1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUẢN lý NHÀ nước đối với các DOANH NGHIỆP có vốn đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRÊN địa bàn TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

103 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 113,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THỊ THÚY LOAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018 B

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

………/………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BỘ NỘI VỤ …/…

TRẦN THỊ THÚY LOAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BỘ NỘI VỤ

…/…

Trang 3

TRẦN THỊ THÚY LOAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành : Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

Người hướng dẫn khoa học: TS LƯƠNG MINH VIỆT

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, đề tài “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.

Thừa Thiên Huế, Ngày tháng năm 2018

Học viên

Trần Thị Thúy Loan

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian chuẩn bị và thực hiện Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học; các thầy cô giáo; lãnh đạo Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Huế và đặc biệt

là sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của người hướng dẫn khoa học là TS Lương Minh Việt đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phức tạp,mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp mà đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS Lương Minh Việt Nhưng do sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.

Thừa Thiên Huế, ngày 20 tháng 4 năm 2018

Học viên

Trần Thị Thúy Loan

Trang 6

1.1.2 Lý do hình thành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 71.1.3 Các loại doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 9

1.1.4 Những hiệu quả mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

mang lại đối với sự phát triển KT-XH 9

1.1.5 Những bất lợi đối với quốc gia có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài trên lãnh thổ 11

1.1.6 Điều kiện để đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể vào được các quốc gia

12

1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài 14

1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài 14

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài 15

1.2.3 Đối tượng, phạm vi của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài 16

1.2.4 Những nội dung của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài 19

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương và những bài học có thể vận dụng vào thực

Trang 7

1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 24

1.3.2 Những bài học có thể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế 27

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯTRỰC TIẾP NƯỚCNGOÀI TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH THỪA THIÊN HUẾ 29

2.1 Thực trạng thu hút và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 29

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 29

2.1.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế 31

2.1.3 Đánh giá sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 40

2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 45

2.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách 45

2.2.2 Chủ trương thu hút đầu tư của tỉnh 47

2.2.3 Xây dựng và công bố danh mục đầu tư của tỉnh 50

2.2.4 Cấp mới và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư 51

2.2.5 Kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư 52

2.2.6 Cải cách tổ chức bộ máy và công tác cán bộ quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 53 2.2.7 Công tác cải cách thủ tục hành chính 53

2.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 54

2.3.1 Những kết quả đạt được 54

2.3.2 Những mặt còn hạn chế 56

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 57

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 60

3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng60 3.1.1 Bối cảnh quốc tế 60

3.1.2 Bối cảnh trong nước 61 3.1.3 Sự ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế và trong nước đến việc thu hút FDI tỉnh

Trang 8

3.2 Định hướng phát triển và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước của tỉnh Thừa Thiên Huế đến

năm 2020 64

3.2.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 64

3.2.2 Định hướng thu hút FDI tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 70

3.2.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến

năm 2020 723.3 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 73

3.3.1 Nâng cao chất lượng pháp luật và thể chế quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 74 3.3.2 Nâng cao tính toàn diện và đồng bộ của quản lý nhà nước 74

3.3.3 Tạo nên sự thuận lợi hơn cho các chủ doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước

ngoài 75

3.3.4 Tạo sức hút hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế có uy tín 75

3.3.5 Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 76 3.3.6 Đổi mới việc tìm hiểu thông tin về các nhà đầu tư tiềm năng 76

3.3.7 Hoàn thiện công tác quy hoạch các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 76

3.3.8 Đổi mới công tác thanh tra, giám sát các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

ngoài trên địa bàn tỉnh 79

3.3.12 Minh bạch, đồng bộ hóa mọi thông tin pháp luật, thể chế hành chính Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao thuận tiện nhất đến các nhà đầu

tư trực tiếp nước ngoài 80

3.4 Những giải pháp nhằm hiện thực hóa hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa

Thiên Huế 80 3.4.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch 80

3.4.2 Tổ chức lại bộ máy xúc tiến đầu tư theo hướng tập trung, hiệu quả; nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác xúc tiến đầu tư

81

Trang 9

3.4.3 Cải cách thủ tục hành chính 84

3.4.4 Xây dựng đồng bộ, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ .84 3.4.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 85

3.5 Kiến nghị 86

3.5.1 Đối với Quốc hội 86

3.5.2 Đối với Chính phủ 86

3.5.3 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành và lĩnh vực Trung ương 87

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

: Đầu tư nước ngoài : Đầu tư trực tiếp nước ngoài : Giấy chứng nhận đầu tư : Hội nhập kinh tế quốc tế : Khu công nghiệp, khu kinh tế : Kinh tế - xã hội

: Hỗ trợ phát triển chính thức : Quản lý Nhà nước

: Sản xuất kinh doanh : Trách nhiệm hữu hạn : Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu thu hút vốn FDI qua các giai đoạn 32

Bảng 2.2 Tỷ trọng vốn đăng ký chia theo từng giai đoạn 33

Bảng 2.3 Tình hình thu hút FDI trong năm 2017 33

Bảng 2.4 Phân nhóm DNFDI theo ngành, lĩnh vực đầu tư 34

Bảng 2.5 Đầu tư FDI tại tỉnh Thừa Thiên Huế phân theo quốc gia 35

Bảng 2.6 Đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế phân theo địa bàn đầu tư 37

Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu hoạt động SXKD của các doanh nghiệp FDI 38

Bảng 2.8 So sánh về vốn 40

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu của luận văn

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) trở thành xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực (năm 1988, đã được bổ sung, sửa đổi năm 2014), các DNFDI đã khẳng định được vị trí của mình và trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Thu hút vốn FDI góp phần tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nâng cao trình độ khoa học công nghệ; giải quyết việc làm cho người lao động; làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân.

Muốn thu hút FDI có hiệu quả thì công tác quản lý có vai trò quyết định Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác thu hút FDI như ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động FDI, trong đó rất chú trọng việc nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả QLNN về lĩnh vực này Theo

đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về FDI ngày càng được hoàn thiện,

có tính khả thi cao, điều chỉnh khá toàn diện hoạt động của các DNFDI.

Thừa Thiên Huế là địa phương được đánh giá có nhiều lợi thế so sánh trong phát triển KT -XH, đặc biệt là các lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa - lịch sử Cùng với các tỉnh và thành phố khác trong nước, những năm qua tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều cố gắng trong việc thu hút vốn FDI để đẩy mạnh phát triển KT -XH Nhìn chung, công tác QLNN về hoạt động của các DNFDI trên địa bàn tỉnh đã và đang dần đi vào chiều sâu, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong quản lý nguồn lực FDI các cấp; hoạt động xúc tiến đầu tư cũng đã có nhiều đổi mới về phương thức và nâng cao chất lượng, qua đó góp phần không nhỏ trong việc thu hút nguồn vốn FDI.

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy việc chuyển lợi thế so sánh này thành

Trang 13

lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư, thúc đẩy KT- XH tỉnh nhà phát triển vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác QLNN về các DNFDI trên địa bàn tỉnh vẫn còn những bất cập như: Tốc độ thu hút FDI thấp so với cả nước; Hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ; Cơ cấu đầu tư vào các khu vực trên địa bàn tỉnh chưa đồng đều; Sử dụng Công nghệ và thiết bị lạc hậu; Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách có nhiều thay đổi; Sự liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài

và kinh tế trong tỉnh còn lỏng lẻo; Trình độ của nguồn nhân lực còn chưa cao; Việc phân cấp quản lý, phân công nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến hoạt động thu hút FDI còn chưa hợp lý, chưa phù hợp với năng lực, trình độ, chưa rõ trách nhiệm, nhiều đầu mối, nhiều ngành tham gia.

Do vậy, hoàn thiện QLNN đối với DNFDI trên địa bản tỉnh Thừa Thiên Huế

để các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào sự phát triển KT-XH của tỉnh vừa là vấn đề cấp bách, đồng thời cũng là vấn đề cơ bản lâu dài đối với tỉnh Thừa Thiên Huế Đây cũng là lý do để học viên chọn đề tài : “Quản

lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” làm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Nghiên cứu về QLNN đối với các DNFDI là một vấn đề nghiên cứu

có tầm phổ quát, vậy nên hệ thống tư liệu nghiên cứu xung quanh đề tài này cũng khá phong phú, đa dạng.

Trong quá trình làm luận văn, học viên đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, bài viết về QLNN đối với các DNFDI như:

- Đào Quang Thu (2013), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, 25 năm thu hút và phát triển”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Bộ Kế hoạch và Đầu

tư tổ chức năm 2013, đã phân tích, đánh giá những kết quả đạt được của FDI, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế của khu vực FDI Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng thu hút FDI trong giai đoạn tới.

- Nguyễn Thị Thanh Hải (2015), “Quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Luận

Trang 14

văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Với đề tài nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số nội dung sau: (1) Cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn về DNFDI, khẳng định vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế; nêu lên sự cần thiết khách quan của công tác QLNN đối với loại hình DNFDI hiện nay (2) Nêu hoạt động của các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với các doanh nghiệp đó, các thành tựu đạt được, một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục và chỉ ra các nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém đó (3) Đưa ra phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Nguyễn Thị Chiêu (2017), “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia; Nguyễn Văn Hùng (2010), “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Các đề tài nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác QLNN đối các DNFDI trong những năm qua, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia và các địa phương ở Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với các DNFDI ở địa phương mà đề tài tiến hành nghiên cứu.

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của QLNN đối với hoạt động FDI nói chung và các DNFDI nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cơ bản, hệ thống

về QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Bởi vậy, đề tài

“Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” của học viên vẫn đảm bảo tính mới

mẻ và cấp thiết, học viên hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói vào diện mạo chung khi nghiên cứu các vấn đề này 3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3 1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLNN đối với các DNFDI, luận

văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn vấn đề QLNN đối với các DNFDI

Trang 15

trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Khái quát và hệ thống hoá một số lý luận cơ bản của việc hoàn thiện QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Phân tích thực trạng QLNNđối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó rút ra những kết quả đạt được, các mặt tồn tại và nguyên nhân;

- Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNNđối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4 1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác QLNN của tỉnh Thừa Thiên Huế đối với các DNFDI.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Về không gian

- Nội dung QLNN đối với các DNFDI.

- Cơ chế chính sách QLNN đối với các DNFDI.

- Hoạt động của các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 4.2.2 Về thời gian

Từ năm 2013 đến 2017 và thời gian của tầm nhìn định hướng đến năm

2020 5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5 1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu các tài liệu, văn bản về FDI, DNFDI, QLNN về DNFDI; các tài liệu về hoạt động của các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn

2013 - 2017 để làm cơ sở lí luận cho các vấn đề nghiên cứu trong chương 1.

5.2 Phương pháp thống kê, phân tích

Tổng hợp và phân tích các số liệu về DNFDI và tình hình phát triển

KT-XH của tỉnh Thừa Thiên Huế để làm cơ sở thực tiễn khi nghiên cứu thực trạng QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh được đề cập ở chương 2.

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trang 17

1.1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công

ty nước ngoài đó nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này [23]

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước khác cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh khác của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư.

1.1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tại Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam: “DNFDI gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”.[7]

Luật đầu tư năm 2014, không đề cập cụ thể đến DNFDI nhưng có đề cập đến đầu tư kinh doanh và nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà

Trang 18

đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập

tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” và “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.” [8]

Tuy có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau nhưng có thể hiểu một cách chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định của luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế.

Theo khái niệm này, DNFDI khác với các doanh nghiệp khác trong nước là do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ, hoặc một phần.

Về quyền quản lý doanh nghiệp thì có thể trực tiếp hoặc tham gia tùy theo lượng vốn góp Mục đích của DNFDI trước hết và chủ yếu là ở lợi nhuận và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cả quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế 1.1.2 Lý do hình thành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thông thường, người dân nước nào thì sinh cơ lập nghiệp ở nước đó, hoặc sẽ

đi xuất khẩu lao động, đi làm thuê ở nước ngoài Bên cạnh đó, từ lâu ở nhiều nước trên thế giới cũng có những doanh nghiệp mà chủ nhân của nó là người nước ngoài, nhưng những người nước ngoài này có “địa vị pháp lý” hoặc “tư cách pháp nhân/tư cách thể nhân” khá đa dạng và có tính ngẫu nhiên, như ngoại kiều, người di tản, di cư, người tị nạn khác hẳn những chủ nhân của các doanh nghiệp được gọi là DNFDI ngày nay Vậy tại sao cần có loại DNFDI này ở các nước mà trước hết là các nước đang hay chậm phát triển.

Thứ nhất, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu toàn diện

và không ngừng tăng, trong khi đó, không có quốc gia nào đủ nguồn lực

để SXKD nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diện và không ngừng tăng đó.

Về nhu cầu, dân nước nào cũng cần ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh,

vui chơi giải trí với chất lượng ngày càng cao Cùng với nhu cầu của sinh hoạt là

Trang 19

nhu cầu về tư liệu sản xuất, cụ thể là năng lượng, nguyên liệu, máy móc thiết bị, từ thô sơ, sơ cấp đến hiện đại, cao cấp.

Về nguồn lực, không phải quốc gia nào cũng có đủ nguồn tài nguyên, đủ vốn, đủ “người tài”, gọi một cách chính xác về thuật ngữ là “lao động chất lượng cao” Ngay cả Liên bang Xô Viết trước đây, với diện tích bằng 1/6 diện tích toàn thế giới, hay như Trung Quốc, Ấn Độ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày nay cũng không phải là nước có tất cả mọi nguồn lực Bên cạnh đó, còn rất nhiều nước thiếu nguyên liệu vì nghèo tài nguyên hoặc có tài nguyên nhưng là thứ tài nguyên cực khó khai thác, sử dụng như Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước Châu Âu Đã

từ lâu, dân Việt Nam không dám chủ quan là đất nước mình có “rừng vàng, biển bạc”, vì rừng hiện nay đã bị khai thác nhiều, còn biển thì tuy có dầu mỏ, nhưng với vốn đầu tư và trình độ hiện tại thì người Việt khó để làm ra các sản phẩm có hiệu quả Chúng ta tuy đã khai thác được dầu mỏ nhưng là nhờ sự trợ giúp về công nghệ của các nước khác, tuy nhiên chúng ta lại xuất khẩu dầu thô thay vì chế biến ra các sản phẩm của hóa dầu, chính vì vậy lợi nhuận không cao.

Thứ hai, trong mọi việc, điển hình là trong SXKD, việc phân công chuyên môn hóa, kế đó là hiệp tác lao động chặt chẽ và tin cậy nhau, là con đường khoa học, hợp

lý nhất để mọi công việc được tiến hành với năng suất cao, hiệu quả lớn.

