Từ thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buônbán hàng giả trên địa bàn Quận Ba Đình, cùng với những vấn đề của pháp luậtvề chống buôn bán hàng giả và yêu cầu của c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học củariêng tôi, được sự hướng dẫn khoa học của TS Đàm Bích Hiên - Học việnHành chính Quốc gia Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này làtrung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Ngoài ra,trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu củacác tác giả khác, cơ quan tổ chức khác, đều có trích dẫn và chú thích nguồngốc rõ ràng./
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Thắng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn cao học “ Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ” tôi đã được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các
thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô giáo các Khoa chuyên ngành, BanQuản lý sau đại học - Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt kiến thức,tận tình hướng dẫn, động viên và tạo điều kiện mọi mặt để tôi được tham giahọc tập chương trình cao học Quản lý công tại Học viên Hành chính Quốcgia, được tiếp cận những tư liệu, tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu,học tập và hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn lãnh đạo Đảng ủy, Ban , cán bộ, chiến sỹ Công
an quận Ba Đình thuộc Công an thành phố Hà Nội, Đội quản lý thị trường số 3thuộc Sở Công Thương thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi chotôi có thể tiếp cận tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đàm BíchHiên đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ XỬ
ẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BUÔN BÁN HÀNGGIẢ 101.1 Quan niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hànggiả 101.1.1 Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 101.1.2 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hànggiả 171.1.3 Những đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bánhàng giả 201.1.4 Điều chỉnh pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buônbán hàng giả 211.2 Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buônbán hàng giả 221.2.1 Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hànggiả 231.2.2 Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả 241.2.3 Các hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hànggiả 271.2.3.1 Các hình thức xử phạt 271.2.3.2 Biện pháp khắc phục hậu quả 281.2.4 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hànggiả 301.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn
Trang 51.3.1 Yếu tố chính trị, pháp lý 32
1.3.2 Sự phát triển của nền kinh tế thị trường 34
1.3.3 Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong xử lý hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả 34
1.3.4 Năng lực của đội ngũ công chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vự 34
1.3.5 Trình độ dân trí, sự phát triển của xã hội 35
1.4 Kinh nghiệm trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả 35
1.4.1 Kinh nghiệm của Pháp 35
1.4.2 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ chí Minh 36
Tiểu kết Chương 1 38
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
2.1 Khái quát chung về quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 39
2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý quận Ba Đình 39
2.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội 40
2.2 Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Hà Nội 41
2.3 Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hành giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 43
2.3.1 Về công tác tổ chức bộ máy, chỉ đạo, điều hành 43
2.3.2 Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hành giả 45
2.4 Đánh giá về công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 49
2.4.1 Những kết quả đạt được 49
Trang 62.4.2 Những hạn chế 542.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 55Tiểu kết Chương 2 60Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO XỬ LÝ VIPHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BUÔN BÁN HÀNG GIẢTRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 613.1 Phương hướng đảm bảo xử lý vi phạm hành chính về hàng giả trên địabàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 613.1.1 Đảm bảo xử lý vi phạm hành chính về hàng giả phải gắn liền với việchoàn thiện quy định và thủ tục xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả 613.1.2 Đảm bảo xử phạt hành chính về hàng giả cần bắt đầu từ khâu chủ độngứng phó với diễn biến thị trường, phát hiện sớm và xử phạt nghiêm minh, kịpthời các vi phạm 623.1.3 Đảm bảo xử phạt hành chính về hàng giả phải gắn với việc nâng caonguồn nhân lực, ý thức pháp luật công vụ của công chức và ý thức pháp luật
về chống hàng giả, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của ngườidân 633.1.4 Đảm bảo xử phạt hành chính về hàng giả phải nâng cao vai trò củadoanh nghiệp - chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong công tác phối hợp vàhợp tác thực thi pháp luật 653.1.5 Phát huy vai trò giữa người sản xuất với người tiêu dùng, tạo hành langpháp lý để các tổ chức xã hội tham gia vào việc phát hiện, tố giác vi phạm vềbuôn bán hàng giả, bảo vệ người tiêu dùng 663.2 Giải pháp đảm bảo xử lý vi phạm hành chính về hàng giả trên địa bànquận Ba Đình, thành phố Hà Nội 683.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về xử phạt hành chính về hàng giả 68
Trang 73.2.2 Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo, nâng cao chất lượng chuyênmôn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức thực hiện chống hàng giả 693.2.3 Nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp liên ngành trong kiểm tra, pháthiện và xử phạt vi phạm 713.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động của lựclượng chức năng xử lý hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả 723.2.5 Phát huy sự tham gia của xã hội vào phát hiện, tố giác vi phạm về hànggiả 733.2.6 Tăng cường sự phối hợp và hợp tác giữa các tổ chức thực thi và cáchiệp hội, doanh nghiệp trong việc chống hàng giả xâm phạm quyền sở hữu trítuệ, hàng kém chất lượng 763.2.7 Truyền thông nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, cộng đồngdoanh nghiệp 773.2.8 Nâng cao điều kiện vật chất, trang thiết bị và nguồn lực phục vụ côngtác phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn hàng giả 79Tiểu kết Chương 3 80KẾT LUẬN 81TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính về hàng giả của ngànhQuản lý thị trường nước ta (từ năm 2010-2015) 42Bảng 2.2 Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính về hàng giả của ngànhQLTT Hà Nội giai đoạn 2013-2017 43Bảng 2.3: Thống kê kết quả xử lý vi phạm hành chính về buôn bán hàng giảtrên địa bàn quận Ba Đình từ năm 2013-2017 46Bảng 2.4 Bảng tổng hợp danh mục số lượng hàng hóa vi phạm hành chínhtrên địa bàn quận Ba Đình giai đoạn 2014-2017 47
Biểu đồ 2.1: Số vụ vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả trên địa bànquận Ba Đình, thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 46Biểu đồ 2.2: Số tiền phạt và giá trị hàng hóa vi phạm hành chính về buôn bánhàng giả trên địa bàn quận Ba Đình xử phạt từ năm 2013-2017 48
Trang 9MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Namngày càng phát triển, hoạt động thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày càngphong phú dồi dào kéo theo việc sản xuất, lưu thông hàng hóa diễn ra mạnh
mẽ Nhưng cũng chính từ đó, vấn nạn hàng giả, hàng nhái đã trở thành mộtthực tế nhức nhối, lây lan nhanh với thủ đoạn ngày càng tinh vi Điều nàykhông chỉ tàn phá kinh tế - xã hội, phá hoại cạnh tranh công bằng mà còn gâyảnh hưởng xấu đến quyền lợi của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính.Hàng giả đã và đang thách thức trực tiếp hiệu lực của pháp luật, hiệu quả quản
lý của Nhà nước và ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh về kinh tế - xãhội, quyền lợi của người tiêu dùng Tệ nạn buôn bán hàng giả và gian lậnthương mại ở nước ta trong diễn biến phức tạp, mang tính thời sự; có xuhướng gia tăng về quy mô, chủng loại hàng hoá, thủ đoạn ngày càng tinh vi;
có lúc trở nên nóng bỏng, thật sự trở thành “quốc nạn”, gây trở ngại cho côngcuộc xây dựng và phát triển đất nước
Để giải quyết “quốc nạn” này, Đảng và Nhà nước xác định đây lànhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, cấp bách và lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng,toàn quân, toàn dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống nhằm từngbước ngăn chặn Tuy nhiên, thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống hànggiả trong thời gian qua cho thấy các quy định pháp luật về phát hiện, xử lý viphạm hành chính về hàng giả còn nhiều vướng mắc, bất cập và nhiều kẽ hở;công tác phát hiện, chứng minh vi phạm còn gặp khó khăn; cơ chế về thủ tục,quy trình còn phức tạp làm giảm hiệu quả công tác, cơ chế thi hành quyết
Trang 10định xử phạt chưa đảm bảo, hiệu quả răn đe thấp, chưa đạt được kết quả như
kỳ vọng và thực tế đòi hỏi
Quận Ba Đình là một trong các quận trung tâm của Thành phố Hà Nội,nằm ở Tây Bắc của Thành phố Hà Nội Quận Ba Đình được Chính phủ xácđịnh là trung tâm đầu não về hành chính, chính trị quốc gia, là trung tâmngoại giao, đối ngoại Quận Ba Đình có diện tích đất tự nhiên là 924,95 hachiếm 0,29% tổng diện tích tự nhiên của Thủ đô Hà Nội Dân số năm 2012của toàn quận là 239.605 người với diện tích đất ở đô thị là 322,02 ha, mật độdân cư trung bình 23.544 người/km2 Trong những năm gần đây cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng sản xuất các ngành côngnghiệp, tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ xây dựng Theo chủ trương của Đảng
và Nhà nước, Ba Đình không thể là quận khuyến khích phát triển côngnghiệp, kinh tế quận Ba Đình dựa chủ yếu vào sự phát triển của các ngànhthương mại, dịch vụ Đặc biệt quận có chợ đầu mối Long Biên là chợ trungchuyển và buôn bán hầu hết các loại hàng hóa phục vụ không chỉ toàn Thànhphố mà còn phối đi các vùng khác thuộc khu vực phía Bắc Theo thống kêtrên địa bàn quận
hộ kinh doanh Chính vì sự đa dạng, mật độ kinh doanh dày đặc cũng tạo ranhững khó khăn nhất định trong quản lý và chống buôn bán hàng giả Dưới
sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự quản lý của các cơ quan tham giaquản lý thị trường nên tình trạng buôn bán hàng giả trên địa bàn quận được
đã được kiểm soát Tuy nhiên vẫn buộc lộ những hạn chế do tình hình thịtrường trên địa bàn phức tạp, bên cạnh đó một phần do nhận thức của ngườidân và doanh nghiệp trong việc chống buôn bán hàng giả chưa cao nên tìnhtrạng buôn bán hàng giả trên địa bàn quận vẫn diễn biến theo xu hướng phứctạp và ngày càng gia tăng về số vụ việc vi phạm
Trang 11Từ thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buônbán hàng giả trên địa bàn Quận Ba Đình, cùng với những vấn đề của pháp luật
về chống buôn bán hàng giả và yêu cầu của cải cách hành chính, của hội nhậpquốc tế và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã và đang đặt racho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý nhu cầu phải giải đáp những vấn đề
lý luận và thực tiễn đối với pháp luật về chống buôn bán hàng giả và việc thựcthi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giảphù hợp với những yêu cầu của đổi mới Bản thân tác giả là người trực tiếpcông tác tại quận Ba Đình Do vậy, tác giả luận văn quyết định chọn đề tài:
“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên
ngành Quản lý công của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến đề tài luận văn, có nhiều công trình nghiên cứu ở những mức độ khác nhau đã được công bố, như:
- Công trình khoa học “Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn” củaTiến sĩ Vũ Thư, Nxb Chính trị quốc gia, 2000
- Công trình khoa học “ Xử phạt vi phạm hành chính”, Viện khoa họcpháp lý - Bộ Tư pháp (1980), Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, mã số 8598008, Hà Nội
- Bài viết “Chế tài hành chính - lý luận và thực tiễn”, chuyên đề hội thảokhoa học về giao thông, Hà Nội TS Vũ Thư (1996)
- Luận văn cao học “Hoàn thiện qui định pháp luật về các hình thức xửphạt vi phạm hành chính”, của Nguyễn Trọng Bình, Trường Đại học Luật HàNội, 2000
Trang 12- Luận văn cao học "Vi phạm hành chính và tội phạm - Những vấn đề lýluận và thực tiễn" , của Trần Thu Hạnh, Khoa Luật Trường Đại học tổng hợp
Hà Nội, 1998
Vấn đề sản xuất, buôn bán hàng giả và xử lý vi phạm trong lĩnh vực này
đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, học viên cao học đềcập ở nhiều góc độ như:
- Đề tài khoa học “Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệtrong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam”, năm 2005 của Đại học Quốcgia Hà Nội
- Nguyễn Minh Hải (2010), “Một số giải pháp tăng cường đấu tranhchống hàng giả và gian lận thương mại”, Học viện Hành chính Quốc gia - Tạpchí Quản lý nhà nước số 12, tr.36-39 Tác giả đã hệ thống thực trạng với số liệuminh họa có tính cập nhật về tình hình buôn lậu và gian lận thương mại ở nước
ta, từ đó, đề xuất một số giải pháp (1) Xây dựng và ban hành Luật về phòng,chống buôn lậu và gian lận thương mại với chế tài mạnh để răn đe hành vi viphạm trong lĩnh vực buôn lậu và gian lận thương mại, (2) Nâng cao năng lực vàxây dựng tổ chức bộ máy Quản lý thị trường với đội ngũ cán bộ, công chức cónăng lực và tận tụy thực thi công vụ, (3) Bổ sung trang thiết bị cho lực lượngQuản lý thị trường tham gia đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lậnthương mại, (4) Chế độ, chính sách đối với người tham gia phát hiện hành vibuôn lậu qui mô lớn để khuyến khích người dân tham gia cùng cơ quan quản lýnhà nước phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
- Đinh Thị Kim Cúc (2011), “Các giải pháp phòng, chống gian lậnthương mại trên đại bàn tỉnh Bình Dương”, Luận văn thạc sĩ quản lý hànhchính công, bảo vệ tại Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn đã hệ thống
Trang 13kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố và bài học có thể vận dụng cho tỉnh BìnhDương về phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại Các nhân tố tác động
và phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong điều kiện tỉnh có cơ hội thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cao, lao động nhiều nguồn dồn về sinhsống; giáp thành phố Hồ Chí Minh nên phòng, chống buôn lậu và gian lậnthương mại rất phức tạp, nóng bỏng và ngày càng tinh vi Các giải pháp của tácgiả về (1) Hoàn thiện thể chế phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, (2)
Mở rộng phạm vi tuyên truyền và phổ biến pháp luật cho người dân và doanhnghiệp về phòng, chống gian lận thương mại và buôn lậu,
(3) Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức tham gia phòng, chốngbuôn lậu và gian lận thương mại, (4) Xây dựng chính sách và kiện toàn tổchức hoạt động phối/kết hợp giữa Chi cục Quản lý thị trường, Ban Chỉ đạo
127 và các cơ quan, ban, ngành trên địa bàn tỉnh
- Luận văn cao học “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hảiquan” của An Đắc Hùng, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012.Luận văn đã Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận của pháp luật xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan; Nghiên cứu thực trạng củapháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và thực trạng
vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan; Đề xuất, kiến nghị các giải phápchủ yếu để hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải
ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới; Kết quả nghiên cứu có thể đượcdùng như tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn áp dụngvấn đề này với ngành Hải quan và với mỗi cán bộ, công chức Hải quan
Qua khảo sát, có ít nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp về xử phạt vi phạmhành chính về buôn bán hàng giả đặc biệt tại một địa phương cụ thể có hoạtđộng thương mại dịch vụ phát triển như tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 14Do vậy từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về lĩnh vực hàng giả, buônbán hàng giả, trách nhiệm hành chính, xử lý vi phạm hành chính, trên cơ sở
thực tiễn công tác, tác giả chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” để
nghiên cứu một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn vấn đề xử phạthành chính đối với hành vi buôn bán hàng giả trên một địa bàn cụ thể là quận
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu là:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận, pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
- Phân tích đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính về buôn bánhàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, qua đó thấy đượcnhững ưu điểm, những tồn tại hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những tồntại, hạn chế đó
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 154. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý luận, các quy định pháp luật hiện hành về xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả và thực tiễn áp dụng cácquy định đó trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác xử lý hành chính trong lĩnh vựcbuôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đ ng thành phố Hà Nội, cụ thể làCông an quận Ba Đình thuộc CATP Hà Nội; Đội Quản lý thị trường số 3 - Chicục Quản lý thị trường thuộc Sở Công thương Thành phố Hà Nội
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình
- Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác - LêNin, các quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòngchống vi phạm pháp luật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 16Để giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luậnvăn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết họcMác-Lênin cùng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê;
- Phương pháp tổng hợp;
- Phương pháp nghiên cứu thực địa;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Kết hợp với quan sát thực tiễn qua quá trình công tác và khái quát hóa
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận và các qui định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiêncứu của cán bộ giảng dạy, sinh viên trong các trường đại học luật, hành chínhcông hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm, nghiêncứu về xử phạt hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kếtcấu gồm 03 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về vi phạmhành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Chương 2: Thực trạng xử vi phạm hành chính trong lĩnh vực buônbán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 17Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ XỬ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1 Quan niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
1.1.1 Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính
1.1.1.1 Vi phạm hành chính
Theo lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi các
mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó, “ vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật được phân thànhnhiều loại khác nhau Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguyhiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật được chia thành cácloại sau:
Vi phạm hình sự (tội phạm): là những hành vi nguy hiểm cho xã hội,
có lỗi và được quy định trong Bộ luật Hình sự
Vi phạm hành chính: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi nhưngmức độ nguy hiếm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quan hệ xãhội được pháp luật hành chính bảo vệ phát sinh trong quá trình quản lý nhànước
Vi phạm dân sự: là những hành vi trái luật dân sự, hay ngược lại với
Trang 19có lỗi, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân và quan hệ phi tàisản có liên quan tới tài sản được pháp luật dân sự bảo vệ.
Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗ ới các quy tắc kỷ luật laođộng, học tập, công vụ nhà nước trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp,trường học được pháp luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy củatừng cơ quan, doanh nghiệp quy định
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã đưa ra định nghĩa pháp lý
về “vi phạm hành chính”, khoản 1 điều 2 của Luật quy định: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Định nghĩa trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hànhchính, đó là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính tráipháp luật hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó cũng baogồm các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể
và khách thể Dưới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạmhành chính sẽ được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau
- Mặt khách quan của vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bênngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thường các biểuhiện ra bên ngoài của hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công
cụ, phương tiện hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính
và hậu quả của vi phạm hành chính
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc
tổ chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây
Trang 20tác hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý Những biểu hiện nàyđược kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hànhchính Hành vi là biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hànhchính, chúng có ý nghĩa quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặtkhách quan (hậu quả, công cụ phương tiện, thời gian, địa điểm); đồng thờihành vi cũng là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan Hành vikhách quan của vi phạm hành chính có thể là hành vi hành động hoặc khônghành động Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi chăng nữa thì cũng chỉ bịcoi là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp luật Hành vi trái phápluật hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính, nhưngđây không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính Rất nhiều hành vitội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính Để phân biệt vi phạmhành chính với tội phạm trong trường hợp cả hai loại hành vi có cùng chungkhách thể, người ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi.Hành vi vi phạm hành chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hìnhsự.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính vàhậu quả của vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại khách quan của vi phạmhành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc đe dọa xâmhại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành quy tắc quản lý nhà nước.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi phạm hành chính được biểuhiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, về tự do thân thểcủa cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của nhà nước, tập th và công dân Hậuquả của vi phạm hành chính là kết quả của hành vi vi phạm hành chính do conngười hoặc tổ chức thực hiện Do đó giữa hành vi vi phạm hành chính và hậuquả vi phạm hành chính có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm
Trang 21quan của vi phạm hành chính; sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi viphạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính dựa trên các căn cứ sau:
Một là, hành vi vi phạm hành chính xảy ra trước hậu quả xâm hại các mối quan hệ về mặt thời gian; Hai là, hành vi vi phạm phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội; Ba là, hậu quả vi
phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậuquả của hành vi vi phạm Ngoài những biểu hiện trên, về mặt khách quan của
vi phạm còn có một số dấu hiệu khách quan khác như: thời gian, địa điểm,công cụ và phương tiện vi phạm
để xác định vi phạm hành chính xảy ra Đối với Luật Hình sự đòi hỏi phải chínhxác hơn, không chỉ xác định lỗi mà còn phải xác định cho được hình thức vàmức độ lỗi; mặt khác lỗi trong Luật Hình sự chỉ đặt ra với cá nhân vi phạm,trong hành chính lỗi đặt ra cho cả cá nhân và tổ chức vi phạm Lỗi trong
vi phạm hành chính thế hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ýtrong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức được hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗicủa cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình thiếu thậntrọng mà không nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mặc dù họ có đầy
đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định
Trang 22- Chủ thể của vi phạm hành chính
Trong Luật Hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhânhoặc tố chức; cá nhân hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạmhành chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính
Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồmcông dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền
ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hànhchính trên lãnh thố Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải.Những người này phải có năng lực trách nhiệm hành chính Năng lực tráchnhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người với hành
vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: đạt
độ tuổi theo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhậnthức của hành vi Điều 5 Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 xác địnhđối tượng bị xử phạt hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đếndưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ
16 tuối trở lên bị xử phạt hành chính về mọi hành
vi vi phạm hành chính (điểm a khoản 1)
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạmhành chính thì bị xử phạt như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụnghình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đìnhchỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xửphạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩmquyền xử phạt
Mặt khác, Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 còn quy định:người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo;người chưa thành niên vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì phải bồi
Trang 23niên không có tiền nộp phạt thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đóphải nộp thay, quy định như trên không có nghĩa là xử phạt cả người không
vi phạm mà ở đây chúng ta hướng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luậtcho người chưa thành niên
Đối với tổ chức: Pháp luật hành chính coi tổ chức là chủ thể của viphạm hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế; cơquan, tổ chức nước ngoài nếu vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam,vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải thì bị xử phạt như cơ quan, tổchức Việt Nam (trừ tổ chức được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao)
- Khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể của vi phạm hành chính là cái mà vi phạm xâm hại tới Đóchính là các quan hệ xã hội được các quy tắc quản lý nhà nước bảo vệ Cácquan hệ xã hội bị/có thể bị vi phạm hành chính xâm phạm rất đa dạng, đó là:trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích hợp phápcủa công dân
Khách thể của vi phạm hành chính được chia thành các loại sau:
+ Khách thể chung: đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung
+ Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chấtvới nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước Các quan hệnày được phát sinh trong cùng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước, dovậy chúng có mối liên hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhànước
+ Khách thể trực tiếp: là quan hệ x hội cụ thể được pháp luật quy định và bảo vệ, bị chính hành vi vi phạm hành chính xâm hại tới
Trang 24Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì xử lý vi phạm hànhchính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lýhành chính khác Xử lí vi phạm hành chính là hoạt động của cơ quan nhànước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quyđịnh đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đếnmức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Xử l vi phạm hành chính bao gồm xửphạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử l hành chính khác.Bản chất của hoạt động xử lý vi phạm hành chính là áp dụng một số loại biệnpháp cưỡng chế hành chính do pháp luật quy định Cưỡng chế hành chínhđược xác định là biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan hoặc người cóthẩm quyền quyết định áp dụng theo thủ tục hành chính đối với cá nhân cóhành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân nhất định với mụcđích ngăn chặn, phòng ngừa hoặc thực hiện công vụ vì lí do an ninh, quốcphòng và vì lợi ích quốc gia.
Pháp luật xử lý VPHC là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xử lý VPHC, tức là trong việccác cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡngchế hành chính (gồm các hình thức xử lý VPHC, các biện pháp khắc phục hậuquả, các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử lý VPHC, các biện phápcưỡng chế thi hành quyết định xử lý VPHC) đối với những cá nhân, tổ chứcthực hiện VPHC nhằm đảm bảo trật tự và kỷ luật trong quản lý nhà nước
Pháp luật xử lý VPHC ở Việt Nam có nguồn rất phong phú, đa dạng.Bên cạnh Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật Xử lý VPHC năm2012) và một số Luật chuyên ngành có quy định về xử lý VPHC là hàng loạtNghị định do Chính phủ ban hành quy định về VPHC và xử lý VPHC trên cáclĩnh vực cụ thể Thậm chí, đối với một số lĩnh vực phức tạp, các chủ thể có
Trang 25thẩm quyền xử phạt còn phải căn cứ vào các Thông tư hướng dẫn thi hành chi tiết Nghị định của Chính phủ.
1.1.2 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
- Khái niệm buôn bán hàng giả:
Việc tìm hiểu khái niệm “hàng giả” có liên quan trực tiếp tới các biệnpháp phòng chống hàng giả Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, cácsản phẩm làm giả bao gồm các mặt hàng bắt chước rất giống vẻ ngoài của cácsản phẩm thương hiệu chính gốc để đánh lừa khách hàng Các sản phẩm giảcòn gồm các loại hàng hóa và việc phân phối hàng hóa đó chưa được kiểmđịnh và được bảo vệ bởi các quyền sở hữu trí tuệ, như quyền tác giả, cácnhãn hiệu và thương hiệu Trong nhiều trường hợp, các dạng vi phạm có thểxuất hiện cùng trong 1 sản phẩm làm giả: như đồ chơi làm giả vi phạm thiết
kế của một hãng lớn Thuật ngữ “hàng giả” còn nói tới việc làm giả và cácvấn đề liên quan như sao chép bao bì, nhãn hiệu và bất kỳ đặc tính n i bậtcủa hàng hóa Các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi vấn nạnhàng giả là phần mềm, ghi thu đĩa nhạc, phim, quần áo thời trang, các đồ đắttiền, đồ thể thao, nước hoa, đồ chơi, phụ tùng xe máy, xe hơi và dược phẩm
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm hàng giả lần đầu tiên được sử dụng kể
từ khi đất nước được thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ,buôn, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 (Pháp lệnh số07/LCT/HĐNN7 ngày 10/7/1982 Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,kinh doanh trái phép năm 1982) Điều 5 của Pháp lệnh này quy định về Tộilàm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả, với hình phạt có thể lên đến tù chungthân Văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra định nghĩa về hàng giả là Nghị định140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc
Trang 26kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả Điều 3 của Nghị địnhquy định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá đượcsản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoáđược Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường;hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc,bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó” Từ đó tới nay, Nhà nước ta
đã ban hành nhiều văn bản quy định ở những mức độ khác nhau về nội dunghàng giả và biện pháp phòng chống Đặc biệt phải kể tới hai văn bản là: Nghịđịnh 08/2013/NĐ-CP ngày 10/1/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt hànhchính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và Nghị định185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạmhành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàngcấm và bảo vệ người tiêu dùng (thay thế Nghị định số 08/2013/NĐ-CP) (đã
có Nghị định số 124/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 185/2013/NĐ-CP quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buônbán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng)
Các văn bản trên không đưa ra định nghĩa pháp lý về hàng giả và xửphạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả Theo các văn bản này, hànggiả bao gồm bốn trường hợp/loại:
1) Trường hợp giả về nội dung;
2) Trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa)3) Trường hợ
Luật sở hữu trí tuệ 2005);
ịnh tại Điều 213
4) Trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả cũng được coi là hàng giả
Trang 27Về hành vi vi phạm hành chính về hàng giả, theo quy định hiện hành,
có hai nhóm hành vi là: sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả “Sản xuất” là
việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn,gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, sanchia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa “Buônbán” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bàybán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu
và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông Hàng hóa lưu thông trên thịtrường gồm hàng hóa bày bán, vận chuyển trên đường, để tại kho, bến, bãi,tại cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc địa điểm khác Như vậy, các hành vi bàybán hàng hóa, vận chuyển hàng hóa trên đường, đề hàng hóa tại kho, bến,bãi, tại cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc địa điểm khác được coi là nhữnghành vi buôn bán hàng hóa
Từ các phân tích trên, có thể đưa ra các định nghĩa sau:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả là hành vi có lỗi
do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhànước trong phòng chống hàng giả mà không phải là tội phạm và theo quy địnhcủa pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả là hoạt
động áp dụng pháp luật, trong đó, người có thẩm quyền áp dụng chế tài phápluật hành chính (hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả) đối với chủthể vi phạm hành chính (cá nhân, tổ chức) trong lĩnh vực buôn bán hành giảtheo thủ tục do luật hành chính quy định, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạmhành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinhthần so với trạng thái ban đầu của họ
Trang 281.1.3 Những đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nước ta hiệnnay, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là văn bản có giá trị pháp lýcao nhất, quy định những vấn đề chung nhất về xử lý vi phạm hành chínhnhư: nguyên tắc, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, trình tự, thủ tục xử lý
vi phạm hành chính
Quy định pháp luật về xử lý hành chính trong lĩnh vực buôn bán hànggiả buôn bán hàng giả được xây dựng thành hệ thống, chủ yếu được Chínhphủ ban hành dưới hình thức Nghị định và các Bộ ban hành Thông tư hướngdẫn thi hành Nghị định
Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật để truy cứutrách nhiệm hành chính về buôn bán hàng giả đối với chủ thể vi phạm, cónhững đặc điểm sau:
- Thứ nhất, hoạt động này là hoạt động quản lý hành chính nhà nước, docác cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện để tổ chức thực thipháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về hàng giả Các cơ quan có thẩmquyền quản lý hành chính nhà nước tổ chức thực hiện là các Bộ, cơ quanngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp Bên cạnh đó, nhiệm vụ xử phạt còn đượcgiao trực tiếp cho các cơ quan chức năng như: Quản lý thị trường, Công an,Hải quan, Thanh tra chuyên ngành
- Thứ hai, hoạt động xử lý VPHC về buôn bán hàng giả là hoạt động mangtính quyền lực nhà nước, được đảm bảo thực hiện bằng các nguồn lực của nhànước từ thẩm quyền, nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, phương tiện
Trang 29- Thứ ba, hoạt động xử lý VPHC về buôn bán hàng giả phải tuân theonhững nguyên tắc và thủ tục được quy định ( quy định về thủ tục, quy trình về
xử phạt hành chính về hàng giả)
1.1.4 Điều chỉnh pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả,
Trước hết, tìm hiểu khái niệm về hàng hóa và thế nào là giả: “ Hàng hóa là sản phẩm dùng để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi” (Từ điển kinh tế, Nhà xuất bản Sự thật -
1979, trang 214); còn “Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật” (Từ điển Tiếng Việt,
nhà xuất bản văn hóa -1998, trang 405)
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm hàng giả lần đầu tiên sử dụng kể từ khiđất nước thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ, buôn, làmhàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982
Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất được ban hànhnăm 1985 quy định Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả tại điều 176, thuộcnhóm tội kinh tế
Văn bản pháp quy đầu tiên đưa ra định nghĩa về hàng giả là Nghị định140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc kiểmtra, xử lý hoạt động buôn bán hàng giả Theo điều 3 của Nghị định quy định:
“Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như sản phẩm, hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”.
Trang 30Ngày 15/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 185/2013/NĐ-CP quyđịnh xử phạt VPHC trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả,hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quy định hàng giả gồm:
Hàng hóa không có giá thị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, côngdụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; cógiá trị sử dụng, công dụng không đúng giá trị sử dụng, công dụng đã công bốhoặc đăng ký;
Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinhdưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống sovới tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố ápdụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất;
có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loạidược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bìhàng hóa;
Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân,địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩmhàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bìhàng hóa của thương nhân khác;
Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo vềnguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
Tại Điều 213, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005) quy định về hànghóa giả mạo về sở hữu trí tuệ như sau:
Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định Luật này gồm hàng
Trang 31mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hóa sao chép lậu quyđịnh tại Khoản 3 Điều này.
Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãnhiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đangđược bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sởhữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý
Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phépcủa chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan
1.2 Quy định của Pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
1.2.1 Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Theo quy định hiện hành, các đối tượng thuộc diện bị xử lý hành chính
về buôn bán hàng giả gồm:
“1 Cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tố chức nước ngoài thựchiện hành vi VPHC quy định tại Nghị định này trên lãnh thổ Việt Nam Cánhân quy định tại khoản 1 Điều này gồm cả hộ kinh doanh phải đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật; hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinhdoanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanhtheo quy định của pháp luật
2. Tổ chức quy định tại Khoản 1 Điều này gồm cả tổ chức kinh tế là cácdoanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh
tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và các đơn vị
Trang 32trực thuộc của các tố chức kinh tế nói trên; văn phòng đại diện, chi nhánh củathương nhân nước ngoài tại Việt Nam; Văn phòng đại diện của tổ chức xúctiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam.” (Điều 2 Nghị định số185/2013/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1.2.2 Hành vi VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
- Hành vi buôn bán hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng: quy
định tại điểm a, b, c và d khoản 8 Điều 3, Nghị định 185/2013/NĐ-CP, bao gồmhành vi buôn bán các loại hàng giả sau:
+ Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng,công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hànghóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng
đã công bố hoặc đăng ký;
+ Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc tổng các chấtdinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống
so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố ápdụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
+ Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dượcchất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủloại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
+ Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉđạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đãđăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng kỷ; có hoạt chấtkhác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa
Trang 33nội dung.
- Hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa:
quy định tại điểm đ và e khoản 8 Điều 3, Nghị định185/2013/NĐ-CP, bao gồmhành vi buôn bán các loại hàng giả sau:
+ Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bỉ hàng hóa giả mạo tên thương nhân,địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương
phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao
bì hàng hóa của thương nhân khác;
+ Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa
Đây là nhóm hành vi buôn bán loại hàng giả về hình thức
- Hành vi buôn bán tem, nhãn, bao bì giả: quy định tại điểm h khoản 8
Điều 3, Nghị định 185/2013/NĐ-CP, bao gồm hành vi buôn bán loại hàng giả là:Tem, nhãn, bao bì giả
Tem, nhãn, bao bì giả gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, cácloại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng cơ hàng hóa hoặc vật phẩmkhác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ củathương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã
số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác
- Hành vi buôn bản hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ:
Trang 34hàng hoá giả mạo nhãn hiệu): Hàng hoá giả mạo nhẵn hiệu là hàng hoá, bao
bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãnhiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà khôngđược phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý
+ Hàng hóa sao chép lậu: Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan
Khái niệm hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ trong Điều 213 Luật Sở hữutrí tuệ Việt Nam tương đồng với khái niệm “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hànghóa chứa đựng yếu tố xâm hại quyền tác giả” được quy định trong Hiệp định vềcác khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (Hiệp địnhTRIPS) của Tồ chức thương mại thể giới (WTO) Khái niệm hàng hóa giả mạo
về sở hữu trí tuệ trong Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng tương đồng vớikhái niệm “Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép chứa đựng yếu tốxâm phạm quyền tác giả” được quy định trong Điều 5 của Hiệp định chốngthương mại hàng giả (AntiCounterfeiting Trade Agreement - ACTA) mới được
ký gần đây giữa nhiều nước công nghiệp phát triển, nhưng hiện chưa có hiệulực Việc phân biệt giữa khái niệm hàng giả nói chung với khái niệm hàng hóagiả mạo về sở hữu trí tuệ nói riêng, cũng như với khái niệm hàng hóa có chứađựng yếu tố xâm hại quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng Một mặt, nhưtrên đã nêu, để đấu tranh chống lại những hàng giả về chất lượng, cần huy độngtrước hết vai trò của chính người tiêu dùng, những người bị thiệt hại đầu tiên vàtrực tiếp nhất Đối với những hàng hóa xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, trong đó cóhàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, vai trò pháp lý của các chủ thể có quyền
s hữu trí tuệ bị xâm hại lại cần được đặt lên hàng đầu Trên phương diện phápluật thực định, cả trong pháp luật về xử lý VPHC và pháp luật xử lý hình sự, cáchành vi san
Trang 35xuất, buôn bán hàng giả được xử lý khác biệt với các hành vi xâm hại quyền sởhữu trí tuệ, trong đó có hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo quyền sởhữu trí tuệ Trong Bộ Luật Hình sự, tách biệt với các hành vi sản xuất, buôn bánhàng giả được quy định tại các điều 156, 157, 158, các hành vi tội phạm liênquan đến quyền sở hữu trí tuệ được quy định lần lượt tại điều
170 (Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp),điều 170a (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan) và điều 171 (Tội xâmphạm quyền sở hữu công nghiệp) Với những quy định như hiện nay của BộLuật Hình sự, có thể thấy những hành vi phạm tội về hàng giả theo các
điều 156, 157, 158 sẽ bị xử ĩý nghiêm khắc hơn rất nhiều so với các hành viphạm tội liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả trường hợp giả mạo về
sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sẽ có sự trùng lặp hoặc khóphân biệt về việc áp dụng điều luật khi một hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả(về nội dung) nhưng đồng thời xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như giảmạo về sở hữu trí tuệ Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, hành
vi “c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sởhữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khácthực hiện hành vi này” bị xử phạt vi phạm hành chính (Điều 211)
1.2.3 Các hình thức xử lý VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
1.2.3.1 Các hình thức xử phạt
- Hình thức cảnh cáo: Hình thức cảnh cáo là hình thức xử phạt chínhtrong xử phạt hành chính Theo quy định tại Nghị định số 185, hình thức nàykhông được áp dụng cho các hành vi buôn bán hàng giả: không có giá trị sử dụng, công dụng, mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tem, nhãn, bao bì giả
Theo Nghị định 99/2013/NĐ- CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ về Quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì hình phạt cảnh cáo
Trang 36được áp dụng đối với bành vi buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.
- Hình thức phạt tiền: Hình thức phạt tiền là hình thức xử phạt chính vàmức tiền phạt quy định tại Nghị định 185 là áp dụng đối với hành vi VPHC do
cá nhân thực hiện Trường hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thựchiện thì phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định đối với cá nhân
- Hình thức phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm: chỉ được áp dụng đối với loại
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Điều 26 Luật Xử lý viphạm hành chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện phápthi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP)
Tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hànhnghề hoặc đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịch vụ vi phạm
1.2.3.2 Biện pháp khắc phục hậu quả
Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm được áp dụng đối với loại hàng hóa,vật phẩm quy định tại Điều 33 Luật Xử lý vi phạm hành chính mà việc buộc cánhân, tố chức vi phạm hành chính tiêu hủy không ảnh hưởng đến môi sinh, môitrường, sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và trật tự an toàn xã hội;
Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng hóa, phương tiệnkinh doanh, vật phẩm được áp dụng đối với loại hàng hóa, phương tiện kinhdoanh, vật phẩm quy định tại Điều 35 Luật Xử lý vi phạm hành chính trongtrường họp loại bỏ được yếu tố vi phạm và việc loại bỏ yếu tố vi phạmkhông dẫn đến khả năng vi phạm tiếp theo;
Trang 37phẩm, phương tiện được áp dụng trong trường hợp quy định tại Điều 32Luật Xử lý vi phạm hành chính khi cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính cókhả năng thực hiện được các biện pháp này;
Buộc thu hồi tiêu hủy hoặc buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm được
áp dụng đối với các loại sản phẩm, hàng hóa quy định tại các Điều 33, 35 và
36 Luật Xử lý vi phạm hành chính mà cả nhân, tổ chức vi phạm hành chính
đã tiêu thụ, đã bán còn đang lưu thông trên thị trường;
Buộc nộp lại số lợi bất họp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạmhành chính quy định tại Điều 37 Luật Xử lý vi phạm hành chính được ápdụng đối với người vi phạm có thu lợi bất hợp pháp
Các biện pháp khắc phục hậu quả khác được áp dụng theo quy định củaLuật Xử lý vi phạm hành chính và quy định tại Nghị định 185/2013/NĐ-CP.Khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, người có thẩm quyền xửphạt phải quy định thời hạn phù hợp để cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện.Trường hợp đã hết thời hạn thực hiện ghi trong quyết định xử phạt mà khôngthực hiện thì phải cưỡng chế thi hành hoặc quyết định tịch thu để xử lý theoquy định tại Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính
Ngoài ra, để đảm bảo nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính về
sở hữu trí tuệ, Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảođảm xử phạt hành chính tại Điều 215 Theo đó, trong các trường hợp sau đây,
tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện phápngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính:
- Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;
- Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm
Trang 38có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm;
- Nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
1.2.4 Thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Vấn đề thẩm quyền của Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biênphòng, Cảnh sát biển và Thanh tra chuyên ngành đã được xác định, Luật Xử
lý VPHC, Nghị định CP Năm 2014, Nghị định
185/2013/NĐ-CP được sửa đổi đã cụ thể hóa các quy định về thẩm quyền của những ngườithuộc các lực lượng chức năng nêu trên, bổ sung thêm các điều là: Điều 103a(Những người cỏ thẩm quyền của cơ quan Công an nhân dân), Điều 103b(Những người có thẩm quyền của cơ quan Hải quan), Điều 103c (Nhữngngười có thẩm quyền của Bộ đội Biên phòng), Điều 103d (Những người cóthẩm quyền của Cảnh sát biển) và Điều 103đ (Những người có thẩm quyềncủa Thanh tra) Các quy định này đã quy định rõ về thẩm quyền, tạo thuận lợicho việc phát hiện nhanh và xử lý kịp thời vi phạm, không bị chồng chéo,hoặc bỏ lọt vi phạm Pháp luật hiện hành quy định nhiều chủ thể có thẩm
Trang 39quyền xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả, tùy nơi vi phạm, mức độ viphạm và cơ quan phát hiện và thụ lý, xử lý vi phạm.
Trong lĩnh vực phòng chống buồn bán hàng giả, Quản lý thị trường làlực lượng thường xuyên và nòng cốt Điều 102, Nghị định 185/2013/NĐ-CPquy định thẩm quyền xử phạt hành chính về buôn bán hàng giả của cơ quanQuản lý thị trường như sau:
- Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có
- Chi cục trưởng Chi cục quản lý thị trường thuộc Sở Công thương,Trưởng phòng Chống buôn lậu, Trưởng phòng Chống hàng giả, Trưởng phòngKiểm soát chất lượng hàng hóa thuộc Cục Quản lý thị trường có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
Trang 40+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này
- Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có
quyền: + Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý VPHC trong lĩnh vực buôn bán hàng giả
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bản chấtcũng giống như xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, nên cũngchịu ảnh hưởng của các yếu tố: Chất lượng của pháp luật; Tổ chức thực hiệnpháp luật; Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lýnghiêm minh những vi phạm pháp luật; Ý thức pháp luật của cán bộ, côngchức và nhân dân
1.3.1 Yếu tố chính trị, pháp lý
Quyết tâm chính trị của nhà nước có ý nghĩa quyết định đối với hoạtđộng quản lý trên bất kỳ lĩnh vực nào, sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của nhà