Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng: Phần 1 cung cấp những tư liệu và thông tin về diện mạo và sinh hoạt tín ngưỡng trong đời sống của cộng đồng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng, về những đặc trưng cơ bản, những giá trị hàm chứa trong các hình thái tín ngưỡng truyền thống đó,..., đặc biệt là về vai trò, tính chất của các sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa trong đời sống tinh thần hiện nay của cư dân. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1TS NGUYỄN XUÂN HƯƠNG
CVDẴNVENBÉ
ỉyỈNGÌỈI
* J
Trang 2T í \ \G U Ỡ \G CU DẢ> VẸN BIẾN QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
(HÌNH THÁI, ĐẶC TRƯNG VÀ GIÁ TRỊ)
Trang 3NGUYỄN XUÂN HUONG
T í \ NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỂN
QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
(HÌNH THÁI, ĐẶC TRƯNG VÀ GIÁ TRỊ)
NHÀ XUẤT BẢN Tử ĐIỂN BÁCH KHOA & VIỆN VĂN HÓA
HÀ NỘI - 2009
Trang 4NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ TIẾN Sĩ
Trang 5£ è ỉ m ả đầu
Cho đến nay, tín ngưỡng - một th àn h tố^ văn hoá truyền thông, vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sông của cộng đồng Xó là một hiện tượng văn hóa tinh th ần phản ánh ước vọng thiêng liêng của con người đổi với cuộc sông hiện hữu, đồng thời là sự thể hiện th ế ứng xử của con người trong các môi quan hệ với môi trường môi sinh để sinh tồn và p h á t triển, thông qua đó, các giá trị văn hoá được sinh th à n h và bồi đắp
Trong văn hoá cộng đồng các dân tộc Việt Xam, văn hoá của cư dân ven biển, trong đó có văn hoá tín ngưỡng, là một bộ phận quan trọng, góp phần làm nên cấu trúc và diện mạo văn hoá Việt Xam Xgưòi miền biển, bên cạnh những sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng nằm trong hệ tín ngưỡng chung của dân tộc, còn có những sắc th ái riêng, m ang tính đặc thù, do được sinh th àn h và gắn bó chặt chẽ với hoạt động ngư nghiệp biển Tuy nhiên, ỏ mỗi vùng biển, sắc thái
đó không hoàn toàn đồng nhất Vì vậy, nghiên cứu tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cu' dân ven biên nước ta sẽ không thể bỏ qua việc khảo cứu ỏ từng địa
dư cụ thể Công việc này là cần thiết, nhằm góp phần làm
Trang 6rõ sự tương đồng và khác biệt, một biểu hiện của tính thông
n h ấ t và đa dạng của văn hoá biển Việt Xam
ớ nước ta, các lĩnh vực văn hoá của cư dân ven biển đã được quan tâm nghiên cứu và đạt những th àn h tựu học
thuật Tuy nhiên, đa phần vẫn tập trung ở vùng Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ Vùng biển Xam Trung Bộ và Xam Bộ, trong
đó có Quảng Xam và Đà x ẵn g , hiện đã có một sô' cuô'n sách, bài báo viết về để tài này Riêng lĩnh vực tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng, hầu hết các chuyên luận chỉ tập tru n g vào hình th ái tín ngưỡng đặc th ù của dân biển là thờ cá voi Trong n h ận thức của chúng tôi, việc nghiên cứu văn hoá tín ngưỡng của cư dân ven biển, bên cạnh nghiên cứu tín ngưỡng đặc th ù thì không thể bỏ qua các hình th ái tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng khác Vì đó là việc làm th iết thực góp phần bổ sung vào lĩnh vực học th u ật, qua
đó nhận diện các giá trị văn hoá, các tài sản văn hoá của cư dân ven biển cả nước nói chung, Quảng Xam - Đà x ẵ n g nói riêng để bảo tồn và p h át huy trong cuộc sông hiện nay
Do điều kiện tự nhiên mà b ắt đầu từ miền T rung trở vào, n h ấ t là vùng T rung T rung Bộ và Xam T rung Bộ, đòi sông của cư dân rấ t đậm m àu sắc biên Phương thức sinh tồn để có các sản phẩm từ biển như cá, tôm, muối đã để lại dấu ấn, làm nên sắc th ái văn hoá có nhiều nét khác văn hoá trồng lúa nước Tín ngưỡng, bộ phận được xem như một hình th ái ý thức, một phương thức ứng xử của cư dân
TÍN NGƯỠNG Cư DÁN VEN BIỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
Trang 7biến cũng sẽ có sắc th ái khác với tín ngưỡng nông nghiệp Việc lý giái một cách khoa học các hình thái tín ngưỡng liên quan đến biển ỏ một địa chi cụ thể chính là góp phần
bô sung kiến thức về lý luận và thực tiễn trong việc nhận diện văn hoá Biển, để từ đó nghiên cứu nhằm hoàn thiện cấu trúc hệ thông văn hoá của người Việt: văn hoá Xúi, văn hoá Châu thổ và văn hoá Biển
Xghiên cứu các hình th ái tín ngưỡng của cư dân ven biển Q uảng Xam - Đà x ẵ n g , theo chúng tôi, sẽ có tác dụng
và ý nghĩa đối với thực tiễn và học th u ật Đê có cơ sở kê thừ a và p h át huy các th àn h tựu về lý luận và thực tiễn, chúng tôi tiến h àn h tập hỢp, nghiên cứu các công trìn h , bài viết của những người đi trước có liên quan đến đê tài Qua đây, có thể phác thảo việc nghiên cứu tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng cư dân ven biển nước ta nói chung và
Q uảng Xam - Đà x ẵ n g nói riêng
Trước năm 1945, một sô" học giả Pháp và Việt đã lưu
tâm đến tín ngưỡng của cư dân ven biển nước ta
Phải kể đến đầu tiên là các tác phẩm của các nhà X”ho
trưóc th ế kỷ XX, như: Thối thực ký văn của Trương Quốc Dụng, Gia Định thành thông chí của T rịnh Hoài Đức, Đại
N am nh ấ t thông chí - phần tỉn h Thừa Thiên của Quốc sử
quán triều Xguyễn Các tác phẩm này đều nói về vai trò quan trọng của cá VOI trong đời sông của ngu dân Trung
Bộ và Xam Bộ, vì thê mà được dân biển sùng kính
Trang 8Sau này, một người nước ngoài - Imh mục người Pháp Leopold Cadiere, người có nhiều chuyên khảo về tín ngưỡng dân gian Việt Xam, đặc biệt là tín ngưỡng dân gian ở Huê
và vùng phụ cận, cũng có một chuyên kháo về tín nguởng cu'
dân ven biển dưới tiêu đề "Tín ngưỡng và ngạn ngữ dân
gian vùng thung lủng Nguồn Sơn" Tác phẩm đã phản ánh
tục thờ cá voi, đồng thòi còn đề cập đến tín ngưỡng Ma rà, một loại ma nước mà dân biển rấ t kinh sỢ Đên học giả
X^guyễn Văn Huvên, trong tác phẩm Văn m inh Việt N am , phần viết về "Đời sống tôn giáo” bằng tiếng Pháp (đã dịch
ra tiếng Việt, trong Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt
N am ) cũng đề cập đến sự sùng bái cá voi của cư dân ven
biển Phần viết chỉ đưa ra nhận định mà không mô tả và bình luận, cũng không nói phạm vi của tục thò
Với tác phẩm Việt N am văn hoá sử cương, một tác phẩm
có tính chất giáo khoa, học giả Đào Duy Anh đã nêu một vài
hình thức tê tự có liên quan đên cư dân ven biển, như: tục
cúng những hòn đá ở giữa ghềnh hoặc ở bờ biển, vì chúng
thường gây nguy hiểm cho ghe thuyền; tục thờ cá voi như thò
một vị thần bảo hộ của dân miền biên Do tính chất của tác phẩm nên tác giả cũng chỉ nêu mà không mô tả và bình luận
Sau năm 1945, ỏ miền XMm, có thê kê đến hai tác
phẩm viết bằng tiếng Pháp là Kẻ thừa tự của ông N am Hải của Cung Giũ Xguyên (Le Fils De La Baleine, đã dịch ra tiếng ViệU và Tục thờ cá VOI của Thái Văn Kiểm Ca hai
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỂN QUẢNG NAM ■ OÀ NẢNG
Trang 9tác phẩm cùng đề cập khá sâu sắc đến sự thờ phụng cá voi của cư dân ven biển phía Xam, nhưng ở hai quan điểm
