Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả là một biện pháp hành chính, pháp lý nhằm truy cứu trách nhiệm hành chính đối với chủ thểvi phạm, theo đó khi chủ thể vi phạm sẽ bị áp dụn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ỆN HÀ NH CH ÍN
H QU ỐC GI A
TRẦN THỊ THANH HƯƠN G
XỬ PHẠ
T VI PHẠ
Trang 2M HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
H QU ỐC GI A
TRẦN THỊ THANH HƯƠN G
XỬ PHẠT VI PHẠ M
Trang 4HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của tôi; các nộidung nghiên cứu, số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là trungthực và không trùng lắp với các công trình có liên quan đã được công bố.Xin cam đoan./
Thừa Thiên Huế, ngày tháng 5 năm
2018
Học viên
Trần Thị Thanh Hương
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới BanGiám đốc, các thầy, cô giáo Học viện Hành chính quốc gia đã nhiệt tìnhgiảng dạy, trau dồi kiến thức quý báu, tạo điều kiện cho em trong suốt quátrình học tập, nghiên cứu, hoàn thiện luận văn này
Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn PGS TS Lê Thị Hương, Học việnHành chính Quốc gia đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, trực tiếp hướngdẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, nhưng do thờigian và năng lực có hạn, chắc chắc luận văn còn nhiều thiếu sót Em rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn./
Học viên
Trần Thị Thanh Hương
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 7
1.1 Vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả 7
1.2 Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả 19
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI 44
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 44
2.2 Tình hình xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 49
2.3 Đánh giá hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi 59
2.4 Kinh nghiệm xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả của một số địa phương 70
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI 77
3.1 Phương hướng bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 77
3.2 Giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 80
Tiểu kết Chương 3 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8UBND
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Thống kê các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về buôn bánhàng giả
Bảng 1.2 Tổng hợp chủ thể và nội dung thẩm quyền XPVPHC
bán hàng giả
Bảng 2.1 Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính trong công tác chốngbuôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường
tỉnh Quảng Ngãi (từ năm 2014-tháng 3 năm 2018)
Bảng 2.2: Thống kê kết quả xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hànggiả của Đội QLTT số 1 - Chi Cục QLTT tỉnh Quảng Ngãi (từ năm 2014-3/2018) 54
Biểu đồ 2.1: Số vụ vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn
thành phố Quảng Ngãi của Đội QLTT số 1 - Chi cục QLTT tỉnh Quảng
Ngãi xử phạt (từ năm 2014-3/2018) Biểu đồ 2.2: Số tiền phạt về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố QuảngNgãi của Đội QLTT số 1 Chi cục QLTT tỉnh Quảng Ngãi xử phạt (từ năm2014-3/2018) 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế, các hoạt động sảnxuất, buôn bán hàng hoá ngày càng diễn ra nhộn nhịp và phát triển chạy theonhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng Tuy nhiên, một trong những vấn đề đángquan tâm và lo ngại là tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng giatăng; hàng giả đã và đang thách thức trực tiếp đến hiệu lực của pháp luật, hiệuquả quản lý của Nhà nước và ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh về kinh
tế - xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản và quyền lợicủa người tiêu dùng, lợi ích của Nhà nước, của toàn xã hội, ảnh hưởng đếnmôi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam, nhất là khi nước ta tập trung pháttriển mạnh thị trường trong nước, tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới Các hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả ở nước ta đang có chiềuhướng gia tăng và ngày càng lan rộng sang nhiều ngành hàng, nhiều chủngloại hàng hoá Tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả xuất phát từ nhiềunguyên nhân, song có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản như điều kiệnkinh tế - xã hội nước ta còn hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chưa đáp ứng đượcnhu cầu tiêu dùng của thị trường cả về số lượng, chất lượng và giá cả; cơ chếquản lý kinh tế, hệ thống chính sách pháp luật có liên quan còn nhiều kẽ hở;nhận thức và hiểu biết của người dân về hàng giả, tội phạm sản xuất, buôn bánhàng giả còn hạn chế Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh chưa thực
sự chú trọng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình; công tác đấu tranh phòng,chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả của các lực lượng chức năng cònchưa quyết liệt Trước nguy cơ gây hại của hàng giả, việc đẩy mạnh công tácđấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả là một trong những yêu cầucấp bách, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và sự phối hợp đồng bộcủa các cơ quan hữu quan để đấu tranh hạn chế tình trạng sản xuất và buônbán hàng giả
Trang 11Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả là một biện pháp hành chính, pháp lý nhằm truy cứu trách nhiệm hành chính đối với chủ thể
vi phạm, theo đó khi chủ thể vi phạm sẽ bị áp dụng các hình thức xử phạt.Tuy vậy, thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống hàng giả trong thời gianqua cho thấy rằng, các quy định của pháp luật về phát hiện, xử lý vi phạmhành chính về hàng giả còn nhiều khiếm khuyết, kẽ hở, các hình thức vàchế tài xử phạt của pháp luật trong lĩnh vực buôn bán hàng giả chưa đảmbảo tính thống nhất, đồng bộ nên hiệu quả quản lý chưa cao Mặt khác, xửphạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả mới chỉ dừng lại ở góc độhành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính mà chưa đi vào nghiên cứuchuyên sâu để tìm ra những nguyên nhân, giải pháp chống lại tình trạng sảnxuất và buôn bán hàng giả hiệu quả
Từ những lý do nêu trên, qua khảo sát thực tiễn hoạt động xử phạt viphạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi,
tỉnh Quảng Ngãi, tác giả chọn đề tài: "Xử phạt vi phạm hành chính về
buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu ởnhững mức độ khác nhau đã được công bố; trong điều kiện của bản thânhọc viên đã tham khảo các tài liệu sau:
- Luận án tiến sĩ Luật học “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả thực trạng và biện pháp phòng, chống” năm 2001 của Trần Ngọc Việt;
Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và điều kiệncủa tình hình tội phạm làm hàng giả, buôn bán hàng giả; Chính sách hình
sự của Nhà nước ta quy định xử lý các tội làm hàng giả, tội buôn bán hànggiả, thực tiễn hướng dẫn, áp dụng các quy định này
Trang 12- Luận văn thạc sĩ “Chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ quản lý nhà nước ” năm 2007 của Nguyễn Mạnh
Cường;
Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhànước về chống sản xuất và buôn bán hàng giả, từ đó đề xuất những giải pháp,kiến nghị để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong công tácchống sản xuất và buôn bán hàng giả
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước nhằm chống buôn bán hàng giả trên địa bàn Hà Nội ” năm 2012 của Trần Thị Kim Nhung;
Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hàng giả; phân tíchnguyên nhân của nạn hàng giả và tác hại của nạn hàng giả đối với người tiêudùng, doanh nghiệp, xã hội; Đánh giá hiệu lực của văn bản quản lý nhà nướcchống buôn bán hàng giả trên địa bàn Hà Nội và các giải pháp để hạn chế sảnxuất và buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh lạng Sơn ” năm 2014 của Hoàng Việt Đức;
Luận văn trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thị trườngnhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện quản lý thị trường, ngăn chặn triệt để vấn nạn kinhdoanh hàng giả trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Qua nghiên cứu, tham khảo cho thấy hoạt động xử phạt vi phạm hànhchính về buôn bán hàng giả đã được các tác giả đề cập nghiên cứu, phảnánh trên nhiều góc độ và thời gian khác nhau Vẫn còn nhiều vấn đề vềcông tác xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trong thời giangần đây chưa được đề cập nghiên cứu, đánh giá và kiến nghị một cách đầy
đủ, thấu đáo Chính vì vậy, việc chọn đề tài về xử phạt vi phạm hành chính
về buôn bán hàng giả để nghiên cứu vẫn là cần thiết trong tình hình hiệnnay
Về phía tỉnh Quảng Ngãi, chưa có nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp về
Trang 13xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả; do vậy, từ những nghiêncứu lý luận và thực tiễn về vấn đề buôn bán hàng giả, xử lý vi phạm hành
chính, trên cơ sở thực tiễn, tác giả chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành
chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi” để nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn cụ thể là thành phố QuảngNgãi, tỉnh Quảng Ngãi Thông qua đề tài này, tác giả sẽ tập trung đi sâunghiên cứu, đánh giá một cách sâu sắc về thực trạng xử phạt vi phạm hànhchính đối với hành vi buôn bán hàng giả; qua đó, mong muốn có những đềxuất, kiến nghị giải pháp hữu ích nhằm bảo đảm hoạt động xử phạt vi phạmhành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi trongthời gian tới
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về xử phạt vi phạmhành chính đối với hành vi buôn bán hàng giả và thực tiễn áp dụng các quyđịnh đó trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đềxuất những giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
về buôn bán hàng giả ở thành phố Quảng Ngãi trong thời gian tới
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận, pháp lý về hàng giả, buôn bánhàng giả cũng như quy định pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hànhchính đối với hành vi buôn bán hàng giả;
- Phân tích và đánh giá thực trạng xử phạt vi phạm hành chính về buônbán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi thời gian qua;
- Xác lập các quan điểm, giải pháp để góp phần bảo đảm xử phạt viphạm hành chính về buôn bán hàng giả ở thành phố Quảng Ngãi trong thờigian tới
Trang 144. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về xử phạt viphạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng giả và thực tiễn áp dụngcác quy định đó trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về thời gian: Từ năm 2014 đến 2018.
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính về
buôn bán hàng giả bao gồm cả lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễntriển khai trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận củaChủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào nghiên cứu vấn đềkhoa học xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận, xúc tiến nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời
sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
- Phương pháp phân tích tài liệu;
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin;
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp;
- Phương pháp so sánh, đánh giá;
- Phương pháp quan sát;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ
sung những vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành chính về buôn bánhàng giả; cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tụcxây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật Xử lý
vi phạm hành chính trong thời gian tới
Trang 15Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ là công trình khoa học có giá trị tham
khảo cho việc nghiên cứu, học tập về xử phạt vi phạm hành chính về buôn bánhàng giả cho các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 16Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1 Vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
1.1.1 Khái niệm hàng giả và buôn bán hàng giả
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua”.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm hàng giả lần đầu tiên được sử dụng kể
từ khi đất nước được thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu cơ,buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 ngày 30/6/1982.Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 5 củaPháp lệnh này với hình phạt có thể lên đến tù chung thân Tuy nhiên, đếnthời điểm ban hành văn bản này, khái niệm hàng giả vẫn chưa được làm rõ
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất được banhành vào năm 1985 quy định Tội làm hàng giả, Tội buôn bán hàng giả tạiĐiều 167, thuộc nhóm các tội phạm về kinh tế Mặc dù có quy định chi tiếthơn, có chế tài nghiêm khắc hơn (phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chungthân hoặc tử hình) so với Điều 5 của Pháp lệnh năm 1982 nhưng Điều 167của Bộ luật hình sự năm 1985 cũng không đưa ra định nghĩa về hàng giả[34]
Trang 17Văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra định nghĩa về hàng giả là Nghị định
số 140-HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng quy định về kiểmtra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả [31]; Điều 3 của Nghị định quy
định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”.
Điều 4 của Nghị định số 140-HĐBT nêu cụ thể các sản phẩm, hànghoá có một trong những dấu hiệu sau được coi là hàng giả, bao gồm: Sảnphẩm có nhãn giả mạo; Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giảmạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; Sản phẩm, hàng hóamang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêuchuẩn đo lường chất lượng; Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩnViệt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩnViệt Nam; Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượngvới cơ quan Tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có mức chất lượng thấphơn mức tối thiểu cho phép; Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng khôngđúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó
Từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định ởnhững mức độ khác nhau về nội dung hàng giả và biện pháp phòng chốnghàng giả; đặc biệt là hai văn bản: Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày10/1/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính đối với hành vi sảnxuất, buôn bán hàng giả và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt độngthương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêudùng (thay thế Nghị định số 08/2013/NĐ-CP) (và hiện nay đã có Nghị
Trang 18định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạmhành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàngcấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng [26]).
Tuy nhiên, các văn bản trên đều không đưa ra định nghĩa pháp lý vềhàng giả và buôn bán hàng giả Theo các văn bản này, hàng giả bao gồm 4
trường hợp: Giả về nội dung; Giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa); Giả mạo về sở hữu trí tuệ (được quy định tại Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ 2005) và giả về tem, nhãn, bao bì [25].
Về hành vi vi phạm hành chính về hàng giả, có hai nhóm hành vi là:
sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả Hành vi “sản xuất hàng giả” là
việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in
ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, phatrộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa.Hành vi “buôn bán hàng giả” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả cáchoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn,bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưuthông
1.1.2 Khái niệm vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm VPHC lần đầu tiên được địnhnghĩa một cách chính thức theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC
năm 1989 là “hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự
và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Định nghĩa
này được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và qua 4 lầnsửa đổi, bổ sung vào các năm: 1995, 2002, 2007, 2008 thì khái niệm VPHCkhông được định nghĩa riêng biệt mà “lẫn” vào trong khái niệm “xử lý viphạm hành chính” Tại Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và năm 2002
Trang 19chỉ rõ: “VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Đến năm 2012, Luật
XLVPHC được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kỳhọp thứ 3 khóa XIII thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2013 đã định nghĩa: “VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” [43].
Từ các khái niệm hàng giả, buôn bán hàng giả và khái niệm VPHC
như đã phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa: Vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong phòng chống hàng giả nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
1.1.3 Cấu thành vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
1.1.3.1 Mặt khách quan của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Mặt khách quan của VPHC về buôn bán hàng giả chính là dấu hiệubên ngoài của VPHC mà dấu hiệu bắt buộc phải là hành vi VPHC, nói cáchkhác đó là hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện xâm phạm các qui tắcquản lý nhà nước về phòng chống hàng giả và đã bị pháp luật ngăn cấm, sẽ
bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp hành chính
Mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả gồm cácdấu hiệu: hành vi trái pháp luật, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra cho xãhội, quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế dohành vi đó gây ra; các yếu tố khác: thời gian, địa điểm, phương tiện viphạm
Trang 20Hành vi trái pháp luật: Nếu một chủ thể thực hiện những hành vi bịpháp luật nghiêm cấm hoặc không làm theo những việc mà pháp luật yêucầu thì chủ thể đó đã có hành vi trái pháp luật Trong lĩnh vực buôn bánhàng giả thì hành vi trái pháp luật là không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng những quy định của pháp luật về phòng chống hàng giả, xâm phạmđến những khách thể được pháp luật bảo vệ.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính vàhậu quả của vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại khách quan của
vi phạm hành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc
đe dọa xâm hại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành quy tắc quản
lý nhà nước Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi phạm hànhchính được biểu hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, về tự do thân thể của cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của nhànước, tập thể và công dân Hậu quả của vi phạm hành chính là kết quả củahành vi vi phạm hành chính do con người hoặc tổ chức thực hiện
Do đó giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả vi phạm hànhchính có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính cótiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính; sựtồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả
của vi phạm hành chính dựa trên các căn cứ sau: Một là; hành vi vi phạm
hành chính xảy ra trước hậu quả xâm hại các mối quan hệ về mặt thời gian;
Hai là, hành vi vi phạm phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội; Ba là, hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự
hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm.Ngoài những biểu hiện trên, về mặt khách quan của vi phạm còn có một sốdấu hiệu khách quan khác như: thời gian, địa điểm, công cụ và phương tiện
vi phạm
Trang 211.1.3.2 Mặt chủ quan của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Mặt chủ quan của VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm bao gồm:
- Lỗi: Là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi vi phạmpháp luật và hậu quả do hành vi đó gây ra; là dấu hiệu bắt buộc trong mặtchủ quan của hành vi VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả của chủ thể
vi phạm Người thực hiện hành vi có đầy đủ khả năng nhận thức và điềukhiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng không nhận thứcđược điều đó hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện vi phạm.Nếu xác định chủ thể thực hiện hành vi khi không có khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi thì kết luận không có VPHC xảy ra
Để xác định đúng hành vi và hình thức xử phạt đối với hành vi VPHCcần xác định chính xác yếu tố lỗi do cá nhân, tổ chức đó gây ra theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản Có hai loại lỗi đó là:
+ Lỗi cố ý: Người vi phạm nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm,tính trái pháp luật nhưng mong muốn hay để mặc cho hậu quả xảy ra Hoặc
có thể là người vi phạm nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm, tính tráipháp luật thấy trước được hậu quả do hành vi đó gây ra tuy không mongmuốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
+ Lỗi vô ý: Người vi phạm không biết hoặc không nhận thức được hậuquả mà đáng lẽ ra phải biết, nhận thức được Hoặc nhận thức được nhưngcho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy ra nên vẫn vi phạm
Có ý kiến cho rằng lỗi do tổ chức vi phạm chỉ là trạng thái tâm lý của
cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm nên không đặt vấn đề lỗi với
tổ chức vi phạm, tuy nhiên có quan điểm lại cho rằng cần xác định lỗi của
tổ chức thì mới có đầy đủ cơ sở để XPVPHC Trong trường hợp này lỗi của
tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên
trong tổ chức đó khi thực hiện công việc được giao đã vi phạm pháp
Trang 22luật và phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi VPHC Tổ chức vi phạm sẽ bị
áp dụng phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi
1.1.3.3 Chủ thể của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Chủ thể VPHC về buôn bán hàng giả là các tổ chức, cá nhân có nănglực chịu trách nhiệm hành chính thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vềbuôn bán hàng giả và bị XLVPHC về hành vi vi phạm đó
Pháp luật chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những cá nhân
có năng lực hành vi, không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mấtkhả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi Là người có khả năng nhậnthức được hành vi vi phạm pháp luật cũng như nhận thức được tính chấtnguy hại cho xã hội của hành vi, hậu quả của hành vi và điều khiển đượchành vi đó xâm hại đến quan hệ pháp luật về phòng chống hàng giả, làmảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước theo quy định pháp luậthiện hành bao gồm:
Điều 2 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP [25] quy định đối tượng bị xửphạt hành chính: “Cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nướcngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này trênlãnh thổ Việt Nam
+ Đối với cá nhân:
Điểm a khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC năm 2012 quy định: Cá nhân làchủ thể của vi phạm hành chính bao gồm công dân Việt Nam và người nướcngoài (trừ những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnhsự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt
Trang 23Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải Những người nàyphải có năng lực trách nhiệm hành chính Năng lực trách nhiệm pháp lýhành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người với hành vi vi phạm,
vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: đạt độ tuổitheo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thứccủa hành vi Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 xác định đốitượng bị xử phạt hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đếndưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ
đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính
Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định: Cá nhân quy định tại khoản
1 Điều này gồm cả hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật; hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối vànhững người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động,làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật”
Luật XLVPHC năm 2012 còn quy định: người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi
vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo; người chưa thành niên vi phạm hànhchính gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; trongtrường hợp này người chưa thành niên không có tiền nộp phạt thì cha, mẹhoặc người giám hộ của người đó phải nộp thay, quy định như trên không cónghĩa là xử phạt cả người không vi phạm mà ở đây chúng ta hướng tới tráchnhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho người chưa thành niên
+ Đối với tổ chức: Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP
ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều vàbiện pháp thi hành Luật XLVPHC quy định tổ chức bị xử phạt vi phạmhành chính khi có đủ các điều kiện sau đây [27]: “Là pháp nhân theo quy
Trang 24định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quyđịnh của pháp luật; Hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, ngườiđược giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo
sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy địnhcủa pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định: Tổ chức quy định tại Khoản
1 Điều này gồm cả tổ chức kinh tế là các doanh nghiệp được thành lập vàhoạt động theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đượcthành lập theo Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế khác được thành lập vàhoạt động theo quy định của pháp luật và các đơn vị trực thuộc của các tổchức kinh tế nói trên; văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nướcngoài tại Việt Nam; văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mạinước ngoài tại Việt Nam
1.1.3.4 Khách thể của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Khách thể của vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả được chiathành các loại sau:
Khách thể chung: VPHC về buôn bán hàng giả xâm hại đến các quan
hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Khách thể của VPHC về buôn bán hànggiả rất đa dạng đó là trật tự quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân
Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất
với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước Các quan hệnày được phát sinh trong cùng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước,
do vậy chúng có mối liên hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lýnhà nước
Khách thể trực tiếp: Là hành vi vi phạm đã xâm phạm đến trật tự quản
lý trong lĩnh vực phòng chống hàng giả được pháp luật quy định và bảo vệ
Trang 251.1.4 Các hành vi vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày15/11/2013 của Chính phủ và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
185/2013/NĐ-CPngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xửphạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bánhàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì VPHC về buônbán hàng giả bao gồm có các hành vi sau đây:
Thứ nhất, hành vi buôn bán hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng (còn gọi là hành vi buôn bán hàng giả về nội dung).
Theo quy định tại điểm a, b, c và d khoản 8 Điều 3 Nghị địnhsố185/2013/NĐ-CP và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP bao gồm hành vibuôn bán các loại hàng giả sau:
- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng,công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hànghóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, côngdụng đã công bố hoặc đăng ký;
- Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính
kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạtmức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹthuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dượcchất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủloại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉđạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đãđăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất
Trang 26khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;”.
Thứ hai, hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa (còn gọi là hành vi buôn bán hàng giả về hình thức).
Theo quy định tại điểm đ và e khoản 8 Điều 3 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP; bao gồm hành vi buôn bán các loại hàng giả sau:
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thươngnhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tênthương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giảmạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;”
Thứ ba, hành vi buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ.
Hành vi buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ và biện pháp xử
lý được quy định theo các văn bản về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữutrí tuệ; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP chỉ quy định viện dẫn
Theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổsung năm 2009 [39] thì: Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy địnhcủa Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa
lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu)
- Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắnnhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lýđang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép củachủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý
- Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan
Khái niệm hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ trong Điều 213 Luật sởhữu trí tuệ Việt Nam tương đồng với khái niệm “hàng hóa giả mạo nhãnhiệu, hàng hóa chứa đựng yếu tố xâm hại quyền tác giả” được quy định
Trang 27trong Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đếnthương mại (Hiệp định TRIPS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).Việc phân biệt giữa khái niệm hàng giả nói chung với khái niệm hàng hóagiả mạo về sở hữu trí tuệ nói riêng, cũng như với khái niệm hàng hóa cóchứa đựng yếu tố xâm hại quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng Đểđấu tranh chống lại những hàng giả về chất lượng, cần huy động trước hếtvai trò của chính người tiêu dùng, những người bị thiệt hại đầu tiên và trựctiếp nhất Đối với những hàng hóa xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, trong đó
có hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, vai trò pháp lý của các chủ thể cóquyền sở hữu trí tuệ bị xâm hại lại cần được đặt lên hàng đầu Trên phươngdiện pháp luật thực định, cả trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính vàpháp luật xử lý hình sự, các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được xử lýkhác biệt với các hành vi xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hành visản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ Trong Bộ luậthình sự, tách biệt với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được quyđịnh tại các điều 156, 157, 158, các hành vi tội phạm liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ được quy định lần lượt tại điều 170 (Tội vi phạm quy định vềcấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp), điều 170a (Tội xâm phạmquyền tác giả, quyền liên quan) và điều 171 (Tội xâm phạm quyền sở hữucông nghiệp) [1,35] Với những quy định như hiện nay của Bộ luật hình sự,
có thể thấy những hành vi phạm tội về hàng giả theo các điều 156, 157, 158
sẽ bị xử lý nghiêm khắc hơn rất nhiều so với các hành vi phạm tội liên quanđến quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả trường hợp giả mạo về sở hữu trí tuệ.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sẽ có sự trùng lặp hoặc khó phân biệt vềviệc áp dụng điều luật khi một hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả (về nộidung) nhưng đồng thời xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như giảmạo về sở hữu trí tuệ
Trang 28Theo quy định của Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi “Sản xuất,nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theoquy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiệnhành vi này” bị xử phạt vi phạm hành chính
Thứ tư, hành vi buôn bán tem, nhãn, bao bì giả
Theo quy định tại điểm h khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/
NĐ-CP bao gồm hành vi buôn bán loại hàng giả là: tem, nhãn, bao bì giả
Tem, nhãn, bao bì giả gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa,các loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vậtphẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địachỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hànghóa, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thươngnhân khác
XPVPHC thực chất là một loại hoạt động quản lý nhà nước do vậy chỉ
có các cơ quan hoặc công chức được nhà nước trao quyền, quy định cụ thểthẩm quyền XPVPHC trong các văn bản pháp luật thì mới có quyền raquyết định XPVPHC Những chủ thể này nhân danh nhà nước, đại diện cho
Trang 29ý chí của nhà nước trong việc xác định một cá nhân hay tổ chức có hành viVPHC hay không, hậu quả pháp lý của hành vi đó là như thế nào và cótuân theo các quy định cụ thể của pháp luật hay không.
Các hành vi VPHC về buôn bán hàng giả cũng là một loại của VPHCnói chung nên việc XPVPHC cũng phải tuân thủ theo các quy định phápluật về XLVPHC Theo quy định pháp luật XLVPHC, hành vi nào bị coi làVPHC thì sẽ có biện pháp xử lý tương ứng khi hành vi đó xảy ra trên thực
tế Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả cũng vậy, sẽ bị xửphạt khi có hành vi vi phạm quy định hành chính về buôn bán hàng giả
Từ đó có thể hiểu: Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành
vi VPHC về buôn bán hàng giả theo thủ tục do pháp luật quy định, kết quả
là chủ thể thực hiện hành vi VPHC về buôn bán hàng giả phải gánh chịu những hậu quả bất lợi.
Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, các quy định pháp luật về xử phạt hành chính về buôn bán
hàng giả được xây dựng thành một hệ thống, chủ yếu do Chính phủ ban hành(Nghị định), và Bộ ban hành (Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định)
Thứ hai, hệ thống quy phạm về xử phạt vi phạm hành chính về buôn
bán hàng giả luôn được hoàn thiện để đáp ứng với điều kiện mới Tuynhiên, sự thay đổi này chủ yếu diễn ra theo hướng mở rộng phạm vi thẩmquyền xử phạt, hay nâng cao chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm
Thứ ba, thẩm quyền xử phạt VPHC về hàng giả thuộc về các cơ quan
quản lý hành chính nhà nước như: Ủy ban nhân dân các cấp, các Bộ, cơquan ngang Bộ; mặt khác, còn được giao trực tiếp cho các lực lượng chứcnăng như quản lý thị trường, Công an nhân dân
Trang 30Thứ tư, XPVPHC về buôn bán hàng giả là hoạt động mang tính quyền
lực nhà nước, được đảm bảo thực hiện bằng các nguồn lực của nhà nước
Thứ năm, XPVPHC về buôn bán hàng giả phải tuân theo những
nguyên tắc, thủ tục, trình tự được quy định tại các văn bản pháp luật vềXPVPHC trong lĩnh vực về hàng giả do cơ quan có thẩm quyền ban hành
Thứ sáu, kết quả XPVPHC về buôn bán hàng giả được thể hiện ở
quyết định xử phạt trong đó ghi nhận các hình thức, mức xử phạt, biệnpháp áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC Việc quyết định áp dụngbiện pháp xử phạt, hình thức xử phạt vừa thể hiện sự nghiêm khắc của Nhànước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, giáo dục ý thức chấp hành, tuân thủpháp luật, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể xảy ra
1.2.2 Nguyên tắc và biện pháp xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
1.2.2.1 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
Các nguyên tắc XPVPHC về buôn bán hàng giả được quy định tạiĐiều 3 Luật XLVPHC và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013của Chính phủ, bao gồm:
Một là, mọi hành vi VPHC về buôn bán hàng giả phải được phát hiện,
ngăn chặn kịp thời và đình chỉ ngay việc thực hiện hành vi vi phạm vàXPVPHC nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật; mọi hậu quả do VPHCgây ra phải được khắc phục kịp thời theo quy định pháp luật
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải chủ độngthanh tra, kiểm tra, truy quét để kịp thời phát hiện hành vi vi phạm, phảinhanh chóng xử lý, giải quyết các vi phạm một cách triệt để, hiệu quả, gópphần thiết lập trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực buôn bán hàng giả; có tácdụng tích cực trong phòng ngừa và đấu tranh chống VPHC, giáo dục ngườidân ý thức tôn trọng pháp luật
Hai là, việc XPVPHC về buôn bán hàng giả phải do người có thẩm
quyền thực hiện theo quy định từ Điều 100 đến Điều 103 Nghị định số
Trang 31185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Việc XPVPHC phảiđược tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, bảo đảm công bằng,đúng quy định pháp luật Đây là nguyên tắc pháp chế, tiếp tục được nhấnmạnh nhằm đề cao tinh thần trách nhiệm, tuân thủ triệt để các quy địnhpháp luật trong việc thực hiện thẩm quyền xử phạt của người có thẩmquyền.
Ba là, khi quyết định XPVPHC đối với một hành vi vi phạm, người có
thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả, các tìnhtiết giảm nhẹ, tăng nặng quy định tại Điều 9, 10 Luật XLVPHC của hành vi
vi phạm, đối tượng vi phạm để áp dụng các hình thức phạt và các biện phápkhắc phục hậu quả phù hợp, đảm bảo việc XPVPHC trong lĩnh vực buônbán hàng giả đúng bản chất, bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa và giáo dụcchung
Bốn là, người có hành vi VPHC về buôn bán hàng giả bị XPVPHC
theo quy định tại nghị định chuyên ngành Một hành vi VPHC chỉ bị xửphạt một lần, nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗingười vi phạm đều bị xử phạt về hành vi VPHC đó Một người thực hiệnnhiều hành vi VPHC hoặc VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi
vi phạm, nghiêm cấm việc chia nhỏ mức thiệt hại chung cho từng người viphạm để xử phạt Đây là nguyên tắc cơ bản trong XPVPHC giúp việcXPVPHC được thống nhất, chặt chẽ, tránh sự tùy tiện của người có thẩmquyền và tránh được tình trạng bỏ sót, bỏ lọt đối tượng vi phạm
Năm là, người có thẩm quyền xử phạt phải có trách nhiệm chứng
minh VPHC Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông quangười đại diện hợp pháp chứng minh mình không VPHC
Trang 32Sáu là, trường hợp tổ chức VPHC thì áp dụng mức phạt tiền bằng 02
lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi và mức độ vi phạm
1.2.2.2 Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
- Các hình thức phạt chính bao gồm:
+ Hình thức xử phạt cảnh cáo: Hình thức cảnh cáo là hình thức xử
phạt chính trong xử phạt hành chính Theo quy định tại Nghị định số185/2013/NĐ-CP, hình thức này không được áp dụng cho các hành vi buônbán hàng giả: không có giá trị sử dụng, công dụng, mạo nhãn hàng hóa, bao
bì hàng hóa, tem, nhãn, bao bì giả Theo Nghị định số 99/2013/NĐ-CPngày 29/8/2013 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì hình phạt cảnh cáo được áp dụng đốivới hành vi buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ
Trang 33Bảng 1.1 Thống kê các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
bao bì hàng hóa
Trang 3424
Trang 35nhãn, bao bì giả 10.000
10.000 trở lên
tuệ
Trang 3625
Trang 37- Hình thức xử phạt bổ sung
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm: chỉ được áp dụng đối với
loại tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Điều 26 LuậtXLVPHC và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Trường hợpquy định đồng thời áp dụng cả hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phươngtiện vi phạm và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b và
c khoản 5 Điều 4 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP thì người có thẩm quyền
xử phạt chỉ quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm trong trườnghợp không thể áp dụng được các biện pháp này, trừ các loại tang vật,phương tiện vi phạm hành chính là ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗtrợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâmsản quý hiếm, vật thuộc loại cấm lưu hành thì phải tịch thu
+ Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinhdoanh, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn
bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm
Chỉ áp dụng hình thức tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinhdoanh, chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chínhđược cấp giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và theo thời hạn quyđịnh tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP Nguyên tắc và thẩm quyền áp dụnghình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh doanh,chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP
Chỉ áp dụng hình thức xử phạt đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm đối với cá nhân, tổ chức viphạm hành chính trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 25 LuậtXLVPHC và theo thời hạn quy định tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP
Trang 38- Biện pháp khắc phục hậu quả
+ Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm được áp dụng đối với loại hànghóa, vật phẩm quy định tại Điều 33 Luật XLVPHC mà việc buộc cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính tiêu hủy không ảnh hưởng đến môi sinh, môitrường, sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và trật tự an toàn xã hội;
+ Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng hóa, phương tiệnkinh doanh, vật phẩm được áp dụng đối với loại hàng hóa, phương tiệnkinh doanh, vật phẩm quy định tại Điều 35 Luật XLVPHC trong trườnghợp loại bỏ được yếu tố vi phạm và việc loại bỏ yếu tố vi phạm không dẫnđến khả năng vi phạm tiếp theo;
+ Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa,vật phẩm, phương tiện được áp dụng trong trường hợp quy định tại Điều 32Luật XLVPHC khi cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có khả năng thựchiện được các biện pháp này;
+ Buộc thu hồi tiêu hủy hoặc buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm được
áp dụng đối với các loại sản phẩm, hàng hóa quy định tại các Điều 33, 35
và 36 Luật XLVPHC mà cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính đã tiêu thụ,
đã bán còn đang lưu thông trên thị trường;
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi viphạm hành chính quy định tại Điều 37 Luật XLVPHC được áp dụng đốivới người vi phạm có thu lợi bất hợp pháp
+ Các biện pháp khắc phục hậu quả khác được áp dụng theo quy định của Luật XLVPHC và quy định tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP
Khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, người có thẩmquyền xử phạt phải quy định thời hạn phù hợp để cá nhân, tổ chức vi phạmthực hiện Trường hợp đã hết thời hạn thực hiện ghi trong quyết định xửphạt mà không thực hiện thì phải cưỡng chế thi hành hoặc quyết định tịchthu để xử lý theo quy định tại Điều 82 Luật XLVPHC
Trang 39Ngoài ra, để đảm bảo nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính
về sở hữu trí tuệ, Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các biện phápngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính thì, trong các trường hợp sauđây, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụngbiện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính: Hành vi xâm phạmquyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngườitiêu dùng hoặc cho xã hội; Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cánhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm; Nhằm bảo đảmthi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụngtheo thủ tục hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ baogồm: Tạm giữ người; Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm;Khám người; Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hànghoá, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ; Các biện pháp ngănchặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về XLVPHC
1.2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả
XPVPHC được xem như là một hoạt động cưỡng chế thể hiện thái độcủa Nhà nước đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có VPHC, còn người cóthẩm quyền XPVPHC sẽ là người thay mặt Nhà nước sử dụng quyền lựcNhà nước quyết định áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt thích hợpvới chủ thể của một vi phạm Theo khoản 1 Điều 52 Luật XLVPHC quyđịnh “Thẩm quyền XPVPHC của những người được quy định tại các Điều
từ 38 đến Điều 51 của Luật này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành viVPHC của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổchức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệphần trăm quy định tại Luật này đối với chức danh đó” Trong lĩnh vựchàng giả, thẩm quyền XPVPHC là phạm vi quyền lực nhà nước được giaocho các nhóm chức danh trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được
Trang 40áp dụng các hình thức XPVPHC tại Chương III từ Điều 101 đến Điều 103Nghị định số 185/2013/NĐ-CP và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày19/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-
CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạmhành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàngcấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gồm các nhóm:
Nhóm thứ nhất: Nhóm chủ thể có thẩm quyền quản lý trực tiếp trong
lĩnh vực hàng giả; Đây là nhóm có nhiệm vụ chuyên trách thừa hành phápluật về quản lý hàng giả (kiểm soát viên)
Nhóm thứ hai: Nhóm chủ thể có thẩm quyền quản lý nhà nước trên
các lĩnh vực tại địa bàn được giao (Chủ tịch UBND các cấp), không riêng
gì lĩnh vực hàng giả mà nhóm chủ thể này còn quản lý chung và có thẩmquyền XPVPHC trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốcphòng
Nhóm thứ ba: Nhóm chủ thể có thẩm quyền quản lý trên lĩnh vực khác
nhưng có liên quan đến lĩnh vực hàng giả gồm: người có thẩm quyền xửphạt thuộc lực lượng Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội biên phòng,Cảnh sát biển và Thanh tra chuyên ngành Đây là quy định mở trongXPVPHC lĩnh vực hàng giả để quá trình phát hiện và xử phạt nhanh chóng,không bỏ lọt vi phạm
1.2.3.1 Thẩm quyền xử phạt của quản lý thị trường
- Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnhcáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng
- Đội trưởng Đội Quản lý thị trường có quyền: Phạt cảnh cáo; phạttiền đến 25.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hànhchính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm bkhoản này; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị địnhnày, trừ biện pháp buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm