1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHO VAY đối với PHỤ nữ NGHÈO tại QUỸ hỗ TRỢ PHỤ nữ NGHÈO THÀNH PHỐ ĐÔNG hà, TỈNH QUẢNG TRỊ

110 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 353,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu trở thành tổ chức tài chính vi mô bền vững, cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho phụ nữ nghèo, cận nghèo, phụ nữ yếu thế và các đối tượng khác, góp phần thực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

THỪA THIÊN HUẾ- NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Thừa Thiên Huế, ngày thángnăm 2018

Học viên

Trần Linh Nhâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi

đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Học viện Hành chính quốc gia.

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Học viện hành chính quốc gia, đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ cho tôi trong quá trình học tập.

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đình Dũng đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn.

Học viên

Trần Linh Nhâm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO 6

1.1 Lý thuyết chung về hộ nghèo 6

1.1.1 Khái niệm về hộ nghèo, hộ cận nghèo, phụ nữ nghèo 6

1.1.2 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo 7

1.1.3 Sự cần thiết phải giảm nghèo và hỗ trợ người nghèo 12

1.2.Nội dung cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo 12

1.2.1 Các khái niệm 12

1.2.2 Vai trò của cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo 14

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay đối với phụ nữ nghèo .16

1.3.1 Môi trường pháp lý. 16

1.3.2 Môi trường kinh tế 16

1.3.3 Các nhân tố từ phía khách hàng 17

1.4 Các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện cho vay đối với phụ nữ nghèo .20

1.4.1 Tiêu chí định tính 20

1.4.2 Tiêu chí định lượng 21

1.5 Những tổ chức cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo hiện nay ở Việt Nam. .23

1.5.1 Khu vực chính thức 23

1.5.2 Khu vực bán chính thức 23

Trang 6

1.5.3 Khu vực phi chính thức 24

Trang 7

1.6.Kinh nghiệm về cho vay đối với người nghèoở một số nước trên thế giới và Việt

Nam 24

1.6.1 Bangladesh 24

1.6.2 Thái Lan 25

1.6.3 Philippines 26

1.6.4 Kinh nghiệm của một số tổ chức tài chính vi mô trong nước 27

1.6.5 Bài học kinh nghiệm cho vay đối với người nghèo ở Việt Nam nói chung và đối với Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà nói riêng. 29

Tóm tắt chương 1 31

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ GIAI ĐOẠN 2014-2016 32

2.1.Giới thiệu chung về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà. 32

2.1.1 Khát quát chung về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèoViệt Nam 32

2.2 Thực trạng cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà giai đoạn 2014-2017. 39

2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà 39

2.2.2 Thực trạng công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà giai đoạn 2014-2017 42

2.3 Đánh giá chung công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà giai đoạn 2014-2016 theo các chỉ tiêu 54

2.3.1 Đánh giá theo các chỉ tiêu định tính 54

2.3.2 Đánh giá theo các chỉ tiêu định lượng 55

2.3.3.Những mặt đạt được 57

2.3.4 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 59

Tóm tắt chương 2 64

Trang 8

Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHO VAY ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO TẠI QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ. 65

3.1 Định hướng công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo. 65

3.1.1 Định hướng công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam. 65

3.1.2 Định hướng công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Quảng Trị và thành phố Đông Hà. 67

3.2.Giải pháp hoàn thiện công tác cho vay tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà. 70

3.2.1 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ. 70

3.2.2 Nhóm giải pháp phụ trợ 84

3.3 Kiến nghị. 86

3.3.1 Với chính phủ. 86

3.3.2 Với chính quyền các cấp. 87

3.3.3 Với Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Trị 88

3.3.4 Với Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Trung ương 88

Tóm tắt chương 3 90

KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Cấp Huyện/Thành phố: Từ 3 – 4 thành viên (2-3 kiêm nhiệm, 1chuyên trách)

34

Bảng 2.1: Danh mục các loại vốn vay của Quỹ 40

Bảng 2.2 :Tình hình dư nợ và tiết kiệm của Quỹ năm 2014-2017 .43

Bảng 2.3: Số lượng thành viên tham gia Quỹ giai đoạn 2014-2017

46

Bảng 2.4: Tỷ trọng đối tượng thành viên tham gia Quỹ HTPNN TP Đông Hà

qua các năm từ 2014-2017 47 Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ của các phường tham gia Quỹ HTPPN TP Đông Hà

Bảng 2.8: Số lượng thành viên theo ngành nghề kinh doanh ở Quỹ HTPNN

TP Đông Hà qua các năm 2014-2017 53

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Mức độ tăng trưởng tín dụng tại Quỹ HTPNN TP Đông Hà43

Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng thành viên giai đoạn 2014-2017 tại Quỹ HTPNN TP Đông Hà 46 Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng đối tượng thành viên tham gia Quỹ HTPNN TP Đông

Hà qua các năm 47 Biểu đồ 2.5: Dư nợ vốn vay của các Phường tham gia Quỹ HTPNN TP Đông

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động của các Quỹ xã hội qua nhiều thập kỷ đã và đang từng bước khẳng định vị trí của mình trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng tại Việt Nam, đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế, góp phần tích cực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo của đất nước Trong những thành tựu quan trọng đó, có phần đóng góp đáng khích lệ của Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ nghèo thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Thông qua việc trợ giúp phụ nữ nghèo

và những nhóm phụ nữ bị thiệt thòi, các hoạt động hỗ trợ tài chính đã giúp họ vượt qua khó khăn, thử thách để không ngừng vươn lên phát triển kinh tế gia đình và đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương.

Với mục tiêu trở thành tổ chức tài chính vi mô bền vững, cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho phụ nữ nghèo, cận nghèo, phụ nữ yếu thế và các đối tượng khác, góp phần thực hiện mục tiêu Chương trình Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm, thúc đẩy bình đẳng giới, thực hiện công bằng xã hội tại Việt Nam, Quỹ hỗ trợ phụ

nữ nghèo đã và đang thể hiện vai trò sứ mệnh: góp phần cải thiện đời sống, nâng cao địa vị kinh tế cho thành viên thông qua các dịch vụ, sản phẩm của Quỹ; góp phần củng cố, phát triển tổ chức Hội.

Hiện nay Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đang phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa, hướng tới sự phát triển bền vững Vì vậy Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đang trải qua quá trình phát triển quan trọng để có thể mở rộng hoạt động, nâng cao kỹ năng quản lý, giảm chi phí đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng để đạt được sự phát triển lành mạnh và bền vững với mục tiêu tiếp tục đóng góp vào giảm nghèo và phát triển kinh tế.

Trang 13

Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động tích cực đã đạt được thì hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo vẫn còn tồn tại một số hạn chế.

Do tiếp cận tương đối dễ dàng của khách hàng phụ nữ nghèo đối với khu vực tài chính có thể gây ra tình trạng nợ nần quá nhiều, hiệu quả hoạt động tài chính thấp, dễ bị tổn thương do rủi ro, khả năng tài chính hạn hẹp, không có

hệ thống rủi ro sớm đối với khách hàng Quy mô hoạt động của các Quỹ thấp,

số lượng dịch vụ tài chính nghèo nàn, chất lượng dịch vụ thấp Sự phối kết hợp, điều phối trong hoạt động giữa Quỹ hỗ trợ Phụ nữ nghèo với các tổ chức tài chính vi mô trong nước cũng như phối hợp với ngành tài chính vi mô quốc

tế rất yếu kém Hơn nữa, hoạt động của một số tổ chức tài chính vi mô sẽ có

sự thay đổi rất lớn về số lượng và chất lượng trong tương lai, các nghị định của chính phủ và thông tư hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ được thực thi Hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo sẽ có sự cạnh tranh khốc liệt, và chỉ có phương pháp quản lý hoạt động tín dụng hiệu quả thì mới

có thể tồn tại và phát triển được.

Đây thực sự là một vấn đề rất quan trọng cần được nghiên cứu làm rõ cả

về lý luận và thực tiễn Chính vì vậy đề tài “Cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị’’ được tôi chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành tài chính ngân hàng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đến thời điểm này thì đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nâng cao

hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội, cụ thể:

- Nâng cao chất lượng tín dụng chính sách tại Ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Quảng Trị của Th.S Phạm Thị Lệ Ninh

Trang 14

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Huyện Triệu Phong Tỉnh Quảng Trị của Th.S Lê Ngọc Anh

- Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Quảng Trị của Th.S Phan Chí Tâm

- Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Nghệ An của Th.S Lâm Quân

- Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách

xã hội huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế của Th.S Đặng Văn Tấn.

Tuy nhiên hầu hết đề tài chỉ nói đến hoạt động cho vay đối với hộ nghèo nói chung mà chưa đi vào phân tích hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo một cách chi tiết tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà Tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014-2017.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo.Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà và trên cơ sở những vấn đề đã nghiên cứu, đề xuất một

số giải phápvàkiến nghịnhằm hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ

nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà.

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà.

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà, những thành công, những hạn chế và những nguyên nhân của những hạn chế đó.

- Đề ra một số giải phápvàkiến nghịnhằm hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà.

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.

- Đối tuợng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ

nữ tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà.

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung nhằm Cho vay đối với phụ nữ nghèo giai đoạn 2014-2017 tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà.

+ Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu những vấn đề về Cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà + Về mặt thời gian: giai đoạn 2014-2017 Các giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa cho những năm truớc mắt.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp duy vật biên chứng được tác giả sử dụng làm cơ sở lý luận cho đề tài Trong luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp diễn dịch – quy nạp để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu.

Phương pháp thu thập dữ liệu

- Số liệu từ các báo cáo của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà qua các năm.

Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp thống kê

- Phương pháp thống kê mô tả

- Một số phương pháp nghiên cứu khác.

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên cũng

như những người quan tâm đến lĩnh vực cho vay hỗ trợ cho

phụ nữ nghèo 6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu đề tài về hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại TP Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị Qua nghiên cứu thực trạng cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo trong công tác xóa đói giảm nghèo, đề tài phân tích đánh giá kết quả đạt được, tìm ra những thuận lợi và hạn chế, từ đó đưa

ra giải pháp kiến nghị khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo trong việc xóa đói giảm nghèo Vì vậy đây là đề tài có ý nghĩa trong công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương.

7 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về cho vay đối với phụ nữ nghèo Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tại Quỹ Hỗ trợ phụ

nữ nghèo TP Đông Hà giai đoạn 2014-2017.

Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèotại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà.

Trang 17

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO

1.1 Lý thuyết chung về hộ nghèo

1.1.1 Khái niệm về hộ nghèo, hộ cận nghèo, phụ nữ nghèo

Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau:

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.

Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.

Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu.

- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại

- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét.

- Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân

cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.

Trang 18

- Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.

1.1.2 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo

Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo là công cụ quan trọng để xác định mức độ và tình trạng nghèo của mỗi quốc gia Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo có thể được hiểu là một chuẩn mực chung nào đó mà người hay hộ nào đó có thu nhập hoặc chi tiêu dưới mức chuẩn chung sẽ được coi là nghèo Tiêu chí này là một khái niệm động, thay đổi theo thời gian và được điều chỉnh hợp lý theo tình hình phát triển của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên thế giới.

1.1.2.1 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo của thế giới

Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là: Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất nghèo Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất.

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD Phương pháp PPP

Trang 19

(purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD.

Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại.

+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.

+ Từ 20.000 đến dưới 25.000 USD/người/năm là nước giàu.

+ Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD/người/năm là khá giàu + Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/người/năm là nước trung bình.

+ Từ 500 đến 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.

+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo.

Theo phương pháp thứ hai: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hoá, thực hiện phương pháp tính “rỗ hàng hoá” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia

có thể so sánh WB đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/ngày Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 1 USD/người/ngày.

Từ đó, năm 1995 WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu

là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/người/năm Với mức trên

WB ước tính có trên 1,2 tỷ người trên thế giới đang sống trong nghèo đói.

Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Do đặc điểm của nền kinh tế –

xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng.Srilanca là 17USD/người/tháng Bangladet là USD/người/tháng Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người hiện

Trang 20

nay (năm 2006) khoảng 720 USD/người/năm, nên trên bình diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó, do đó không thể lấy chuẩn nghèo đói của WB để xác định nghèo đói của Việt Nam.

Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hoá, chính trị, xã hội Trong thực tế nhiều nước phát triển có thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được

sự phát triển toàn diện Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách nghèo ngày càng tăng lên, xu hướng này không chỉ xảy ra ở những nước nghèo mà còn xảy ra ở những nước khá và giàu Qua đó có thể thấy rằng: Nghèo khổ trong xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp hay cao mà còn là kết quả của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm hệ thống ba chỉ tiêu; tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong năm Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan.

1.1.2.2 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo của Việt Nam

yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực

Trang 21

tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.

Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản

về y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách

hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng

xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo.

ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành cho từng giai đoạn.

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/1/2011về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 như sau:

- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống;

- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống;

Trang 22

- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân

từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng;

- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân

từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.

Giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định

số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

Hộ nghèo

Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Hộ cận nghèo

Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Trang 23

1.1.3 Sự cần thiết phải giảm nghèo và hỗ trợ người nghèo

Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển; đặc biệt đối với

nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát điểm là nước nghèo nàn, lạc hậu Như vậy hỗ trợ người nghèo để đạt mục tiêu của xã hội Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Người nghèo được hỗ trợ

để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất

phát triển Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội

mà Đảng ra đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.1.2 Nội dung cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm cho vay

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.

1.2.1.2 Khái niệm cho vay phụ nữ nghèo

Cho vay đối với phụ nữ nghèo là những khoản cho vay dành riêng cho phụ nữ nghèo, phụ nữ cận nghèo, phụ nữ yếu thế và phụ nữ có thu nhập thấp,

có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số vốn gốc và lãi Tùy theo từng đối tượng có thể hưởng lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp phụ nữ nghèo vượt qua cơn đói nghèo, cải thiện đời sống vật chất, nâng cao địa vị kinh tế của phụ nữ trong xã hội Cho vay đối với phụ nữ nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng thương mại bởi nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:

Trang 24

Mục tiêu: cho vay đối với phụ nữ nghèo nhằm mục đích hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, bình đẳng giới, nâng cao địa vị kinh tế của phụ nữ, hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục tiêu lợi nhuận.

Nguyên tắc cho vay: cho vay đối với phụ nữ nghèo có sức lao động nhưng thiếu phương tiện sản xuất kinh doanh Đối tượng phụ

nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn mực nghèo đói do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phương, tổ chức cho vay công bố trong từng thời kỳ và thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thỏa thuận.

Điều kiện: có một số điều kiện, tùy theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế, nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của cho vay đối với phụ nữ nghèo đó là: khi tham gia vay vốn không cần phải thế chấp tài sản.1.2.1.3 Khái niệm tài chính vi mô – cho vay hỗ trợ người nghèoNgân hàng phát triển Châu Á(ADB) định nghĩa tài chính vi mô (TCVM) là

sự cung cấp dịch vụ tài chính như: một khoản tiền gửi, tiền vay ở ngân hàng, dịch vụ chi trả, chuyển tiền và tiền bảo hiểm cho người nghèo, cho hộ có thu nhập thấp và những người buôn bán nhỏ ADB xác định ba nguồn dịch vụ tài chính vi mô: i) Các định chế tài chính chính thức chẳng hạn như Ngân hang và các hợp tác xã tín dụng; ii) Các định chế tài chính tín dụng bán chính thức như các Tổ chức Phi Chính phủ (NGOs); iii) Các nguồn không chính thức như: người cho vay tư nhân, các chủ cửa hang tư nhân.

Như vậy đinh nghĩa về thuật ngữ “Tài chính vi mô” mà ADB nêu trên bao gồm cả phần tín dụng của Nhà nước, tín dụng của các tổ chức Phi Chính phủ và kể cả các tổ chức cho vay tư nhân Trong bối cảnh Việt Nam, nhằm để

hỗ trợ nguồn vốn cho người nghèo, người trong diện chính sách cần

Trang 25

hỗ trợ đặc biệt có cơ hội nâng cao sản xuất, dịch vụ nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống, Chính phủ đã hỗ trợ khoản tín dụng với mức lãi suất thật thấp, thấp hơn lãi suất thông thường của các Ngân hang thương mại trong nước và các tổ chức phi Chính phủ trong cũng như ngoài nước- mức tín dụng này thông thường được gọi là tín dụng ưu đãi Mức lãi suất cho loại tín dụng này thường là dưới 1%/tháng Trong khi đó, các tổ chức Tài chính vi mô phi Chính phủ trong nước cũng như ngoài nước thường cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo, người có thu nhập thấp với mức lãi suất mỗi tháng thường từ 1% trở lên Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này thì 2 loại trên được gọi chung

là cho vay hỗ trợ người nghèo Tuy nhiên để thuận tiện cho việc phân loại, phân tích, đánh giá từng loại qua số liệu điều tra, loại tài chính

vi mô từ chương trình xoá đói giảm nghèo qua Ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức Ban ngành, Đoàn thể có nguồn vốn uỷ thác từ Ngân hàng chính sách xã hội cung cấp cho người nghèo thì được gọi là cho vay

ưu đãi, còn tài chính vi mô từ các tổ chức Ban ngành, Đoàn thể , tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước, từ các Ngân hàng thương mại, từ các nguồn khác cung cấp cho người nghèo, người thu nhập thấp gọi là cho vay nhỏ 1.2.2 Vai trò của cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo

Mặc dù đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo

và phát triển kinh tế, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nguy cơ giảm nghèo chưa bền vững Một trong những trở ngại lớn là thiếu các dịch vụ tài chính phù hợp và sẵn sàng trong khu vực nông thôn.

Vai trò của cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo trong tiến trình xóa đói giảm nghèo:

khó khăn phát triển kinh tế: hiện nay các tổ chức tài chính cung cấp rất nhiều các dịch vụ tài chính cho khách hàng, tuy nhiên người nghèo thường khó tiếp

Trang 26

cận được với những dịch vụ này do không có đủ điều kiện như tài sản thế chấp, cầm cố.

- Đáp ứng các nhu cầu về vay vốn của phụ nữ thông qua cách tiếp cận dễ dàng nhanh chóng thuận lợi: những sản phẩm vốn vay đc thiết

kế riêng cho người nghèo nên người nghèo có thể có điều kiện tiếp cận những sản phẩm này khá dễ dàng, nhanh chóng thuận lợi.

- Đa dạng hóa nguồn thu nhập của các hộ nghèo giảm các nguy cơ tổn thương kinh tê và nâng cao mức sống:bên cạnh việc cung cấp vốn còn cung cấp các dịch vụ phi tài chính giúp chị em phụ nữ nghèo có khả năng kinh doanh tạo ra các khoản thu nhập từ đó tăng thêm năng lực về tài chính cho mình, giúp phụ nữ nghèo thoát nghèo.

- Cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo là công cụ tạo ra bình đẳng giới, giúp phụ nữ có điều kiện tham gia làm kinh tế, tạo ra thu nhập cho gia đình và giảm phụ thuộc kinh tế vào người chồng Nguồn vốn vay

hỗ trợ giúp cho phụ nữ thực hiện hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình như buôn bán, chăn nuôi…

cộng đồng nâng cao vị thế của phụ nữ trong XH: một số sản phẩm phải có liên kết nhóm là sự thay thế cho thế chấp Do đó để đảm bảo lợi ích chung của nhóm thì các thành viên trong nhóm phải có sự hiểu biết lẫn nhau và có uy tín nhất định Chính vì vậy mà sản phẩm tài chính vi mô tạo ra sự liên kết cộng đồng khá bền vững Trên thực tế thì các hoạt động cho vay hỗ trợ người nghèo chủ yếu tập trung vào phụ nữ đối tượng dễ bị tổn thương nhất, do vậy

sẽ góp phần thực hiện bình đẳng giới, cơ hội để phụ nữ thay đổi hoàn cảnh sống của mình nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội Tóm lại cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo có vai trò quan trọng trong tiến trình giảm nghèo của mỗi đất nước.Qua việc cung cấp các sản phẩm vốn vay

Trang 27

của mình mà tổ chức cấp tín dụng tạo động lực cho phụ nữ nghèo

có khả năng kinh doanh, tạo điều kiện cung cấp các nhu cầu về vốn.Qua nhiều năm qua nhờ vào sự đóng góp của

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay đối với phụ nữ nghèo

1.3.1 Môi trường pháp lý.

Các nhân tố pháp lý bao gồm các quy định, luật lệ, nghị định, chính sách kinh tế, chính sách thuế, các quy định về lãi suất của các tổ chức tài chính Môi trường pháp lý ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động tín dụng của các Quỹ hỗ trợ, các quy định về luật tổ chức tín dụng, về lãi suất cho vay, lãi suất huy động, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro, xử lý rủi ro… được phép thực hiện các nghiệp vụ giống như hoạt động của ngân hàng cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tín dụng của các Quỹ hỗ trợ.

1.3.2 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố như các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), yếu tố lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, thu nhập… các yếu tố này có ảnh hưởng đến định hướng hoạt động quản lý tín dụng của các Quỹ hỗ trợ.

Nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng tăng cao là cơ hội tốt cho chị em phụ nữ nghèo buôn bán kinh doanh dẫn đến nhu cầu tín dụng cao và rủi ro cũng thấp Trái lại, nếu nền kinh

tế trì trệ, lạm phát, thất nghiệp cao đầu tư không mang lại hiệu quả thì khách hàng không còn nhu cầu vay vốn nên hoạt động tín dụng của Quỹ gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng cũng bị ảnh hưởng.

Ngoài ra hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo cũng bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế thị trường Khi thị trường trong nước biến động mạnh thì

Trang 28

cũng ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của khách hàng

và ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng.

1.3.3 Các nhân tố từ phía khách hàng

- Hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo là hoạt động có tín rủi ro cao Ngoài những nguyên nhân khách quan như thiên tai, bão lụt, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi…thường xảy ra trên diện rộng thiệt hại lớn còn

là những nguyên nhân khác từ bản thân của phụ nữ nghèo như: ý thức kém, thiếu kiến thức làm ăn, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, sức cạnh tranh kém, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư.

- Nguồn vốn cung cấp của các tổ chức tín dụng chưa được đồng

bộ với các giải pháp khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cung cấp vật tư kỹ thuật cho sản xuất và tổ chức thị trường, lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội đối với nông thôn nên hiệu quả đầu tư thấp.

- Việc xác định đối tượng phụ nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động Theo cơ chế phải là phụ

nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, phụ nữ yếu thế thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng việc bình xét, bình chọn từ Hội LHPN các xã, phường tại một

số thời điểm có nhiều hộ không có điều kiện và năng lực tổ chức sản xuất, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tín dụng đối với phụ nữ nghèo.

- Phương thức đầu tư chưa phong phú dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay sai mục đích, vốn vay không phát huy hiệu quả, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư vốn.

1.3.4 Trình độ phẩm chất của cán bộ.

Khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của hoạt động tín dụng Cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình cho vay, không tuân thủ đúng các chính sách tín

Trang 29

dụng của Quỹ, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý tham nhũng làm trái pháp luật thì sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến uy tín của Quỹ.

Trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng cũng ảnh hưởng đến

sự thành công của hoạt động tín dụng Cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng kinh nghiệm đánh giá xác đáng tính khả thi của món vay thì sẽ xác định được đúng năng lực thực sự của khách hàng.

Ngoài ra, cán bộ còn phải có sự hiểu biết về môi trường pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển kinh tế của đất nước để từ đó có thể dự đoán được trước những biến động có thể xảy

ra để tư vấn cho khách hàng xây dựng phương án kinh doanh phù hợp 1.3.5 Chất lượng hoạt động của tổ VV-TK

Chất lượng hoạt động của tổ VV-TK chiếm một phần không nhỏ đến thành công của các Quỹ hỗ trợ Nếu tổ VV-TK hoạt động tốt, thành viên tuân thủ những quy định, chính sách của Quỹ, tổ trưởng năng nổ nhiệt tình tâm huyết, nắm rõ tình hình thành viên tham gia thì hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ ngày càng phát triển, ngược lại thành viên chây ì, không tuân thủ những quy định chính sách, chậm trả, tổ trưởng xâm tiêu vốn dẫn đến ảnh hưởng đến những thành viên khác, hoạt động của tổ khó có khả năng duy trì, dẫn đến giải thể tổ và Quỹ khó có thể hoạt động được hiệu quả Vì vậy muốn tổ VV-TK hoạt động tốt ngay từ lúc thành lập cần tuyên truyền và hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ, thủ tục lập hồ sơ vay vốn, cũng như cách quản lý và phương pháp theo dõi trên sổ sách cho các tổ trưởng Tổ TK&VV Tùy từng tình hình thực tế của các xã, phường mà các tổ trưởng TổTK&VV thực hiện củng cố, sáp nhập, thành lập tổ mới Khi hướng dẫn thủ tục vay vốn và tiến hành bình xét phải tuyên truyền nâng cao nhận thức của nguời vay trong trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích và hoàn trả vốn Định kỳ kiểm tra đối

Trang 30

chiếu, theo dõi việc ghi chép sổ sách của TổTK&VV Xử lý dứt điểm và nghiêm minh trước pháp luật các tổ trưởng xâm tiêu, chiếm dụng vốn 1.3.6 Kiểm tra giám sát

Nếu cán bộ tín dụng không nắm vững và tuân thủ các quy định, quy trình, các chính sách và nguyên tắc hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ thì

sẽ gây tổn thất, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Do đó, công tác kiểm tra giám sát giúp cho cán bộ tín dụng làm đúng cơ chế, đúng pháp luật nếu

có phát hiện sai sót, lệch lạc sẽ có biện pháp hạn chế hoặc ngăn ngừa tổn thất Ngoài ra hoạt động kiểm tra giám sát cũng góp phần cảnh báo các rủi

ro có thể xảy ra, ngăn ngừa các phát hiện đó xảy ra cũng như đưa ra các giải pháp kịp thời để xử lý các vấn đề còn tồn tại trong quản lý tín dụng.

Qua hoạt động kiểm tra giám sát cũng phát hiện ra các chính sách tín dụng không hợp lý, thể lệ quy trình nghiệp vụ cho vay có những sơ

hở và còn chưa chặt chẽ Do đó để hạn chế khách hàng lợi dụng những thiếu sót nhằm chiếm đoạt nguồn vốn của Quỹ thì cần tăng cường hệ thống kiểm tra giám sát nội bộ định kỳ hàng tháng, hàng quý.

Ngoài kiểm soát hoạt động của khách hàng, cán bộ quản lý, hoạt động kiểm tra giám sát cũng cần kiểm soát người bảo lãnh vốn vay của thành viên

vì nếu người bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho nhiều thành viên trong cùng một thời điểm và không có khả năng thanh toán cho người vay khi người vay không có khả năng trả nợ Vì vậy hoạt động kiểm tra giám sát cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ.

1.3.7 Yếu tố khoa học công nghệ

Công nghệ và khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý tín dụng của các Quỹ hỗ trợ, nhất là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay Nếu Quỹ được trang bị kỹ thuật phương tiện công nghệ hiện đại chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ

Trang 31

tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn Đó cũng là tiền đề để Quỹ thu hút thêm khách hàng mở rộng tín dụng và giúp quản lý tín dụng hiệu quả hơn Sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin hiện đại còn giúp cho việc thu thập thông tin chính xác, nhanh chóng, công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tín dụng hiệu quả hơn cũng như có thể ngăn chặn các gian lận của khách hàng lợi dụng

sơ hở của Quỹ xã hội để xâm tiêu, chiếm dụng vốn hoặc vay ké, vay hộ, vay ở nhiều địa bàn khác nhau trong cùng hộ thống của Quỹ…

1.4 Các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện cho vay đối với phụ nữ nghèo 1.4.1 Tiêu chí định tính

- Thông qua việc sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý kinh tế của người vay được nâng lên Phụ nữ nghèo có điều kiện tiếp cận được với khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi tiên tiến, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật mới Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng mang lại cho phụ nữ nghèo.

- Các vùng nghèo, xã nghèo nhờ nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đã xóa bỏ được tình trạng vay nặng lãi và bán nông sản non, góp phần thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân nông thôn Tạo niềm tin của nhân dân đối với Hội LHPN các cấp, đối với Đảng và nhà nước Thể hiện sự quan tâm của Hội LHPN các cấp, của Đảng và nhà nước đối với phụ nữ nghèo.

thì không chỉ các chị em phụ nữ nghèo được vay vốn mà Quỹ còn có điều kiện để phục vụ các chị em phụ nữ thuộc vùng khó khăn trong các khoản vay thương mại, phục vụ chính sách phát triển kinh tế của địa phương.

Nếu hiệu quả tín dụng cao, Quỹ sẽ có thêm điều kiện để phục vụ tốt hơn nhu

Trang 32

cầu vay vốn của nhiều chị em phụ nữ không chỉ riêng phụ nữ nghèo; từ đó sẽ góp phần nâng cao vị thế của chị em phụ nữ trong xã hội, thúc đẩy kinh tế, xã hội của địa phương phát triển.

- Thông qua hoạt động cho vay của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo, tạo công ăn việc làm cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp trung ương đến địa phương, Hội LHPN các cấp, số tiền hoa hồng cho Hội LHPN các cấp và tiền hoa hồng của tổ, nhóm đã là nguồn thu đáng kể đối với ban quản lý tổ vay vốn và tổ chức Hội.

- Thông qua hoạt động vay vốn của Quỹ, nội dung tuyên truyền cũng như hoạt động của Hội LHPN xã, phường càng thêm phong phú, số lượng hội viên tham gia sinh hoạt ngày càng đông 1.4.2 Tiêu chí định lượng

1.4.2.1 Các chỉ số đánh giá rủi ro

cho vay Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn*100%/Tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của TCTD và tổ chức TCVM đối với các khoản vay của mình Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay cũng như rủi ro cho vay Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng cho vay kém và ngược lại.

Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ cho vay

Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày mà không đòi được và không tái cơ cấu

Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được chính phủ xử lý rủi ro.

1.4.2.2 Một số chỉ số tài chính sử dụng trong báo cáo tài chính của các tổ chức tài chính vi mô.

Trang 33

Chỉ số tự cung/vững hoạt động (OSS)

Chỉ số tự cung hoạt động thể hiện khả năng đảm bảo mọi chi phí trong quá trình hoạt động của mình dựa trên nguồn thu nhập từ hoạt động của tổ chức Nó cho thấy tính tự vững trong hoạt động.

Tự cung/tự vững hoạt động = Tổng thu nhập /(Chi phí tài chính + Chi phí hoạt động + Dự phòng mất vốn)

Chỉ số tự cung/tự vững tài chính (FSS)

Chỉ số này thể hiện khả năng tự chủ về tài chính, về khả năng phân phối thu nhập cho các chi phí tài chính, chi phí trong quá trình hoạt động thể hiện qua công thức:

Tự cung/tự vững tài chính = Tổng thu nhập /(Chi phí tài chính + Chi phí hoạt động + Dự phòng mất vốn+ Chi phí vốn quy định)

Chi phí vốn quy định bao gồm tất cả các dạng trợ cấp và các khoản dự phòng lạm phát.

Tỷ lệ dư nợ cho vay trễ hạn (PAR)

PAR > 30 ngày = dư nợ cho vay có trễ hạn trên 30 ngày/ tổng vốn đầu tư cho vay

Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả trong thu hồi nợ nếu chỉ số PAR tăng cao thể hiện dư nợ cho vay trễ hạn lớn nghĩa là hoạt động của tổ chức không hiệu quả và ngược lại.

Tỷ suất lợi nhuận / vốn chủ sở hữu bình quân

ROE = Lợi nhuận thuần / vốn chủ sở hữu bình quân

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu.

Hệ số càng lớn, khả năng sinh lời tài chính càng cao.

Tỷ suất lợi nhuận/tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận thuần / tổng tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời trên một đống tài sản

Trang 34

1.5 Những tổ chức cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo hiện nay ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam có hàng trăm tổ chức cho vay hỗ trợ phụ nữ

nghèo thuộc ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức.

1.5.1 Khu vực chính thức

tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng, đây là những tổ chức lớn có uy tín thuộc sở hữu của Chính phủ, huy động được số lượng tiền gửi lớn nhất từ đại bộ phận dân cư, có vai trò cung cấp dịch vụ ở cả đô thị và khu vực nông thôn Khu vực chính thức gồm các ngân hàng thương mại, đầu

tư, tiết kiệm, phát triển; các ngân hàng phục vụ nông thôn; các ngân hàng theo mô hình hợp tác xã; các tổ chức phi ngân hàng khác; các công ty tài chính; các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, Quỹ hưu trí; các công ty bảo hiểm, các tổ chức tài chính vi mô chính thức đăng ký theo luật TCTD.

- Ở Việt Nam khu vực chính thức gồm Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Quỹ Tín dụng Nhân dân, 3 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép của Ngân hàng Nhà nước :Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình thương,Tổ chức tài chính vi mô TNHH Thanh Hóa,Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7 1.5.2 Khu vực bán chính thức

Khu vực bán chính thức: bao gồm những tổ chức do Chính phủ cấp giấy phép, hoạt động dưới sự giám sát của Chính phủ, không tuân theo các quy định của ngân hàng Cụ thể là cáchợp tác xã tín dụng và tiết kiệm, các hiệp hội tín dụng, các ngân hàng nhân dân không đăng ký chính thức là TCTD; các ngân hàng hợp tác xã; các quỹ tiết kiệm tạo việc làm; các dự án phát triển, các chương trình/ dự án TCVM do các đoàn thể thực hiện, các Quỹ

Trang 35

xã hội, từ thiện thực hiện TCVM, Nhóm tiết kiệm tín dụng: Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo.

1.5.3 Khu vực phi chính thức

Khu vực phi chính thức hoạt động ngoài kiểm soát của Chính phủ gồm những tổ chức, công ty tài chính phi chính thức, các hiệp hội tín dụng và tiết kiệm quay vòng và biến thế của nó, đơn

vị, cá nhân, nhóm dân cư, cửa hàng, quỹ tương trợ, nhóm, tổ tiết kiệm, cho vay lãi chuyên nghiệp, bạn bè, người thân, hụi, họ 1.6 Kinh nghiệm về cho vay đối với người nghèoở một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.6.1 Bangladesh

người nghèo, chủ yếu là phụ nữ nghèo Nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Grameent từ các cổ đông là thành viên đóng góp Khoảng 66% nguồn vốn là

từ tiền gửi của các thành viên vay vốn Khi vay, họ sẽ gửi tiết kiệm tự nguyện một số tiền nhỏ theo định kỳ trả nợ để bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng Để phát triển, GB phải tự bù đắp các chi phí hoạt động Như vậy, GB hoạt động như các ngân hàng thương mại khác không được bao cấp từ Chính phủ GB thực hiện cơ chế lãi suất thực dương, do vậy lãi suất cho vay tới các thành viên luôn cao hơn lãi suất trên thị trường GB cho vay tới các thành viên thông qua các nhóm tiết kiệm và vay vốn GB cho vay không áp dụng biện pháp thế chấp tài sản mà chỉ cần tín chấp qua các nhóm tiết kiệm và vay vốn gồm 5 ngườilà những bà con họ hàng thân thiết hoặc láng giềng Thủ tục vay vốn của GB rất đơn giản và thuận tiện, người vay vốn chỉ cần làm đơn và nhóm bảo lãnh là đủ Nhưng ngân hàng có cơ chế kiểm tra rất chặt chẽ, tạo cho người nghèo sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả Để phục vụ đúng đối tượng người vay phải đủ chuẩn mực đói nghèo, nghĩa là hộ gia đình

Trang 36

phải có dưới 0,4 acre đất canh tác và mức thu nhập bình quân đầu người dưới 100 USD/ năm.GB được quyền đi vay để cho vay và được

ủy thác nhận tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước, huy động tiền gửi, tiết kiệm của các thành viên, quản lý các quỹ của nhóm và được phát hành trái phiếu vay nợ GB hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương, được Chính phủ cho phép hoạt động theo luật riêng, không bị chi phối bởi luật tài chính và luật ngân hàng hiện hành.

Hiện GB đang cung cấp món vay cho 4,5 triệu người nghèo với số tiền rất nhỏ tương đương vài trăm USD, tuy nhiên tỷ lệ hoàn trả nợ vay lên đến 98% Hiện ở Bangladesh đã có hơn 6 ngàn chi nhánh trên 70 nghìn làng xã, lượng tiền lưu thông thường xuyên trong hệ thống đạt mức 500 triệu USD Thống kê cho thấy, 96% khách hàng của ngân hàng này là phụ

nữ Mô hình này chứng minh rằng người nghèo có nhu cầu tài chính lớn

và hoạt động bền vững dựa vào khách hàng nghèo có tính khả thi cao.

1.6.2 Thái Lan

Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng (BAAC) là ngân hàng thương mại quốc doanh do Chính phủ thành lập Hàng năm được Chính phủ tài trợ vốn để hỗ trợ vốn cho nông dân nghèo Những người có mức thu nhập dưới 1.000 Bath/năm và những người nông dân có ruộng thấp hơn mức trung bình trong khu vực thì được ngân hàng cho vay mà không cần thế chấp tài sản, chỉ cần thế chấp bằng sự cam kết bảo đảm của nhóm, tổ hợp tác sản xuất Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèo thường được giảm từ 1-3%/ năm so với lãi suất cho vay các đối tượng khác Kết quả là năm 2006 BAAC tiếp cận được 95% khách hàng là nông dân Sở dĩ có được điều này là một phần do Chính phủ đã quy định các ngân hàng thương mại khác phải dành 20% số vốn huy động được để cho vay lĩnh vực nông thôn Số vốn này có thể cho vay

Trang 37

trực tiếp hoặc gửi vào BAAC nhưng thông thường các ngân hàng thường gửi vào BAAC.

1.6.3 Philippines

Tiền thân của Ngân hàng CARD là một NGO hoạt động về TCVM trực thuộc CARD (Center for Agriculture and Rural Development - một quỹ xã hội ở Philippines) NGO này ra đời năm 1989, nhằm vận dụng mô hình GB vào Philippines, đưa các dịch vụ TCVM cho phụ nữ nghèo nông thôn, đặc biệt, những phụ nữ không có đất, giúp họ khởi nghiệp với các dự án kinh doanh nhỏ hoặc mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ hiện có để tạo thu nhập, nâng cao đời sống Năm 1997, sau 8 năm hoạt động, CARD NGO chính thức được Ngân hàng Trung ương Philippines cấp giấy phép hoạt động như một ngân hàng nông thôn tại thành phố San Pablo, với vốn góp ban đầu Php 5.000.000 (167.000 USD) Từ đây, Ngân hàng có cơ sở pháp lý để huy động tiền gửi từ công chúng và khai thác thị trường cho vay thương mại, đồng thời, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập Ðây là một ví dụ sinh động chuyển đổi

mô hình hoạt động từ một NGO thành một trung gian tài chính chính thức tại Philippine cũng như các nước trong khu vực Ðông Nam Á Ðến tháng 01/2012, Ngân hàng này phục vụ 617.285 khách hàng, với dư nợ 2,47 tỉ Php (58,56 triệu USD), tỉ lệ hoàn trả đạt 99,18%4.

Mạng lưới Ngân hàng CARD khá rộng, với 1 hội sở chính, 51 chi nhánh và 337 đơn vị dịch vụ (năm 2012) Hoạt động của Ngân hàng giống với GB ở Bangladesh Có hơn 750 nghìn người đã là khách hàng của CARD, trong đó, phần lớn là người rất nghèo và không có đất, do vậy, các dịch vụ ngân hàng được thiết kế phục vụ phù hợp, đưa các dịch vụ tới tận cộng đồng theo hình thức “tín dụng tận ngõ”, và phục vụ các giao dịch tài chính có thể rất nhỏ trong khả năng của họ, mà không phải thế chấp.

Trang 38

Do linh hoạt trong nhận tiết kiệm, Ngân hàng CARD thu nhận được nguồn tiết kiệm khá lớn từ người nghèo, cụ thể, từ năm 2009, khoản gửi tiết kiệm chiếm trên 50% tổng tài sản tại CARD, trong khi lượng tiền gửi tại CARD chưa nhiều, chiếm tỷ trọng khá nhỏ.

1.6.4 Kinh nghiệm của một số tổ chức tài chính vi mô trong nước 1.6.4.1 Tổ chức tài chính vi mô tình thương (TYM)

Tổ chức Tài chính vi mô TNHH Một thành viên Tình Thương (TYM) là tổ chức tài chính vi mô chính thức đầu tiên tại Việt Nam do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành lập với sứ mệnh cải thiện chất lượng cuộc sống của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, đặc biệt ưu tiên phụ nữ nghèo, yếu thế thông qua các dịch vụ tài chính

và phi tài chính, tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế và xã hội, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ.

Được thành lập năm 1992, trải qua hơn 20 năm phát triển và trưởng thành, với thành tích giúp đỡ hàng nghìn chị em phụ nữ thoát nghèo bền vững, vươn lên làm giàu, xây dựng mô hình vay vốn dễ dàng và phù hợp với các hộ gia đình tại các địa bàn nông thôn, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước, TYM đã vinh dự nhận được những giải thưởng cao quý do Nhà nước trao tặng như Huân chương lao động hạng Nhất, Giải thưởng phụ nữ Việt Nam, Tổ chức tài chính vi mô tiêu biểu,

Địa bàn hoạt động: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An

Mục tiêu TYM hướng đến là gần gũi với khách hàng tạo điều kiện để khách hàng được tiếp cận nguồn vốn vay dễ dàng, việc phát vốn và hoàn trả hàng tuần được thực hiện tại chính địa bàn nơi khách hàng sinh sống, cán bộ TYM thường xuyên có mặt ở địa bàn, hòa nhã, thân thiện, thăm hỏi và giải quyết các khúc mắc của khách hàng kịp thời, khách hàng được TYM trực tiếp

Trang 39

hỗ trợ hoặc được TYM hỗ trợ tìm kiếm/kết nối với các nguồn/giải thưởng khác để nhận được những hỗ trợ xã hội hữu ích (trao học bổng, xây mái ấm tình thương, giải thưởng Doanh nhân vi mô, trao quà gia đình khó khăn…) và khách hàng được tham gia đóng góp ý kiến cho sự phát triển chung của TYM.

Hoạt động của TYM đa dạng và hữu ích, thủ tục giao dịch thuận tiện:TYM cho vay không yêu cầu tài sản thế chấp, khách hàng TYM không phải trả thêm bất kì khoản phí nào như phí hồ sơ, phí hành chính, phí giao dịch, v.v, việc phát vốn nhanh chóng và kịp thời, thủ tục đơn giản, cho vay khởi điểm từ những món vốn nhỏ, vốn vay được lặp lại và tăng dần theo thời gian tham gia

và theo nhu cầu vay vốn của khách hàng, khách hàng có thể tham gia tiết kiệm

từ khoản tiền rất nhỏ và ngoài ra khách hàng được hỗ trợ khi họ và gia đình không may gặp rủi ro như ốm đau nằm viện…

1.6.4.2 Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7

Mạng lưới M7+ là tổ chức tài chính vi mô lớn thứ 3 tại Việt Nam

về quy mô tổ chức, xếp sau Quỹ CEP (Quỹ trợ vốn cho người nghèo

tự tạo việc làm) thuộc liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh và Quỹ Tình thương của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (TYM).

Mạng lưới được thành lập ngày 5/7/2006 tại Him Lam, tỉnh Điện Biên, bao gồm 7 chương trình tiết kiệm - tín dụng được quản lí bởi hội Phụ nữ địa phương Các chương trình này đều có chung mô hình cung cấp dịch

vụ và đối tượng khách hàng giống nhau là các nhóm người gặp thách thức

về kinh tế - xã hội (chủ yếu là phụ nữ và dân tộc thiểu số) sống tại các khu vực nghèo và miền núi của huyện Mai Sơn (tỉnh Sơn La), Uông Bí và Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh), Can Lộc (tỉnh Hà Tĩnh), Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận), huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên).

Trang 40

Từ năm 1993 tới 2003, 7 chương trình này hoạt động dưới sự tài trợ của ActionAid Việt Nam Sau đó, ActionAid chuyển giao cho các chương trình này hoạt động độc lập, dưới sự quản lý của hội phụ nữ địa phương Từ thời điểm

đó tới nay, các chương trình cũng lần lượt hoàn thiện cơ cấu tổ chức và chuyển đổi thành mô hình Quỹ xã hội như là một bước trung gian để tiến tới trở thành các tổ chức tài chính vi mô hoạt động chuyên nghiệp.

Kể từ khi còn hoạt động dưới dạng các chương trình tiết kiệm – tín dụng, các thành viên thuộc mạng lưới M7 đã cung cấp các sản phẩm

về tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm tới gần 35 nghìn khách hàng.

Tới 12/2012, tổng số thành viên của M7 tại 5 tỉnh lên tới 38.774, số thành viên tham gia M7MPA: hơn 23.000 người.

1.6.5 Bài học kinh nghiệm cho vay đối với người nghèo ở Việt Nam nói chung và đối với Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà nói riêng.

Từ thực tế ở một số nước trên thế giới, với lợi thế của người đi sau, Việt Nam chắc chắn sẽ học hỏi và rút ra được nhiều bài học bổ ích cho mình làm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng đặc biệt là chương trình cho vay ưu đãi Tuy vậy, việc áp dụng như thế nào cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam mới là vấn đề đáng quan tâm, bởi lẽ mỗi mô hình phù hợp với hoàn cảnh cũng như là điều kiện kinh tế của chính nước đó Vì vậy qua việc nghiên cứu hoạt động ngân hàng của một số nước rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Thứ nhất, cho vay đối với người nghèo cần được sự trợ giúp từ phía Nhà nước Vì cho vay hộ nghèo gặp rất nhiều rủi ro Trước hết là rủi

ro về nguồn vốn, khó khăn này cần có sự giúp đỡ từ phía Nhà nước Điều này các nước Thái Lan và Philippines đã làm Tiếp theo là rủi ro về cho vay,

có nghĩa là rủi ro mất vốn, Nhà nước sẽ có chính sách cấp bù cho những khoản tín dụng bị rủi ro bất khả kháng mà không thu hồi được.

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo thường niên Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà năm 2013,2014,2015,2016,2017 Khác
3. Đặng Văn Tấn(2014), Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 4. Lâm Quân(2015),Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Nghệ An Khác
5. Ngân hàng nhà nước Việt Nam & nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2012), Tài chính vi mô bền vững & biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Báo cáo hội thảo về tài chính vi mô lần thứ IV Khác
6. Phan Chí Tâm (2015) , Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Quảng Trị Khác
7. Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướngChính phủ về việc Phê duyệt đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w