Người Việt Nam từ xưa đã xem trọng và phát huy sự chuyên môn hóa trong sản xuất, chính vì vậy, trong mọi hoạt động, người Việt Nam đều đi theo hướng chuyên sâu, việc hình thành nên các làng nghề chuyên biệt, truyền thống là một ví dụ cụ thể Việc phân công chuyên môn hóa giúp cho công việc trôi chảy, dễ kiểm soát và một người chuyên sâu vào công việc thì sẽ giỏi và

dễ xử lý những tình huống khó khăn xảy ra, mang lại năng suất cao, hiệu quả lớn trong công việc Và trên phạm vi toàn thế giới, toàn cầu hóa và HNKTQT chính là việc làm theo sự phân công chuyên môn hóa đó.

Thứ ba, trên tầm quốc tế, sự toàn cầu hóa và HNKTQT được tiến

hành theo bốn kênh chính sau đây:

Trang 20

Một là, trao đổi hàng hóa, gọi khác đi là “ngoại thương”.

Hai là, trao đổi lao động hoặc dịch vụ Riêng về lao động, nói giản đơn là xuất - nhập khẩu lao động.

Ba là, trao đổi trí tuệ hay xuất nhập khẩu phát minh sáng chế với nhiều cấp độ khác nhau về quyền sở hữu trí tuệ.

Bốn là, xuất nhập khẩu vốn đầu tư, trong đó có hai dạng:

- Cho vay đầu tư, gọi tắt tiếng Anh là ODA.

- Các công dân, tổ chức công dân mang vốn của mình sang nước ngoài

mở doanh nghiệp và trực tiếp SXKD Loại vốn đi theo lối này gọi tắt tiếng Anh

là FDI, các doanh nghiệp được tạo nên bằng vốn này gọi là DNFDI.

1.1.3 Các loại doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Xuất hiện và hoạt động ở nước ngoài, FDI tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp cơ bản sau đây:

- DNFDI độc lập: Đó là các DNFDI không tham gia vào các nhóm

DN nào của bản xứ.

- DNFDI hợp tác: Đó là các DNFDI độc lập về vốn, về quyền SXKD nhưng là thành viên của một tổ hợp kinh tế nào đó của bản xứ để cùng thực hiện một chương trình mục tiêu chung nào đó, như tổ hợp hóa - dầu, tổ hợp chế biến xenlluloz, tổ hợp cơ khí - luyện kim, tổ hợp công nghiệp vật liệu xây dựn

- DNFDI liên doanh: Đó chính là các công ty cổ phần, trong đó, FDI chỉ là một phần của vốn SXKD của một công ty cổ phần nào đó, phần còn lại là vốn của nhà nước hoặc của doanh nhân nước sở tại.

Mỗi loại hình DNFDI kể trên luôn có sự đấu tranh, mâu thuẫn lẫn nhau giữa nước sở tại và với chủ FDI Nhìn chung, các chủ FDI đều thích

tự do, vì vậy, khi xin phép đầu tư, họ thường cố gắng thương thuyết để được thành lập DNFDI dạng thứ nhất Còn nước sở tại thì thường muốn FDI tồn tại dưới dạng thứ hai và ba, vì lợi ích quốc gia về nhiều mặt, cả kinh tế lẫn văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, trật tự trị an,

1.1.4 Những hiệu quả mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại đối với sự phát triển KT-XH

Trang 21

FDI góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách Nhà nước và

ổn định kinh tế vĩ mô Ngoài ra, sự tồn tại và hoạt động của các DNFDI là yếu tố tích cực để thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh môi trường sản xuất kinh doanh, từ

đó buộc các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới công nghệ; cải tiến công tác quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

FDI giúp cho nước tiếp nhận đầu tư tháo gỡ những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý - kinh doanh quốc tế, hoàn thiện môi trường pháp lý, chính sách tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng - mềm, các thủ tục hải quan, thủ tục thuế, cải cách hành chính mà nhất là thủ tục hành chính,…

Xét về tổng thể, các DNFDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho ngân sách Nhà nước Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng khác để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho bên nhận đầu tư, hơn nữa, lượng vốn vay này thường có thời gian trả nợ vốn vay khá linh hoạt.

Chuyển giao và phát triển công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm thu được lợi nhuận tối đa Đối với những địa bàn kinh tế lạc hậu, chủ yếu dựa vào khu vực nông nghiệp thì việc chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một giải pháp khá tiết kiệm và

an toàn FDI thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật công nghệ, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao.

FDI góp phần tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm ở địa phương nhận đầu tư, nhất là các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư FDI giúp cho việc hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động tốt.

FDI góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển xuất, nhập khẩu Thông qua xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất FDI góp phần thúc đẩy trao đổi thông tin, tăng cường kiến thức

Trang 22

marketing cho các doanh nghiệp nội địa và lôi kéo họ vào mạng lưới toàn cầu.

1.1.5 Những bất lợi đối với quốc gia có các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ

Bên cạnh những hiệu quả mà các DNFDI mang lại, các quốc gia tiếp nhận đầu

tư gặp phải những bất lợi ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển KT -XH Đó là:

Thứ nhất, tàn phá tài nguyên và ô nhiễm môi trường.

Mục tiêu của các DNFDI là tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế chi phí Do đó, trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, nhiều DNFDI đã chú trọng khai thác nhiều tài nguyên tự nhiên (nhất là tài nguyên không tái tạo như khai thác mỏ khoáng sản), không những thế chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh gây tàn phá môi trường tự nhiên một cách nghiêm trọng Trong những năm trở lại đây, các DNFDI đã đã để lại những hệ lụy về mặt môi trường Đã có nhiều vụ xả thải gây ô nhiễm môi trường làm chấn động dư luận trong thời gian qua và hậu quả của nó

là không gì bù đắp nổi Vụ việc ô nhiễm môi trường tại miền Trung vừa qua là đỉnh điểm của vấn nạn này Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Đài Loan) là thủ phạm gây ra thảm họa môi trường lớn nhất tại Việt Nam từ trước đến nay Công ty này đã gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng khiến

cá chết hàng loạt tại bốn tỉnh khu vực miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế khi xả nước thải chưa qua xử lý ra biển.

Thứ hai, tạo sự cạnh tranh không bình đẳng đối với một số doanh nghịêp trong nước.

Các DNFDI đã tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng, lành mạnh đối với các doanh nghiệp trong nước cùng sản xuất một mặt hàng Bởi lẽ, những DNFDI, nhất là những công ty xuyên quốc gia có ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, quản lý sản xuất gây sức ép cạnh tranh đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của những doanh nghiệp trong nước Nhiều trường hợp, hàng hóa và dịch vụ của công ty xuyên quốc gia lấn át, dẫn đến doanh nghiệp trong nước mất dần thị trường, dễ lâm vào tình trạng phá sản Nhiều ngành sản xuất mới trong nước khó có thể cạnh tranh được với các công ty xuyên quốc gia, do vậy, sẽ bị ảnh hưởng trong quá trình phát triển.

Trang 23

Thứ ba, tạo ra một số vấn đề xã hội.

Điểm khác biệt của các DNFDI so với các doanh nghiệp trong nước là chênh lệch thu nhập của người lao động, cụ thể là chênh lệch giữa người quản lý và lao động trực tiếp Thu nhập của người làm việc trong các DNFDI cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước cùng loại, tạo ra sự phân biệt về thu nhập, đời sống giữa các tầng lớp trong xã hội Các DNFDI có xu hướng thu hút nhân lực giỏi từ khu vực doanh nghiệp trong nước và cơ quan quản lý nhà nước Điều này đã dẫn đến hiện tượng "chảy máu chất xám".

Ngược lại, một số chủ doanh nghiệp đối xử bất công, xúc phạm nhân phẩm đối với người lao động, làm phát sinh những mâu thuẫn, hành động phản kháng của công nhân Việt Nam như xô xát, đình công, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nhà đầu tư và tập thể lao động trong doanh nghiệp.

Nhiều DNFDI, đặc biệt kinh doanh sản xuất trong các ngành dệt may, giày da thường sử dụng nhiều lao động, mà nguồn lao động chủ yếu từ vùng nông thôn Do vậy một bộ phận dân cư từ nông thôn của địa phương, và một lượng lớn lao động từ các tỉnh lân cận đổ về khu vực có các DNFDI, gây nên sức ép rất lớn về chỗ ở, học hành, an ninh trật tự xã hội.

1.1.6 Điều kiện để đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể vào được các quốc gia

1.1.6.1 Sự ổn định chính trị - xã hội

Ổn định chính trị - xã hội là không có bạo động, chính biến, thay đổi chính đảng, chính quyền.

Sự ổn định này là tiền đề cho việc thu hút FDI vì các chủ nhân FDI

lo sợ sự thay đổi thể chế, sẽ gây bất lợi cho họ về kinh tế, về điều kiện pháp lý, thậm chí là an toàn tính mạng của các nhà đầu tư.

1.1.6.2 Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô

Ổn định chính sách kinh tế vĩ mô là không thường xuyên thay đổi thái độ ngoại giao kinh tế, các mục tiêu chiến lược, các đạo Luật Kinh

tế - Tài chính, các đòn bẩy kinh tế cụ thể.

Sự ổn định này là điều kiện thu hút FDI vì thiếu sự ổn định, các chủ DNFDI

sẽ thấy bất an, thiếu tin tưởng vào sự thống nhất của Nhà nước sở tại Vì thế, họ

Trang 24

không chấp nhận vào đầu tư tại những nước thường xuyên thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô.

1 1.6.3 Môi trường pháp lý tốt

Môi trường pháp lý tốt bao gồm hai mặt chính sau đây:

- Hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch.

- Nền hành chính nhà nước trong sạch, hiện đại.

Đây là điều kiện rất được các nhà đầu tư FDI quan tâm khi quyết định thâm nhập một quốc gia nào đó Bởi vì, thiếu những điều kiện trên, lợi ích của họ sẽ không được bảo đảm bằng pháp luật, quá trình giao dịch với chính quyền sở tại sẽ bị phiền hà, tốn kém.

1.1.6.4 Có kết cấu hạ tầng tốt

Hạ tầng cơ sở cho FDI bao gồm nhiều loại, trong đó điển hình là:

- Các “bãi công nghiệp” (Park Industry) hiện đại, tiện nghi.

- Hệ thống giao thông quốc gia thuận lợi.

- Hệ thống thị trường đồng bộ: thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản.

- Các cơ sở dịch vụ thông tin, chuyển tiền, nhà làm việc…

Yếu tố này được coi là điều kiện thu hút FDI vì chúng có ý nghĩa trực tiếp đến quá trình vận hành FDI của các chủ đầu tư.

1.1.6.5 Có nhiều dự án FDI đã triển khai với hiệu quả tốt

Vì mục tiêu của FDI là nhằm thu lợi nhuận cao, do vậy, nếu các dự án FDI đã được triển khai đạt tỷ suất lợi nhuận cao sẽ khuyến khích và củng cố thêm niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư để tái sản xuất

mở rộng, đồng thời có sức thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài khác yên tâm đầu tư Điều này sẽ giúp cho nguồn vốn FDI tiếp tục tăng Ngược lại, nếu các dự án đang triển khai kinh doanh không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ

sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư, vì họ cho rằng môi trường đầu tư đã có rủi ro.

1.1.6.6 Môi trường kinh tế - xã hội

Môi trường KT-XH cho FDI bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố

Trang 25

điển hình là:

- Hệ thống doanh nghiệp và doanh nhân của nước sở tại Các doanh nghiệp, doanh nhân này có đông đảo, đủ mạnh, đủ trình độ hoạt động SXKD hiện đại, văn minh hay không.

- Sự thiện cảm xã hội đối với FDI và doanh nhân nước ngoài Các nhà đầu tư FDI quan tâm đến nhân tố này, vì khi đưa FDI vào một quốc gia nào đó, họ cần có đối tác ngang tầm và cần được sự đồng tình, ủng hộ và tương tác của dân chúng.

1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Việc QLNN đối với DNFDI là điều đặc biệt cần thiết, vì những lý do chủ yếu sau đây:

Một là, vì tác dụng to lớn, nhiều mặt của DNFDI.

Điều này đã được học viên phân tích, trình bày trong tiểu mục “1.1.4 - Những hiệu quả mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại”.

Hai là, vì DNFDI có thể gây bất lợi nhiều mặt cho quốc gia, nơi chúng có mặt và hoạt động.

Điều này đã được trình khá tường tận trong tiểu mục “1.1.5 Những bất lợi đối với quốc gia có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ”

-Ba là, vì DNFDI cần những điều kiện của quốc gia cần nó, mà thiếu các điều kiện này, các DNFDI sẽ không ra đời ở nơi thiếu điều kiện đó.

Những điều kiện mà các DNFDI cần đã được trình khá tường tận trong tiểu mục “1.1.6 - Điều kiện để FDI có thể vào được các quốc gia” ở trên.

Bốn là, vì các chủ DNFDI dễ “lạc lõng” tại địa bàn mà họ đầu tư.

Tất cả các quốc gia trên toàn cầu đều cần FDI, nhưng ở các nước phát triển

thì nhu cầu không cao, phần lớn là các nước lạc hậu, kém phát triển thì cần lượng

Trang 26

vốn FDI đầu tư vào nhiều hơn để khắc phục sự thiếu hụt nhiều mặt của bản thân Chính vì thế, những nước tiếp nhận đầu tư này thường là những nước xa lạ về mọi mặt đối với các chủ DNFDI đến từ các nước tiên tiến Sự khác biệt này không chỉ thuần túy là màu da, tiếng nói, lịch sử, địa lý mà còn là sự khác biệt liên quan đến văn hóa, khoa học, môi trường sản xuất kinh doanh… Chính vì vậy, cần có sự QLNN của nước sở tại đối với các DNFDI để điều chỉnh những vấn đề phát sinh này, giúp cho các DNFDI không cảm thấy bị lạc lỏng tại nước sở tại.

Năm là, vì các DNFDI thường gây bất lợi cho nước sở tại.

DNFDI có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, chính vì thế họ có thể bất chấp những đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc, khai thác tài nguyên quá mức, không quan tâm tới việc xử lý ô nhiễm môi trường, đẩy mạnh bóc lột người lao động bằng các hình thức tăng cường độ lao động đối với công nhân, kéo dài thời gian làm việc, cắt xén điều kiện bảo hộ lao động, làm phân hóa đội ngũ cán bộ, “chảy máu chất xám” Điều đó có thể gây nên mâu thuẫn và làm này sinh nhiều vấn đề mới trong xã hội.

Đứng trước một thách thức lớn như vậy, không chỉ mang tính kinh

tế, mà thậm chí còn có thể liên quan đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn

xã hội… thì sự QLNN đối với vấn đề này càng cần thiết, càng quan trọng và phải quản lý ở mức cao độ để đảm bảo sự an toàn tối đa nhất.

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2.1 Bảo đảm cho đất nước có được hệ thống doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà đất nước cần

Chức năng của QLNN đối với các DNFDI là thu hút được FDI và hình thành được các DNFDI trên địa bàn theo đúng phương hướng và mức độ mà quốc gia cần, tức là tạo được những DNFDI có lợi nhất cho quốc gia, biểu hiện bằng những đặc điểm như sau:

- Vốn và chủ của vốn đó đến từ các quốc gia giàu thiện chí hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cũng là các nước có thế mạnh mà đất nước cần.

Trang 27

- Các DNFDI có đầu ra, đầu vào có ích cho sự phát triển KT-XH của đất nước.

- Các DNFDI có trình độ khoa học và công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản trị kinh doanh có giá trị là tấm gương, trường học thực tiễn đối với đất nước.

- Các DNFDI tôn trọng lợi ích của nhà nước, của nhân dân nơi họ đóng và hoạt động SXKD tại nước sở tại.

1.2.2.2 Hỗ trợ các các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được đầy đủ nhất các mục tiêu chân chính, hợp pháp trong SXKD của họ

Có nghĩa là, khi các DNFDI đã xuất hiện với bản chất là các doanh nghiệp mà đất nước cần, thì chức năng của QLNN là giúp đỡ họ theo tinh thần hòa bình, hữu nghị, mở cửa, hội nhập, đôi bên cùng có lợi, cùng phát triển.

Chức năng này xuất phát từ yêu cầu và lợi ích của cả hai phía:

- Với các chủ nhân DNFDI, họ cần sự hỗ trợ này vì từ xa đến, tất cả đều rất xa lạ, mới mẻ đối với họ.

- Với chủ nhân đất nước đón các DNFDI, việc hỗ trợ các DNFDI chỉ có lợi cho đất nước mình là: Họ SXKD có hiệu quả thì việc nước sở tại cho họ đến đầu tư mới

có ý nghĩa Nếu không, thì việc đón rước DNFDI đến nước mình sẽ không mang lại lợi ích gì, thậm chí có khi còn gây hậu quả xấu.

1.2.3 Đối tượng, phạm vi của quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong việc QLNN đối với các DNFDI, nhà QLNN cần chú ý đặc biệt các đối tượng và phạm vi QLNN như sau:

Một là, hướng sản xuất kinh doanh của DNFDI

Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, quyết định sự “lợi - hại” đối với đất nước do việc có mặt của các DNFDI trên đất nước Bởi vì, từ chuyện “sản xuất cái gì” sẽ phát sinh ảnh hưởng đến nhiều mặt của người tiêu dùng là dân chúng, chuyện sử dụng tài nguyên, nhân lực, chuyện ô nhiễm môi trường Ngoài ra, nhà QLNN còn cần biết hướng SXKD của nhà đầu tư để xem có đúng với định hướng phát triển kinh tế của quốc gia, của địa phương tiếp nhận đầu tư hay không?

Trang 28

Hai là, nguồn gốc, xuất xứ của DNFDI

Tức là, QLNN phải biết chủ nhân của DNFDI là ai (Đến từ quốc gia nào, nhân thân và công ty của họ ra sao?).

Đây là vấn đề liên quan đến sự tạo nên nhiều giá trị về chính trị, ngoại giao

do DNFDI đưa lại Với chức năng này, QLNN không được để cho bất kỳ chủ nhân nào của DNFDI vào đất nước mình mà không có sự cân nhắc, tuyển chọn chu đáo, kỹ lưỡng của QLNN Không làm được điều này, QLNN có thể biến việc thu hút FDI thành việc tạo dựng một hiểm họa lớn cho chính nơi tiếp nhận đầu tư.

Ba là, chất lượng tri thức của DNFDI được thu hút

Đây là vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm, giá trị tri thức của chất lượng sản phẩm và của chính thiết bị, công nghệ, được các chủ DNFDI du nhập vào địa bàn xây dựng các DNFDI này.

Chức trách QLNN về mặt này là bảo đảm cho nền KTQD chuyển dần theo hướng là kinh tế tri thức, từ sản phẩm kinh tế mà nó tạo ra đến các phương tiện nó dùng để làm ra sản phẩm QLNN tốt về mặt này cũng là để không xảy ra tình trạng, mà công luận đã kết án là, “Người ta đã biến các vùng nông thôn nghèo không phải thành các khu công nghiệp hiện đại kèm theo là các khu đô thị hiện đại, tiện nghi, mà thành những đại công trường thủ công hay bãi rác công nghiệp”.

Bốn là, các yếu tố đầu vào của các DNFDI, trong đó có nguyên liệu và lao động, ngoài phần KH-CN đã nói ở trên

Đây là một mặt của đối tượng QLNN đối với DNFDI, rất có ý nghĩa đối với nơi tiếp nhận DNFDI là các đô thị lớn Việc các chủ DNFDI nhập nguyên liệu từ đâu, nguyên liệu gì, tuyển lao động từ đâu, chất lượng chuyên môn, tư cách đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật của lực lượng lao động này ra sao sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc đạt được mục đích hay không của việc cho các nhà đầu tư FDI này đến nước mình Ví dụ: để đến đầu tư ở một nơi, ít nhất các DNFDI cũng phải giải quyết được nguồn lao động tại chỗ cho nơi đó, tạo việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân tại nơi tiếp nhận đầu tư

Năm là, vấn đề tác động đến tài nguyên và môi trường của DNFDI

Như đã phân tích ở trên, khi các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc ngành khai

Trang 29

thác và chế biến tài nguyên thì ngoài việc xâm hại môi trường, nó còn trực tiếp làm mất dần nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá Các thiệt hại trên là điều tất yếu của bất

cứ cơ sở sản xuất nào chứ không phải riêng của các DNFDI Nhưng nếu đó là DNFDI, chủ đầu tư sẽ không lưu tâm quá nhiều đến những tác hại xấu cho môi trường tại nước tiếp nhận đầu tư, thậm chí, một khi các chủ DNFDI đã không chỉ thiếu ý thức này, mà trái lại, đó còn là một dã tâm cố tình phá hoại, thì vấn đề đã không còn là vấn

đề kinh tế, vấn đề xã hội mà là vấn đề an ninh và an sinh quốc gia Và vì thế, QLNN phải nhắm tới mặt này trong hoạt động của các DNFDI hoạt động trên địa bàn.

Sáu là, các khó khăn trong hoạt động SXKD của DNFDI

Đối tượng và phạm vi QLNN đối với các DNFDI thuộc dạng này chính là các mặt hoạt động SXKD của các DNFDI mà Nhà nước sở tại cần quan tâm giúp đỡ để các DNFDI này sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là để chúng đáp ứng những yêu cầu của quốc gia sở tại khi đón nhận họ đến đầu tư SXKD.

Với góc nhìn này về đối tượng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI, đối tượng và phạm vi đó thường tập trung vào các mặt chính sau đây:

Thứ nhất, đó là kết cấu hạ tầng cho sản xuất kinh doanh của DNFDI.

Thứ hai, hệ thống công nghiệp phụ trợ hay hỗ trợ các DNFDI Thứ ba, các thông tin KT-XH phục vụ việc quản trị kinh doanh của các DNFDI.

Đó là các thông tin có tính phổ biến mà ai làm SXKD cũng cần có, như thông tin về thị trường nguyên liệu, lao động, về khách hàng và đối tác, thông tin về pháp luật và thể chế SXKD… vốn là những thông tin mà các doanh nhân nội địa ít nhiều đã có do là dân bản xứ, nhưng với chủ của các DNFDI thì đó là những thông tin không dễ có được vì họ là người từ xa tới, còn xa lạ ở nhiều thứ, không biết cách nắm bắt những thông tin đó như thế nào.

Trên đây là một số mặt hoạt động của các DNFDI mà QLNN đối với chúng cần phải

có sự lưu ý, quan tâm, được gọi là “đối tượng, phạm vi” của QLNN đối với DNFDI.

Trên thực tế, sự QLNN đối các DNFDI còn có thể phải đối mặt với nhiều chuyện

cụ thể khác, song về cơ bản, đó là những góc nhìn chính mà nhà QLNN đối

Trang 30

với các DNFDI không thể bỏ qua, nếu muốn sự QLNN đối với đối tượng này làm tròn chức năng, nhiệm vụ.

1.2.4 Những nội dung của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.4.1 Xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý

QLNN đối với các DNFDI được thông qua các công cụ, chiến lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch để định hướng các doanh nghiệp này theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của tỉnh.

Để các DNFDI tác động tích cực đến địa bàn tiếp nhận đầu tư, giữa các ngành kinh tế và giữa các vùng thì việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch thu hút FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong QLNN

Nâng cao hiệu quả QLNN đối với DNFDI đòi hỏi phải thống nhất quan điểm, nhận thức, từ những mô hình thành công trong thực tiễn của các ngành, địa phương để hình thành thể chế, quy định chung của cả nước, tiếp cận với thể chế tốt nhất của những quốc gia đã thành công trong việc xử lý quan hệ Nhà nước với thị trường, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh hấp dẫn, hình thành cơ cấu

bộ máy và đội ngũ công chức làm việc có hiệu quả Xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hút FDI cần phải có tính động, không được khép kín mà phải có sự liên kết giữa các vùng và các địa phương, đảm bảo lợi ích của cả hai bên.

Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máy quản lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp và tối ưu các chức năng quản lý của các bộ phận trong bộ máy quản lý hoạt động FDI.

Bên cạnh đó, quy hoạch không thể chạy theo số lượng mà cần quan tâm đến chất lượng dự án, theo quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh củathị trường Nhà nước phải xây dựng kế hoạch hiệu quả, sát với tình hình thực tế hiện nay; cần chú trọng công tác dự báo, định hướng, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế, cơ chế linh hoạt trước biến động của thị trường trong nước và quốc tế.

Các Bộ chuyên ngành lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật gắn

với quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chính

Trang 31

quyền địa phương thực hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừa phát huy được tính năng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia.

Về chiến lược thu hút FDI thời gian tới, tập trung vào tiêu chí phát triển bền vững, ưu tiên phát triển các ngành công nghệ sạch, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, năng lượng, đầu tư các ngành công nghiệp hỗ trợ.

1.2.4.2 Chính sách ưu đãi của Nhà nước

Vào cuối năm 2014, Việt Nam đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh Trong đó có hai luật liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp FDI, đó là Luật Đầu tư ngày 26/11/2014 và Luật Doanh nghiệp ngày 26/11/2014 và Chính phủ đã ban hành một số Nghị định, Thông tư hướng dẫn nhằm quản lý hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI Các chính sách ưu đãi tập trung vào hai nội dung chính là ưuđãi về tài chính và ưu đãi về chính sách đất đai.

- Chính sách ưu đãi về tài chính

Trong chính sách ưuđãi về tài chính, thì ưu đãi về thuế là chính sách được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất khi thực hiện hoạt động đầu

tư trực tiếp tại Việt Nam Lộ trình điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp từ 32% (1997) cho đến 25% (2009) và gần đây nhất là 22% (hiệu lực 01.01.2014), 20% (hiệu lực 01.01.2016) đã tạo một bước tiến lớn giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước “hào hứng” hơn với việc tiến hành kinh doanh trong bối cảnh kinh tế hiện nay Luật Thuế thu nhập doanh nghiệpcũng quy định về mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế giảm thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá…nhằm thu hút

và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đến các lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, thuế xuất nhập khẩu cũng góp phần tạo nên một môi trường thuận lợi, hấp dẫn cho các nhà đầu tư Theo đó, Luật thuế xuất nhập khẩu cho phép miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 32

(ODA); nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư… cùng với đó là sự ra đời những hiệp định về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu trong phạm vi các nước ASEAN, WTO đã giúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Về chính sách tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra những chính sách hỗ trợ về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND ở mức 9% đối với nhu cầu vốn trong 5 lĩnh vực sau: phục vụ nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ

và vừa; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

- Chính sách ưu đãi về đất đai

Luật Đất đai 2013 và có 05 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, trong đó Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Nghị định này thay thế Nghị định số 142/2005/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung Theo quy định của Nghị định 46 thì tỷ lệ tính đơn giá thuê đất là 1%, trong một số trường hợp đặc biệt, UBND có thể quyết định đơn giá cao hơn (không quá 3%) hoặc thấp hơn (không quá 0,5%) Chính phủ đã thông qua việc miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước và tiền sử dụng đất; đối tượng miễn nộp tiền thuê đất trong các trường hợp: Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Dự án sử dụng đất xây dựng nhà chung cư cho công nhân của các khu công nghiệp,

Ngoài ra, để kêu gọi đầu tư, Nhà nước cũng đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ về chuyển giao công nghệ, đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ đầu tư phát triển và dịch vụ đầu tư, hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

Bên cạnh những chính sách chung theo quy định của pháp luật, các nhà đầu tư có thể tham khảo các chính sách ưu đãi về mặt bằng thực hiện dự án, chi phí quảng cáo, thưởng môi giới đầu tư… từ các địa phương mà mình tiến hành kinh doanh, tạo dựng cơ sở.

Trang 33

Các bộ, ngành, địa phương tập trung xây dựng chính sách ưu đãi đầu

tư phù hợp với định hướng thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2020, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt đến quản lý quy hoạch Nâng cao hiệu quả quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI.

1.2.4.3 Thẩm định dự án cấp phép và thực thi giấy phép

Thông qua thẩm định, Nhà nước đánh giá được mức độ phù hợp với quy hoạch tổng thể chung của ngành, địa phương; các mặt lợi hại của FDI nếu triển khai; cũng như thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ mô đối với doanh nghiệp FDI trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Và tương tự, các địa phương đánh giá được sự cần thiết của các dự án đầu tư FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mình dựa trên sự phù hợp quy hoạch.

Khi thẩm định, Nhà nước và cấp địa phương cần tôn trọng, đảm bảo lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp FDI trong quan hệ hài hoà với lợi ích chung xã hội và cần phải đưa ra các kết luận rõ ràng, chính xác về toàn bộ dự án FDI được thẩm định xong Trong quá trình thẩm định, các cơ quan cấp giấp phép thường xem xét kỹ các nội dung như: tư cách pháp lý, năng lực tài chính của đầu tư nước ngoài; mức độ phù hợp của mục tiêu dự án FDI với quy hoạch chung; trình độ kỹ thuật, công nghệ áp dụng phù hợp với địa bàn tiếp nhận đầu tư; hiệu quả kinh tế -

xã hội do doanh nghiệp FDI đi vào hoạt động tạo ra.

1.2.4.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động doanh nghiệp

Công tác kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp FDI giúp phát hiện điểm bất hợp

lý, sai trái trong tổ chức thực hiện để kịp thời điều chỉnh hoặc kiến nghị việc điều chỉnh pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện việc giám sát bằng cách lập

các đoàn kiểm tra thực địa, hoặc yêu cầu báo cáo từ các doanh nghiệp Đồng thời,

công tác thẩm tra, cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư theo nguyên tắc tuân thủ

Trang 34

quy hoạch tổng thể phát triển các vùng, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu ;

Đồng thời thông qua việc thanh tra, kiểm tra và giám sát, còn tạo

ra nguồn thông tin phản hồi từ doanh nghiệp FDI để các cơ quan quản

lý Nhà nước có căn cứ đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách đã ban hành.

Ngoài ra, việc thẩm tra để sàng lọc bớt các nhà đầu tư thiếu năng lực là cần thiết nhưng để quản lý các dự án đầu tư FDI hiệu quả, khâu hậu kiểm sau cấp phép là quan trọng nhất Đặc biệt, các văn bản pháp luật sửa đổi trong thời gian tới cần theo hướng xử lý mạnh tay hơn với các hành vi sai phạm; đồng thời cần quy định cụ thể hơn trách nhiệm của từng cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan chuyên ngành trong hoạt động giám sát các dự án đầu tư nước ngoài.

Việc phân cấp trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài cho chính quyền địa phương đã đem lại sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, cơ chế phân cấp này đã nảy sinh nhiều bất cập, nhất là khi thu hút đầu tư nước ngoài của nước ta bước sang giai đoạn mới, với định hướng coi trọng chất lượng hơn số lượng.

Không thể phủ nhận chủ trương phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài cho chính quyền địa phương thời gian qua đã có tác động tích cực đến tính chủ động của các địa phương trong hoạt động xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư

Tuy nhiên, do năng lực thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài lớn của cán

bộ tại một số địa phương còn hạn chế nên đã xảy ra tình trạng cấp phép mà không bảo đảm các điều kiện cần thiết Việc cấp phép đầu tư quá dễ dàng khiến cho nhiều dự án được cấp phép đã phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng; nhiều dự án có quy mô lớn nhưng không triển khai hoặc triển khai chậm Trong quá trình thực hiện công tác QLNN của địa phương mình, phần lớn các tỉnh, các địa phương công tác quản lý dự án sau giấy phép chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt khâu nắm tình hình vốn thực hiện.

Trang 35

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương và những bài học

có thể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế

1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương

1.3.1.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương sớm thu hút được ĐTNN so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước do có những ưu thế tương đối về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, KT-XH Chỉ trong vòng 10 năm (1987 - 1997), thành phố đã cấp phép cho 834 dự án với tổng số đầu tư là 11.161 triệu USD, chiếm 39,8% về số dự án và 36,1% tổng vốn đầu tư của cả nước Hiện có gần 30 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào thành phố, trong đó các nước châu Á chiếm 63% tổng vốn FDI đầu tư vào thành phố Đối tác của bên Việt Nam tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài chủ yếu là các doanh nghiệp của nhà nước; trong đó, phần vốn góp của phía Việt Nam trong vốn pháp định của liên doanh chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất; chỉ có 82

dự án, chiếm 9,8% tổng số dự án và 205 triệu USD vốn đầu tư, hình thức liên doanh chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số dự án được cấp giấy phép, chiếm 60% về dự án và 73% về tổng vốn đầu tư Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, giai đoạn 1988 - 1991 có số lượng không đáng kể, sau đó tăng dần và xu huớng ngày càng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi dẫn đầu trong cả nước trong việc thu hút đầu tư nước ngoài theo hình thức BTO và triển khai các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung.

Sở dĩ thành phố Hồ Chí Minh đạt được những thành tựu như thế là vì:

Thứ nhất, do có định hướng và quy hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá sớm và tương đối bài bản.

Thứ hai, do có chính sách khá toàn diện và có sức thu hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, thiết kế các chính sách còn trải đều và chưa có thứ tự ưu tiên rõ ràng.

Thứ ba, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có môi trường đầu tư khá thuận lợi, là

trung tâm kinh tế - văn hoá của cả nước, gần cảng biển, có hệ thống cơ sở hạ tầng

Trang 36

phát triển, có nguồn nhân lực dồi dào với năng lực và tay nghề khá cao,

có tác phong công nghiệp.

Thứ tư, các đối tác bên Việt Nam của thành phố có điều kiện tương đối khá về vốn và trình độ quản lý so với các tỉnh, thành khác trong cả nước.

1.3.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Tỉnh Bình Dương được chia tách từ tỉnh Sông Bé từ ngày 01-01-1997, là một tỉnh đất hẹp, chỉ bằng 1/3 tỉnh Bình Phước, dân ít, kinh tế nông nghiệp và tiểu nông nghiệp là chủ yếu Nhưng hiện nay, Bình Dương đã là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất khu vực phía Nam và của cả nước, với cơ cấu kinh

tế quốc dân là công nghiệp 55%, dịch vụ 26% và nông nghiệp là 19%.

Một trong những yếu tố giúp Bình Dương phát triển kinh tế nhanh chóng là nhờ thu hút được nhiều FDI Hiện nay, Bình Dương đã quy hoạch 17 khu công nghiệp tập trung với diện tích hơn 6.200 ha, có hơn 1000 doanh nghiệp trong nước và 1.842 DNFDI, với số vốn đầu tư là hơn 4000 tỷ đồng và 11,4 tỷ USD.

Riêng về việc thu hút FDI, tỉnh Bình Dương đã làm tốt các việc sau:

- Nhất quán chính sách “trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

- Cải cách thủ tục hành chính; đẩy nhanh thời gian xem xét cấp giấy phép đầu

tư dưới 15 ngày đối với các dự án thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của tỉnh và dưới

20 ngày đối với các dự án cần xin ý kiến của các bộ, ngành Trung ương, các nhà đầu

tư chỉ phải nộp 1 bộ hồ sơ xin cấp phép đầu tư theo quy định của Chính phủ; quy định cho nhà đầu tư phải có trách nhiệm quan tâm chăm lo đời sống của công nhân lao động; tập trung đào tạo nghề, ý thức tổ chức kỷ luật cho người lao động, giải quyết các tranh chấp lao động, xử lý nghiêm các trường hợp xúc phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của người lao động Tỉnh Bình Dương còn áp dụng mới về giá thuê đất nhằm tăng cường sức cạnh tranh trong khu vực; thành lập trung tâm chuyển đổi ngoại tệ; khuyến khích đầu tư công nghệ cao, ít ô nhiễm môi trường; cho phép đầu tư các máy móc, thiết bị đã qua sử dụng còn khoảng 80 - 90% nhưng công nghệ thuộc thế hệ mới, cải tiến thủ tục cấp giấy phép xây dựng và lập

Trang 37

hồ sơ thuê đất Phòng Ngoại vụ trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh là đầu mối tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp visa cho người nước ngoài (không hạn chế số lượng) đến làm việc tại tỉnh Bình Dương với thời gian làm thủ tục là 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

- Tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có DNFDI; giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh thuộc thẩm quyền của tỉnh và kiến nghị kịp thời lên Trung ương giải quyết những ách tắc thuộc cơ chế chung; hướng dẫn chi tiết các doanh nghiệp trong nước và DNFDI về các thủ tục thành lập, đăng kí kinh doanh.

- Lắng nghe, tiếp thu và xử lý nghiên túc ý kiến của các loại hình doanh nghiệp trong nước và ngoài nước; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng như nâng cấp đường, mở rộng mạng lưới cung cấp điện, phát triển bưu chính viễn thông và hệ thống cấp nước sạch; thu hút nhân tài, xây dựng được đội ngũ CBCC có phẩm chất và năng lực QLNN về kinh tế FDI.

1.3.2.3 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng làm kinh tế đối ngoại chính thức từ 1992, mở đầu bằng Nghị quyết

số 05/NQ-TU của Thành ủy về kinh tế đối ngoại và thực sự khởi sắc khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi, cộng với các chính sách thông thoáng hơn của Đảng và Nhà nước ta Do xác định rõ lợi thế so sánh, coi phát triển kinh tế đối ngoại là động lực, là giải pháp quan trọng trong phát triển KT-XH Hải Phòng thu hút vốn đầu tư đến từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Nhật Bản đang đứng vị trí thứ nhất về số dự án và số vốn đầu tư (85 dự án, với tổng vốn đầu tư gần 2,4 tỷ USD), Hàn Quốc đứng thứ tư về số dự án (37 dự án) và đứng thứ hai về vốn đầu tư (1,056 tỷ USD) Tổng vốn FDI đăng ký trong 5 năm qua bằng 1,5 lần tổng vốn FDI thu hút được của tất cả các năm trước đó cộng lại Thu hút vốn FDI những năm gần đây đã chuyển dịch theo hướng tăng về dịch vụ, thương mại, bất động sản; công nghiệp tập trung vào các dự án chế biến, chế tạo cơ khí, thân thiện với môi trường.

Cơ cấu FDI vào Hải Phòng đã ngày càng phù hợp hơn với mục tiêu và định

hướng đặt ra là tăng tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp và cơ sở hạ tầng, thúc đẩy việc

Trang 38

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Về ngành nghề của các dự án đang hoạt động thì công nghiệp chiếm 58,6%

số dự án và 54% tổng vốn đầu tư; hạ tầng chiếm 4,3% số dự án và chiếm 24% tổng vốn đầu tư; dịch vụ du lịch chiếm 18,6% về dự án và chiếm 15% tổng vốn đầu tư; thương mại chiếm 10% về số dự án và 5% về tổng số vốn đầu tư; lĩnh vực vận tải chiếm 8,6% về số dự án và chiếm 2% tổng vốn đầu tư.

Về hình thức đầu tư, dự án liên doanh chiếm 77,1% về số dự án

và 94,81% tổng số vốn đầu tư; dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài, chiếm 20% về số dự án và 3,89% tổng vốn đầu tư; hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 2,9% về số dự án và chiếm 1,3% tổng vốn đầu tư.

Bài học mà thành phố Hải Phòng rút ra được là phải giảm bớt các thủ tục phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư; xây dựng nhiều khu chế xuất mới, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; tích cực tạo điều kiện thuận lợi về đất đai, cơ chế, chính sách… cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động.

1.3.2 Những bài học có thể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế

Từ những kinh nghiệm trên có thể rút ra các bài học sau đây có thể vận dụng

vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế

Thứ nhất , xây dựng bộ máy QLNN đối với DNFDI theo hướng tập trung, gọn nhẹ, để tiến hành quản lý đồng bộ các vấn đề có liên quan đến DNFDI từ khâu được thành lập, cấp giấy phép đầu tư cho đến các giai đoạn quản lý sau cấp phép Nếu bộ máy quản lý bị phân tán, không được thống nhất, quá nhiều đầu mối dẫn tới chồng chéo, kéo dài thời gian gây trở ngại đến hoạt động của các DNFDI.

Thứ hai, cần mở rộng lĩnh vực và địa bàn thu hút FDI từng bước theo hoạch định chiến lược, quy hoạch vùng và lĩnh vực thu hút FDI Đồng thời khuyến khích nhiều loại hình đầu tư khác nhau vào các KKT, KCN của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, thông qua hình thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức các hội thảo cung cấp thông tin về cơ hội đầu tư để thu hút ngày càng nhiều hơn các DNFDI.

Trang 39

Thứ tư, chú trọng công tác đào tạo nghề, hướng nghiệp cho người lao động Truyền đạt những quy định của Bộ Luật lao động cho người lao động và giúp các

DNFDI tuyển dụng lao động.

Thứ năm, cần tăng cường cải thiện kết cấu hạ tầng và từng bước hoàn chỉnh hệ thống cung cấp các loại dịch vụ hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài nhằm tăng sức hấp dẫn của Thừa Thiên Huế đối với các DNFDI.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đề cập đến những vấn đề khoa học sau đây:

Thứ nhất , hệ thống hóa luận cứ khoa học về đầu tư, FDI, DNFDI.

Từ đó phân tích về nội dung, đặc điểm, vai trò của FDI và DNFDI.

Đây cũng chính là đối tượng quản lý nhà nước mà luận văn đề cập đến.

Thứ hai, hệ thống hóa có kế thừa, bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận QLNN đối với các DNFDI Theo đó, luận văn đã nêu ra một số điểm khoa học như sau:

- Đề xuất khái niệm về QLNN đối với các DNFDI, nêu ra đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước đối với các DNFDI.

- Nêu được sự cần thiết của QLNN đối với các DNFDI.

- Đưa ra được mục tiêu, yêu cầu, phương thức và công cụ QLNN đối với các

Những luận cứ khoa học trên đây là tiền đề, là căn cứ lý luận để phân tích thực trạng QLNN đối với các DNFDI cũng như đề ra các giải pháp hoàn thiện trong các chương sau của luận văn.

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯTRỰC TIẾP

NƯỚCNGOÀI TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Thực trạng thu hút và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là tỉnh nằm ở trong vùng duyên hải của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; cách Thủ đô Hà Nội 660km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080km về phía Nam Ngoài ra, trong mối tương quan với khu vực và quốc tế, Thừa Thiên Huế nằm trên hành lang kinh

tế xuyên Á (Đông - Tây), do vậy có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu, liên kết kinh tế với nhiều tỉnh, thành phố trong nước và thế giới.

Cùng với Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế được xác định là một trong năm đô thị Trung tâm cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực Đông Nam Á Mức tăng trưởng kinh tế liên tục và khá ổn định gắn liền với các mặt tiến bộ trong đời sống xã hội, kết cấu hạ tầng phát triển, đô thị được chỉnh trang, tốc độ tăng GDP bình quân trong năm 2012 đến 2017 là 12% Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, nông - lâm - nghiệp, trong đó dịch vụ chiếm 45,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 39,7% và nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 15,1%.

Thừa Thiên Huế có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển, hệ thống giao thông thuận lợi và đa dạng, bao gồm đường bộ và đường sắt nằm trên tuyến xuyên Việt, hai cửa khẩu thông thương với nước bạn Lào, sân bay Quốc tế Phú Bài, cảng Thuận An cách thành phố Huế 12 km có thể đón tàu có trọng tải 2.000 tấn và đặc biệt Cảng nước sâu Chân Mây - cửa ra biển Đông của Hành lang kinh tế Đông

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w