Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng: Phần 2 tiếp tục trình bày các nội dung về tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng thờ âm linh, những đặc trưng và giá trị trong tín ngưỡng của cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1CHƯƠNG 3
TÍN NGƯỠNG THÒ MẪU, t h ò â m linh
VÀ THÒ TIỀN HIỀN
3.1 TÍN NGƯÕNG THÒ MẴU / THÕ BÀ
Thờ M ẫu là một trong những tín ngưỡng phổ biến của
cư dân Việt trên mọi m iền đất nước, ở Q uảng Nam - Đà
x ẵ n g , từ vùng núi đến vùng đồng bằng, ven biển, các Mẫu được gọi bằng từ th â n kính là "Bà" Đó là các Bà: Thiên Yana và các dạng hoá th ân , Bà Đại Càn- Tứ vị T hánh nương, Bà Ngũ H ành, Bà Thuỷ Long / Bà Thuỷ, Bà Dàng Lạch Tục thờ Bà không những đóng vai trò quan trọng trong đời sống tin h th ầ n của cư dân đất Q uảng nói chung,
cư dân ven biển nói riêng, mà còn biểu thị dấu ấn giao lưu văn hoá đa nguyên giữa cư dân Việt vói các cộng đồng cư dân thổ trước trong lịch sử
1 DV
Trang 2-3.1.1 Thd Thiên Yana (Põ Inư Nagar) vã các hiện thân
3.1.1.1 Thờ Thiên Yana - Bà Chúa Ngọc
Thiên Y ana là th ầ n Mẹ xứ sở của người Chăm , được người Việt đồn n h ậ n và thò phụng, kể từ khi mở m ang bờ cõi về phía biển và phương Nam Bà ngự trị trong đòi sông tâm linh của các cộng đồng dân Việt vối danh xưng
tôn quý - Bà Chúa Ngọc, ó Q uảng N am - Đà Nang, nơi thờ Bà với danh xưng "chân chính" Thiên Yana phổ biến ở
các làng biển Đà Nắng Trong cuộc sông h ằn g thường, Bà
được gọi là Bà Chúa Ngọc hoặc Bà Chúa\ nơi thò tự gọi là
lăng Bà Chúa'"^\ Trừ lăng Bà Nam Thọ có linh tượng tạc
bằng đá Non Nước - Ngũ H ành Sơn, cao khoảng 60 cm,
m ang hìn h dạng P h ậ t Bà Q uan Âm, các lăng m iếu còn lại không có tượng H ầu h ết các lăng đều phôi thò hai người con của Bà là cậu Quý và cậu Tài (hợp với tru y ền th u y ết dân gian của người Việt về Bà C húa Ngọc), như ng dấu hiệu n h ậ n diện không rõ vì cũng không có tiêu tượng Muốh biết chỉ có cách hỏi một sô" người già từ ng giữ vai chánh tế, rồi kết hỢp với văn tế, với đồ v ật cúng trong ngày lễ lệ th ì mới biết C hẳng h ạ n như m iếu Bà C húa Ngọc làng M ân Quang, phần h ậu tẩm thờ một cặp siêu (đôi kiếm), một cặp ngựa bằng gỗ; khi cúng t ế có thêm ba bộ đồ
mã, gồm: áo, hài nón, mũ mão, hia Người chủ tế cho biết hài nón là đồ thò của Bà Chúa Ngọc, những th ứ còn lại của Nhị vị công tử - cậu Quý và cậu Tài v ề "lai lịch" và th ầ n
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BIỀN QUẢNG NAM • ĐÀ NẮNG
- 1 DB
Trang 3tích Bà C húa Ngọc h ầu như không ai tỏ tường Tuy nhiên,
gốc Chăm của Bà thì một số người già lại biết một cách vô thức Họ nói rằng, Bà lớn lắm, cửa th á n h của Bà ở N ha
Trang B à hiến đến đâu th i ở đó p h ả i lập lăng miếu thờ
Trong tâm thức cư dân Q uảng N am - Đà Nang, Bà Chúa Ngọc được suy tôn và thò phụng như bà Mẹ Đ ất / Mẫu Địa của bổn xứ (làng này)
Do n h ận thức thông n h ấ t về đốì tượng thò tự nên
ngày vía Bà và nghi lễ tương đối thống nhất ở các làng
biển H àng năm , lễ vía Bà diễn ra trong hai ngày 24, 25
th án g giêng Nghi lễ tổ chức như tế đình, cũng gồm: 1 Lễ
tế Ả m linh 2 L ễ cáo 3 L ễ chánh Cũng như lễ đình, lễ vía
Bà C húa Ngọc cứ ba năm một lần tổ chức lễ "phong"- đại
lễ Đại lễ bao giò cũng có h á t tuồng, mổ heo, v ật bò đãi đàng; còn lễ "sái", tức trầm trà thường niên, chỉ có hoa
quả, gà, lợn, xôi, bánh Song, dù là lễ phong hay sái thì thường không thiếu một lễ thức có tín h b ắ t buộc là lễ dâng
m âm , hay còn gọi là dăng hông (hoa) Ngày trước, người
dâng m âm là một ông đồng tử, gọi là "xác" của bà Đồng tử
lần lượt đội từng mâm trên đầu, không cần tay giữ, lăn lộn nhiều vòng từ ngoài vào lăng Hiện nay, vì không còn người làm "đồng tử" nên nghi lễ này do ông chánh tê thực hiện một cách đơn giản: sau khi tẩy uế, xin keo, ông lần lượt th ỉn h từng mâm lên bàn thò Bà (xin xem ảnh sô 39,
40 mục 4, p h ần Phụ lục)
- 1 0 9
Trang 4-Riêng lăng Bà Nam Thọ (có linh tượng Bà Chúa), việc phụng thờ và nghi lễ thông linh với T hiên Y ana / Bà
C húa Ngọc còn có sự hỗn dung các nghi lễ cổ tru y ền của làng với một vài nghi lễ của P h ậ t giáo và đạo Tiên Thiên
T h án h giáo Tại đây, nơi thờ Bà gọi là "cung điện của Bà
T h án h M ẫu Thiên Y ana Diễn Phi C húa Ngọc Đại từ tôn", hoặc "lăng Đức Đồng Thiên" (với nghĩa: đức độ của bà sán h ngang với Trời Bà làm theo đức của Tròi ban p h á t bình an, tài lộc, tông tiễn ôn tà cho con dân làng biển) Lăng Bà có người trông coi gọi là "thủ tự" Đó là một lão ngư H àng tháng, ông này phải án chay "tứ trai" và tụ n g
kinh cho bà Kinh tụ n g gồm hai bản là "Địa M ẩu Chơn
K inh" và "Kinh N h ậ t Tụng" Địa M ẫu Chơn K inh, một
th án g tụ n g ba lần, gọi là "đi kinh Địa Mẫu", mục đích hồi hưống cho bà về cung Thiên Tham gia lễ đi kinh Địa
M ẫu, ngoài th ủ tự, còn có một hội các bà làm nhiệm vụ giông như những chấp sự viên trong lễ cúng th ần Họ giúp ông th ủ tự dâng hương, dâng trầm , dâng hoa, dâng quả và dâng th u ỷ - nước (nước sau khi dâng xong được
hiểu là nước Cam Lồ của bà) Còn K inh n h ậ t tụ n g được
ông th ủ tự một th án g tụ n g hai lần vào ngày sóc và ngày vọng, nhằm cầu an cho làng vạn
Mỗi lần tụ n g kinh, th ủ tự đều phải th iế t lễ Lễ vật gồm hoa quả, vàng mã B ản kinh đ ặ t trê n một giá gỗ lót vải vàng, kê dưới chân b àn hương án, phía trước là
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẨNG
1 1 □
Trang 5\ ỳ f / ỵ / v ề
chuông và mõ (xin xem ả n h sô" 25, 26 mục 4, p h ần P h ụ lục) Trước khi tụ n g p h ải xin keo, quỳ lạy ba lần Khi vạn làng có chuyện không m ay như m ất m ùa, đánh nhaư, dịch bệnh, th ì th ủ tự p h ải ăn chay nằm đất, tụ n g kinh gõ mõ 7 ngày tạ i lăng X hững khi "biển đói", ghe
th u y ền th ấ t b át, làng tổ chức lễ "tống ôn" tạ i làn g Bà,
th ủ tự phải tụ n g kinh tro n g hai đêm lễ Ghe th u y ền nào
th ấ t m ùa liên tục, nếu chủ ghe đến lăng Bà cầu, th ì th ủ
tự sẽ dâng nước (gọi là nước Cam Lồ) và đọc K in h n h ậ t
tụng, kèm theo m ột câu chú: Vui chơi buổi hạc Bồng lai /
Liệng bùa liệng phép đem về cho m au / Hồ rô phá u ế một
m àu / Phép m àu mẹ vạch nước, nước chảy về cứu dân Sau đó, chủ ghe được "nưốc Cam Lồ" m ang về để xôl rửa ngư cụ, phương tiện
Có lẽ tác n h â n dẫn đến sự thông n h ấ t trong nghi lễ
và tâm thức thờ T hiên Y ana ở cư dân ven biển Q uảng Xam - Đà x ẵ n g là từ tru n g tâm "núi Chúa"- X’gũ H ành Sơn Vì nơi đây, tạ i h an g Chiêm T hành, người V iệt đã tiếp quản và thờ p h ụ n g h ai vị nữ th ầ n của người Chăm
là Bà C húa Xgọc và Bà C húa Lồi c ả hai đều có tượng
Có th ể chính từ nơi này đã lan toả sự thờ phụng Bà đến cộng đồng cư dân ven biển, tạo nên tín h thông n h ấ t trong ngày lễ và nghi thức đôi với một Bà Mẹ đ ấ t / C húa
xứ / bổn xứ
- 1 1 1
Trang 63.1.1.2 Thờ các hiện thân của Thiên Yana / Bà Chúa Ngọc
Bên cạnh việc thờ Thiên Yana theo dạng chính danh,
cư dân Q uảng Nam - Đà x ẵ n g còn thò phụng một số bà
khác có danh tín h và quyền năng, như: Bà Chúa Lồi (Khuê
T rung - Đà x ẵn g ), Bà Dàng Phi (Quá Giáng - Đà X"ẵng),
Bà Dàng Què, Bà Dàng Râu (X^am Thọ - Đà x ẵn g ), Bà
T hân xứ, Bà Đa xứ (An Hải - Đà x ẵn g ), Bà D àng Chào (Điện Dương - Q uảng Xam), Bà Phường Chào (Đại Cường, Đại Lộc - Q uảng Xam), Bà Dàng Lồi (Cẩm T hanh - Hội An), Bà Cổ Vàng / Dàng (Cẩm Hà - Hội An), Bà D àng Bô /
Bà Bô Bô - Thu Bồn (Duy Xuyên, Duy Hải), Bà Chiêm Sơn (Duy Xuyên - Q uảng Xam), Bà Chợ Được (Thăng Bình -
Q uảng Xam) Nhìn vào các địa danh, nơi các Bà linh hiển thì th ấy phần đông đều "cư trú" dọc sông, ven biển
Lăng miếu thờ các bà h ầu hết đều quay m ặt ra hướng
sông hoặc biển Một số được dựng trên chính di tích tín
ngưỡng của người Chăm xưa Và điều này đã nói lên "quốc tịch" của các Bà nơi ấy - th ầ n Xữ Việt gốc Chăm
Căn cứ vào nguồn cội, có th ể xem các nữ th ầ n đó là
các dạng biến thể của Thiên Yana {xin xem ảnh sô 35, 36,
38 mục 4, ph ầ n Phụ lục) Xói khác đi, đó là hình thái tín ngưỡng ph á i sinh từ tín niệm thờ thần Mẹ của người Chăm Theo đó, người Việt đã hoá thiêng những sự vật, sự việc, nhân vật cụ thê liên quan đến người Chăm thành các
Bà / Mẩu.
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
1 1 2
Trang 7-Về nguồn cội, các Bà đó đã hoá th â n từ hai dạng sau:
- Thác sinh từ đá, trên vết tích kiến trúc thờ tự của
người Chăm xưạ Đó là Bà c ổ Vàng (Hội An) và Bà Bô Bô (tên Việt là Thu Bồn ở làng Thu Bồn, Duy Xuyên, Quảng
Xam) Cả hai bà đều có căn từ đá Linh tượng Bà c ổ Vàng
/ Cổ D àng là một m ảnh sa thạch, còn Bà Bô Bô / Dàng Bô / Thu Bồn tương truyền là một phiến đá hình mu rùấ*\
T rên bàn thờ Bà Bô Bô, ngoài các vật thờ giống như bao ngôi đình, lăng, miếu khác, còn có các vật biểu trư ng cho
Xữ th ần , gồm: bộ đồ Bà bằng giấy (áo, hài, nón), lọn tóc phụ nữ (nay đã mất), và một chiếc thuyền đua nhỏ
Về quyền năng, nếu Bà c ổ Vàng chỉ hiển linh trong phạm vi hẹp ở c ẩ m Hà (Hội An), th ì Bà Bô Bô/ Thu Bồn lại
hiển linh và nổi tiếng khắp nơi từ nguồn xuống biển^‘'\ Bà
còn là B à Chúa ghe đua của làng Thu Bồn và một sô" làng
biển khác như c ẩ m Nam (Hội An), Duy Hải (Duy Xuyên),
An Hải (Đà x ẵn g ), Phước Ấm (Thăng Bình), x^hững chiếc ghe dùng để bơi đua trong lễ hội, gọi là "ghe Bà Chúa"^®'
Cá biệt như làng An Hải (Đà x ẵ n g ) có cả miếu và tượng
thờ Bà C húa Ghe {xin xem ảnh s ố 27, p h ầ n P hụ lục) Khi cúng tế, Bà được hô mời với danh th ầ n Thiên Yana Diễn
Phi Chúa Ngọc Thượng đẳng thần.
Cộng đồng cư dân Q uảng Xam - Đà x ẵ n g nói chung,
dân biển nói riêng còn quan niệm, Bà Bô Bô / Thu Bồn có quan hệ ruột th ịt với Bà Phường Chào / D àng Chào - vị nữ
1 1 3
Trang 8-th ầ n bảo trỢ cho cư dân vùng núi Đại Lộc (Quảng Nam)
T hần tích và tru y ền th u y ết cho hay, nữ th ầ n Phường Chào vôn là một cô gái đẹp nhưng bị tậ t nguyền bẩm sinh và chết khi còn rấ t trẻ Cô thường hiển lộng phá phách làng xóm, đôd chợ, đôd nhà Song khi đã được phong là th ầ n Nữ thì lại trở th à n h Phúc th ần ban phước cho người hiền lương, giáng hoạ cho kẻ xấu Cũng ở vùng Đại Lộc còn lưu tru y ền chí tiết: Bà Phường Chào có bôn người con canh giữ mộ phần, trong đó có hai người, một tên là Quý, một tên là Tài, trù n g với tên của Nhị vị công tử - con của Bà Thiên Yana
Và Bà Dàng Chào Đại Lộc cũng chính là Bà Chợ Được của làng Phước Am'^* thuộc vùng biển T hăng Bình (Quảng Nam) D ân gian vùng này cho rằng, chợ Được là một h àn h cung mới của Bà Dàng Chào, khi một ngày nọ, Bà vân du qua đây Tại đây, Bà lập chợ cho dân làng buôn bán, chữa bệnh cho kẻ đau ôm Để ghi nhớ công lao của Bà, dân
Phước Ảm gọi chợ do Bà lập là Chợ Bà, sau gọi là Chợ
Được; lập lăng thò gọi là Lăng Bà Chợ Được Trong láng có
quần áo, hài nón (ngày trước cũng có lọn tóc) Ban thò chính trong h ậu tẩm có ngai tưỢng Bà, đầu ngai đội mũ tran g trí nhiều h ạ t ngọc trai, áo th êu rồng phượng m àu đỏ,
vàng, trông quý phái mà tôn nghiêm {xin xem ảnh sô' 29,
30 mục 4, phầ n Phụ lục) Ban thò giữa của chính điện,
ngoài đồ thò thần, còn có cây b ú t bằng gỗ, m àu đen, dài
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÃ NẨNG
1 1 4
Trang 9-khoáng 20 cm Tương truyền, mỗi khi có người đến xin thuốc, Bà liền giáng bút cho ông đồng (người làm xác của Bà) kê đơn Trước khi kê đơn, ông này phải đọc một trong hai bài văn cầu Bà; lòi văn Hán Xôm lẫn lộn''^'.
Sinh h o ạt văn hoá tín ngưỡng ở những nơi có "hoá
th ân " của Thiên Yana / Bà C húa Xgọc diễn ra khá sinh
động, th ể hiện qua hai dạng là lễ lệ và lễ hội Tiêu biểu là
lễ hội Bà Thu Bồn, tức Bà Bô Bô (diễn ra trong hai ngày
11 và 12 th án g 2 âm lịch) và Bà Chợ Được (ngày 11 th án g giêng hàng năm) Nét độc đáo trong sinh h o ạt văn hoá lễ hội Bà Thu Bồn là "trên bờ h á t bội, dưới th u y ền bơi đua."; trong lễ hội Bà Chợ Được là lễ rước Cộ Bà và lễ Tống ôn,
ngoài ra còn có m úa lân, đua ghe, h á t bội Các nghi thức
tê lễ cũng giông như các lễ cúng các Nữ th ầ n khác Riêng vật phẩm cúng trong lễ Bà Thu Bồn th ì b ắ t buộc phải có một con trâ u đực non, làm sạch lông, và đ ặt nguyên cả con lên giá tre, trong tư th ế quỳ Tiết trâ u được dùng để xoa lên m ình trâ u , làm cho toàn th â n là một m àu đỏ Lễ vật này m ang ý nghĩa hiến sinh Lễ hội Bà Thu Bồn, Bà Chợ Được là lễ lệ m ang ý nghĩa phụng tự, như ng đã trở
th à n h một sinh hoạt văn hoá lễ hội có sức lan toả rộng, tạo nên một cảm n h ận chung về lòng b iết ơn đôl với công đức của các Bà
- "Chuyển giới"- Mẫu hoá tượng Nam Thần: Theo
cách này có: Bà Dàng Lồi (Cẩm Thanh, Hội An), Bà Chúa
1 1 5
Trang 10-Lồi, Chúa Ngọc (Khuê T rung - Đà Nẵng), Bà Dàng Phi (Hoà Vang - Đà xẵng) Tượng Bà Dàng Lồi (Cẩm Thanh,
Hội An) vôn hoá th â n từ tượng thần Tài Lộc của người Chăm; tượng Bà Khuê T rung (Đà x ẵ n g ) vốh cũng là tượng
thần Phương hướng của người Chăm (xin xem ảnh sô' 32,
33 mục 4, phần P hụ lục) Mặc dù nét nam tính của các
th ần hiển rõ nhưng cư dân sở tại cứ khẳng định đấy là
bà*®’ Cũng cùng phương thức hoá M ẫu như thế, còn có Bà
Dàng R âu của làng biển Xam Thọ (Đà x ẵn g ) Theo truyền
thuyết làng này, Bà Dàng Râu vốh không phải là bà mà là ông, người T rung Quốc Một chuyến vượt biển từ T rung Quốc sang Việt Xam buôn bán, gặp bão bị đắm thuyền, xác ông trôi vào lưới của một ngư dân, người này vớt lên và chôn cất tử tế Đến ngày mở cửa mả, hồn về đạp đồng ngang tự xưng là "bà" X’gư dân gọi Bà Vàng Râu, đọc trại
là Dàng R âu'’®’
3.1.2 Thd cúng Ngũ Hành
Sau Thiên Yana và các biến thể, cư dân Q uảng Xam -
Đà X"ẵng nói chung, cư dân ven biển nói riêng còn thò Xgũ
H ành - năm yếu tô' bản thể được th ầ n nữ hoá, gọi là Bà
N gủ H ành hay N gủ H ành nương nương XMi thờ tự gọi là
miếu hoặc lăng; một vài nơi gọi là dinh Bà Xgũ Hành Thuở trước, mỗi làng vạn đều có miếu Bà Xgũ H ành, nhưng do nhiều nguyên nhân, đến nay không còn nhiều
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẢNG
- 1 1 s
Trang 11Các ngôi miếu hiện còn thường ở vùng sông biển, như: miếu Xgũ H ành của Xam o (Đà x ẵn g ), của c ẩ m Xam (Hội An), của Tĩnh Thuỷ (Tam Kỳ), của T ân Hiệp (Cù Lao Chàm) Trừ miếu Xgũ H ành c ẩ m Xam có tượng năm Bà được đặt trong lồng kính, với năm sắc m àu của áo tượng trư ng cho m àu của năm hành, các miếu khác không có tưỢng, chỉ thò chữ H án "Xgũ Hành" hoặc bài vị viết bằng
chữ Hán: "Xgũ H ành cổ nương th ầ n nữ" {xin xem ảnh số
37 mục 4, p h ầ n Phụ lục) Xơi không còn miếu th ì thường
phối thò trong m iếu Bà Chúa x^gọc, dưói hình thức bài vị,
với các th ầ n hiệu: K im đức Thánh phi, Mộc đức Thánh
phi, Thuỷ đức T hánh phi, Hoả đức Thánh phi, T h ổ đức Thánh phi, tục gọi là Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thuỷ, Bà Hoả,
Bà Thổ, như m iếu Bà Khuê T rung (Đà x ẵn g ) Xgư dân quan niệm, nghề biển có quan hệ m ật th iế t vói Bà Xgũ
H ành, n h ấ t là Bà Kim, Bà Mộc và Bà Thuỷ, bởi các Bà này trực tiếp tác động đến con người, phương tiện, công cụ và sản phẩm nghề biển
Một vài nơi, do những rủi ro xảy ra trong cuộc sốhg cộng đồng như hoả hoạn, chết nước, thì ở đấy chỉ thò riêng
bà m à người ta cho rằn g vừa là tác n h ân gây tai hoạ nhưng vừa phò trỢ để trá n h đi tai hoạ đó Theo đó, Bà Hoả và Bà Thuỷ thường được tách ra khỏi hệ thống Ngũ H ành để thò riêng, như: m iếu Bà Hoả của làng biển P h ú Lộc và làng biển X am Ô (Đà x ẵn g ); miếu Bà Thuỷ của Khuê T rung
1 1 7
Trang 12(Đà xẵng), của Tĩnh Thuỷ (Quảng Nam), của Hà My, Điện Dương (Quảng Nam) Các ngôi miếu nhìn chung nhỏ bé Riêng nơi thờ Bà Thuỷ của làng Tĩnh Thuỷ có dáng dấp và
chức năng của ngôi đình, gọi là đinh vạn Hậu tẩm đình vạn thờ hai chữ "Thuỷ thần" (xin xem sơ đồ s ố 5.5, phần
Phụ lục).
3.1.3 về các nữ thần của riêng nghề biển
Bên cạnh sự tín ngưỡng các Bà / Mẫu chung của quê hương, cư dân ven biển Q uảng Nam - Đà N ang còn có
riêng một lớp Nữ th ầ n chủ về nghề biển, gồm: Bà Thuỷ
Long, Bà Dàng Lạch, Bà Hà Bá, Bà Ma N ha / Ma Rà Có thể xem đây là biểu hiện sinh động của tín ngưỡng thờ Nữ
th ần nước - M ẫu Thuỷ
- Bà Thuỷ Long hay còn gọi là Bà Thuỷ Tề, Bà Thuỷ
hoặc Bà Thuỷ Long Hà Bá Dân biển quan niệm vị th ần này vừa thiện vừa ác, biểu hiện là vừa hộ m ạng (với tư cách là Thuỷ Long th ầ n nữ), vừa b ắ t mạng*” ^ (khi là Bà Hà Bá) Qua đây, chúng tôi ngờ rằng, cái m ặt trá i / ác của Bà Thuỷ Long - Hà Bá và Bà Ma Da chỉ là một Có lẽ "Hà Bá"
là cách nói chữ, nói trạ i của dân Quảng, hay là sự đánh đồng để chỉ một loài ma nước, thường gọi là Bà Ma Nha Một quan niệm phổ biến trong dân gian Q uảng Nam - Đà Nang là Bà Ma Da chuyên dìm người chết nước, n h ấ t là những người có "dòng" chết nưốc R ất có th ể quan niệm
TÍN NGƯỞNG Cư DÀN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẨNG
1 1 s
Trang 13- .y'^ýf/'ryềỵ
này ảnh hương từ tín ngưỡng ma Rừng, ma Nước, ma Lai của cư dân vùng núi Trường Sơn - Tây N guyên'’'^' Phải chăng chính "m ặt dữ" của nữ th ần này mà mặc dù có sắc phong (xin xem mục 2.4, sắc phong Thủy Long, phần Phụ lục) nhưng cơ sở thò tự lại hiếm hoi Chúng tôi mới chỉ biết được hai nơi thờ, một ở làng Xam 0 (Đà x ẵn g ), một ở làng
An Bàng - Hội An'' *’
- Ve Bà D àng Lạch: Còn gọi là Dàng Lạch Chúa nước
nưcĩng nương, được h ầu hết các vạn làng biển cúng cáo,
n h ấ t là những nơi gần cửa biển, nhằm cầu mong sự hỗ trỢ mỗi khi ra vào cửa / lạch Dựa vào danh xưng, có th ể suy đoán Bà D àng Lạch là hình tượng tiếp nôi, chuyển hoá từ tín ngưỡng thò n ữ th ầ n biển cửa Còn / Lạch Còn - Tứ vị
T hánh Xương, với tước hiệu Đại Càn quốc gia N am Hải tứ
vị Thánh Nương, do cư dân T hanh - Xghệ m ang vào vùng
T huận - Q uảng'’ "
Các nghi lễ liên quan đến các Bà Thuỷ chủ về nghề biển khá phong phú, nhưng không thể hiện độc lập mà thường lồng ghép trong các lễ cầu an và cầu ngư, như: lễ
nghinh Bà Thuỷ, lễ cúng vũng vịnh {xin xem lại phần
chú thích chương 1, tr.176-177).
3.1.4 Một sô nhộn xét
Tục thờ M ẫu của cư dân ven biển Q uảng Xam - Đà
x ẵ n g với các lễ thức và sinh hoạt văn hoá đã cho thấy, tục
1 1 9
Trang 14thờ này cũng nằm trong dòng tư duy lô gích của tiến trình
lịch sử tín ngưỡng thờ M ẫu ở Việt N am Đó là từ nền tảng
thờ Xữ th ầ n tiến đến thò M ẫu th ần và thờ M ẫu Tam phủ,
Tứ phủ [124] Tư duy thì thông n h ấ t nhưng hình thức biểu đạt ở các vùng miền đã không giông nhau, do phụ thuộc vào bối cảnh môi sinh Nhưng cũng chính vì thê mà đã làm nên những sắc th ái riêng của tín ngưỡng thò M ẫu trên các vùng miền đất nước
0 Bắc Bộ, vùng cội nguồn của cư dân Việt, nơi có bề dày văn hoá tín ngưỡng lâu đòi, thì tín ngưỡng thò Nữ
th ầ n (phần lớn là nữ th ầ n bảo hộ cho cư dân nông nghiệp)
đã p h á t triển theo hai ngả: thứ n h ất, phần đông các nữ
th ầ n vẫn là một th à n h viên trong hệ thống "Đạo thò Thần" của người Việt; th ứ hai, trên nền tản g thờ Nữ th ầ n và Mẫu
th ần , qua sự xâm nhập và ảnh hưởng Đạo giáo, đã dần tiến tới định hìn h th à n h khuôn m ẫu và hệ thống, tạo
th à n h đạo M ẫu Tam phủ- Tứ phủ, có điện thờ là một hệ thống cấu trúc tần g bậc, với các th à n h tô" của hệ thống có
liên hệ và quy định lẫn n h au để tạo th àn h một chỉnh th ể
nhất quán về điện thần: "Một điện th ầ n với hàng mấy chục
vị đã dần quy về một vị th ầ n cao n h ấ t là T hánh Mẫu" [124, tr.20] Gắn bó chặt chẽ với điện th ầ n M ẫu ấy là các nghi lễ hầu bóng, lên đồng, m úa h á t chầu h ầu T hánh Mẫu, đã
được xem là một th ứ "Đạo giáo đặc thù của Việt Nam" Đạo
M ẫu, vói những đặc trư ng ấy, cũng có ở một sô" nơi thuộc
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BlỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẰNG
- 1 2D
Trang 15-miền T rung và m iền Nam, nhưng không th ấy x u ất hiện ở các làng quê ven biển, trong đó có Q uảng Nam - Đà Nẵng Điều này cũng có nghĩa, tục thò M ẫu của cư dân ven biển
Q uảng Nam - Đà N ẳng đã không thuộc hệ thống điện thần
của Đạo M ẩu, mà vẫn ở cấp độ tín ngưỡng, gồm hai dạng
thức là thờ N ữ thần và M ẫu thần, với mối quan hệ hai
chiều: từ thờ Nữ th ầ n p h á t triển th à n h M ẫu th ần , và sự tác động của tín niệm M ẫu th ần trở lại tục thờ Nữ thần Hai dạng thò phụng này là kết quả hoà kết tín ngưỡng giữa cư dân Việt với cư dân Chăm và cư dân tiền trú nhóm Môn - Khơme, mà trong đó, th ầ n M ẫu Thiên Y ana / Bà
C húa Ngọc đóng vai trò quan trọng, chi phối đòi sổng cộng đồng trên mọi phương diện Các hoá th â n của Bà (Bà Bô
Bô, Bà Dàng Chào/ Phường Chào, Bà Dàng Lồi ) có thể xem là các M ẫu th ầ n cụ thể chia n h a u cai quản các vùng, liên quan đến đ ất và nước (biển) Điều này còn phản ánh một thực tế là: các lưu dân Việt vào vùng đất mối Quảng Nam - Đà N ang đã chủ động tiếp biến tục thò T hần Mẹ Xứ
Sở của người Chăm dưới dạng thò các M ẫu th ầ n bổn xứ, nhằm cầu bình an trên vùng đất "khác V iệt” Tại đây, hoạt động thò th ầ n Mẹ/ M ẫu th ầ n vẫn tiếp tục theo tín niệm ba
ngôi / ba vùng / Tam phủ, song hoạt động ấy luôn hồi quy
về vị thần Mẹ khởi nguyên, m ang đậm dấu ấn Mẹ Xứ sở
Chămpa Đó cũng là nguyên do khiến các làng quê Quảng Nam - Đà Nang có nhiều m iếu thò Bà C húa Ngọc / Thiên
1 2 1
Trang 16Yana với nghi lễ tương đối thông nhất, trong đó có một vài nghi lễ đã pha phách nghi thức của người Chăm, như: lễ dâng bông, dâng m âm đã từng diễn ra trưóc đây.
Bên cạnh đó, tín ngưỡng thò Tứ vị T hánh Nương có
x u ất xứ từ vùng T hanh - Nghệ, cũng vẫn in dấu ấn trong đời sổng tâm linh của dân biển Q uảng Nam - Đà Nang Hiện trong các lễ cúng kiếng của các làng ven biển, Bà Đại Càn vẫn được hô mời Điều này có giá trị xác định nguồn cội dân cư, m ặt khác còn nói lên tâm thức thò T hần Mẹ sông biển "quê mình" vẫn được tiếp nôi (và có thể đã hoà đồng với Bà Mẹ xứ Biển Chămpa), đồng thòi cũng cho thấy, tục thò Nữ th ầ n của cư dân Q uảng Nam - Đà N ằng
có nét gần gũi với vùng T hanh - Nghệ, vốh là vùng quê gốc của người Quảng
T riết lý âm dương, ngũ h àn h và lốỉ tư duy lưỡng phân lưỡng hỢp kết hỢp với nguyên lý Mẹ của người Việt truyền thông, cũng đã tác động đến việc thò cúng Ngũ H ành của dân biển Quảng Nam - Đà Nang Mối cảm quan về tín h cụ
th ể mà thống n h ấ t của Bà Trời - Mẹ cai quản vùng bao
q u át n h ấ t và sự cụ thể hoá, linh thiêng hoá những thuộc tín h của Bà, là cơ sở cho việc duy trì tục thờ cúng các Bà
Mẹ kiến tạo nên vũ trụ và vạn vật - Bà Ngũ H ành Nguồn
tư liệu trên sách vở cho th ấy tín ngưỡng thò Bà Ngũ H ành đặc biệt p h á t triển ở vùng T rung và Nam Bộ, mà trước
n h ấ t là ở vùng T huận - Quảng [60], [135], [157]
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẰNG
1 2 2
Trang 17-Ngoài những điểm nêu trên, thì việc thò Nữ th ần và
M ẫu th ầ n của cư dân ven biển Q uảng Nam - Đà N ắng còn
có những nét đáng lưu ý
Trước h ết là cách biểu tượng hoá đối tượng thò phụng:
Cũng là thờ Bà C húa Ngọc / Thiên Yana, nhưng đ ất Quảng không "cấp" và lưu tru y ền một huyền tích, huyền thoại nào về Bà Bà tồn tạ i trong đòi sông tâm linh của các làng ven biển với tư cách hiển nhiên của th ầ n Mẹ bổn xứ M ặt nữa, do không thuộc khuôn khổ Đạo M ẫu chính thống nên cách thò phụng Thiên Yana / Chúa Ngọc tấ t nhiên không
có điện th ầ n và nghi lễ như ở H uế hoặc ở Bắc Bộ Nói rõ hơn: vì chưa là th à n h tô" của Tam phủ, Tứ phủ nên điện
M ẫu ở Q uảng Nam - Đà N ang "tường minh", đơn giản
trong bài trí, phối thờ, và khiêm tổh về sô" lượng th ầ n linh:
1/ Vê bài trí\ thường thò một Mẫu, m ang tư cách là Thần
Mẹ Việc phối thờ cũng đậm tín h chất M ẫu (Thiên Yana kết hợp với Bà Ngũ H ành) chứ không kết hỢp theo kiểu tứ giáo: M ẫu, P h ậ t (P hật Bà Q uan Âm, P h ậ t Thích Ca), Quan Thánh, và các đô"i tưỢng khác như: Thổ th ần , Thổ địa, Âm
hồn, như một vài dinh Bà Q uảng Ngãi [162, tr.63] 2/ Hệ
thống thần linh được phối tự trong các lăng Bà Quảng
Nam - Đà N ang có xu thê hồi quy hướng về "độc Mẫu"/
n h ấ t th ầ n M ẫu, nên không tích hỢp đông đảo th ầ n linh theo th ứ bậc, gồm: Tứ phủ công đồng-> Tứ phủ chầu Bà-> Ngũ vị Tôn Òng-> Tứ phủ Q uan Hoàng-> Tứ phủ T hánh
- 1 2 3
Trang 18-Cô-> Tứ phủ T hánh Cậu, như các điện thò M ẫu ở Huê [129, tr.43]; hoặc như hệ thống th an g th ứ bậc phổ biến ở miền Bắc: Ngọc Hoàng-> T hánh Mẫu-> Quan-> Chầu-> Ông Hoàng-> Cô-> Cậu-> Ngũ Hổ-> Lốt, m ang tín h chất
đa th ầ n với khoảng 60 vị th á n h [128, tr.õ8] Hệ thông các bậc th ầ n linh trong các lăng miếu Bà ở Quảng Nam - Đà
N ang thường theo kiểu: Mẫu-> Tả ban, Hữu ban (phôi tự các loại thần)-> Cậu (Quý, Tài), hoặc Tiền hiền, H ậu hiền Ngoài cách sắp xếp này, một vài lăng có thể thêm vài th ần linh khác, nhưng phần lớn chỉ còn vang bóng trên bài vị và trong văn tế Có th ể tư tưởng thò M ẫu theo kiểu thò "nhất
thần" ấy đã tạo cơ sở cho sự hoá thiêng từng N ữ thần
thành M ẫu thần, mà Bà Dàng Bô / Thu Bồn, Bà Chợ Được,
Bà D àng Chào, Bà Thuỷ Long, Bà Thuỷ, Bà Hoả, đã là kết quả của sự "nâng cấp, lên khuôn" đó Có lẽ th ế mà phổ biến ở vùng ven biển Q uảng Nam - Đà Nẵng là mỗi lăng miếu thường chỉ thờ một Mẫu
Và cũng qua xu hưống thò phụng đó, có th ể hiểu về một đặc điểm trong tư tưởng cư dân ven biển Q uảng Nam -
Đà Nang là r ấ t đậm tín niệm thò M ẫu theo kiểu hệ thông
"thần M ẫu ba ngôi làm một" 0 đây, sự tích hỢp và phân
th ân theo tín niệm "Tam vị n h ấ t thể" được tập tru n g trong hình m ẫu Thiên Yana Cho nên, bên cạnh các vị th ầ n bảo
hộ khác, dân biển đã tìm th ấy ở các dạng hoá th â n của Thiên Yana sức m ạnh bảo trỢ của Mẫu Thiên, M ẫu Thuỷ
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
- 1 2 4
Trang 19-và M ẫu Địa, đặc biệt là M ẫu Thuỷ Một tập hợp các Bà như: Bà Dàng Lồi, Bà Dàng Lạch, Bà Dàng Bô, Bà Chúa ghe và vật phẩm dâng cúng cũng như vật thò (ghe đua) và tục đua ghe, đã chỉ ra đây là các nữ th ầ n bảo hộ cư dân sông biển nhưng có căn cốt hoặc cách thức thờ theo Mẫu
th ầ n Thiên Y a n a '’'^’
Một n ét đặc biệt khác trong tín ngưỡng thò M ẫu của
cư dân ven biển Q uảng Nam - Đà N ang là xu hướng
th iên g hoá các v ật th ể trong lòng đ ất th à n h Nữ thần,
M ẫu th ần Nói cách khác là xu hướng "hoá Mẫu" các vật thờ của cư dân tiền Việt Theo đó, nhữ ng v ật p h á t lộ trong lòng đ ấ t đều quy là thuộc âm, do vậy m à m ang tín h nữ
Vì th ê nên phiến đá, tượng Nam th ầ n "mọc lên" từ đ ất nơi nào thì trở th à n h "Bà C húa xứ" của nơi ấy, gắn với niềm tin về sức m ạnh và sự linh th iên g của Bà Mẹ Đ ất - Mẫu Địa D ạng thờ p hụng theo con đường hoá th â n dân dã này đều có ở ba m iền - đồng bằng, biển, n ú i rừng, và diễn ra khác h ẳ n khi so với các dạng hoá th â n của Bà C hủa Liễu
ở m iền Bắc và Bà C húa Xứ ở m iền Nam M ặt khác, sự
M ẫu hoá các di v ật lồi lên từ m ặt đất, có th ể còn chịu ảnh hưởng và sự tác động từ tục thò đá, thờ th ầ n của cư dân Trường Sơn - Tây Nguyên, và cư dân thuộc nhóm Môn - Khơme Sự ản h hưởng không nhữ ng biểu hiện qua ngôn ngữ là từ tô' "Dàng" trong các d an h xưng; D àng Lồi, Dàng Lạch, D àng Bô, mà còn th ể h iện qua việc b ắ t chước lưu
1 2 5
Trang 20-giữ một sô" đồ thờ như lọn tóc của phụ nữ; chiếc ghe đua
N hững v ật này vừa là đồ thò, vừa được xem là v ật ký thác của M ẫu th ần , giông như cư dân vùng Trường Sơn - Tây
N guyên thường có vật ký thác của các th ầ n Yang / Giàng/ Dàng, đưỢc thờ trong n h à Rông hoặc các m iếu thờ trong rừng [60, tr l5 0 - lõ l] Như thế, các yếu tô" văn hoá Việt, Chăm, Tây Nguyên đã tích hỢp và hoà trộn, làm nên biểu tưỢng của Bà Mẹ Việt Nói khác đi, tín h đa nguồn là một đặc điểm trong tín ngưỡng thờ M ẫu của dân biển Q uảng Nam - Đà Nắng
Tính lưỡng diện của các N ữ thần và M ẫu thần cũng
là một đặc điểm riêng của tín ngưỡng thò M ẫu của vùng biển Q uảng Nam - Đà Nang Quá trìn h linh thiêng hoá đá
th ầ n và tượng th ần không phải bằng việc "cấp cho" những
th ầ n tích của P hật, Tiên, hay những oan k h u ấ t của người con gái, mà có lẽ xuất p h á t từ sự sỢ hãi do cảm th ấy đã xúc phạm những vật thiêng từ lòng đất Từ đó dẫn đến mô típ hoá thiêng các Bà theo một diễn trình: mọc/ lồi từ đất lên / không ai thờ cúng / không gian nơi "Bà" trở th à n h "cái cấm" để hoang, không ai dám đi ngang qua đó / Bà phá phách làng xóm rồi "đạp đồng ngang" (phụ đồng th ẳn g vào một người dân trong làng) xưng danh tín h / D ân làng sợ lập miếu thò / từ dữ, ác chuyển sang hiền và bảo trỢ cho cuộc sông của dân làng, nên từ đó được suy tôn là T hần Nữ linh ứng Vói các n h ân v ật cụ thể như Bà Bô Bô, Bà Dàng
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẢNG
1 2 6
Trang 21-Chào, Bà Chợ Được, tuy đều có th ầ n tích "nữ nhân" nhưng điểm x u ất p h á t thờ cúng cũng từ giáng hoạ rồi chuyển sang ban phước*’®’.
Sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá của tín ngưỡng thò
M ẫu ở vùng biển Q uảng Nam - Đà x ẵ n g cũng có đôi nét khác biệt với một sô' nơi khác, như; không có phần hội liên quan đến Bà Đại Càn như ở vùng gốc của Bà (Đền Còn có tục Chạy ói, lễ rưốc Gỗ th ần , lễ tê T rầu, lễ rước thuyền Ngự du xuân), cũng không có ngày riêng tổ chức lễ tê Bà Đại Càn với các lễ v ật như cá sốhg, lễ tam sanh (heo, bò, dê), tục đua trải, biểu diễn h á t m úa bông như một sô' làng ở Thừa Thiên - Huế; càng không có cảnh m úa bóng rỗi trong lễ tê Bà Đại Càn cầu ngư như vùng Đồng Tháp Mười, Nam Bộ [42, tr ll4 ]
N hưng Q uảng Nam - Đà N ang lại có p h ần hội với những "hoá th â n "của Thiên Yana, như lễ hội Bà Thu Bồn,
lễ hội Bà Chợ Được Đặc biệt, lễ hội Bà Thu Bồn cũng có nét gì đó giông lễ hội Đền Cờn (như lễ tê' trâ u hiến sinh), hay lễ tê' Bà Đại Càn ở một sô' làng Thừa Thiên - Huê (như đua thuyền)
Riêng đốì với Bà C húa Ngọc / Thiên Yana (và cả Bà Ngũ H ành) th ì r ấ t coi trọng p h ần Lễ mà không đặt nặng phần Hội Điều này phù hỢp với lô gích của thực tế Đó là
cư dân ven biển người Việt đã chấp n h ậ n một m ẫu hình có sẵn, linh thiêng, huyền ảo hỢp với tâm thức thò Mẹ của
1 z v
Trang 22-mình, cho dù vô n h ân ảnh (vì vậy nên không có lễ tắm tượng/ mộc dục trong lễ tế) Do thò phụng nặng về tín lý, nên tê tự th ì diễn ra thường niên, nhưng không nơi nào có Hội linh đình kiểu như Hội T háp Bà (Xha Trang), hay Hội Điện Hòn Chén (Huế), mà chỉ có một khuôn thức chung, phổ biến là Đua ghe và H át bộ Một sự đơn điệu trong phần Hội nhưng hỢp lý, bởi đấy là th ầ n Mẹ "có sẵn" của vùng đ ất "khác Việt" đã được Việt hoá.
Tóm lại, tín ngưỡng thờ M ẫu của cư dân ven biển
Q uảng Nam - Đà x ẵ n g lộ diện rõ hai lớp thò là Nữ th ầ n và
M ẫu thần Nhưng xu th ế M ẫu th ầ n luôn là điểm đích vươn tới theo tín niệm th ầ n M ẫu Xứ sở Sự p h ân x u ất đôi tượng nào là Nữ thần, đối tượng nào là M ầu th ầ n là công việc của người nghiên cứu, còn trong tâm thức cư dân biển thì tấ t
cả đều nằm trong một phạm trù Bà / Mẫu
Như thế, dòng chảy của tín ngưỡng Mẹ của người Việt đã không hề bị đứt đoạn ở vùng đ ấ t mới, m à nó đã chuyển hoá biểu tượng một cách tự nhiên, phù hỢp với điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử ở Q uảng N am - Đà
x ẵ n g , một vùng đ ất r ấ t đậm dấu ấn văn hoá đa nguyên: Chăm , Việt, và các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khơme
M ặt nữa, tục thờ M ẫu của cư dân biển Q uảng Nam - Đà
x ẵ n g còn biểu hiện cho ước vọng n h â n sinh, trường tồn của người Việt là cầu mong sự phồn th ịn h , phúc đức dưói
sự bảo trỢ của Mẫu
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẨNG
- 1 ZB
Trang 23-\y //ỵ 7 v í
3.2 TĨN NGƯỠNG THỜ ÂM LINH / CÕ BÁC
Âm linh / Cô Bác là cách gọi phổ biến của cư dân ven biển Q uảng Nam - Đà x ẵ n g dành cho các vong hồn / vong linh b ất hạnh Bản chất thờ cúng biểu hiện tìn h cảm yêu thương và tôn quý con người, đồng thòi còn phản ánh nguyện vọng của dân biển muốn Cô Bác hộ trì để cuộc sổhg được an làn h và no đủ
3.2.1 Quan niệm và niềm tín
Xét từ cội nguồn, hình th á i tín ngưỡng thò Âm linh
của cư dân ven biển Q uảng Nam - Đà N ẵng thuộc dạng
thờ Cô hồn - m ột tín ngưỡng tru y ền thông của người Việt,
như ng đã có sắc th á i riêng trong q u an niệm , niềm tin và cách thức biểu hiện Cô hồn, theo q u an niệm tru y ền thống của người V iệt là hồn người chết không có họ h àn g th ân thích thò cúng [96, tr 196] Đạo P h ậ t quan niệm , Cô hồn
gồm mười loài của tứ sanh và lục đạo^^^\ gọi là thập loài
Cô hồn Đó là m ột cộng đồng vong hồn gồm đủ loài từ vua
q u an đến th ứ dân, từ giàu sang đến nghèo hèn, từ con người đến côn trù n g th ú v ật [138, tr.l3 8 ] Hơi khác với quan niệm của đạo P h ật, quan niệm Cô hồn của dân biển
Q uảng N am - Đà N ang vừa m ang nội dung tru y ền thống, vừa có thêm ý nghĩa mới Theo đó, th ập loại Cô hồn chỉ có
"loài người", gồm các dạng chủ yếu như: vong hồn có cái chết không bìn h thường (dân gian gọi là chết b ấ t đắc kỳ
1 2 9
Trang 24-tử), vong hồn người chết m ất xác trên biển vì nghiệp biển, vong hồn chiến sĩ trậ n vong, và vong hồn tiền chủ của vùng đất "tiền Việt" D ân biển suy tôn các dạng Cô hồn này là Ầ m lin h và gọi tấ t cả bằng từ xưng hô "th ân m ật"
là Cô Bác Cô Bác, theo quan niệm của dân biển, có năng
lực, quyền uy chi phôi đáng kể đến cuộc sống của cộng đồng và nghề biển Vì vậy phải thò phụng chu đáo để cầu mong được phù hộ, chở che, đồng thòi cũng trá n h được sự trừ n g p h ạ t do sự thò ơ của cộng đồng người sông đôl với
Cô Bác Một tục lệ phổ biến ở các làng ven biển là, khi xảy
ra những việc như đánh nhau, trộm cắp, ôm đau, dịch bệnh, m ất m ùa biển thì phải mời th ầy chùa về tụng kinh ba đêm, kèm theo đó là các ông ch án h tê và bồi tế phải dọn m ình sạch sẽ, ăn chay nằm đất 3 ngày 3 đêm tại lăng Âm linh, ớ Đà x ẵ n g , các làng biển T h an h Khê, Hà Khê, Xuân Hà, Nam 0 , Thạc Gián, đều lưu tru y ền câu vè
k h ẳng định vai trò của Âm linh / Cô Bác trong đời sông cộng đồng (riêng làng Xuân Hà còn ghi th à n h câu liễn thờ trong lăng)
Ngoài biển có lịnh ô n g ủng hộ Trong bờ nhờ Cô Bác phò trì.
Cụ thể, có các loại "vong" dưới đây được suy tôn là Âm linh / Cô Bác
- Vong linh của mười loại người chết vì mười nguyên
do khác nhau Các nguyên do đó được thể hiện r ấ t rõ trong
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẢNG
1 3D
Trang 25-i ỵ ể / ỵ r / t
bản ■'Văn tế Cô hồn" của các làng biển Đó là các n ạn nhân
bị ôn dịch, bệnh tật, chiến tran h , bão lũ, là những người bị xiêu mồ lạc nấm nơi đầu gành cuối bãi X hìn chung, đó là những người lúc sống có th â n phận không may, thác đi thì vong linh phiêu dạt, mồ mả không ai chăm sóc khói hương
- Vong linh của dân sở tại: Cũng là vong hồn của
những cái chết "bất đắc kỳ tử" nhưng có nguồn cội, danh tính, bởi là th à n h viên của các chư phái tộc trong làng Xhưng do thác ở nơi khác và h ầu h ết bị th ấ t lạc mồ mả, nên các đốì tượng này cũng quy về dạng Am linh / Cô Bác, cho dù tên tuổi được ghi vào cuốn phổ hệ (gia phả) của làng, đ ặt thờ trong lăng Ảm linh
- N g ư dán các đời của các tộc họ đã bỏ m inh trên biển
trong cuộc m ưu sinh từ xưa Đối tượng này được tôn là tiền hối nghề biển của làng vạn*^*^\ Họ vừa được thờ cúng ở làng
vừa được thờ ở gia tộc (thò vọng), song ở làng là chủ yếu
Sự thò cúng x u ấ t p h á t từ quan niệm của cộng đồng người sông rằng, nỗi đau m ất m át không của riêng ai mà là nỗi đau chung của cả cộng đồng Việc thò cúng đậm tín h chất thò Tổ tiên
- N hữ ng người k h u ấ t m ặ t hay còn gọi là "Khách" Có
lẽ đây là cách gọi tế nhị và tôn trọng của dân Việt để chỉ người Chăm, vốn là chủ th ể của một nền văn hoá "tiền
Việt" và là tiền chủ vùng đất, vùng biển A m aravati xưa
Xưa cũng như nay, các nghi lễ liên quan đến cuộc sống và
1 3 1
Trang 26nghề biển của cộng đồng dân biển Q uảng Nam - Đà Nang bao giò cũng có phần dành cho / liên quan đến Người k h u ấ t
m ặt, như: lễ cúng vong ò gia đình và cộng đồng, lễ tổng ôn
đưa khách của cộng đồng.
- Chiến sĩ trận vong: Các chiến sĩ tử trận , không phân
biệt "bên ta bên địch", cũng được quy về một dạng Ảm linh Việc thò cúng Chiến sĩ trậ n vong có lẽ b ắ t đầu từ đòi các chúa Nguyễn và p h át triển "bài bản" vào đòi các vua Nguyễn, gắn với sự th ắn g th ế và hưng th ịn h của Nguyễn
triều, do vị vua đầu triều - Gia Long quy định Theo Hoàng
Việt long hưng chí, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã chiếu
dụ cho hai tỉn h Bình Định và Phú Yên, nơi đã từng xảy ra các cuộc giao tra n h ác liệt giữa đội quân của Nguyễn Ánh
và của Tây Sơn, lập miếu thờ chiến sĩ trậ n vong [31,
tr 358-359] Vào thời vua Tự Đức, tại Huế, năm 1883 xảy
ra trậ n quân Pháp tấn công cửa T huận An, làm cho gần
4000 lính thương vong; năm 1885 kinh đô H uế th ấ t thủ, sau cuộc giao tra n h với quân Pháp khiến nhiều binh sĩ tử trận Tại Huê hiện nay còn duy trì lễ cúng hồn những người chết trậ n vào ngày 23 th án g 5 âm lịch h àn g năm [158, tr.l0 4 ] Việc làm của triều đình đã lan toả đến n h ân dân, vì phù hỢp với tìn h cảm tâm linh và lòng n h â n ái của người Việt Tuy nhiên, quan niệm và h àn h vi thờ cúng Chiến sĩ trậ n vong ở làng xã "mở" hơn triều đình Làng xã không phân biệt "ta, địch"; trong khi đó, triề u đình chỉ chủ
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẮNG
- 1 3 2
Trang 27trăm ngôi mộ nghĩa sĩ tử trậ n như ỏ Hoà Vang và Phước
Ninh (Đà Nẵng), thì ở các làng quê ven biển, việc quy tập, gìn giữ mộ phần và thờ cúng Chiến sĩ trậ n vong cũng có vai trò quan trọng trong đời sông tin h th ầ n của cộng đồng, gắn với niềm tin về sự linh thiêng, phù trì của vong hồn nghĩa sĩ cho cuộc sông Việc thờ cúng diễn ra dưới hình thức thờ độc lập hoặc phôi thờ trong lăng Ẩm linh
3.2.2 Những biểu hiện của tín ngưdng thd Âm linh f
C ô Bác
3.2.2.1 Lăng thờ và N ghĩa trũng
Việc thờ cúng Âm linh / Cô Bác của cư dân ven biển thể hiện ở hai cấp độ là gia đình và làng vạn Theo giới hạn của lu ận án, chúng tôi chỉ trìn h bày ở cấp độ cộng đồng
1 3 3
Trang 28-Biểu tượng của thò Âm linh / Cô Bác ở hầu khắp các làng vạn là hai cơ sở thờ tự, một thờ p h ần hồn, gọi là
"lăng Ảm linh" hoặc "sở Cô Bác", một để quy tập, chôn cất, chăm sóc và gìn giữ phần xác gọi là "Xghĩa trũng" hoặc "mả Ảm linh"
Lăng Ảm linh / sở Cô Bác là nơi quy tập vong linh vô
th ừ a n h ậ n '’’^’ Các ngôi lăng tương đối giốhg n h au về vị trí, quy mô và phương hướng Phổ biến là được xây dựng gần
và cùng hướng với lăng Ong ngư (m ặt chính hướng ra biển) Kiểu thức kiến trúc phần lớn đơn giản và cũng m ang dáng dấp của đình làng xứ Quảng*^‘’’ v ề tra n g trí kiến trúc, đa phần tra n g trí theo mô típ kiến trú c thời Nguyễn, với bình phong, trụ biểu - đầu cột trụ bao giò cũng là hình hoa sen đắp nhô cao T rên đường đỉnh mái có hình "lưỡng Long chầu Nguyệt" đắp bằng sành sứ Chữ thò trong lăng phổ biến là chữ "Linh" hoặc "Anh linh"
Một nét đặc trư ng để n h ận diện ra lăng Âm linh là thường có thờ Tiêu Diện Đại Sĩ, mà theo quan niệm dân gian Q uảng Nam - Đà Nẵng, đây là th ần chỉ huy Cô hồn,
Âm hồn Tiêu Diện được thờ vọng trong khám riêng hoặc đưỢc biểu trư ng bằng một giá kỉnh, trên đó ghi hai chữ
"Đại Sĩ", như các lăng T hanh Khê (xin xem sơ đồ sô’ Õ.IO, phần Phụ lục), Bắc Ninh, An Hải - Đà Nẳng, lăng Phước Trạch - Hội An (riêng lăng Âm linh của làng biển Phưóc Trạch (Hội An) còn có cả tượng Tiêu Diện, với hìn h dạng
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỂN QUẢNG NAM • ĐÀ NẴNG
- 1 3 4
Trang 29.Ầừ/rỈAé
trông đen nhẻm và gân guồíc) hoặc "Sĩ Vương", như lăng
Tĩnh Thuỷ, Tam Thanh, Q uảng Nam {xin xem sơ đồ sô'5.9,
ph ầ n Phụ lục) Tại đâv, bàn thò Sĩ Vương có hai câu đôi
nói rõ chức năng và quyền uy của Tiêu Diện Đại sĩ:
Thống ngự thiên tà tuân thiện lạnh Chỉ huy thập loại thị hùng oai.
Một vài nơi lập miếu thờ Chiến sĩ trậ n vong bên cạnh lăng Âm linh, như làng M ân Thái, làng T hanh Khê (Đà
x ẵn g ), sô còn lại phối thò Chiến sĩ trậ n vong trong lăng
Âm linh, như: làng Tĩnh Thuỷ (Tam Kỳ), làng Xam Thọ, làng Xam 0 (Đà xẵn g ) Một nét đặc trư ng của miếu / lăng thờ Chiến sĩ trậ n vong là thường có bàn án thờ Quan
T hánh (Quan Vân Trường) {xin xem ảnh s ố 45 mục 4, phầ n
Phụ lục).
Trong ý thức của dân biển Q uảng Xam - Đà x ẵ n g , lăng Àm linh là nhà thờ chung của làng, tức của các chư tôn tộc phái, nên còn được gọi là "đình thờ" Cá biệt như làng T hanh Khê (Đà x ẵ n g ) lại gọi kiến trúc này là "lăng Tập linh", với ý nghĩa đây là nơi quy tập linh hồn Tổ tiên của các chư tôn tộc phái trong làng, đã bỏ m ình trên biển
vì bão tô Lăng Tập linh còn được gọi là N hà thờ truyền
thống nghề cá làng Thanh Khê, với cung cách thờ phụng
như thờ các bậc Tổ tiên / Tổ sư nghề biển của làng'^”
Hầu hết các lăng Am linh do cộng đồng th iết lập, song cũng có nơi, ngôi lăng ấy do một cá n h ân lập nên đê tạ ơn
1 3 5
Trang 30-"cứu tử" của Cô Bác ngoài biển, như lăng Ảm linh của làng Xuân Thiều, Đà Nẳng'^^\
Gắn bó m ật th iế t với lăng Âm linh là Nghĩa trũng Các Nghĩa trũ n g thường được lập ở phía Tây, đổi với nơi thò phụng ở phía Đông, theo tục lệ tru y ền thông "mộ cư Tây, tự cư Đông", như Nghĩa trũ n g các làng M ân Quang, Phú Lộc, Nại Hiên, Nam 0 , T ân Lưu (Đà Nang), Điện Dương, Phước Trạch, Tam Hải, Tĩnh Thuỷ, Cù Lao Chàm (Quảng Nam) Đa số Nghĩa trũ n g chỉ có mộ phần, song, cũng có Nghĩa trũng, ngoài mộ ra còn có miếu thò, tường bao, bình phong và câu đôi, như Nghĩa trũ n g Tĩnh Thuỷ (Tam T hanh - Quảng Nam) {xin xem ảnh sô' 54, phầ n Phụ lục).
Nghĩa trũ n g là biểu tượng của tìn h cảm yêu thương, tôn quý con người, nên việc giữ gìn và chăm sóc là trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó còn có cả niềm tự hào, rằng người sông đã không quên những người bạc phận Điều này thể hiện qua việc làng vạn đã quy tập và gìn giữ được bao nhiêu ngôi mộ Âm linh Và càng có nhiều mộ càng thấy tự hào
3.2.2.2 N ghi lễ và phong tục
■ L ễ tế Ấ m Linh: Lễ t ế Âm linh còn gọi là lễ tê Cô hồn
/ Cô Bác, là nghi thức tế lễ thường niên (không kể những ngày sóc, vọng, dịp tế t Nguyên Đán) Ngày tế Ảm linh / Cô
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUẢNG NAM • ĐÀ NẮNG
- 1 3Ô
Trang 31-hồn tuy không thông n h ấ t một cách sít sao, nhưng vẫn có
th ể n h ậ n ra điểm chung về thòi gian tê tự ở nhiều lăng Đó
là thường diễn ra trong khoảng thời gian có các lễ tiế t liên quan đến P h ậ t giáo, như rằm th án g giêng (lăng Nam 0),
th án g ba (các lăng; M ân Thái, Điện Dương, Phước Trạch, Duy Hải, Tam Hải, Bình Mmh) và rằm th án g bảy (các lăng: Nại Hiên, Nam Thọ, M ân Quang, An Hải, Xuân Hà, Cẩm T hanh, Cù Lao Chàm) Một vài lăng tổ chức tê Ảm linh vào th án g tư âm lịch (lăng Tĩnh Thuỷ tê ngày 16/4, lăng Nam Thọ tế ngày 20/4) Ngoài ngày tê chính, tấ t cả các lăng đều tổ chức cúng tế trong ngày quẻ cơm hay còn gọi là ngày rẫy mả / chạp mả Âm linh / Cô Bác theo ngày lệ của làng mình
Lễ tế Âm linh của các lăng tương đối thống n h ấ t về diễn trìn h và lễ thức Không gian nghi lễ diễn ra cả trong và ngoài lăng Âm Linh Thường diễn ra trong hai ngày; Ngày
đầu gọi là lễ túc hoặc lễ chưng thường, hôm sau là lễ chánh
L ễ chánh được cử h àn h trong thòi gian "tinh khiết", khoảng
từ 1 giò sáng đến õ giờ Nghi thức tế lễ y nghi thức tế đình,
chỉ khác lời xướng - th ay vì xướng nghinh tôn thần cúc cung
bái th ì xướng nghinh âm linh cúc cung bái Làng nào có tổ
chức hội, phổ biến là h á t bội, chèo Cô hồn (hát bã trạo), đua ghe, thì các hình thức này được tổ chức sau lễ túc*^'*’
Lễ túc còn gọi là t ế ngoại đàn, nhằm th ỉn h mòi / gọi
hồn người chết, tiến h àn h tại sân lăng Tại đây, có hai bàn
1 3V
Trang 32án: bàn th ứ n h ấ t để cúng th ầ n T hành hoàng bổn xứ và Thổ Địa, với lễ vật gồm bình bông, hoa quả, vàng mã, và một bộ
đồ T hần bằng giấy đỏ; bàn th ứ hai để tế cáo Âm linh / Cô Bác, với nhiều thức cúng chay, cúng m ặn và đồ mã Thức chay là các v ật phẩm "lục cúng", gồm hương, hoa, đăng, trà, quả, thực; thức cúng m ặn có b án h trái, cơm canh, xôi thịt, cháo th án h , bỏng nổ, khoai sắn; đồ mã có vàng, áo, và nhiều hình th ế (bằng giấy) đàn ông, đàn bà, trẻ em
Lễ chánh t ế tiến h àn h trong lăng, với vật phẩm dâng cúng về cơ bản cũng giốhg như tê ngoại đàn Riêng bàn thờ hậu tẩm , vật cúng thường là một con gỏi (heo quay) H ãn hữu có lăng lễ vật trên bàn thờ h ậu tẩm là một con bê sông, bôi huyết toàn th â n (lăng M ân Q uang - Đà Nang)
- L ễ rẫy m ả Ả m linh' Là m ột lễ tục thông n h ấ t ở các
làng có N ghĩa trũ n g Rẫy m ả Ảm lin h thường tiế n h à n h vào buổi sớm m ai, trước m ột ngày của lễ túc T h àn h
p h ầ n th am gia p h ầ n đông là tr a i trá n g , do ông ch án h tế
và một sô" kỳ lão hưống dẫn Công việc gồm rẫy cỏ, vun lại nh ữ n g ngôi mộ 'sè sè", sau đó th ắ p hương (có làng
nh ư làn g P h ú Lộc, Đà N ắng, do giải toả làm đường nên các ngôi mộ được quy tụ về lăng, xây xi m ăng h ìn h nấm , nên chỉ có th ắ p hương cho từ n g mộ) Buổi chiều cùng ngày là lễ n g h in h th ỉn h , rưóc nồi hương (biểu tượng là
m ột cây hương) ở các nơi thờ tự khác của làn g về lăng
Ảm linh
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BlỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
1 3B
Trang 33\ y / /ỵ e ỵ t ^y^ổuryty
- L ễ quẻ cơm Cô Bác: Còn gọi là "giỗ hội" hay "hiệp
kỵ", dành cho Cô Bác thuộc các tộc họ trong làng đã bỏ
m ình trên biển, có tên tuổi được lưu giữ thò phụng trong
lăng Âm linh Ngày lễ chính là ngày giỗ chung thường niên
của cả làng để kỷ niệm người m ất, nên có một sô" khác biệt
so với lễ cúng tế Am linh nói chung
Dưói đây, chúng tôi xin miêu th u ậ t lễ quẻ cơm Cô Bác của làng T h an h Khê (Đà Nẳng), với tư cách là trường hỢp tiêu biểu
Làng T hanh Khê tổ chức lễ quẻ cơm Cô Bác trong hai ngày 23, 24 th án g 3 Âm lịch Có các lễ thức và tục lệ sau:
+ L ễ nghinh T huỷ lục: Tiến h à n h vào rạn g sáng
ngày 23, là lễ nghinh rước các bậc Thuỷ th ầ n và linh hồn
Cô Bác về lăng (thay cho lễ rẫy m ả Am linh, vì Cô Bác đã vong th â n ngoài biển) Đoàn ngh in h gồm các vị trong ban
tế tự và các bô lão Nghi trượng đi nghinh gồm chiêng trông, cờ th ầ n , lỗ bộ, đèn lồng, giá hương (trên giá luôn có
ba cây hương đang thắp), long đình (trong đó có bình bông, n ải quả, nồi hương, vàng m ã và b ản văn "Nghinh
T huỷ lục") do bốn học trò lễ khiêng Địa điểm làm lễ
N ghinh Thuỷ lục là tạ i bến - nơi x u ấ t p h á t của ghe
th u y ền (xin xem ảnh s ố 47 m ục 4, p h ầ n P hụ lục) N ghinh
Thuỷ lục mở đầu bằng việc ông ch án h tế th ắp ba nén hương trước long đình để xin phép Cô Bác ngụ nơi bồi bãi Các nghi thức tế lễ thực hiện ngay sau đó N ghinh Thuỷ
- 1 3 9
Trang 34-Lục có đọc văn tê (nhưng không hoá ngay, m à rước lại về lăng Bản văn sẽ được hoá sau khi hoàn t ấ t lễ "Nghinh Thuỷ th ầ n n h ập điện'" tạ i lăng).
T rên đường về lăng, đoàn N ghinh Thuỷ lục đi đến các nơi thò tự khác của làng là lăng Ong, miếu Bà, miếu xóm
để th ắp hương trìn h báo và th ỉn h chân nhang, v ề đến láng
Cô Bác, khi lòi xướng "nghinh Thuỷ th ầ n nhập điện" vang lên, th ì các chân nhang (tưỢng trư n g cho các đối tượng được nghinh th ỉn h ở các cơ sở thờ tự) cũng được rước vào lăng, th ỉn h lên các bàn thờ Tiếp nối là nghi thức dâng hương, rưỢu và trà Sau đó, đại diện các gia đình, các chư tôn tộc phái, các cụ bô lão, các bà, các chị đến cúng hương
và th ắp hương cho Cô Bác
+ L ễ khai kinh thỉnh P h ậ t cầu siêu: Được tiếp nôi khi
lễ N ghinh Thuỷ lục hoàn tất, do các nhà sư, ban tê tự và đại diện các đạo hữu (người tu tạ i gia) thực hiện Bàn thò khai kinh để đọc kinh cầu siêu đ ặt trước bàn Hội đồng gian chánh điện, chia làm hai lớp: trê n cao đ ặt ản h Đức P h ậ t A
Di Đà, bên cạnh là cuốn kin h N h ậ t tụng', lớp th ứ hai là bàn
tụ n g kinh, trên đó có bình hoa huệ, một đĩa cơm úp, một ly nước, một b á t trầm , một đĩa đậu phụng Sau tiếng chuông,
mõ và ba hồi chiêng trống, nghi thức k h ai kinh b ắ t đầu Đầu tiên là nghi thức "chư tăn g đắp y hậu", là lễ mặc áo y (áo cà sa) n h à P h ậ t của các vị sư Tiếp đến là nghi lễ "Khai kinh bạch Phật", với nghi thức mở đầu là tẩy trần , nghĩa là
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẨNG
- 1 4D
Trang 35-tẩy đi tấ t cả u ế tạp Xghi thức này do vị sư cả thực hiện: một tay sư cầm ly nưốc (gọi là "tịnh thuỷ") lấy trên bàn
thò, trong ly có bông cúc vàng, miệng đọc chú bài "phù thử
thuỷ"\ một tay cầm ba nén hương, huơ quanh ly nước rồi
lần lượt rẩy lên tấ t cả các bàn thờ trong và ngoài lăng Sau
đó, các sư làm nghi lễ th ỉn h kinh và tụ n g kinh ở trong lăng Trước khi tụng phải có nghi lễ "tuyên sớ", mà thực chất là đọc văn cúng th ỉn h mời chư vị th á n h thần, Cô Bác
Kể từ khi tuyên sớ, chánh tế, tả hữu p h an hiến (bồi tể), phải quỳ tại các vị trí của mình Riêng chánh tê không chỉ quỳ mà tay còn bưng một cái đĩa, trong đĩa có một tờ sớ để
ngang, trên só là ba cây hương đang th ắp {xin xem ảnh sô
48 m ục 4, p h ầ n P hụ lục).
Tiến h àn h lễ đọc kinh cầu siêu, ngoài các nhà sư, còn
có sự th am gia của các đạo hữu Thời gian tụ n g niệm khoảng hai giờ, sau đó nghỉ ngơi, uống nước; đợi đến đúng
Xgọ, tức 12 giờ trư a th ì làm lễ Cúng Xgọ, còn gọi là lễ cúng
chay cho Cô Bác.
+ L ễ cúng Ngọ: Thực chất cũng là lễ cúng và tụng
niệm cho Cô Bác ở ngoài lăng và trong lăng Trước tiên là
lễ ngoài lăng Tại đây, có hai bàn án với nhiều lễ vật và các bài vị cúng th ầ n (thần Thổ Địa và T hành hoàng bổn xứ), Tiêu Diện Đại Sĩ và Cô Bác Lễ vật cúng Tiêu Diện và Cô Bác gồm nhiều đồ mã (áo, giấy, vàng bạc, tiền, trong đó có
cả những tò hai trăm và năm trăm tiền th ật) với thức cúng
1 4 1
Trang 36chay, được chê biến th à n h các món: cơm, canh, đồ xào, bánh tét, bánh tráng, b á t đường, cháo th án h , khoai, sắn, bỏng nổ, trầ u rượu Cùng với thức cúng là 12 bài vị, trong
đó một bài vị lớn n h ấ t của Tiêu Diện, sô" còn lại của Thập loại Cô hồn / Cô Bác Hai bên bàn cúng Tiêu Diện và Cô Bác đ ặt hai bàn, bên trên bày những phương tiện đánh b ắt của làng vạn từ thuở thô sơ đến thời hiện đại - một bên là mấy chiếc ghe buồm và th ú n g chai, phương tiện của nghề
m ành chuồn xưa kia, một bên là m ấy chiếc tầu , m ấy chiếc
th ú n g - phương tiện đánh b ắ t hiện đại thời nay
Lễ cúng Ngọ tụ n g kinh ngoài lăng tiến h à n h sau khi các nhà sư đã khai kinh tụ n g niệm trong lăng hết một
tu ần hương Lễ tụ n g kinh ngoài lăng giông lễ trong lăng ở chỗ, trong khi các nhà sư tụ n g niệm, chánh tê phải quỳ, trên tay cầm ba nén hương đang thắp Bản kinh chính là
bài Văn cúng thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, được
đọc theo kiểu tụ n g niệm, đôi khi pha thêm giọng hò H uế
{xin xem ảnh s ố 48, 49 mục 4, p h ầ n Phụ lục).
+ L ễ th í thực Được tiếp nối sau khi đã tụ n g kinh xong
Thực hiện nghi lễ này là ông chánh tế vối sự "phụ hoạ" của các nhà sư Các lễ vật như bánh trái, hoa quả, khoai, sắn, đưỢc đem th ỉ một nửa, còn một nửa cho trẻ con trong làng, những Cô hồn sốhg theo phong tục cổ truyền Đồ mã, bỏng
nổ, cháo th án h do chánh tế th í thực theo tiếng tụng kinh của vị sư cả, gọi là "tụng nguyện p h át chứng"
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
- 1 4Z
Trang 37-+ L ễ hoàn kinh: Là lễ kết thúc việc khai kinh cầu siêu
cho Cô Bác Lễ tiến h àn h trong lăng, ngay sau lễ th í thực cho Âm linh / Cô Bác / Cô hồn Nghi lễ hoàn kinh diễn ra như lễ khai kinh th ỉn h P hật, chỉ khác là thêm một lần nữa các sư lại tụ n g bài văn cúng Cô hồn Bài văn cúng này được vị sư cả "hoá" đi sau đó Cùng lúc chuông, mõ vang lên, rồi một hồi chinh cổ Lễ hoàn kinh kết thúc Các bản văn cúng gồm N ghinh Thuỷ lục và sớ, đến lúc này, mới đem hoá
+ L ễ phóng sinh phóng đăng: Tiến h àn h vào buổi tốì
cùng ngày tại bến Chim phóng sinh là chim sẻ; đăng (đèn)
là 28 cây nến được th ắp trong những hình hoa sen làm
bằng giấy m àu vàng, gọi là "đèn bát Đồ lễ phóngsinh đ ặt trong chiếc ghe thúng Trước khi phóng sinh, chánh tế th ắp hương xung quanh bò bãi, hướng m ặt ra biển k h ấn vái cầu Thuỷ th ần , Cô Bác chứng giám lòng
th à n h của làng vạn, xin hãy phù hộ cho được bình an
+ L ễ túc: Diễn ra ngay sau lễ phóng sinh, phóng đăng,
ở hai nơi là trong lăng và ngoài lăng Đây là lễ cáo T hần và
Âm linh / Cô Bác / Cô hồn, Chiến sĩ Lễ thức diễn ra theo nghi thức tê tự y như các lễ khác Thòi gian kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ, trong đó có dành thòi gian cho dân làng đến th ắp hương và vái lạy Cô Bác
+ L ễ chánh: Tiến h àn h vào rạn g sáng ngày hôm sau -
ngày 24 Các nghi thức diễn ra y như các cuộc tê T hần của
1 4 3
Trang 38lễ chánh ở đình lăng Lễ tất, dân làng, n h ấ t là th â n nhân của các nạn n h ân bỏ m ình trên biển từ bao đòi nay, lần lượt đến cúng hương và quỳ lạy.
P h ần nghi lễ quẻ cơm Cô Bác của làng T h an h Khê đến đây hoàn tất Xăm nào có kinh phí mở hội th ì phần hội diễn ra ngay sau đó với cảnh h á t bạn chèo, h á t bội và bơi đua
- Tục tông ôn: Đây là một nghi lễ / phong tục nằm
trong diễn trìn h lễ tê Âm linh của hầu h ết các làng biển
Q uảng Xam - Đà X"ẵng, còn gọi là lễ "tống cói hạ kỳ" hay
"tống ôn đưa khách".
Gọi lễ tông ôn là lễ tống cói hạ kỳ là do kiêng kỵ
Trong ngôn ngữ dân biển Quảng Xam - Đà x ẵ n g , những
điều xúi quẩy, u ế tạp, đều gọi là "cói" Cói có lẽ là cách nói
trạ i đi do kiêng kỵ từ "quái", hoặc "cuối" (quái điều xấu,
điều dữ; cuối là tận, là chót), do các từ này có nội dung hàm
nghĩa kết thúc, tận cùng Tông cói đi liền với hạ kỳ (cò) để sau đó bưốc vào m ùa đánh b ắt mới Còn gọi lễ này là lễ
tống ôn đưa khách^'^^^ vì bên cạnh việc tông ôn, làng vạn
còn đưa tiễn vong hồn Cô Bác và Người k h u ấ t mặt.
Mục đích lễ tông ôn / tống cói hạ kỳ / tông ôn đưa
khách là đê tống tiễn xua đuổi ôn hoàng dịch lệ, đồng thời
đề đạt nguyện vọng của cộng đồng dân biển được Cô Bác,
các ngài k h u ấ t m ặt và các thần linh phò trì để có cuộc sông
bình an
TÍN NGƯỠNG Cư DÁN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
- 1 4 4
Trang 39Địa điểm tiến h àn h lễ tông ôn tại lăng Àm Linh Một vài nơi tiến h àn h ở đình làng (làng M ân Quang, làng Mân Thái - Đà Nẵng) hoặc lăng Bà (làng Nam Thọ - Đà x ẵ n g , làng Hà My, Điện Dương - Quảng Nam, làng Hói Láng, Hội An - Q uảng Nam) Thực hiện lễ thức là ban k hánh tiết
do ông hội chủ làng đứng đầu cùng đại diện các chư tôn tộc phái trong làng Có làng còn mời thêm thầy chùa th am gia vào nghi lễ như làng Nam 0 , làng Nại Hiên (Đà Nang) Thời gian tiến h àn h thường chỉ một buổi sáng, trước lễ chính của lễ tế Âm linh, nhưng sự chuẩn bị các công đoạn
và phương tiện, nghi trượng h àn h lễ thì từ nhiều ngày trước đó
Nghi trượng quan trọng nhất, b ắ t buộc phải có là
chiếc hè Long Chu Đó là chiếc thuyền đầu rồng đuôi
phụng, làm bằng tre, dán giấy m àu, đặt trên một chiếc bè tre hoặc bè chuôi Long Chu có số thuyền, địa chỉ, và được khai khoang điểm nhãn Vì là phương tiện chuyên chở ôn hoàng dịch lệ tống ra sông biển, mà cũng là phương tiện tiễn đưa Cô Bác và Người k h u ấ t m ặt về cõi th u ỷ phủ, địa phủ, nên Long Chu phải đẹp, phải vững để trôi n h an h ra biển Người làm Long Chu phải khéo tay, cẩn thận Phải chịu trách nhiệm trước cộng đồng về sản phẩm của m ình (ở Hội An, xưa có cả một lớp người chuyên sông bằng nghề làm Long Chu) Nếu Long Chu không trôi nhanh, bị nghiêng ngả hoặc cứ quanh quẩn trong bờ, thì người làm
- 4 5
Trang 40-ra nó sẽ bị quở trách Bởi dân biển quan niệm, năm nào Long Chu trôi th ậ t nhan h , ra th ậ t xa, năm ấy làng vạn sẽ bình an, no đủ; ngược lại, một tâm lý nặng nề với linh cảm
mơ hồ rằn g tấ t xảy ra những điều không may trong năm
đó, nếu bè Long Chu cứ quanh quẩn trong bò, n h ấ t là lại bị lật úp khi vừa tông xuống biển
Kích thưóc và cách bài tr í trong Long Chu ở các làng vạn tương đôl giông nhau Long Chu sẽ dài, rộng gần bằng một chiếc th u y ền (ghe máy), nếu làm lễ lốn, còn bình thường, nó dài từ 1,6 m - l,8m , cao và rộng khoảng
40 đên 80 cm, chia th à n h bốn khoang Thức cúng và nghi trượng bài tr í trong Long Chu p h ần lớn là đồ mã, gồm: vàng, áo, cháo, nổ; chiêng trông, cò phưốn, và r ấ t nhiều hìn h th ế bằng giấy vẽ đàn ông, đàn bà, trẻ con Riêng làng Nam o , ngoài các v ậ t cúng nêu trên , còn có cuô"n sổ
m ang tên "sở th u y ền bài" và hìn h n h ân ba ông th ầ n tướng vai vác cung tên, đứng ở ba vị trí mũi, khoang, lái của Long Chu sở thuyền bài còn gọi là "thẻ bài", trong đó
ghi tên năm vị th ầ n cũng là năm th u ỷ th ủ đưa thuyền Đó
là: 1 Thuỷ Tinh hành trinh 2 Đại vương! Đương niên
H ành K hiển (H ành K hiển nám nào th ì ghi tên của vị th ầ n
năm đó) 3 N gủ miếu hàn h binh chi thần 4 Tống Tào
P hán quan 5 R ợ Cước Quỷ Vương sứ giả Bô"n góc của
Long Chu, ngoài cò ngũ sắc nh ư các nơi khác, còn có thêm năm cây phướn, mỗi cây ghi tên một vị th ầ n phương
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẮNG
- 1 4 e