khác nhau: Kẻ thừa tự của ông N a m H ải mô tả tục thò cá voi như môt hủ tuc cần phải loai bỏ, còn Tuc thờ cá voi lai
được khảo tả với tư cách là một phong tục chỉ có ở cư dân miền biển Cùng với hai tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đó
là một sô" tác phẩm viết bằng tiếng Việt trong giai đoạn
này, như: Nếp củ của Toan Ánh, mô tả tục thò cúng cá voi của cư dân Vàm Láng: Tục thờ cúng của ngư p h ủ K hánh
Hoà của Lê Q uang Xghiêm và Tín ngưởng và cổ tục tôn thờ thần linh biển cả tại B inh Thuận của Lê Hữu Lễ, khảo tả
một vài tín ngưỡng và tục lệ tiêu biểu của cư dân vùng
biển hai tỉn h thuộc Xam T rung Bộ Đặc biệt, Đặc khảo về
dãn nhạc Việt N a m của Phạm Duy, một chuyên khảo về
âm nhạc dân gian, cũng đề cập đến tín ngưỡng thờ cá voi của dân biển với tư cách là một yếu tô" sinh th àn h ra thể loại dân ca nghi lễ - h á t Bá trạo
S a u năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu văn hoá của
cư dân ven biển được chú ý nhiều hơn Trước hết là một sô" công trìn h nghiên cứu về các lĩnh vực đòi sông văn hoá vật chất và tin h th ần , trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng của cư dân ven biển Một sô" công trìn h tiêu biểu ra đòi vào th ập
niên 80, 90 của thê" kỷ XX như: Văn hoá dãn gia n của
người Việt ở N a m Bộ của nhóm tác giả Thạch Phương, Hồ
Lê, H uỳnh Lứa, Xguyễn Q uang Vinh; 60 lễ hội truyền
Trang 10thống của Thạch Phương và Lê T rung Vũ; Văn hoá dân gian N a m Bộ - N hữ ng phác thảo của Xguyễn Phương
Thảo; Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt N a m của Xguyễn
M inh San; Tín ngưỡng dân gian H u ế của T rần Đại Vinh;
Tục thờ thần ở H u ế cxxa Huỳnh Đình Kết; Huế- L ễ hội dân gian của Tôn T h ất Bình X"hìn chung, các tác phẩm này
đều chú trọng nghiên cứu tục thờ cá voi của cư dân ven biển phía X"am dưới góc nhìn văn hoá tâm linh, và đã có những lý giải th ấ u đáo, th u y ết phục
Vài năm cuối th ế kỷ XX x u ất hiện thêm một số công
trìn h nghiên cứu về văn hoá và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cư dân ven biển từ góc nhìn tổng thể Đó là:
Văn hoá dân gian làng ven biển và Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt N am do GS.TS Xgô Đức Thịnh chủ biên; Cộng đồng ngư dân ở Việt N am của TS Xguyễn Duy
Thiệu; Cộng đồng ngư dân Việt ở N a m Bộ do TS T rần Hồng Liên chủ biên; L ễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa-
Vũng Tàu của Đinh Văn H ạnh và P h an An; L ễ hội dân gian ở N am Bộ của TS H uỳnh Quốc Thắng Các công
trìn h nghiên cứu này đã bước đầu n h ận diện và làm sáng
tỏ một sô" vấn đề về đời sống văn hoá tín ngưỡng của cư dân ven biển Bắc Bộ và Xam Bộ; đã chỉ ra một sô" giá trị từ trong một sô" hình th á i tín ngưỡng của họ Tuy nhiên, vì
m ang tín h chất nghiên cứu nên ở một vài công trìn h , các
sự kiện và tư liệu chỉ là sự kê" thừa
TÍN NGƯÕNG Cư DÃN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
Trang 11Tín ngưỡng thò cúng cá voi cũng như một vài hình thức thò cúng khác của cư dân ven biển cũng đã trỏ th à n h
đề tài nghiên cứu của luận ván Đại học và trên Đại học Xăm 1996, Bùi T rung T hành bảo vệ khoá luận tôt nghiệp đại học, chuyên ngành văn hoá Đông Xam A với đề tài:
"Bước đầu tim hiếu về tục thờ cúng cá Ong ở xã c ầ n Thạnh, huyện c ầ n Giờ, Thành phô' Hồ Chí M inh", năm
1997, Xguyễn Xuân Hương bảo vệ lu ận văn Thạc sĩ văn
hoá với đề tài: "Tục thờ cúng cá Ong của ngư dân vùng
biển Quảng N am - Đà Nang"; Cao Đức Hải cũng bảo vệ
luận văn Thạc sĩ văn hoá vói đề tài: "Tín ngưỡng thờ thuỷ
thần của ngư dân vùng cực đông Trung Bộ"; năm 1995, tác
giả Xguyễn Chí Bền bảo vệ luận án Tiến sĩ "Tim hiểu một
sô m ặ t văn hoá truyền thống ở Bến Tre", trong đó có một
chương nghiên cứu về tín ngưỡng thò cá voi của cư dân ven biển; năm 1996, tác giả H uỳnh Văn Tới bảo vệ luận án
Tiến sĩ "Những sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng - dân gian
của người Việt ở Đồng Nai", lu ận án cũng có một mục
nghiên cứu về tục thờ cá voi; năm 2003, tác giả Xguyễn
Đăng Vũ bảo vệ lu ận án Tiến sĩ; "Văn hoá dân g ian của cư
dân ven biển Quảng Ngãi", trong đó có nghiên cứu một vài
hình th á i tín ngưỡng của cư dân biển, với tư cách là th àn h tô" của văn hoá dân gian
Ngoài những công trìn h ấn bản th à n h sách nêu trên,
từ sau năm 1975, trên các tạp chí T rung ương và địa phương, trong các kỷ yếu khoa học, cũng có nhiều bài viết
Trang 12đề cập đến đời sông tín ngưỡng của cư dân ven biển ỏ một
sô" địa phương Tiêu biểu như: "Một sô' tín ngưỡng, tục lệ
của cư dân vùng biển tư B inh Trị Thiên đến B inh Thuận"
(Tôn T h ất Bình), "Sinh hoạt của ngư dãn miền biến Nghệ
Tinh trước cách m ạng qua tục ngữ dân ca" (Ninh Viết
Giao), "Vàỉ nét về văn hoá truyền thống của cư dẫn vùng
biển Quảng Binh" (Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Tú), "Tục thờ cúng cá voi - một biểu hiện đặc thủ của văn hoá biển miền Trung" (Nguyễn Phước Bảo Đàn), "Tục thờ cá voi ở các làng biển từ đèo N gang đến đèo H ải Văn" (Trần
Hoàng), "Tục thờ cá ô n g ở c ầ n Thạnh (Cần Giờ) và ven
biển N a m Bộ" (Nguyễn T hanh Lợi), "Bước đầu tìm hiểu loại hìn h m úa hát bả trạo ở T huận Hải" (Đình Hy), "Điều
lệ vạn: T ư liệu quý của ngư dân vạn chài ở tỉnh B inh
T huận" (Đĩrửv Hy), "Lễ hội cầu ngư làng Trường Tây, Vĩnh Nguyên" (Lê Đình Chi)
ở p h ạ m vi hẹp - địa bàn Q uảng Nam và Đà Nang,
việc nghiên cứu văn hoá - tín ngưỡng của cư dân ven biển, tuy đã được chú ý, song còn thư a kết quả Kể từ bài viết
đầu tiên của Tôn T hất Bình: "Hát Bả trạo ở Quảng N a m và
Đà Nang" vào năm 1985 đến các bài viết sau này, thì
khoảng cách thòi gian trên cả chục năm Đó là: "Lễ hội cá
Ông ở Quảng N am - Đà N ang" (Đoàn T uấn Anh), "Hát Bả trạo ở Quảng N a m - Đà N ang" (Võ Văn Thắng), "Lễ hội truyền thống các dân tộc miền Trung" (Nguyễn Hồng Sơn),
"Tục thờ cúng cá ô n g của dân biển Quảng N a m - Đà Nang"
TIN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
Trang 13(Xguyễn Xuân Hương), "Lễ hội cầu ngư của cư dân vùng
biển Quảng Nam - Đà Nang" (Xguvễn Xuân Hương), "Hát
Bã trạo ở Quảng N am - Đà Nang" (Xguyễn Xuân Hương),
"Lễ Tống ôn của cư dân ven biến xứ Quảng” (X^guyễn Xuân
Hương), "Một sô nghi lễ liên quan đến nghề biển của cư dân
ven biến xứ Quảng" (Xguyễn Xuân Hương), "Những kiêng
ky của cư dân ven biên xứ Quảng" (Xguyễn Xuân Hương),
"Hò đưa linh trong lễ tang của dân biên Đà Nang" (X^guyễn
Xuân Hương), "Vế tín ngưởng thờ M ẩu của cư dân ven biển
xứ Q uảng” (Xguyễn Xuân Hương) Bước sang kỷ nguyên
mới, trong năm đầu của th ế kỷ XXI, có thêm hai tác phẩm:
Công cụ đánh bắt sông nước truyền thống ở Hội A n của Chi
hội Vãn nghệ Dân gian Hội An và Văn học dân gian Quảng
N a m - miền biến của Xguyễn Vàn Bổn Hầu hết các tác
phẩm này chưa có cái nhìn toàn diện về đời sống văn hoá tín ngưỡng của cư dân ven biển Quảng X"am - Đà X"ẵng, và phần lớn cũng chỉ nghiên cứu về sự thờ cúng cá voi ở địa
phương, với các h àn h vi tín ngưỡng, như: kiêng kỵ, tang
chế, lễ hội, và hát thờ.
Xhìn lại tìn h hình nghiên cứu văn hoá, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng dân gian của, cư dân ven biển nước ta nói chung và cư dân ven biển Q uảng Xam và Đà x ẵ n g nói
riêng, tuy đã đạt được một số th àn h tựu, nhưng so với việc
nghiên cứu tín ngưỡng cư dân nông nghiệp, th ấy vẫn còn khiêm tốn Riêng lĩnh vực tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng, có thế nói, cho đến nay, chưa có một chuyên luận
Trang 14nào dành riêng nghiên cứu các hình th ái tín ngưỡng cơ bán của cộng đồng cư dân ven biển, n h ấ t là nghiên cứu ỏ một địa chỉ cụ th ể thuộc vùng biển Xam T rung Bộ.
Trên cơ sơ k ế thừa và p h át triển những gợi ý, luận điểm hết sức hữu ích từ một sô" công trìn h và bài viết đã nêu
trên, chúng tôi nghiên cứu các hình thái tín ngưởng cơ bản
của cư dân ven biển Quảng N am - Đà N ăng trên hai bình diện: hệ thống và chức năng, với các nội dung: hình thái tín ngưỡng, đặc trưng tín ngưỡng và giá trị của tín ngưỡng.
Với các nội dung nghiên cứu xác định trên, công trình
"Tín ngưởng cư dàn ven biển Quảng N am - Đà Nang" mong
muốn cung cấp cho giới nghiên cứu những tư liệu và thông tin về diện mạo và sinh hoạt tín ngưỡng trong đòi sông của cộng đồng cư dân ven biển Quảng Xam - Đà x ẵ n g , về những đặc trưng cơ bản, những giá trị hàm chứa trong các hình thái tín ngưỡng truyền thống đó, , đặc biệt là về vai trò, tính chất của các sinh hoạt tín ngưỡng văn hoá trong đời sốhg tinh th ần hiện nay của cư dân Qua đó, chúng tôi cũng muôn góp một cách nhìn đối với văn hoá tín ngưỡng của cư dân ven biển nước ta, trong đó có Quảng Xam - Đà
x ẵn g Từ những kết quả nghiên cứu của công trình, chúng tôi còn hy vọng có thể giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Quảng Xam - Đà x ẵ n g nói riêng, các vùng đất
cư dân ven biển nói chung xâv dựng những luận cứ cho các chương trìn h p h át triển kinh tê - văn hoá - xã hội
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẰNG
Trang 15Có thể sẽ có những thắc mắc về cách diễn đạt phạm
vi khảo cứu của công trình Theo đó, Q uảng Xam và Đà
x ẵ n g được xem là một đơn vị - địa bàn khảo sát, mà thực
tế hiện nay lại là hai đơn vị hành chính riêng: th àn h phố
Đà x ẵ n g trực thuộc T rung ương và tỉn h Quảng Xam Thực
ra việc th ay đối các đơn vị hành chính, nhập, tách địa phương là do yêu cầu về m ặt quản lý và p h át triển kinh tế; còn nhìn từ phương diện văn hoá thì không h ẳn phải như vậy Trong lịch sử hình th àn h , trong tâm thức cũng như văn hoá của cư dân, Q uảng Xam và Đà x ẵ n g luôn gắn bó
m ật th iê t với nhau Xét vê m ặt văn hoá, hai đơn vị này lả một vùng đất thông n h ấ t trong diễn trìn h lịch sử văn hoá dân tộc; là không gian tồn tại thống n h ấ t trong sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của cư dân ven biển vùng này
Công trìn h này gồm bô"n chương:
- C hương 1: Quảng N am - Đà N ang và cộng đồng cư
dân ven biến Quảng N a m - Đà N ang
- C hương 2: Tín ngưỡng thờ cá voi
- C hương 3: Tín ngưởng thờ M ẩu, thờ âm linh và thờ
Tiền hiền
- C hương 4: N hữ ng đặc trưng và giá trị trong tín
ngưởng của cư dân ven biến Quảng N am - Đà N ang
X hân dịp Tín ngưởng cư dân ven biến Quảng N am -
Đà N ang được x u ất bản, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu
Trang 16sắc đến cán bộ và n h ân dân, nghệ n h ân các làng xã ven biển Quảng Xam và th àn h phố Đà x ẵ n g , đã nh iệt tình ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi trong suôt quá trìn h nghiên cứu, điền dã Xin tri ân: PGS Lê T rung Vũ, GS TS Hoàng Vinh, GS.TS Xgô Đức Thịnh, PGS.TS T rịnh Thị Minh Đức
- những th ầy cô đã dẫn hướng chúng tôi đi vào con đường nghiên cứu lĩnh vực văn hoá đầy ý nghĩa này Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng đên GS TS Xgô Đức Thịnh - người
th ầy đã cô" vấn khoa học cho chúng tôi trong suốt quá trìn h khảo cứu Xin trâ n trọng cảm ơn các th ầy cô giáo: PGS.TS Xguyễn Tri Xguyên, PGS.TS Lê Xhư Hoa, PGS.TS Xguyễn Chí Bền, PGS.TS Lê Hồng Lý, GS TS Lê Chí Quê,
đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu về chuyên môn trong quá trìn h thực hiện
Xin chân th àn h cảm tạ TS Trương M inh Hằng, người bạn đã góp phần giúp đõ chúng tôi để công trìn h này sốm đưỢc x u ất bản
Cuối cùng, xin cảm ơn Viện Văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Xội đã tạo điều kiện đê cuốn sách được ra m ắt bạn đọc
Đà Nỗng, ngày 3 tháng 4 năm 2009
NGUYỄN XUÂN HUƠNG TÍN NGƯỠNG Cư DÁN VEN BIỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
Trang 17CHƯƠNG 1
QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
VÀ C Ộ N G ĐỒNG Cư DÂN VEN BIÊN
QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
1.1 KHÁI QUÁT V Í QUẢNG NAM - ĐÀ NANG
1.1.1 Môi trường tự nhiên
Xhìn trê n bản đồ Tổ quốc, Q uảng Nam - Đà N ẵng là vùng địa đầu của khu vực Nam T rung Bộ, nằm ở tru n g độ của đ ất nước, cách th ủ đô Hà Nội về phía Bắc 759 km đường bộ, cách th à n h phố" Hồ Chí M inh về phía Nam 974
km Diện tích gần 12 OOOkm'^ bao gồm miền núi, đồng bằng và ven biển, trong đó đồi núi chiếm 3/4 diện tích, ở giữa các m iền núi, địa hình th ấp dần xuống thung lũng các sông, như sông Thu Bồn, sông Bung với độ cao 800 m Do ảnh hưởng của tâ n kiến tạo nên địa hình đồi núi trẻ lại, tạo nên sự chia cắt, hiểm trỏ với những sườn dốc và thung
Trang 18lũng sâu, gây khó k h ăn cản trơ cho việc đi lại trong vùng núi và giữa vùng núi với đồng bằng.
Quảng Xam - Đà X"ẵng thuộc về đới khí hậu phía Xam; A xích đạo gió mùa, lại nằm trong Á đới Tuy nhiên,
do vị trí nằm ở ran h giới giữa hai đới khí hậu phía Bắc và phía Xam cùng với đặc điểm địa hình, nên khí hậu nơi đây thê hiện tín h chất chuyển tiếp rõ rệt Mùa đông, tuy không
bị ảnh hưởng sâu sắc của gió m ùa Đông Bắc như phía Bắc đèo Hải Vân, song những đợt gió m ùa Đông Bắc m ạnh vẫn vượt đèo trà n vào Quảng Xam - Đà x ẵ n g , làm cho nh iệt độ trong những ngày đó hạ thấp, nhiều khi xuông dưới 20°c
M ùa hè, do địa hình và hướng gió, nên cả vùng đ ất Quảng
bị chịu ảnh hưởng của gió m ùa Tây X"am cùng hiệu ứng phơn, làm cho thòi tiế t trong những ngày này r ấ t khô và nóng Xhững th án g có nh iệt độ cao n h ấ t là từ th án g õ đến
th án g 8; những th án g có nhiệt độ th ấp n h ấ t từ th án g 11 đến th án g 12 Do ảnh hưởng của gió m ùa kết hỢp với địa hình Trường Sơn đã làm cho vùng này có một m ùa mưa lệch pha so với cả nước, diễn ra từ th án g 10 đến th án g 12
H àng năm , bão thường đổ bộ vào từ th án g 7 đến th án g 11, bão lớn n h ấ t lên đến cấp 11 và 12, có khi trên cấp 12 Mỗi năm có ít n h ấ t là 5 cơn bão Bão thường kèm theo m ưa lớn, gây th iệ t hại lớn về người và của
Bờ biển Q uảng X’^am - Đà x ẵ n g dài 175 km ‘^', chạy dài từ phía Xam chân núi Hải Vân đến vịnh Dung Quất
TÍN NGƯỠNG Cư DÀN VEN BIỂN QUẢNG NAM ■ ĐÀ NẰNG
Trang 19Bò biển khúc khuỷu, có độ dốc lớn, thềm lục địa hẹp và sâu, sóng biển bị chi phôi bơi chế độ gió mùa Thuộc về
vùng biển nóng, nên sinh vật biển ỏ đây khá phong phú,
n h ấ t là các loại hải sản với nhiều loại cá và nhiều loại hải sản quý hiếm, nhiều loại rong biển có giá trị Đặc biệt từ xưa, Q uảng Xam đã có nghề khai thác yến sào, một loại đặc sản có giá trị kinh tê cao
Bờ biển có nhiều vũng vịnh, như Liên Chiểu, Xam 0 , Tiên Sa, Cửa Đại, Kỳ Hà; nhiều cửa sông rộng, sâu, rấ t
th u ậ n lợi cho việc xây dựng cảng biển nưóc sâu để p h át triển các khu công nghiệp lớn Các cửa biển lớn: Cu Đê, Cửa Hàn, Cửa Đại, Cửa Lở, Cửa An Hoà, không chỉ th u ận lợi cho việc xây dựng các cảng biển lớn mà còn là nơi chứa nguồn nước đổ về của các con sông lớn, như sông Hàn, Thu Bồn, Vu Gia, Cu Đê, Ly Ly, Tam Kỳ (th ế kỷ 18, Quảng Xam đã là một tru n g tâm giao lưu văn hoá thương mại của vùng Đông Xam Á bởi ưu th ế có cảng biển lớn là c ử a Đại) Thuộc vùng biển này còn có nhiều đảo và quần đảo: Cù Lao Chàm, Sơn Trà, Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó lớn
n h ấ t là Cù Lao Chàm và Hoàng Sa
Các con sông chạy dọc ven biển đã cung cấp cho các vùng ven biển nguồn nước lợ lớn, tạo môi trường th u ận lợi
để nuôi trồng thuỷ sản Vùng ven biển Quảng Xam - Đà
x ẵ n g còn có nhiều đầm phá với những thảm động, thực vật phong phú, đa dạng ở các xã ven biển của huyện Xúi
Trang 20Thành Bên cạnh đó là hệ thông rừng ngập mặn, có tác dụng cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan nên thơ của vùng ven biển Vùng biển Quảng Xam - Đà x ẵ n g cũng có nhiều cảnh đẹp và bãi tắm tốt, như: Xuân Thiều, T hanh Bình, Xon Xước, Cửa Đại, Hòn Than Đây cũng là một yếu tô" cơ bản để khai thác và p h át triển ngành du lịch Xgoài ra, vùng biển này còn tiềm ẩn rấ t nhiều tài nguyên, khoáng sản, tạo điều kiện cho một sô" ngành công nghiệp p h át triển.Mặc dù có p h ần được th iên nhiên ưu đãi, tạo cơ sở cho việc p h á t triể n kinh tê", du lịch, song vùng đ ấ t / vùng biển Q uảng Xam - Đà x ẵ n g cũng là nơi chịu nhiều biến động khắc nghiệt của thời tiết, bão lũ nên việc p h á t triển kinh tê" vùng biển, bên cạnh những m ặt th u ậ n lợi, cũng gặp không ít khó khăn Xgười dân vùng biển, nhìn chung, còn nghèo.
1.1.2 Lịch sử hĩnh thành vùng đất - địa danh Quảng Nam - Đò Nỗng
Theo Đại N am nhất thống chí, bộ quô"c sử thời Xguyễn
và một sô" tài liệu sử học khác, như: Việt sử lược, Việt N a m sử
lược, thì Quảng X"am - Đà x ẵ n g xưa vốh là đất Việt Thường Thị Đến đòi Tần (241 - 207 trước cx^, thuộc TưỢng Quận Đòi H án (206 trước c x - 219 sau c x ), thuộc quận XTiật Xam Xăm 349 đời Đường, thuộc Lâm Ấp Đời Tống (960), thuộc Chiêm Thành với hai châu là châu Lý và Chiêm Động
TÍN NGƯỠNG Cư DÃN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẮNG
Trang 21Xăm 1306, vị vua Chăm là C hế M ân đã dâng hai châu 0 , châu Rí (Lý) cho vua T rần Anh Tông làm sính lễ cưới Huyền T rân công chúa Xăm 1307, vua nhà T rần đổi tên hai châu trên th à n h châu T huận và châu Hoá T huận
C hâu là vùng đất Q uảng Trị, Hoá Châu là Thừa Thiên và phủ Điện Bàn thuộc Q uảng Xam Xăm 1402, nhà Hồ lấy đất Chiêm Động (Bắc Quảng Xam) và c ổ Luỹ (Xam
Q uáng Xam ngày nay) chia ra th à n h bôn châu là Thăng, Hoa, Tư, Xghĩa Hai châu T hăng và châu Hoa hỢp lại
th à n h lộ Thăng Hoa thông lãnh bôn châu Cao nguyên phía Tây đ ặt làm trấn Tân N inh\ cử Xguyễn Cảnh Chân
làm An phủ sứ lộ để trông coi việc bình định và khai khẩn.Xăm 1404, thời thuộc Minh, đ ặt lộ T hăng Hoa làm
p h ủ Thăng Hoa coi 4 châu và 11 huyện: Châu T hăng coi 3
huyện là Lê Giang, Đô Hoà, An Bị; châu Hoa coi 3 huyện
là Vạn An, Cụ Hi, Lễ Đễ; châu Tư coi 2 huyện là Trì Bình
và Bạch 0 ; châu Xghĩa coi 3 huyện là x^ghĩa Thuần, X"ga Bôi, Khê Cẩm; hai châu Tư, Xghĩa nay là Q uảng Xgâi Tuy nhiên, trên thực tế, vùng đ ất này vẫn bị người Chiêm
T hành chiếm đóng Đầu thòi Lê mới đ ặt làm đất ki mi (ràng buộc là chính m à chưa phải là đất thuộc địa)
Xăm 1470, Chiêm T hành đem quân cướp phá Hoá
C hâu (Thừa Thiên) XMm 1471, vua Lê T hánh Tông th ân chinh đi chinh p h ạ t Chiêm T hành, vây chiếm th à n h Trà Bàn (Bình Định), lấy được Đại Chiêm và c ổ Luỹ Sau
Trang 22chiến thắng, nhà vua th iết lập tổ chức h àn h chính tại các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, và đặt danh xưng chung là
đạo Thừa tuyên Quảng N am Đạo Thừa tuyên Q uảng Xam
địa giới đến núi Đá Bia (Phú Yên), gồm 3 phủ và 9 huyện: Phủ T hăng Hoa có 3 huyện là Lệ Dương, Hà Đông, và Hi Giang; phủ Tư Nghĩa có 3 huyện là Nghĩa Sơn, Bình Sơn
và Mộ Hoa; phủ Hoài Nhơn có 3 huyện là Bồng Sơn, Phù
Ly và Tuy Viễn
Như thế, danh từ "Quảng Nam" có b ắt đầu từ đời Hồng Đức năm th ứ 2 (1471) Q uảng Nam / đạo Thừa tuyên
Q uảng Nam thòi đó là một vùng đất rộng lớn từ Nam
T huận Hoá vào sát núi Thạch Bi ở Phú Yên, gồm núi, đồng bằng, biển và các hải đảo, với các tổng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (đến năm 1653 sá t nhập thêm tỉn h K hánh Hoà), mà Q uảng Nam - Đà N ẵng ngày nay chỉ
là một phần của đạo Thừa tuyên Quảng Nam đó
Năm 1490, danh xưng xứ Quảng N a m th ay cho tên
gọi đạo Thừa tuyên Q uảng Nam Năm 1520, xứ Q uảng
Nam đổi là trấn Quảng N am Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi th àn h dinh Quảng N am Ba phủ T hăng Hoa,
Tư Nghĩa, Hoài Nhơn thuộc vào dinh Q uảng Nam Năm
1605, thăng huyện Điện Bàn đang thuộc phủ Triệu Phong
ở T huận Hoá lên làm phủ, rồi cho thuộc về Quảng Nam
Năm 1806, vua Gia Long đổi dinh Q uảng Nam th à n h Trực
lệ Quảng N a m dinh thuộc Kinh sư Năm 1827, đổi th à n h
TIN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlẾN QUẢNG NAM ■ ĐÀ NẴNG
Trang 23trân Quảng N am , bỏ Trực lệ Xăm 1832, đòi vua Minh
M ạng thứ 13 đổi th àn h tỉnh Quảng Nam Tỉnh Quảng
Xam bao gồm cả thị trấ n Đà x ẵ n g Và đến cuô"i thê kỷ XIX, th àn h phô" Đà x ẵ n g được th àn h lập, trực thuộc
Q uảng Xam
Xgày 31/7/1962, chính quyền Sài Gòn chia tách
Q uảng Xam th à n h 2 tỉnh là Q uảng X"am và Q uảng Tín Sau ngày 30/4/1975, hai tỉn h lại hỢp nhất, gọi là tỉn h
Q uáng Xam - Đà X"ẳng Xgày 6/11/1996, Quốc hội nước CHXHCX Việt Xam ra nghị quyết chia Q uảng X"am - Đà
x ẵ n g th à n h hai đơn vị h àn h chính là tỉn h Q uảng Xam và
th à n h phô" Đà X'ẵng’trực thuộc T rung ương
Khái lược lịch sử hình th à n h vùng đất và địa danh
Q uáng Xam - Đà x ẵ n g , thì th ấy vùng đất này trong hơn 5 thê kỷ tồn tại, đã trả i qua những đổi th ay về tên gọi hành chính, địa giới, và đã diễn ra không ít lần tách nhập, nhập tách X^hưng dù tên gọi và địa vực h àn h chính trong quá khứ có những khác nhau, thì thực tê" lịch sử đã khẳng định một điều, Q uảng Xam xưa cũng như nay luôn có vị thê" quan trọng trong tiến trìn h p h á t triển lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử khu vực Xam T rung Bộ nói riêng Dưới cái nhìn địa - văn hoá, Q uảng Xam - Đà x ẵ n g là một
th à n h viên / một tiểu vùng trong bôi cảnh vùng văn hoá Xam T rung Bộ Do biến th iên của lịch sử, Q uảng Xam -
Đà x ẵ n g ngày nay đã không rộng bằng xưa nữa, song, dấu
Trang 24ấn văn hoá của đất Quảng một thời vẫn đậm nét ở các tỉnh thuộc xứ Q uảng Xam xưa, trong đó có những yếu tô cúa văn hoá biển Có th ể nói, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thê hiện tồn ở Q uảng Xam - Đà x ẵ n g có tín h phố’ biến, điển hình cho cả vùng Xam T rung Bộ Đôi vói tín ngưỡng của cu' dân ven biển Xam T rung Bộ, có thê xem Quảng Xam - Đà x ẵ n g là một điểm / trường hỢp điển hình.
1.1.3 vể các cộng đổng cư dân thổ trưởc (bản địa) và
cư dãn Việt
Các hiện vật tìm th ấy của những khai q u ật khảo cổ học trong những năm gần đây ở một sô" địa điểm của đất Quảng, như: Hội An, Cù Lao Chàm, Bàu Trám , Đại Lãnh, Tam Mỹ, chứng tỏ: cách ngày nay 2.500 năm , trước khi người Việt đặt chân đến vùng đất ven biển này, thì nơi đây
đã là một trong những địa bàn cư trú lâu đòi của cư dân Sa
H uỳnh cổ - chủ n h ân của phức hệ văn hoá Sa H uỳnh, một
nền văn hoá được hình th àn h trên nền tản g kinh tê chung
là "nghề nông trồng lúa ở miền đồng bằng hẹp trước núi và
ven biển" [165, tr 106] Các di vật có trong di tích như:
Hoa văn in "mép vỏ sò", những "con rựa", đồ tra n g sức bằng mã não, khuyên tai hai đầu thú , đã cho th ấy chủ
n h ân nền văn hoá này từ miền địa bàn gốc là dải đồng bằng hẹp cửa sông ven biển, ngày càng p h át triển lên miền đồi núi, cao nguyên và ra biển, ra phía Bắc Hải Vân và vào
tậ n Xam Đồng Xai Trong sô" các di vật đó, đồ tra n g sứcTÍN NGƯỠNG Cư DÁN VEN BlỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẨNG
Trang 25bằng mã não và đặc biệt là khuyên tai hai đầu th ú (một chê phâm đặc th ù của Sa Huỳnh) đã nói lên sự lan toả ảnh hướng của văn hoá Sa Huỳnh, của sự buôn bán và giao lưu kinh tế văn hoá của cư dân Sa Huỳnh đến vùng Đông Xam
A lục địa và hải đảo Xgười Sa Huỳnh cổ ỏ thời đại kim khí, ngoài làm nông, còn làm nghề th ủ công, và lại biết kết hỢp nghề nông với nghề rừng, nghề biển Họ đã có quan hệ trao đổi với người Việt cổ ỏ phía Bắc và người Phù Xam cổ
ở phía Xam, và những cư dân khác ỏ đất liền, hải đảo
P h á t hiện khảo cổ học mới đây cho th ấy có sự đan xen giữa văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc và Sa Huỳnh ở phía Xam thòi kỳ này x^hững bằng chứng khảo cổ cũng cho thấy người Sa Huỳnh không những hướng ra biển (mà hoa văn biểu tưỢng biển "mép vỏ sò" là một m inh chứng) mà còn vươn lên núi, lên cao nguyên, và vượt ra cả lãnh thổ của
m ình để nôi kết với "không gian xã hội" rộng lớn, thông qua việc quan hệ, giao lưu với các tộc người X’am Á cổ ở vùng Đông X"am Bộ, ở miền nội địa T hái Lan và miền hải đảo Thái Bình Dương [165, tr.l09],
Chủ n h ân của văn hoá Sa Huỳnh là cư dân nói ngôn ngữ X"am Đảo, được coi là tổ tiên của người Chăm sau này
Xhư một số vùng khác của Đông Xam Á, cư dân Sa Huỳnh
"đã tiếp th u và ảnh hưởng khá sâu sắc văn hoá Ân Độ, thông qua con đường buôn bán và truyền bá Ân Độ giáo"
Bộ phận nói ngôn ngữ X’am Đảo dọc biển T rung và Xam
T rung Bộ đã "bản địa hoá văn hoá Ân Độ", trở th àn h người
Trang 26Chăm với nền văn m inh C hăm pa nổi tiếng; bộ phận sinh sống ớ rừng núi, cao nguyên không bị ảnh hưởng văn hoá
Ân Độ, thì hậu duệ của họ là người Ê Đê, Gia Rai, Raglai
m inh rực rỡ‘" Sự kiện lịch sử 1471 gắn với công cuộc "bình Chiêm" của vua Lê T hánh Tông, vương quốíc C hăm pa đã chấm dứt sự tồn tại của m ình với tư cách là một quốc giấ’'.Bên cạnh người Chăm là tộc người chủ th ể trên đất
Q uảng Xam trước khi người Việt có m ặt, còn có các tộc người thiểu sô" thuộc ngôn ngữ Môn- Khơme, như: Cơ Tu,
Xơ Đăng, Co, Gié-Triêng Các tộc người này có quan hệ gần gũi với n h au về ngôn ngữ và n h ân chủng, nên rấ t có thể họ
là lớp cư dân cô bản địa có m ặt đầu tiên ở vùng núi Q uảng
Xam Một số cứ liệu khảo cổ học cho biết, người Việt đã có
môi quan hệ khá sớm với cư dân miền núi Q uảng Xam [108, tr.292]
Sự ra đòi của danh xưng Q uảng Xam gắn với quá trìn h di dân lập ấp của người Việt Lớp cư dân Việt đầu
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NÀNG
Trang 27tiên đến sinh sông ở Q uảng Xam là vào đầu thê kỷ XV, đời
Hồ Quý Ly (1402), khi phần đất Chiêm Động và c ổ Luỹ của C hăm pa được sá t nhập vào lãnh thổ Đại Việt Dưới sự chỉ đạo của n h à nước, việc di dân khẩn thực ở vùng đất mói một cách có tổ chức đã bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược
và thôn tín h của nhà Minh Vì thế, lớp cư dân này ở vùng đất Q uảng chưa nhiều Chưa tìm được chứng cứ cho thấy các làng Việt được th iế t lập vào thòi gian này Do đó, sự hoà nhập hoặc giao lưu giữa hai cộng đồng Việt - Chăm có
lẽ không xảy ra ''Có th ể nghĩ rằng, vào thời kỳ này, người
Chiêm đã rú t về p h ầ n đất p h ía N a m với kin h đô Vijaya, chỉ còn m ột bộ p h ậ n làm quân canh g iữ biên giới, đê đât cho người Việt di cư tiếp quản" [108, tr.325].
Lớp cư dân người Việt, từ các vùng quê khác n h au ở vùng đất Bắc, di cư vào đất Q uảng lần thứ hai đông đảo hơn, diễn ra vào những th ập niên cuối thê kỷ XV, khi đạo
Q uảng Xam do vua Lê T hánh Tông th à n h lập trên cơ sở các phủ T hăng Hoa, Tư Xghĩa kéo dài đến đèo Đại L ãnh'”'
Cư dân vào đạo Quảng Xam thời Lê T hánh Tông, phần đông đóng ở vùng đồng bằng ven biển T rên vùng đất mới, người Việt đã thích ứng với bổì cảnh môi sinh mối Các làng nông nghiệp kết hỢp VỚI ngũ nghiệp, hoặc làng đánh
cá kết hỢp với trồng lúa được hình th àn h Các đơn vị cộng
cư này có sức m ạnh giúp cư dân ổn định cuộc sông, tạo lập nền kinh tế khai thác và sản xuất Đến th ế kỷ XVI, XVII,
Trang 28dòng người Việt chuyển cư vào Quáng Nam mới thực đông đảo ơ vùng đất mới, nông dân và ngư dân đã cô" kết sát cánh bên n h au th àn h một cộng đồng thống nhất, bền vững.
Cư dân Việt vào đất Q uảng Nam, một bộ phận có gốc gác ở đồng bằng sông Hồng, còn p h ần lớn ỏ vùng T hanh Hoá, Hà Tĩnh, Nghệ An, thường gọi chung là dân T hanh - Nghệ H ành tran g tinh th ần của cư dân T hanh - Nghệ đem vào vùng "0 châu ác địa" chủ vếu là các giá trị văn hoá tin h th ầ n của vùng quê gổc T rên vùng đất mới, nhiều tên làng, tên đất của nơi chôn nhau cắt rốn đã được "tái sinh"
C hẳng hạn: Hải Châu là một làng lớn ỏ T hanh Hoá theo dòng Nam tiến vào Quảng Nam vào năm 1602 Tên làng này đã được lặp lại trên đất Quảng Hiện nay, 43 tộc họ còn lưu dấu trong nhà thò Tiền hiền làng Hải Châu, nay là phường Hải Châu, th à n h phô" Đà Nẵng; hay như Tiền hiển làng Giao Thuỷ, Đại Lộc, Q uảng Nam cũng đã đem tên huyện cũ ở Nghệ An là Giao Thuỷ‘^* đ ặt tên cho làng mói của m ình [107, tr.345]
Ngoài tên làng, tên xóm, người Việt ỏ Q uảng Nam còn bảo lưu nhiều hình th á i văn hoá xã hội của vùng quê
cũ, điển hìn h là cơ cấu làng xã Làng xã của người Việt
Q uảng Nam nói chung và các làng ven biển nói riêng, tuy
ra đời và p h á t triển trê n cơ tần g của làng Chăm, song vẫn
m ang nhữ ng đặc trư n g của làng xã Đ àng Ngoài N ghĩa là yêu tô Việt là chủ đạo Làng nông nghiệp hay ngư nghiệp
TIN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẦNG
Trang 29cũng đều tổ chức theo một kết cấu thông n h ất, cùng những biểu tượng tru y ền thông của làng, và được duy trì đến ngày nay.
Mỗi làng thường có một ngôi đình và nhà thờ Tiền hiền xây dựng ở đầu làng hoặc khu vực tru n g tâm ; bên cạnh đó là các công trìn h kiến trúc của các tín ngưỡng khác, như: lăng miếu Bà / M ẫu, lăng miếu Xgũ H ành, láng miếu Cô Bác / Am linh, miếu Tam vị, miếu Thái giám Bạch Mã Làng có trưởng làng, có ban k hánh tiế t để thực hiện các sinh hoạt tín ngưỡng tru y ền thông và giữ gìn các giá trị văn hoá, gồm cả các hình th ái văn hoá từ vùng quê cũ‘”’ Làng được coi như một gia đình lón, một đơn vị xã hội liên kết các tộc họ cùng cư trú trên một vùng đất Làng cũng là một đơn vị kinh tế, phản ánh đặc trư ng phương thức sinh tồn của cư dân trong làng Đôi với các làng sống về nghề biên hoặc "chân nông chân biển", do đặc th ù của hoạt động sản xuất, nên một tố chức nghề nghiệp (có nguồn gốc từ
hoạt động đánh cá nước ngọt) đã ra đời, gọi là vạn biển Cơ
cấu h àn h chính của vạn biển cũng mô phỏng cơ cấu của làng và đứng sau làng‘‘^*
Cũng từ cuối thê kỷ XV về sau, cùng chung sông bên cạnh người Việt (đã trở th à n h tộc người chủ th ể ở Quảng Xam), ngoài người Chăm và các tộc người thiểu sô" bản địa, còn có thêm người Hoa đến định cư ở Hội An (Hội An còn
có người X h ật nhưng họ định cư không lâu), Đà x ẵ n g ,
Trang 30Tam Kỳ và một sô" xã từ cuô"i thê kỷ XVI Kết cấu th àn h phần tộc người trên vùng đất Q uảng Xam từ thê kỷ XVI về sau, có thể nói, đã ổn định như ngàv nav, bao gồm các dân tộc; Kinh, Cơ Tu, Xơ Đảng, Mnông, Hoa, Co và Gié-Triêng, trong đó chiếm sô" đông là người Kinh, gồm cả người Chăm
đã bị Việt hoá
Và trên / trong bô"i cảnh xã hội đó, vùng đất Quảng Xam - Đà x ẵ n g đã diễn ra sự giao lưu, hội nhập của nhiều nền văn hoá, mà có lẽ chủ yếu là giao lưu, tiếp biến văn hoá Việt - Chăm - Hoa và Cơ Tu Giai đoạn đầu của sự cộng cư
và giao lưu văn hoá thuộc về người Việt và người Chăm
bình dân Tại vùng đất này, cư dân Việt và Chăm đã cùng nhau khai khẩn, hỗn chủng và chuyển giao văn hoá cho nhau Xgười Chăm dần dần Việt hoá, trở th àn h một lớp người mới, m ang tộc họ Chăm nhưng sống như người Việt*’'’’ Trong khi đó, cư dân Việt, với ý thức Việt hoá, đã tiếp biến một sô" tục lệ, tín ngưỡng liên quan đến sự an lành cộng đồng của người Chăm Trong hoạt động sản xuất, người Việt cũng tiếp th u các "quy trìn h công nghệ" của người Chăm để tiếp nô"i và p h át triển các ngành nghề: nghề dệt, nghề khai thác trầm hương, nghề biển, và đặc biệt là nghề đóng ghe bầu Ghe bầu Quảng Xam thê kỷ XV - XVII, không chỉ hoạt động ở vùng ven biển Việt Xam mà còn vượt biển góp phần vào việc hình th àn h con đường tơ lụa trên biển Xhững chiếc ghe bầu*” ’ thòi đó, theo ông Xguyễn BộiTÍN NGƯÕNG Cư DÀN VEN BIỀN QUÀNG NAM - ĐÃ NẮNG
Trang 31Liên, là kêt quả trực tiêp của quá trìn h giao lưu Việt - Chăm, của sự kết hỢp giữa kỹ th u ậ t đóng thuyền cổ truyền Việt và kỹ th u ậ t đóng thuyền Chăm pa [32, t r 141-144].
1.2 Cư DÂN VEN BIỂ n v ớ i n gh ê ' BIỂ n
1.2.1 cảnh quan làng ven biển
Các làng xã ven biển Q uảng Xam - Đà x ẵ n g , tính từ Bắc vào Xam, dọc theo 175 km bờ biển, hiện nay thuộc các quận Sơn Trà, T hanh Khê, Liên Chiểu, Xgũ H ành Sơn (Đà
x ẵ n g ) và các huyện, thị: Điện Bàn, Hội An, T hăng Bình, Tam Kỳ, Xúi T hành (Quảng X"am) Sự p h ân bô" theo tên gọi h àn h chính như sau:
+ Liên Chiểu: Xam 0 , Kim Liên
+ T hanh Khê; Xuân Hà, Hà Khê, T hanh Khê, Phú Lộc, T hanh Bình, T huận Phước
+ Sơn Trà: An Hải, Xại Hiên, Mỹ Khê, M ân Thái,
M ân Quang, X"am Thọ
+ Xgũ H ành Sơn: Đông Hải, T ân Lưu
+ Điện Bàn: Điện Dương
+ Duy Xuyên: Duy Hải, Duy Vinh
+ Hội An; c ẩ m T hanh, c ẩ m An, c ẩ m Xam, Phước Trạch, Cù Lao Chàm
+ T hăng Bình: Bình Dương, Bình Minh, Bình Hải
Trang 32+ Tam Kỳ: Tam Anh, Tam Phú, Tam Hưng.
+ Xúi Thành: Tam Hải, Tam Họà, Tam Tiến
Các làng vạn hình th àn h dọc theo ven biển là biểu hiện sự thích nghi của một bộ phận người Việt trước hoàn cảnh mới c ả n h quan làng biên Quảng Xam - Đà x ẵ n g ngày nay là kết quả của bao th ế hệ người Việt xây dựng nên Và dẫu là tù binh nhà Xguyễn trong chiến tra n h Trịnh
- Xguyễn, hay là nông dân đi khai hoang theo sự tô chức của X hà nước, thì hình như lớp cư dân trụ lại các dải đất dọc sông ven biển đã tổ chức đòi sống theo m ẫu hình làng biển của vùng quê gốc (mà chủ yếu là vùng T hanh - X"ghệ).Làng đưỢc lập theo dải dọc ven biển, trên những cồn /
gò cát kéo dài, chạy song song với biển Vị trí định cư cũng
để lại dấu ấn bằng từ tô" "cồn" trong tên nôm của một sô làng, như: "Cồn Tràm" (làng Xam Thọ), "Cồn X hàn Xứ" (làng Xại Hiên), "Cồn Bồi" (An Hải) "Cồn Chài" (Cẩm X’am)
"Xứ Gò Rú" (làng Tĩnh Thuỷ) Thủa ấy, có lẽ các bậc Tiền
n h ân chỉ dừng chân lập làng khi đã tìm ra nguồn nước ngọt dưới chân cồn Vì vậy, nhiều làng biển hiện nay vẫn còn di tích giếng làng với tên gọi xưa là "giếng Bông" (bọng nước) hoặc "giếng Chài", như các làng: Xại Hiên, Thạc Gián, Xam Ô, CỔ M ân (Đà x^ẵng), Tĩnh Thuỷ (Quảng Xam) Một
sô làng có vị trí "tiền sông hậu biển" thì các cánh đồng thấp hơn làng, bô" trí th àn h từng dải dọc theo làng hoặc ven theo dọc sông Dấu ấn của nguồn nước (sông, lạch) cũng đọng lạiTÍN NGƯỠNG Cư DÁN VEN BIỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẲNG
Trang 33trong tên gọi của một sô" làng Chẳng hạn: "Thanh Khê" (khe nước trong), "Mỹ Khê" (khe nước tốt), "Tĩnh Thuỷ" (giếng nước), "Hói Láng" (vùng nước êm)
Một sô" làng, để ngăn chặn những đợt sóng trà n bờ, đã trồng rừng phi lao, tạo nên một dạng cư tr ú trên gò cao Riêng ở th à n h phô" Đà Nẵng, do tốc độ đô thị hoá n h an h nên cảnh quan làng biển có p h ần th ay đôi, dẫn đến dạng
cư trú hiện nay là cư trú theo các đường lộ ven biển
P h ần lớn n h à ở của cư dân ven biển hiện nay là nhà đúc bê tông Một vài nơi, n h à ở còn đơn sơ, tạm bợ Nhà cửa liền kề nhau, tạo nên thôn xóm với những lô"i đi, ngõ ngách như bàn cò chia chẻ; vườn tược thường trồng các loại cây như dừa, mít, roi ở một sô" làng quê biển Q uảng Nam, nhà này cách nhà kia bằng hàng rào gỗ phi lao Khuôn viên nhà cũng được rào dậu bởi những cọc gỗ phi lao, tạo không khí thoáng đãng cho ngôi nhà, song cũng như thể hiện sự chông chọi, chịu đựng trước thách thức của sóng biển và gió cát ở các làng biển bãi ngang, phương tiện đánh b ắ t để ngay trê n bò nên n h à không cách bò bãi là bao
Trưốc năm 1945, mỗi làng, ngoài tên chữ biểu đ ạt ước
vọng bình an, phồn th ịn h , và sự gắn bó vói biển, như: Mỹ
Khè, N a m Thọ, A n Bàng, Phước Trạch, B ìn h Hải, A n Hải, Tam H ải, Quang H ải , còn có cả tên Nôm, trong đó có
những cái tên hoặc nói lên vị trí định cư, như: xóm Đình,
xóm Giếng, Hói Láng, xóm Gò, hoặc nêu đặc trư n g làm ăn
Trang 34của cư dân, như: xóm Nò (làm tôm), xóm c ồ n Trại (nghề
câu), xóm Đ ình Vạn (vừa làm sông vừa làm biển).
Xgày nay, do tác động của nhiều yếu tô" tự nhiên và
xã hội, nên môi trường môi sinh của dân biển đã có một sô"
th ay đổi, song cấu trúc cảnh quan và xã hội làng biển
Q uảng Nam - Đà Nẳng, có th ể nói, còn giữ được nhiều nét tru y ền thông Thí dụ, các đơn vị cơ sở của xã hội truyền thông: nhà - làng (vạn) - xóm, vẫn tồn tại trong các sinh hoạt văn hoá cộng đồng, gắn bó m ật th iế t với các th iế t chê" tín ngưỡng cũng là các biểu tượng văn hoá tru y ền thống của cộng đồng
1.2.2 Ngư dân vỡi nghề biển
Với 175 km bờ biển và diện tích ngư trường khoảng õO.OOOkm^, vùng biển Q uảng Nam - Đà N ang đã gắn bó vói dân biển nơi đây từ vài thê" kỷ nay Ngư dân được đánh giá
là có kỹ năng nghề nghiệp và thạo đủ các nghề: câu, lưới,
đãng, cản, giả, m ành, với các phương thức; đánh đơn, đánh đôi, đánh theo đoàn.
Mỗi nghề đều có các ngư cụ phù hỢp cùng vói phương tiện h à n h nghề là ghe và thúng Ghe của cư dân bãi dọc thường lớn hơn ghe bãi ngang Các ghe đều vẽ cặp m ắt dài,
mà theo quan niệm của dân biển th ì đó là m ắt ông Ngư, tức cá voh^'’\ Người có phương tiện - chủ ghe / th u y ền gọi là
"ông lái", người làm th u ê hoặc chung vô"n gọi là "hạn".
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BlỀN QUẢNG NAM - ĐÀ NẦNG
Trang 35Trừ những bãi dọc như cửa Hàn, cửa Đại, An Hoà, tàu thuyền hoạt động đánh b ắ t hầu như quanh năm, còn
lại ghe thuyền ở các bãi ngang phải phụ thuộc vào thời
tiết Nhịp sống và hoạt động của ghe thuyền trong năm có liên quan chặt chẽ với hai m ùa gió chính: m ùa gió chướng (gió m ùa Đông Bắc, và bão, khoảng 3 th án g cuối năm) với
vụ cá bắc, và m ùa gió Tây Xam (khoảng th án g hai đến
th án g tám ) với vụ cá nam Các vạn biển ở bãi ngang, do không có chỗ đậu ghe thuyền, nên chỉ làm được vụ cá nam, còn từ th án g 8 đến th án g 9 phải làm "lễ giải bãi", đưa ghe thuyền lên bò trá n h gió bão, và tu sửa chuẩn bị cho m ùa sau Để nuôi sống gia đình, nhiều ngư dân bãi ngang đã
toả đi các nơi để làm bạn cho các lái.
G ắn bó vói biển, thuyền, và đốì m ặt với bão giông thường xuyên, nên cũng như ngư dân các vùng biển khác ở nước ta, ngư dân Q uảng N am - Đà x ẵ n g có nhiều kinh nghiệm xem thòi tiết, đoán định giông bão, xác định hướng
đi trong đêm tương đôi chính xác Một p h ần của tri thức này được đúc kết th à n h ca dao, tục ngữ, vè, còn lưu truyền đến ngày nay, như:
+ X hận biết về điềm sắp có gió, mưa, bão lụt:
Vàng gió, đỏ mưa.
M ống vồng th i lụt, mống cụt th ì mưa.
Quá dài thì lụt.
Trang 36+ Về quy lu ật bão lụ t thường niên:
Ông cười mà Bà chẳng cười
Trời làm cái lụ t m ủng mười tháng ba.
Ông tha mà Bà chẳng tha
Trời làm cái lụ t hăm ba tháng mười.
M ùng 5 tháng 9 bão rơi
Nào ai đi lộng đi khơi p h ả i về.
+ Về những trậ n bão lớn xảy ra theo quy lu ậ t 3 năm đáo lệ:
Tiểu m ãn tháng tư, khoai từ lú t nước.
Tháng bảy nước nhảy khỏi bờ.
+ Về kinh nghiệm dự đoán việc được, m ất của m ùa biển: Tháng giêng thiếu m ấ t ngư
Tháng tư thiếu m ất nông.
+ Xác định thòi gian, phương hướng th ủ a chưa có đồng hồ, la bàn:
R u a lặn gà gáy, Cày lặn hừng đông.
Bên cạnh đó là một số kinh nghiệm xem đoán thòi
tiế t được lưu tru y ền theo phương thức "diễn nôm", thông qua quan sá t thực tế Chẳng hạn, một ngày trưóc khi đi biển, người ta thường quan sá t bọt nước, hoặc cảm n h ận qua việc đi lại trên bãi biển: nếu bọt nưóc đang trắ n g đổi
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUẢNG NAM • ĐÀ NẲNG
Trang 37th àn h m àu đen hoặc bò biển lún, đó là điềm báo biển động; hoặc khi đi qua các ngọn núi, nghe chim, nai kêu thì tròi sẽ động, mưa to
Xgư dân Q uảng Xam - Đà x ẵ n g cũng có nhiều kinh nghiệm n h ậ n biết luồng cá và m ùa tập tru n g của chúng Ví như: chỗ luồng nước đục và trong giáp ran h n h au là chỗ có luồng cá nổi Vào m ùa xuân, luồng cá này sẽ di chuyển từ Xam ra Bắc Cũng vào m ùa này cá rấ t ngon, n h ấ t là cá cơm th a n - loại cá một năm có hai m ùa di chuyên vào
th án g ba và th án g bảy (do đó, nước m ắm cá cơm th án g ba ngon hơn các th án g khác)
Không kể những tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng gắn với cấp cộng đồng, thì phổ biến ở các hộ ngư
dân Q uảng x^^am - Đà x ẵ n g là những kiêng kỵ nghi lễ liên quan đến Thần, Người và Biến Xó cũng được xem như
"di sản" chung của cộng đồng - tri thức kinh nghiệm thể
hiện ra như một phương thức ứng xử với biển.
Về p h ân công lao động: Do đặc điểm của phương thức sinh tồn nên phổ biến ở các gia đình làng biển là đàn ông
đi biển, đàn bà p h ân phối sản phẩm , chê biến các loại mắm vừa phục vụ gia đình, vừa trao đổi buôn bán^^^’ Sự khắc nghiệt của đại dương, những thách thức của giông tố đã cản trở không ít đến cuộc sông của dân chài làng biển, song cũng rèn luyện cho họ tín h chịu khó, không nề hà gian khổ, dám dấn th â n và tự giác, bình đẳng trong công
Trang 38việc Khi xuôhg biển, mọi người đểu ý thức phải làm hết sức m ình, không kể lái hay bạn, còn trẻ hay đã già T ất cá đều phải chèo sóng, chém gió như nhau, đúng như câu tục
ngữ của vùng này: "Già bạc tóc xuống nốc củng chèo."
1.2.3 Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo cộng đổng
Có thể nói, đời sốhg tín ngưỡng của cư dân ven biển Quảng Nam - Đà x ẵ n g khá phong phú, có quan hệ m ật thiết
với hai đổì tượng chính là: đất và hiến Các th iết chê tín
ngưỡng cũng như phương thức biểu hiện tương đốĩ thống
n h ất ở mọi nơi Hầu hết các làng biển đều có: đình, lăng, miếu, nhà thờ Tiền hiền Mặc dù đây là những biểu tượng của quê gốc được tái hiện trên vùng quê mới, nhưng sự tái hiện theo chủ ý nên đã tạo nên những "biến thể kết hỢp" để thích ứng với hoàn cảnh trên vùng đất mới Thí dụ, cũng dựng đình, nhưng đình ỏ các làng quê Quảng Xam - Đà
x ẵ n g nói chung và làng biển nói riêng không thờ một th ần duy n h ất là th ần T hành hoàng như vùng Bắc Bộ, mà phôi tự nhiều vị thần*'^' Trong cộng đồng th ần linh đó, vỊ thê thần
T hành hoàng ngang bằng với Thổ thần/ Thổ Địa Có thể nhận ra điều này từ danh xưng "Thành hoàng bổn xứ" của
th ần T hành hoàng ở Quảng Xam - Đà x ẵ n g cùng, tầ n số
"xuất hiện của thần" trong các.lễ ithứQ OÚa igiạ đình ovà dàng vạn R ất có thể ThànhihoànghổniXứ làisániphạm.ítìiíia sự kết hỢp giữa tính chấtỉvàỊeshiỈQinặngicủổ thềĩViThd-ĐịạíVỚị nỊềm tin tru y lư thống "Đại,cộ^ThP ỉQPhg, ểộng fíộ;HậíiB4"-.ỏdỳlTÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỀN QUÀNG NAM - ĐÀ NẢNG
Trang 39Căn cứ vào các cơ sơ thờ cúng hiện tồn và các bài văn
tê phổ biến ỏ các làng biển, có thể khái q u át các dạng tín ngưỡng của cộng đồng dân biển như sau:
- Thờ Thần: Trước h ết là các vị thần trên m ặt đất, nơi
cộng đồng định cư, gồm cả X hân th ần lẫn X hiên thần, như: T hần T hành hoàng bổn xứ và th ầ n Tam vị Oai Minh
T hành hoàng Riêng Tam vị Oai Minh T hành hoàng có nơi thờ riêng, gọi là miếu Tam vị*'"; th ầ n Thổ Địa; các bậc Tiền hiền; ngài Phi Vận tưống quân Tùng Giang Văn Trung*’"; th ần Cao Các Q uảng Độ; th ầ n Bạch Mã Thái Giám; ngài Q uan T hánh Đê quân; th ầ n Xam Hải Xgọc Lân (cá voi)
Xgoài ra, có một số th ầ n chỉ được một vài làng thờ, như; th ầ n T rung Giới Thái Huyền, còn gọi là thần Dòng -
vị th ầ n cai quản linh hồn người chết th ắ t cổ (làng Hói Láng, làng Tĩnh Thuỷ); th ần Khổng Lồ, th ầ n Giác Hải,
th ầ n Đ ạt Ma, th ầ n Bích Sơn TrỢ T huận, Tam vị T ản Viên Sơn th ần , th ầ n Công Du Tử (làng Xam Thọ)
Thờ thần dưới biển thì có Đông Hải Xgọc L ân (cá voi),
th ầ n Cai X"gư Cá biệt có làng thờ Long Vương và Xgũ vị Thái tử Long Vương (làng M ân T hái và làng Xam Thọ, Đà
x ẵn g ); thờ ông Chài, tức thờ Lê Thận*’" (làng Xam Thọ và làng Sơn Thuý)
- Thờ N ữ thần / M ẫu Đó là các Xữ thần; Thiên Yana
và các hoá thân; Thuỷ Long th ầ n nữ; Đại Càn Quốc Gia
Trang 40Xam Hải (thường gọi là Bà Đại Càn); Xgũ H ành Tiên nương (thường gọi là Bà Xgũ Hành); Thuỷ Tề Hải Để Xgọc
Xữ Tiên nương; Xgũ phương Hà Bá Thuỷ Q uan (thường gọi là Bà Hà Bá); Cao Sơn Chúa Động nương nương Xgoài Thiên Yana có nguồn gổc Chăm đang được thò phụng phố biến, còn một sô" nữ th ầ n khác tuy cũng gốc Chăm, nhưng chủ yếu chỉ còn vang vọng trên văn tế, như: Hồng Phi phu nhân, Hồng Ba công chúa, Ma Lũ Xương Man, Lồi Phi phu nhân, C húa Xgung M an nương, Bồ Bồ linh ứng, Bồ Xương linh ứng, Cô Xuôi, X àng Hai
- Thờ Ả m linh, Cô Bác hay còn gọi là Xgưòi k h u ất mặt.
- Thờ Tiền hiền.
■ Thờ Vật linh: "Vật linh" được thò và có sắc phong vì
đã hoá thăn th àn h Xam th ần và Xữ th ần (ngày nay, có một
sô" th ần chỉ còn ở dạng tín niệm) Theo đó, có các th ần sau:
+ Hoá thăn từ gỗ: T hần Gô"c, còn gọi là ô n g Gô"c (làng
Xam Ò, Đà x ẵ n g ).
+ Hoá thăn từ đá: T hần Thiên Sanh Thạch Tượng
(mom đá có hình voi nằm - làng Xam Thọ, Đà x ẵn g ); bà
Cổ D àng (Hội An); bà Thu Bồn (Duy Xuyên)
+ Hoá thân từ động vật: Từ chim - th ầ n Tứ Đầu Xhà
Cầm, Tam Đầu X"hà L ang” '*; từ rái cá - th ầ n Đông Xam
S át Hải Lang Lại Xhị Đại Tưóng quân; từ Hổ - Linh Hổ Miêu thần
TÍN NGƯỠNG Cư DÂN VEN BIỂN QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG