Chấp hành viên trung cấp chưa thi hành dứt điểm, tình trạng

vi phạm pháp luật trong tổ chức thi hành án dân sự của Chấp hành viên trung cấp còn nhiều dẫn đến hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự chưa cao, án tồn đọng còn nhiều, kết quả thi hành án dân sự vẫn chưa cao, từ

đó làm giảm uy tín, vai trò, vị thế của Chấp hành viên trung cấp.

1.3.5 Ý thức pháp luật trong xã hội

Thi hành án dân sự là công tác phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền về tài sản, nhân thân của

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w