1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ bang giao và những sứ thần tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam: Phần 2

109 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 12,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ bang giao và những sứ thần tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam: Phần 2 trình bày một số sứ thần Việt Nam tiêu biểu như: Nguyễn Đại Pháp, danh nhân Bùi Cầm Hổ, Lê Quang Bi trung trinh tiết tháo, sứ thần Giang Văn Minh, Lê Quý Đôn đi sứ nước Thanh. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

(^utUi ỉiè ỊìíUiịị ịiiut) rà Cíh sử tỉuìn tiiùí A/ắ’Ìí 105

cử trong số các quan lại triều đình Trong việc bang giao ngày xưa, ngoài những việc về lễ nghi như triều cống theo

lệ, xin phong vương, báo tang, chúc mừng Thiên tử lên ngôi hay chia buồn, thì công việc ngoại giao quan trọng nhất của các sứ thần là giải quyết những tranh chấp về đất đai, đấu tranh giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ không để cho các biên thần của Thiên triều lấn chiếm vùng biên giới của nước ta, làm những việc đã rồi, hoặc xin hoãn binh hoặc giải quyết những hậu quả chiến tranh giữa hai nước, duy trì hòa bình

là nhừng việc lớn liên quan đến an nguy của đất nước

Vì vậy những quan lại được cử làm ngoại giao, lập sứ hay đi sứ đều là những quan lại giỏi, “trí dũng song toàn” Những nhà ngoại giao Đại Việt là đại diện cho một quốc gia văn hiến luôn chứng tỏ cho Thiên triều biết nước ta cũng là một nước văn hiến không kém gì thượng quốc Những

Trang 2

106 7 li ĩnh li ú’f iVíi/ii - i/iíl nưiịí', ( 0/1 niịười '

người đi sứ ngày xưa đều đã ihuộc lòng những câu trong

sách Luận ngữ: “Sứ ư tứ phương, bất nhục quân mệnh, khả

vi sĩ hỉ” Nghĩa là: Kẻ sĩ đi sứ bốn phương, không làm nhục mệnh vua, được như thế mới gọi là kẻ sĩ “Sứ ư tứ phương, bất năng chuyên đối, tuy đả diệc hề dĩ vi” Nghĩa là: Đi sứ bốn phương, tự mình không cỏ lài ứng đối, thì học nhiều

mà làm gì

Đến đời Lê, các nhà ngoại giao hầu hết là những người

dã dỗ đại khoa, nhiều người là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, có người là những nhà ngoại giao chiến lược như

Lý Thường Kiệt, Nguyền Trãi, Ngô Thì Nhậm với chủ trương đường lối ngoại giao được thi hành trong vài ba chục năm và có rất nhiều nhà ngoại giao đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của triều đình giao phó, đã “Đem chuông đi đấm nước người” Không làm nhục mệnh vua, giữ gìn được quốc thể, bảo vộ được lợi ích dân tộc, đòi hòi sứ thần phải tinh thông địa lý, lịch sử, văn hoá nước mình, nước người, tài năng mẫn tiệp, ứng đối nhanh trí, thông minh, lịch làm Lịch sử còn ghi lại lý lẽ đấu tranh cùa trạng nguyên Lê Văn Thịnh, tài ứng đối của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với quan lại triều Nguyên trong bao nhiêu việc đến mức độ lưu truyền trong nước là ông dưỢc phong “Lường quốc trạng nguyên”, tài biện luận của Nguyễn Trung Ngạn, Phùng Khàc Khoan, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hãng, Hồ Phi Tích, Nguyền Công Nhuận trong việc đòi đất bị lấn chiếm ở vùng biên giới Lê Quý Đôn đi sứ đã làm cho các quan nhà Thanh phải hết lời khen ngợi, kính phục mà nói ràng nhân lài nước Nam như Lê tiên sinh thì ngay cả Trung Hoa cũng chỉ có đến 1, 2 người Không những thế, với học vấn uyên bác, lịch lãm Lê Quý Đôn còn làm cho cả sứ thần các nước láng giềng như Lưu cầu, Triều Tiên phải kính

Trang 3

phục, ông lại xây đắp thêm tình hữu nghị giữa hai nước với việc giới thiệu nền vãn hiến nước nhá Dưới triều Tây Sơn, những nhà ngoại giao như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ich, Đoàn Nguyễn Tuấn đều là những nhà vãn hoá lớn đã làm nén trang sử ngoại giao vé vang của triều đại Quang Trung.Một biểu hiện nữa của chử “T rí” cùa các nhà ngoại giao Đại Việt là phải biết làm thơ, làm thơ thù liếp các quan lại địa phương ra đón, làm thơ thù phụng với các quan sứ trong triều, làm thơ mừng chúc thọ vua, làm thơ khi đón tiếp sứ thần nước ngoài đến kinh đỏ phong vương, làm thơ tiền biệt Việc là thơ tuy không bắt buộc nhưng là một biểu hiện trình độ văn hoá của sứ thần, của thần dân một nước có văn hiến Chính một sứ thần Trung Hoa là Tiền Phổ sang phong vương cho Lê Thánh Tông năm 1462 đã yêu cầu khi tiếp đón sứ phải biết làm thơ để bộc lộ cái chí cho người khác biết, v ề việc làm thơ của các sứ thần thì có lẽ không lấy gì làm khó khăn vì người nào ngày xưa cắp sách đi học

mà không biết làm thơ, huống chi những sứ thần đều là những người đã đỗ đạt trung, đại khoa Làm thơ tưởng như

là chuyện thong thả vui chơi, hàn huyên tâm sự, nhưng đối với các sứ thần thì quả thật không chi là chuyện giao hảo, phải tuỳ theo quan hệ giữa 2 nước trong từng thời kỳ mà thể hiện tình hòa hiếu, tự cường dán tộc Trong dàn gian ta thường có câu; “Miếng trầu là dầu câu chuyện”, còn trong việc bang giao giữa các sứ thần ngày xưa thì bài thơ cũng có thể coi như mở đầu cho việc giao dịch bàn bạc thuận lợi Phùng Khắc Khoan sang Yên Kinh cầu phong vương cho vua Lê Thế Tông năm 1597 dã bị dể nằm ở công quán 4, 5 tháng trời không được dâng biểu Nhân dịp vua Minh Thần Tông mừng thọ 80 tuổi, ông dã làm 31 bài thơ chúc thọ

trong tập Vạn thọ vô cươtig dâng lên, đến được tay vua Minh

Trang 4

108 7 1/ ĩitích V ic t l ^ a m - <líìl n ướ c, CO/I tiịịườt

xem, được khen là trung hậu và sau đó đả nhận biếu phong cho vua Lê Đường lối “ngoại giao vàn chương” đã do sứ thần Phùng Khắc Khoan sáng tạo sử dụng từ thế ký XVI.Cùng với chữ Trí, tài nàng văn hoá sâu rộng tiêu biểu cho nền văn hiến của quốc gia, các nhà ngoại giao Đại Việt đã thấm nhuần chữ Dũng, nghĩa là có dũng khí, can đảm, bất khuất, không sỢ chết trước mặt đối phương, không sỢ gian khổ khi đi làm nhiệm vụ vua giao phó: Kiều Văn ứng vâng lệnh Lý Thường Kiệt sang trại giặc bàn với Quách Quỳ, bao nhiêu sứ thần đời Trần đi sứ quần Nguvên trong 3 lần chiến tranh là coi như đi vào cái chết nhưng tất cả đều vâng mệnh vua Đỗ Khắc Chung xung phong vào trại Ô Mã Nhi xin hoãn binh Nhiều

sứ thần bị giam giữ như Đào Tử Kỳ bị giam ở Giang Lăng 1 năm, Trịnh Đình Toàn, Nguyễn Nghĩa Toàn và 34 hành nhân

đã bị nhà Nguyên giam giữ Lâu hơn cả là Lê Quang Bí đi sứ năm 1548, bị giam cầm đến 18 năm mới được tha về Ngô Tử Can đi sứ Chiêm Thành củng bị giữ lại Hơn thế nữa, có sứ thần còn bị giết hại như Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân sang cầu phong cho Trần Quý Khoáng vào năm 1411 đã bị vua Minh giết hại, Nguyễn Biểu đã bị tướng Minh thử thách tinh thần bằng cách dọn cho ăn cỗ là đầu một người Việt Nam đã bị chúng bắt giết rồi sau đó đem trói dưới chân cầu cho nước dâng lên dìm chết

Không những phải có dũng khí trước mặt đối phương, các sứ thần Việt Nam còn phải dũng cảm vượt qua bao nhiêu gian khổ trên đường đi sứ Phải vượt hàng vạn km bằng đường bộ, đường thuỷ, khi đi xe ngựa, khi đi thuyền trong thời gian cả đi và về kéo dài đến gần hai năm, khi mưa, khi nắng gió, khi tuyết rơi lạnh buốt, khi đắm thuyền, khi mưa dột không chỗ che thân, khi bị mất trộm cả tư trang lẫn đồ triều phục, khi ốm đau bệnh tật phải bỏ xác nơi

Trang 5

( ^ u a n ỈU' /)íì;hj{ịiíiu rò fík ' sir tỉiầ n tiữii 109

đất khách quê người trên đoạn đường dài hàng vạn km mà

sử sách cũ đả không ghi lại hết Sứ thẩn Phạm Mưu chết trên đường đi sứ Nguyên năm 1295, Doãn Bang Hiến chết năm 1322, Phó sứ Phan Ninh, hành nhân Nguyễn Cát Phu cùng 7 nhân viên đi sứ Minh bị bệnh dịch chết nãm 1435, Phạm Quang Tiến đời Mạc đi sứ chết trên dường đi nãm

1530, Bùi Binh Quân chết nàm 1632, Đinh Nho Hoàn di sứ nhà Thanh chết nãm 1821, sứ bộ Phạm Hi Lượng di sứ nhà Thanh nãm 1870 bị chết 3 người, sứ bộ Phan Thanh Giản di

sứ Pháp năm 1863 cũng có 2 người bị chết

Một chuyện nữa mà chúng ta không thể không nhắc đến là ngoài nhiệm vụ chính là công việc chính trị được giao, các sứ thần Đại Việt đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu và phổ biến những kỳ thuật học tập dược trong khi

đi sứ “Đi một ngày dàng học một sàng khôn”, trong nhiều chuyến đi sứ, một số sứ thần dã chú ý học nghề, tìm hiểu các bí mật nghề nghiệp, kỷ thuật cao, dê mang về nước, truyền bá cho dân Trong dân gian vẫn thường kể chuvện về một số sứ thần đã dể công học hỏi kỷ thuật các nghề thú công ở nước ngoài dem về dạy cho dân trong nước Trần Lư quê làng Bình Vọng, nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội, tinh thông nghề thuốc nén trong lần đi sứ nàm 1488 sang Trung Quốc, dưỢc cừ làm người bốc thuốc cho các sứ thần Năm 1502 ông thi dỗ Tiến sĩ, dến năm 1505 ông được cử làm Phó sứ sứ bộ sang Trung Quốc Trong 2 lần đi sứ ông

ông đã dạy cho dân trong làng và xung quanh nghề vẽ sơn trang trí Phùng Khắc Khoan qué làng Phùng Xá (còn gọi là làng Bùng), huyện Thạch Thất, tính Hà Tây, thi dỗ Hoàng giáp nãm 1580, dược cử đi sứ 2 lần vào nãm 1597 và 1606 Trên đường đi sứ qua các vùng dệt lụa ở Trung Quốc, ông

Trang 6

10 /1/ M i í /i ỉ i t ' l \ í i m - í ỉ í ì l n i n r t , i o n t n Ị i r ờ i

đả để ý xcm xcl dân địa phương kéo tơ từ kén tằm sao cho nhỏ, kỹ thuật làm cho sợi tơ thêm bóng, mềm và mượt, ô n g cũng đê ý đcn kết cấu của các khung cửi sao cho dệt được nhiều loại lụa, cách dệt lụa sao cho mịn và bóng Khi về nước ông dã phổ biến kỹ thuật đó cho dân làng, vì thế nên dán làng Hùng dã dệt dược một thứ lụa mượt, mềm và bóng, gọi là lưm Lượt của làng Bùng nổi tiếng trong cả nước từ

dó, dần dần nghề dệt lượt dưỢc lan truyền di các vùng khác Trong nhiều sách cùng đều chép ông là người đã đem các hạt giống dậu den, đậu nành (đậu tương) và hạt ngô, giấu trong chỗ kín trong người khi qua cửa ái về nước, để phổ biến cho dân trong nước gieo trồng, làm cho ngũ cốc thêm phong phú hơn 'Trần Quốc Khái người xã Quất Động, huyện 'Thường 'Tín, Hà Nội, đ ỗ Tiến SI nãm 1637 được cử đi

sứ nhà Minh, ông dã lìm cách học được nghề thêu và nghề làm lọng Khi về nươc ông truyền dạy cho dán làng và xung quanh Khi ỏng mất, dân làng đã lập dền thờ và tôn là tổ nghề thêu Đặng Huy 'Thứ người xã Hưthig Xuân, huyện Hương Điền, tính 'Thừa 'Thiên Huế, dố 'Tiến sĩ nảm 184? đưỢc vua 'Tự T)ức cử di sứ 2 lần đến Quàng Châu, Hồng Kông, Ma Cao Khi về nước, ông dã dề xuất nhiều cải cách

về kinh tế, mớ mang việc thương mại Chính ông là người

dã mua máy ánh và phụ tùng về mớ hiệu ánh dầu liên ở Hà Nội vào năm 1869, lấy tén hiệu là Cám Hiếu Đường Mục dich mở hiệu ánh không phải là kinh doanh kiếm lời mà là

dế quảng cáo khoa học kỹ thuật mới trên thế giới và giúp cho con cháu có lấm ành thờ cha mẹ khi qua đời cho trọn chừ hiếu (nên có tén hiệu là Cảm Hiếu Đương)

Nãm 1863, vua Tự Đức cử sứ bộ Phan 'Thanh Giản sang Pháp để điều đinh xin chuộc lại 3 tinh miền Đông Trong thời gian ớ Pháp, Chánh sứ Phan Thanh Gián đã mời đại sứ

Trang 7

c^ìuin lữ luiinị rà ííỉr '•ứ llhìn lit '11 lìirit 1 1 1

nưức Ao và Thố Nhĩ Kỳ đến để lìm hiểu vc các loại thuế liàng hoa ớ hai nước nàv vứi hi vọng làm cho ncn lài chinh đấl nước ihoát khoi khó khàn Cũng chính trong dịp đi sứ nàv, Phó sứ Phạm Phú Thứ dã học hỏi người dán Ai (^ip cách lấy nước tưới ruộng bàng xe trâu và dã phố biến ớ miền Trung khi ỏng về nước, mọi người dều làm theo vì thấy rất

có lợi so vởi dùng sức người

rhật đáng kính trọng biết bao những nhà ngoại giao Đại Việt mang trong mình nhừng phẩm chất cao quý, “trí dũng song toàn”, truyền thống anh hùng bất khuất của dấi nước Việt Nam Thiết nghĩ những phấm chất của họ vẫn là những bài học bổ ích cần thiết cho các nhà ngoại giao ngày nay Tất nhiên chừ Trí ngày nay cũng bao hàm một nội dung mới phù hỢp với thời dại (như tinh thõng ngoại ngừ, hiếu biết dịa lý, lịch sứ, chính trị, kinh tế, van hoá, dường lối của đói phương, hiểu biết dến một mức dộ nhất dịnh khoa học kỹ thuật ) Chừ Dũng thể hiện ở chỗ vưm lén mọi khỏ khàn dê hoàn thành nhiệm vụ dược giao, luôn dặt lợi ích cùa dấi nước lên trên, dám nêu những nhận định chu quan, nhừng kiến giải phục vụ sự phát iriến cua dân tộc Ngày nay vai trò cúa các nhà ngoại giao trong việc tiếp thu những thành tựu của khoa học xã hội, nhân vãn và khoa học-

kỹ thuật liền bộ trên thế giới, góp phần thúc dẩy sự phát triển kinh tề, vãn hoá, xã hội trong nước, dấy mạnh giao lưu vàn hoá, xã hội vơi các nước là không thể thiếu dược Có bao nhiêu nhà ngoại giao v^iệt Nam dà học tập và thể hiện dược những phám chất của ông cha ta ngày xưa, góp phần thuc đấy dất nươc Việt Nam duổi kịp các nước phat triển trong khu vực và trên thế giới?

Nguyễn Thế Long

Trang 8

1 1 —Ị li ,<<u ll ỉ ièt N a m - tlíil nướí , con ìniười

T R Ư Ơ N G TR Ọ N G

Theo sách Cố Kim thận ngón (những lời nói hay xưa nay)

của Phạm Thái, Trương Trọng, người quận Nhật Nam có học hành ít nhiều và làm thuộc lại trong quận

Bấy giờ nước la đang lệ thuộc phương Bắc, Trương Trọng dược viên Thái thú Nhật Nam cử sang kinh đô Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) thay mật Thái thú tâu bày công việc trong quận lên vua Hán

Trương Trọng đến kinh đô vào chầu vua Hán Hán Minh đế'*’ thấy Trương Trọng thấp bé lại là dân “man di” (mọi rỢ) ngoài cõi xa tó ý khinh thường, hỏi xách mé:

- Viên lại nhó kia (tiểu lại) người quận nào?

Trương Trọng khảng khái đáp:

- riiần là Kè lại, ngươi thay mặt Thái thú Nhật Nam vào chầu vua và dâng sớ lên triều đình, chứ không phải là một viên lại nhỏ Bệ hạ muốn dùng người có tài cán hay chỉ muốn đo xương thịt?

Vua Hán nghe câu trả lời cứng cỏi và dúng dắn của Trương Trọng xong thì tức lắm nhưng đành im lặng

.Mấy hôm sau, nhân dịp Tết Nguyên đán, vua mớ tiệc Trăm quan vào hầu và chúc tết vua trong đó có Trương Trọng Thấy ông, vua Hán nghĩ ngay tơi chuyện hôm trước

' ’ Mán Minh (,lc(2S - 75) con ihứ lư ciiaMán Ụuaniỉ Vũ de là \ị hoàim

dè ihử hai nhà Dónu I lán troiu; lịch sư Truim Ọuốc trị \i lừ năm 57 dcn nãni 75, I ronu lịch sư nhà Dônu Mán Minh de dược coi là một hoáne dè anh minh, khi ỏne chắp chinh Ui\ không theo chu irưcaii: dựa \áo "nhu" tlc tiị lunrc như phụ thăn l ưu l ú mà ihi hành sự ihoim irị há khãc nhưne vẫn C('> nhừim cône lao nhầl dịnh Onu cunu cồ chính I.|u\cn thu phục dược I lune Nô sà I â\ \'ực m o dưừnu cho l’hậl eiáo phái iriên mơ ra sự eiao lưu săn hỏa giữa I rung Ọuoc sà râs ,A.

Trang 9

c^titiii htĩ lHJniị ĩịia u r à i í í í ' sứ lỉiíìii ticu lĩìèu 1 1 3

và muốn rửa hận nên nhân đủ các quan ở đấy, y hỏi kháy;

- “Nhật Nam” có nghĩa là “phía nam mặt trời” Ta nghe nói tất cả nhà cửa quận này đều xoay hướng về phương Bắc

để trông thấy mặt trời phải không?

Câu hỏi kiêu ngạo trên ý muốn xưng thiên triều phương Bắc là mặt trời còn mọi người thì phải phục tùng Trương Trọng bình tĩnh đáp;

-Tâu bệ hạ, theo thiển ý của thần thì “Nhật Nam” không phải là ở phía nam mặt trời Trung nguyên của bệ hạ

có quận gọi là “Vân Trung” mà đâu có ở giữa mây, có nơi gọi là “Kim Thành” mà lại không phải là toà thành xây bằng vàng Tên thế thôi chứ thực có vậy đâu Nơi nào thì mặt trời cũng ở đằng Đông cả

Lời đối đáp rắn rỏi và sự thông minh nhanh trí của Trương Trọng đả khiến nhà vua thán phục ông một lần nữa

’ ’ Nguồn: hUp://vanhoangheun.\ n/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van- hoa/3962-may-mau-chuycn-di-su-trung-quoc-lhoi-da-doc-lap.hlml

Trang 10

làm Hoàng hậu vua Chăm là Chế Mãn Sau đó làm trấn thủ 2 cháu: Ô, Lý (cháu Thuận, châu Hoá) mất năm I34ĩ.

Sau 3 lần bị thua to tại Đại Việt, vua Nguyên vẫn nuôi ý định mang quân sang trả thù Để tránh một cuộc chiến tranh mới có thể xẩy ra, vua Trần đã cử Nguyễn Đại Pháp sang sứ với ý định làm dịu quan hệ hai nước Nguyễn Đại Pháp đã hoàn thành sứ nìạng, chuyến đi của ông là một trong mấy nguyên nhân quan trọng khiến nhà Nguyên không dám cất quân sang xâm lăng nước ta một lần nữa.Trước khi về nước Nguyễn Đại Pháp đã tới chào từ biệt mấy quan chức nhà Nguyên Không ngờ thấy Trần ích Tắc cũng ngồi ở đó Trần ích Tắc là con vua Trần Thái Tông,

em vua Trần Thánh Tông và anh ruột tướng Trần Nhật Duật nổi tiếng Trần ích Tắc là người thông minh học giỏi nhưng ngầm có ý tranh ngôi vua từ lâu, nên khi quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai, Trần ích Tắc đã mang cả gia quyến ra hàng và khi quân Nguyên bại trận đã theo chúng về Trung Quốc, được chúng phong cho chức

“An Nam quốc vương” hờ Thấy Nguyễn Đại Pháp không chào mình, Trấn ích Tắc lên giọng hỏi: “Ngươi có phải là

kẻ ghi chép ở nhà Chiêu Đại vương không? (Chiêu Đại vương là anh em cùng mẹ với Trần ích Tắc)

Nguyễn Đại Pháp khoan thai trả lời: Thời thế đã đổi thay Đại Pháp này trước đây đúng là kẻ ghi chép tại nhà Chiêu Đại vương, nhưng nay là sứ thần của nước Đại Việt, còn ông trước đây đúng là con vua một nước nhưng nay đã

Trang 11

ĐO À N NHỮ HÀI,

S Ứ T H Ần Bỏ l ệ l ạ y v u a Xứ n g ư ờ i(•»

Một lần, vào tháng 5, năm Kỷ Hợi 1299, Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay) về Thăng Long xem xét việc triều chính, suốt cả buổi sáng vẫn không thấy vua con là Anh Tông ra mắt, hỏi ra mới biết nhà vua uống rượu xương bồ say vùi, cung nhân vào gọi mãi vẫn không dậy Thượng hoàng nổi giận, đùng đùng bỏ về Thiên Trường, xuống chiếu lệnh cho các quan ngày mai đều phải tới phủ để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội

Mãi đến xế trưa Anh Tông mới linh rượu, hoảng quá, đi

bộ qua chùa Tư Phúc định khấn Phật cứu nạn thì bỗng gặp một nho sinh, bèn bảo; Ta vì quá chén mà đắc tội với Thượng hoàng, ngươi hây thảo cho ta một tờ biểu tạ lỗi Nho sinh vâng lời làm ngay Anh Tông lập tức đem người này xuống thuyền, chạy suốt đêm về Thiên Trường dâng biểu tạ lỗi Đến nơi, nho sinh quỳ dâng sớ Thượng hoàng làm ngơ, nho sinh vẫn phủ phục ngoài thềm mãi đến chiều, miía to gió lớn vẫn không đứng lên

Thượng hoàng thấy vậy cảm động, sai đưa tờ biểu vào xem qua rồi nói với Anh Tông: Trẫm còn có con khác có thể nối ngôi được Trẫm còn sống mà còn như thế, sau này biết đến thế nào?!

Anh Tông cúi đầu tạ lỗi, Thượng hoàng lại hỏi ai làm bài biểu, Anh Tông tỏ thật Thượng hoàng cho mời nho sinh vào ban lời khen, người này xưng tên là Đoàn Nhữ Hài

về lại kinh sư, Anh Tông phong họ Đoàn làm Trung tán

duong-doan-nhu-hai-su-than-bu-lc-la)-vua-xu-nguoi-2144274

Trang 12

1 1 6 7 li «íí7i I iV/ Ỉ^<W I - t ì í il n ư ớ i , í 0/1im ư ừ i

khi ấy mới 20 tuổi

Đoàn Nhữ Hài (1280-1335) người làng Hội Xuyên, huvện Trưèmg Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc, tính Hải Dương), ô n g làm quan trái ba đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), Trần Minh Tông (1314-1329) và Trần Hiến Tông (1329-1341)

Tương truyền, ông nổi tiếng ham học ngay từ nhỏ, tay không lúc nào rời khỏi sách Đến tuổi thiếu niên, ông lên kinh đô miệt mài sôi kinh nấu sử, lắm lúc đọc sách mải mê đến quên cả trời đất xung quanh Trong một lần như thế, ông tình cờ được gặp vua Trần Anh Tông và cuộc hội ngộ

ấy đã làm thay đổi đời ông như đã nói trên

Năm 1312, ông đi sứ sang Chiêm Thành Theo thông lệ trước đó, sứ ta phái lạy vua Chiêm trước rồi sau mới mở tờ chiếu, nhưng ông thì khác, ôn g đi thẳng đến đặt tờ chiếu của vua lên án, rồi nói với vua Chiêm: Từ khi sứ thiên triều mang chiếu thư của thiên từ sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu thư đã, rồi mới tuyên đọc sau Nói rồi, ông quay vào tờ chiếu

mà lạy Vua Chiêm lúc ấy đứng bên cạnh, có ý giận nhưng không bắt bẻ vào đâu đưỢc bởi lấy cớ lạy chiếu thư thì về lý là thuận, mà còn giữ khí tiết bất khuất của sứ quan

Từ đó, noi gương ông, sứ thần nước ta không phải lạy vua Chiêm nữa Sau sự kiện đó, ông càng được vua Anh Tông sủng ái Tháng 12 năm Giáp Thìn (1304), ông được thăng làm Tri khu Mật viện sự - một chức vụ rất quan trọng trong triều nhà Trần, thường chi giao cho những người tôn thất Đó là ân sủng cao vời vua Anh Tông dành cho ông Sau đó, ông còn được giao những nhiệm vụ quan trọng như việc đi phủ dụ hai châu Ô, Lý mới được nhập vào Đại Việt

Trang 13

và đổi tên thành châu Thuận, châu Hóa.

Sang đời Trần Hiến Tỏng, Thượng hoàng Minh Tông thân chinh đi đánh Ai Lao, ông làm đốc tướng, vốn xuất thân là một văn quan, không có lầm nhìn chiến lược và kinh nghiệm trận mạc, óng bị đánh thua tan tác, bản thân ông sa xuống nước sông La mà chết Sau khi mất ông đưực truy phong làm Thượng đắng Phúc thần, các làng trong huyện Gia Lộc như Hội Xuyên, Tàng Thượng, Phó Trào đều có miếu thờ ông

Vc sau, Đặng Minh Khiêm (1470 - 1532), một danh thần đời Lê Thánh Tông (1442 - 1497) có thơ đề vịnh:

Tạ quá vàn thành kết chủ tri,

S ứ mao võ tiết dư khu trì.

Tự tòng nữu thắng kiêu tâm khời,

Tiết thủy giang hàn tráng si bi.

Dịch thơ:

Tự lỗi vùn hay chúa biết tài,

Cờ mao, cờ sứ mói dong hoài.

Sau khi quen thắng thành kiêu ngạo,

Lạnh lẽo sông La khách thở dài.

Theo một vài tài liệu thì khoáng những năm Thiệu

Trang 14

Khánh đời Trần Nghệ Tỏng (1370-1372), Hồ Tông Thốc thi đậu Trạng nguyên, từng làm An phủ sứ và đã có lần đi sứ Trung Quốc Vào những năm cuối niên hiệu Xương Phù đời 'Trần Phế Đế (1377-1388) Hồ Tông Thốc được thãng đến chức Hàn lâm học sĩ phụng chì kiêm Thẩm Hình viện sứ, rồi Trung thư lệnh Khi Hồ Quý Ly nắm quyền (1400-1407) biết thời thế không lárn gì được, óng lui về giữ chữ nhàn, gứi mình vào thơ và rượu, ngoài 80 tuói thì mất.

về con người Hồ Tông Thốc, sách Nam Ong mộng liic

của Hồ Nguyên Trừng cho biết như sau: Hồ Tỏng Thốc thi

đỗ lừ hồi còn trề, rất có tài danh Mới đầu chưa nổi tiếng lắm Nhân tiết Nguyên tiêu có đạo nhân Pháp quan họ Lê

mơ tiệc hoa đãng đê đón khách vãn chương, Hồ Tông Thốc nhận giấy mời đề thơ, trong một đêm ngay trên tiệc làm trảm bài thơ, uống trăm chén rượu Mọi người đều xúm nhìn thán phục, không ai địch nổi Từ đó danh lừng kinh

dô v ề sau dùng lài vãn học làm thầy thợ cho người

Theo Đại \ 'iệt thông sử của Lê Quý Đôn và Lụii triều hiến

chương loại chí của Phan Huy Chú thì Hồ Tông Thốc có các

lác phẩm: Việt sử cương mục, Thao nhàn hiệu tần tập, Việt Nam

thế chí, Phú học chi nam Nhưng dáng tiếc dến nay dều không

còn Hiện các tác phẩm của ông được biết đến chỉ gồm hai

bài thơ, bài lựa sách 17t’í Nam thê chí và bài văn bia Từ An tự

bi minh tịnh tự ông viết cho chùa Từ Ân ở xã Đồng Hải phủ

Thái Ninh tinh Thái Bình, do các tác giả sách Thơ vãn Lý -

Trang 15

C)uan hi’ l'(/nịị ịịiiHì rà các sứ thần ticti lìièu 119

Thốc được nhà vua cứ làm Chánh sứ sang phương Bắc (nhà Nguyên - 'ĩrung Quốc), lúc di qua miếu thờ Hạng Vù, một ngôi miếu rất thiêng trên sông ổ Giang, ông có đề một bài thơ tứ tuyệt phẽ phan Hạng Vũ (danh tướng tranh nghiệp

dế với Lưu Bang), sự việc này dược kề lại qua hai giai thoại

- Trong tác phấm Giai thoại vãn học do Hoàng Ngọc

Phách và Kiều '1 hu Hoạch sưu tầm bién soạn (Nhà xuất bán Van học Hà Nội, 1988, tr.35, 36) có viết: “Tương truyền một hôm, thuyền của sứ bộ di trên sông Ô Giang, đến chỗ có miếu thờ Hạng Vũ dựng trên bờ Người ta dồn rằng, miếu này rất thiêng, hẻ thuyền bè qua lại trên sông mà không ghé vào lễ bái thì sẽ bị dắm

Tuy có biết chuyện đó, nhưng khi qua miếu, Hồ Tông Thốc vẫn không cho dốt vàng, cứ để thuyền đi thẳng Quả nhiên, ngay lúc dó, sóng gió bỗng nổi lên ầm ầm, chiếc thuyền chòng chành chỉ chực đắm Hồ Tông Thốc chẳng hề nao núng, ung dung ra đầu thuyền ngâm một bài thơ:

Quán hất quản hề, thần bất thần

N hư hà miếu mạo tại giang tân?

Giang Đông tích nhật do hiểm tiêu

H à tích thiêu tiền bách van cán?

Dịch:

Vuư chắng vua, mà tôi chẳng tôi,

]"en sóng nnếu mạo đê thờat?

Giang Dóng ngày trước còn ché nhỏ,

Tiền giâv nay sao lại vật nài?

Hồ Tỏng Thốc vừa đọc xong mấy câu thơ trên tự nhiên gió lặng sóng yên Nghe nói miếu thừ Hạng Võ từ đó mất thiêng

- 'ITong sách Tniyến kv mạn lục của Nguyễn Dữ viết dưới

Trang 16

1 2 0 7 li Síỉcli V i i ’ t ĩ^anì - i/iíl n ư ớ c , cnn n^ườỉ

thời nhà Lê, trong câu chuyện ờ đền Hạng Vương thì viết;

“Quan thừa chỉ Hồ Tông Thốc là người hay thơ lại giỏi lối mía mai giễu cợt Khoảng dưới đời Trần, phụng mệnh sang Trung Quốc, nhân dịp đi qua đền Hạng Vương, có đề bài thơ:

Bàc/i nhị sơn hà''’ khởi chiến phong

Huề tương tử đệ nhập Quan Trung,

Yên tiêu Hàm Cốc Cháu cung lãnh

Tuyết tán Hồng môn ngọc đấu không.

Nhất hại, hữu thiên vong Trạch tả

Trimg lai vò địa đáo Giang Đông,

Kinh doanh ngũ tài thành hà sự

Tiêu đắc khu khu láng Lỗ Công''.

Với những chú giải (1), (2) xin dịch lại bài thơĐ c ớ đền

Hạng Vương của Hồ Tông Thốc như sau:

Bách Việt non sông nổi hụi hồng

Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung

i hực r;i tmns: chữ Nho chừ Nhị ỈK phồn Ihc rất gằn \(Vi chữ Viộl nhất là khi \ ici ironu cô \ ăn i)ọc là "lỉách Vicl MTTI hà" cụm từ nà\ rất thỏm; dung dc chi non sônii liách \'ict llạm: Vũ khơi nuhĩa ơ Hách Việt, thật quá chinh xác Nước Siĩchănu phui thuộc Hách Vicl thì là lii'.’

I hoc xác dịnh cuoc khơi nuhĩa cùa I lạnc Vũ chônii I ân là lịch sư Hách Viộl dã bị ngươi dơi sau "mắt mờ dọc queo" Việt M thành n h ịit thành ra nưhĩa khónu thê hiêu nôi

Hai chữ cuối cua bài thơ là "l.ỗ t ’ônu" dược aiai thích khi Hạng \ ù chcl dà dược I ưu Haim dùnu le mai lánu như l ỗ t ónii I.ồ t'ónu là ai? Mai táim như l ồ Cóm> là trọnu ha\ khinh? I,ồ t'ỏnu lức là t hu t'õ n a Dán v ươnii nước l.ồ Chu Côna là nuười dã phò tá Chu I hành Vươnc dẹp loạn, õn dịnh triều chinh gâ> lạo cơ nehiệp nhá Chu gần nghìn năm l.c nuhi I rung lloa dcu bắt dau lừ Chu Cóna ca l ưu Hang dùnu

le táng cua c h u Côim doi xới Hạng Vũ thi có thế nói là thê hiện sự cơi Irona hcl mức.

Trang 17

Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh

Tuyết rã Hồng Món đấu ngọc không

Quav về đất lấp nèo Giang Đông

Năm năm lăn lộn hoài công cốc

Việc Hồ Tông Thốc đi sứ Sang Trung Quốc, khi đi qua đền Hạng Vũ trên bờ sông Ô Giang có đề một bài thơ là sự thật Còn qua giai thoại có vẻ hoang đường là việc Hồ Tông

Thốc đàm luận với Hạng vỏ trong Tnivền kv mạn lục do bài

thơ trên, càng cho thấy được lài làm thơ của Hồ Tông rhốc Cũng qua đó đê nói lên tài biện bạch, giỏi việc đời, tính tình thẳng thắn, lòng nhân đạo trong đối nhân xử thế, biết tình biết nghĩa, biết Ic phái trước mọi viộc, đồng thời cũng biểu hiện khí phách của sứ thần Việt Nam

2 Sửa thơ Vương Bột

Vương Bột một trong những nhà thơ xuất sắc thời đầu Đường (650-675), tác giả bài thơ “Đằng Vương các” nổi tiếng Ngoài ra tương truyền sau ông bị chết đuối trên một con sông trên đường đi thảm cha đang làm quan ở Giao Chi thì từ đó trên khúc sông này mỗi khi đêm khuya thanh vắng thường vang lên hai câu thơ rất được người đời ưa thích, cho

là tuyệt tác:

“Lạc hà dữ cỏ lộ tề phi.

Thu thuv cộng trường thiân nhất sắc"

Dịch nghĩa: Ráng chiều với con cò Ic loi cùng bay

Nưởc thu cùng trời xanh một màu

Trên đường đi sứ qua khúc sông này, nghe câu chuyện

trên, Hồ Tông Thốc liền đứng ra đầu mũi thuyền, nói: Hà tất

( ^ u n n ỉiị' Itíìiìiị ựíí/o rù rát' sứ llhìn //Vf/ liicu . 1 !2 1

Trang 18

dữ, cộng nhị tự? Nghĩa là: Việc gì phải dùng hai chừ dữ (với) và

cộng (cung) Những người cùng di hỏi ông tại sao lại như vậy,

ỏng trá lừi: dà nóiíê pht (cùng bay) thì thêm chữíií? (với) là thừa Đã nói nhất sắc (một màu) thì thêm chữcỘHg (cùng) là

thừa Và ông dọc toàn văn câu sứa của mình:

“Lực hà có lộ té phi,

Thu íhuv trường thĩêti nhất săc ”

Người nghe đều phục ông bắt bè có lý, về văn lự có gọn,

và hàm súc hơn (Nhưng về âm hưởng thì không hay bằng nguyên văn)

Tổng hợp

LƯỠNG Q U ố C TRẠNG NGUYÊN ĐÀO sư TÍCH

( 1 3 5 0 - 1396)'*»

Đào Sư Tích sinh nãm Canh Dần (1350), mất năm Bính

Tý (1396), quê làng c ổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tinh Nam Định), ô n g là người thứ hai dỗ 'IVạng nguyên trong số 5 Trạng nguyên của đất Nam Định vãn hiến Do thời gian dã lâu, các lài liệu lịch sử viết về ông hiện còn rất ít, lại sơ lược, nhưng công danh sự nghiệp cùa ông dưỢc dân gian truyền tụng khá nhiều Những giai thoại về L)ào Sư Tích do dân gian sáng lạo ra trên cơ sở sự thật lịch sứ, cỏ cái dũng sự thật, có cái do nhân dân hư cấu nén Nhưng dù là do dân gian hư cấu thì những giai thoại vẫn mang trong mình nó cái lỏi lịch sử Những giai thoại về Đào Sư Tích

là hình thức thể hiện, gứi gam lình cám, ươc vọng của nhân

hup; 'bai\ lct.\ ictnamíiiaphii com 20 1 1 ()4/trang-neu\en-ao-su-tich.htnil

Trang 19

dân đối với Ông Qua các giai ihoại ta hiểu về nhân cách Trạng nguyên Đào Sư Tích thêm sáng tỏ.

Đào Sư Tích xuất thân trong một dòng họ có truyền thống khoa bảng lâu dời Ngay từ thời Trần Nhân Tông, họ Đào đã có Đào Dương Bật dồ Thái học sinh, là bậc Khai quốc công thần nhà Trần, từng giữ chức Thưthig thư bộ Binh kiêm Đông các Đại học sĩ

Đào Sư Tích làm quan trong th('?i kỳ nhà Trần suy thoái

Ba vị vua mà ông từng phụng sự là Trần Duệ Tông (1372 - 1377), Trần Phế Đế (1378 - 1388), Trần Thuận Tỏng (1388 - 1398) dều chỉ làm vì, thực quyền vấn trong tay Thượng hoàng Trần Nghẹ Tông Nhưng Trần Nghệ Tông bán tính nhu nhưỢc, chẩng dám lự quyết doán việc gi, lại hết lòng tin dùng

Hồ Quý Ly, giải quvết mọi việc thưtơng nghe thc-o lơi Hồ Quý

Ly nên Hồ Quý Ly mtVi thực sự là ngưih có vai trò quvết dịnh mọi việc chính sựcúa triều đình

Chán ngán trước cãnh trong triều vua quan mưu hại lẫn nhau, bất mãn vì Hồ Quý Ly chuyên quyền, tiên đoán được nhà Trần sẽ mất về tay họ Hồ mà mình bất lực, Đào Sư Tích đã cáo quan về quê làm thuốc chữa bệnh và dạy học Trong thời gian từ 1393 dến 1396, sau khi dã cáo quan, ông còn phải đi sứ Trung Quốc

Thời gian này, nhà Minh tăng cưìíng sức ép vơi vua Trần nhằm tạo cớ thực hiện âm mifu xâm chiếm Đại Việt Chúng liên tiếp đưa các yêu sách ngày càng nặng nề dối với nươc ta:

- Tháng 9 năm Giáp Tý (1384) chúng dõi ta phải nộp lương thực cung cấp cho quân Minh đóng ứ Lâm An (Vân Nam, 'Trung Quốc)

- 'Tháng 3 năm Ất Sửu (1385) chúng dõi ta nộp 20 tăng

Trang 20

124 7 li MÌi lì ict 'S a tn - iliìi Iiirới , m n nịiirởi

nhân (nhà sư)

- Tháng 2 năm Bính Dần (1386) chúng đòi ta nộp những loài cây ăn quả quý, lại đòi cấp cho chúng 50 con voi

và cho chúng mưỢn đường đi đánh Chiêm Thành

- Tháng 6 năm Ál Hợi (1395) quân Minh đánh các man làm phản ử Long Châu và Phụng Nghĩa (Quáng Tây, Trung Quốc), đòi ta phải cấp cho chúng 5 vạn quân, 50 thớt voi, 50 vạn thạch lưcỉng Ta chỉ nộp một ít gạo, chúng lại đòi ta phải nộp lãng nhân, thanh niên bị thiến, phụ nừ xoa bóp Trước linh thế đó, vua Trần rất cần người tài giỏi, có đủ khả năng xoay chuyến tình thế đi sứ đê thực hiện chủ trương hoà hoãn Trong triều có người nói chỉ có Đào Sư Tích mới có đu khả nàng để thực hiện nhiệm vụ này Mặc

dù không ưa gì Đào Tích, Hồ Quý Ly vẫn phải xin vua Trần giao cho ỏng nhiệm vụ đi sứ Khi Hồ Quý Ly về c ổ Lễ

để triệu Đào Tích vào triều thì ông đã ờ Tam Đảo

Tưởng ông bỏ trốn, Hồ Quý Ly ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ thì sẽ bị tru di lam tộc Đề phòng họ Đào sau này bị Hồ Quý Ly tàn sát, Đào Tích đã cho con cháu đổi ra họ Phạm và hồi triều nhận trách nhiệm đi sứ nhà Minh Sau này con cháu ông lại có người đổi thành họ

Dương, do dó từ đường họ Đào ờ c ổ Lề hiện nay có bức đại

tự ghi là Đào - Phạm - Dương

Dáo Sư Tích đã di sứ nhà Minh vi quyền lợi của trăm

họ, vì yêu cầu của đất nước Bàng lài nàng hơn người, ông

dâ thuyct phục dược vua Minh giảm nhẹ yêu sách, dặc biệt

dã bãi bỏ việc dõi cống nạp tảng nhân, kéo dài thời gian hoà hoãn cho Dại Việt Tương truyền, thời dó nhà Minh cho người vơ vét sách thuốc bằng chữ Nôm của nước ta, đem về nước xếp cao dến nóc nhà, nhưng không có ai đọc thạo Nhân có Đào Sư Tích sang sứ, vua Minh nhờ ông đọc và

Trang 21

c^iítin lu' iHintị ỉ^/V/o rá lá c st'r lỉuin liètỉ ỉìírtt 1 ^5

tóm tãt giúp để Lý Sĩ Tài ghi lại bằng chừ Hán ihành bộ Y

táng lát dọc, ỏng chí đọc irong ít ngày là hếi kho sách Vua

Minh vô cùng kinh ngạc và khâm phục, đả tặng ỏng bốn chữ Lường quốc Trạng nguyên Hiện bốn chư này còn được

khắc irong lăng Trạng nguyên Đào Sư Tích ớ cổ Lẻ.

Việc đi sứ cúa Đào Sư Tích không thấy ghi trong lịch

sử Do thời gian đã quá lâu, việc biên soạn lịch sử có nhiều

sự kiện bị bỏ sót là điều dễ hiểu Nhiều tài liệu của những tác gia nghiên cứu về Đào Sư Tích hiện nay đều thừa nhận việc đi sứ của ông nhưng không nói rò là ông đi sứ vào thời gian nào Lý lịch di tích lịch sử văn hoá nhà thờ Trạng nguyên Đào Sư Tích của Bảo tàng Nam Hà chép rằng:

- “Theo truyền thuyết và tư liệu lịch sử thì khi ông mất tại đất Trung Quốc, có 23 người, ngựa của nhà Minh đã hộ tống thi hài Trạng nguyên Đào Sư Tích về an táng tại quê hương xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ) theo lời di chúc của ông ”Nếu đúng như vậv thì Đào Sư Tích đi sứ nhà Minh vào năm 1395 - 1396 và mất trong khi đi sứ ở Trung Quốc chăng? Có một ý kiến khác cho biết Đào Sư Tích mất tại

quê (Thời Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trên quê

hươìig Nam Hà, Sở Văn hoá - Thông tin Nam Hà xuất bản

1996, trang 119) Tuy nhiên, về cái chết của Đào Sư Tích, trong dân gian còn lưu truyền một giai thoại như sau:

“Thời hạn đi sứ của Đào Sư Tích sắp hết, vua Minh hỏi rằng;

- Nếu Bắc (chỉ Trung Quốc) đánh Nam (chỉ Đại Việt) thì ai thắng?

Đào Sư Tích trả lời bằng hai câu thơ:

- Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng

Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.

Trang 22

Nghe câu trả lời của sứ thần Đại Việt, các quan võ nhà Minh cười vang khoái trá Nhưng vua Minh lại không thế cười được vì hiểu ý câu trả lời của Đào Sư Tích Trong câu trả lời có 5 chữ thắng, 5 chừ thua, nghĩa là đánh Đại Việt thì chưa chắc đã thắng đâu, chi bằng hoà là hơn Câu trả lời của Đào Sư Tích không làm phật lòng vua Minh mà lại duy trì được mục đích kéo dài thời gian hoà hoàn cho Đại Việt.Vua Minh lại hỏi:

- Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?

Đào Sư Tích trả lời củng bằng hai câu thơ:

- Trần thực, Hồ hư, hư hư thực

Cổ lai chinh chiến thực hư hư

(Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực

Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư)

Vua Minh biết Đào Sư Tích là người lài giỏi, không thể khuất phục được bèn nghĩ cách giết đi Vua Minh sai một quan đại thần tiễn Đào Sư Tích về nơi nghỉ và đưa cho vị này 4 phong thư, dặn mở theo thứ tự như thế như thế Khi

mở phong thư thứ nhất thấy có dòng chữ: Thượng văn vấn,

Và ông giải thích cho vị đại thần nhà Minh rõ:

- Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ vấn là hỏi, hỏi là mồm, mồm là khẩu Bên dưới có chữ vương Hợp ba chữ; nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh Vua Minh có ý bảo ta là

Trang 23

thánh nhân đó mà.

Trong phong thư thứ hai có câu trả lời cho phong thư thứ nhất Câu trả lời của Đào Sư Tích hoàn toàn đúng với đáp án trong phong thư thứ hai

Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm Lưỡng quốc Trạng nguyên

Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:

Trước khi uống thuốc độc, ông dặn dò người nhà đi theo rằng:

- Sau khi ta chết hãy đưa thi hài về chôn ở xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ quê ông), ở chỗ giáp ranh ba thôn Đông (Đông Trung nay thuộc Trung Lao, Đông Thượng nay thuộc Đông Thượng, Đông Hạ nay thuộc Trực Đông) có một ngôi

mộ, hãy trồng một cây đa ở ngôi mộ đó cho ta ”

Ngôi mộ đó chính là mộ bà Lê Thị Đông, người bạn thân thiết thời thơ ấu của Đào quan trạng

Sau khi Đào Sư Tích mất, Vua Minh đã cho đưa thi hài ông về quê theo lời di chúc của ông Dân gian còn lưu truyền câu: “Nhị thập tam kỵ mã Ngô Minh quân hồi hương linh cừu Lưỡng quốc Trạng nguyên”

Trang 24

Trong di cảo của Trạng nguyên Đào Sư Tích cũng nói rõ việc di sứ nhà Minh và nhiều khá náng óng mất trên đường về

Bài Bắc khứ (Đi lên phương Bắc) và bài Dữ tiẻu thiếp Gúmg thị

(Nói với tiểu thiếp là Giang thị) ghi lại việc ông đi sứ, dọc dường lấy cô gái miền núi làm thiếp, phần chú thích của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị nói rỏ Đào Sư Tích đi sứ là do bị

Hồ Quý Ly bắt buộc Hồ Quý Ly còn làm thơ tiễn Đào trạng

nguyên Rồi bài Hồi thời bệnh ngộ đại (Lúc trở về, đang bị bệnh gặp mưa lớn) gỢi cho chúng tôi nhận định: Trạng vốn sức khoẻ kém, bệnh nặng, trên đường đi đầy gian khổ, có thể Trạng đã mất trên đường đi sứ về chăng

Tưởng nhớ công lao của ông, các quan thái thú, tổng lý, hương hào vùng c ổ Lễ đã lập đền thờ thờ ông cùng với cha

là Đào Toàn Bân Sau khi mất, ông được dân xã cổ Lễ lập

đền thờ tại nguyên quán, gọi là Đào Sư Tích Từ Ngày nay, tại chùa c ổ Lễ có tấm bia Nhi Đào công từ bi (bia về đền thờ

hai cha con ông họ Đào) chép về công việc ấy Tại làng Lý

Hải, ông được cũng thờ ỞMiếu quốc íế(Miếu đưỢc cả nước tế

tự) và đưỢc xếp là bậc danh hiền, phong phúc thần

Tổng hỢp

NGUYỄN BIỂU - SỨ GÍẢ CAN TRƯỜNG

Thân thế của Nguyễn Biểu (?- 1413) sừ sách chỉ chép là người làng Bà Hồ, huyện Chi La, trấn Nghệ An (nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) không chép ngày tháng nám sirih cha mẹ là ai, làm gì (Lã Duy Lan trong bài:

Từ Nguyễn Du đến Nguyễn Biểu thì cho cho rằng ông quê

Thanh Oai, cùng dòng tộc với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Bà

Trang 25

Huyện Thanh Quan ).

Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự sử) Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến

Nãm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu Từ Nghệ An rút vào đây, vua Trần hi vọng có thể nhóm lại lực lượng, rồi từ căn cứ cực Nam của đất nước, tung quân đi dẹp bọn xâm lượt nhà Minh, rửa hận cho thần dân, dựng lại cơ nghiệp nhà Trần.Chiếm giữ được Nghệ An, quân số trong tay còn độ bằng bốn phần mười, lực lượng khó khăn, cho nên trước sức tấn công ồ ạt của quân xâm lược do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy, nhà vua đã cùng bầy tôi chạy vào vùng dất Hóa Châu xa xôi này Lao dao lận đận nhiều phen vì sự nghiệp chống giặc, trong lúc tình thế lại ngày càng bất lợi, vua sai ông di sứ giảng hoà

Sau mấy ngày dừng lại ở quê nhà để bái yết tổ tiên, Nguyễn Biểu dẫn đoàn tùy tòng rời làng Bình Hồ từ sáng sớm Lúc chia tay nhà vua, vua Trần Trùng Quang làm bài

thơ: Tiễn Nguyễn Biểu Đi Sứ

Mấv vần thơ cũ ngợi hoàng hoa

Trịnh trọng rầy nhãti dựng khúc ca

Chiếu phượng mười hàng tơ cặn kẽ

Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha

Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ

Khương quế thêm cay tính tuôi già

Việc nước một mai công ngõ vẹn

Gác lán danh tiếng dọi lầu xa

Trang 26

130T.Ì sàclì V ié t - tỉíìí nước, con

níịười-Bài họa của Nguyễn Biểu:

Tiếng ngọc từ vãng trước bệ hoa

Ngóng tai đồng vọng thuở thi cơ

Đường mảy vó kỷ lần lần trải

Ả i tuyết cờ mao thức thức plm

Há một cung tên lồng chí trẻ

Bội mười vàng sắt đúc gan già

Hổ mình vả thiếu tài chuvên đối

Dịch lội ba ngàn dám ngại xa

Lúc này, mỗi bước một xa quê hương, Nguyễn Biểu cảm thấy lòng nặng trĩu Trên đất Chi La này, nám năm về trước, Nguyễn Biểu đã cùng các chiến hữu tôn nhà vua lên ngôi và tự nguyện đứng dưới cờ dấy nghiệp cứu nước Cũng trên dải đất này, hôm nay cảnh vật đã trở nên điêu tàn, xơ xác dưới lưỡi gươm của giặc Vì quê hương đất nước, Nguyễn Biểu xin hiến dáng cả cuộc đời Và giờ đây Nguyễn Biểu đang ung dung đi vào thành giặc mà không phải không biết rằng mình đang nhận một trọng trách Mãi suy nghĩ, Nguyễn Biểu không để ý đến điếm canh của giặc trên bờ sông Lam đâ hiện ra trước mắt Trương Phụ cho mời ông vào yết kiến Tại đây ông đã gặp tên ngụy quan Chẳng phải là ai xa lạ, chính là Phan Liêu, con Phan Quý Hựu, Thái bảo của nhà Trần đã đầu hàng giặc Nay Quý Hựu chết, Phan Liêu đưỢc Trương Phụ cho thay cha giữ chức tri phú Nghệ An đang chắp tay đứng hầu phía bên tả Nguyễn Biểu cho hai người tùy tòng đem hòm lễ vật và tờ biểu cầu phong cuốn trong hộp sơn son thiếp vàng ra mắt Trương Phụ Nghe lời nói của Nguyễn Biểu, Trương Phụ gật gù Trước thái độ đường hoàng chừng chạc và lý lẽ đanh thép của một người có chính nghĩa, tên tướng giặc tự thấy yếu thế Ra lệnh cho Phan Liêu tiếp sứ giả, Trương Phụ lùi vào tư thất với

Trang 27

những ý đồ đen tối.

Cho đến đúng ngọ, tổng binh Trương Phụ thiết tiệc sứ giả của nhà Trần Trong căn phòng trang trí lộng lẫy, một mâm cỗ đặt trên chiếc sập gụ màu nâu sẫm Chiếc lồng bàn đan bằng sỢi ngà trắng toát chụp trên mâm đồng chạm trổ tinh vi càng làm cho mâm tiệc thêm vẻ thanh lịch Cạnh mâm, một nậm rượu và cái chén đặt ngay ngắn trên khay khảm xà cừ Đây là bữa tiệc của Trương Phụ dành cho vị khách quý Khi người lính hầu nhấc chiếc lồng bàn ra thì củng là lúc Nguyễn Biểu sững sốt: Mâm cỗ quái đản và ghê tởm: Một cái đầu người! Cái đầu của một người bất hạnh nào đó đã được luộc chín, hai hàm răng nhe ra như trút oán hờn vào kẻ thù Nguyễn Biểu không ngờ Trương Phụ dã tâm đến mức gây ra trò hung bạo nhường ấy Đây là cái đầu của ai vậy? Và tại sao Trương Phụ lại giở trò này? Để ứng phó với hành động man rỢ quỷ quyệt của tướng giặc, Nguyễn Biểu không có thì giờ suy nghĩ nhiều Những chuyện đối đáp thử thách với sứ giả xưa nay có nhiều, Nguyễn Biểu đã từng nghe nói hoặc đọc trong sách vở Nhưng đến mức này thì Nguyễn Biểu chưa hề thấy Chắc chắn rằng đây là đầu một người dân lành đã bị Trương Phụ bắt và hành tội Không ăn thì tên tướng giặc cho là sứ giả hèn nhát, còn ăn thì ghê tởm mà lại ăn thịt đồng bào của mình! Không chút do dự, Nguyễn Biểu ngồi xuống sập, ung dung rót rượu Sau một tợp rượu khai vị, Nguyễn Biểu cầm đũa ngà moi đôi mắt chấm vào giấm muối nuốt một cách ngon lành Sau khi cạn chén rượu, Nguyễn Biểu cười kiêu hãnh nói một mình như nhắn bảo cho Trương Phụ biết:

- Không mấy khi người Nam được ăn đầu người Bắc.Khi rượu đã cạn, Nguyễn Biểu rung đùi ngâm bài thơ tức sự:

Trang 28

Ngọc thiệt, trân tu đã đủ tnũi

Gia hào thêm có cỗ đầu Ịigười.

Nem cuông, chá phượng còn thua béo.

Thịt gụ, gan lân cũng kém tươi.

Cá lối lộc minh so củng một

l^ật bàv thó thủ bội hơn mười

Kìa kìa ngon ngọt tày vai lợn.

Tráng sĩ như Phàn^" tiếng đê đời.

Khi nghe quân hầu thuật lại về Nguyễn Biểu với mâm cỗ đầu người, Trương Phụ tròn xoe mắt kinh ngạc Trong cái nghề làm tướng cầm quân đánh đông dẹp bắc của Trưiíng Phụ, chưa bao giờ hắn gặp một người như Nguyẻn Biêu Tự cho mình là anh hùng hảo hán, tỏ ra mình cũng biết trọng những

kẻ có tài năng, khí phách, Trương Phụ lấy lễ tiếp đãi Nguyễn Biểu rồi tiễn chân sứ giả ra về Ngồi ngả người trên kỷ, tên tướng giặc lấy làm khoái chí vì hành động “nghĩa khí” của hắn Rồi đây hắn sẽ làm cỏ Hóa Châu, cả triều đình nhà Trần sẽ không thoát khỏi lay hắn Ây thế mà hôm nay Trương Phụ lại tha sứ giả của Trần Trùng Quang Thấy Trương Phụ tha Nguyễn Biểu, Phan Liêu tỏ nỗi lo lắng của mình:

- Nhưng thưa Tổng binh, ngài muốn lấy nước Nam mà tha người ấy về thì làm sao mà xong việc đưỢc

Cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa cúa Trương Phụ sớm bung ra Con quỷ dữ hiện nguyên hình Trương Phụ hạ lệnh cho quân lính đuổi theo đoàn sứ giả Chiếc cầu gỗ rung rinh Đoàn sứ giả chưa qua khỏi cầu thì đã nghe tiếng vó ngựa rầm rập lừ phía sau Một toán kỵ binh giặc ập dén Theo

1 ửc 1’liàn K.iioái niội danh uuVim cùa l.ưu Baim dã liriii; múa tiưưm hao

\ệ chúa trcn \cn llồnu Mòn ihoát dược mưu kc cua Phạm Tăng (quán

sư cua 1 lạnii Vũ) hãm hại I ,ưu lỉana.

Trang 29

lệnh cúa Trương Phụ chúng đòi Nguyễn Biểu quay lại Đến nóng nỗi này, Nguyễn Biểu biếl khó ihoát khỏi tay giặc Nguyễn Biểu xuống ngựa quay về hướng đông nam, nhìn

về Hóa Châu sụp lạy rồi sai người lấy bút mực Cái nóng hừng hực của nắng chiều đã làm cho hàng chữ đen nhánh vừa viết: “Thất nguyệt, sơ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử” khô

đi rất nhanh trên cột cầu bằng gỗ màu bạc thếch Ngắm lại dòng chữ vừa viết lần cuối cùng, Nguyễn Biểu ung dung lên ngựa Trước khi thúc ngựa, vị sứ giả của triều Trần dặn đoàn tùy tòng:

- Các ngươi trở về Hóa Châu tâu với nhà vua hãy lo luyện quân để cự giặc

Không nói với lũ giặc một nữa lời, Nguyễn Biểu giục ngựa vượt lên hàng đầu, trở lại thành giặc Vừa nghe tin quân lính đã điệu Nguyễn Biểu về, Trương Phụ đem theo một bầy dũng sĩ mang gươm hộ vệ, bước ra thềm dinh đứng đợi sẵn Tên tướng giặc định ngay từ đầu đã dùng quyền uy bắt Nguyễn Biểu phải khuất phục Nguyễn Biểu hất tay, bước vội tới, chỉ vào mặt Trương Phụ quát mắng:

- Trong bụng toan tính việc đánh chiếm nước người ta, ngoài mặt lại phô trương là quân nhân nghĩa, trước nói lập con cháu họ Trần, bây giờ lại đặt quận huyện, không nhừng cướp bóc của cải lại còn giết hại nhân dân, bọn mày thật là

lũ giặc bạo ngưỢc

Bất lực trong việc khuất phục Nguyễn Biểu bằng lời nói

và thái độ cư xử, Trương Phụ dùng đến sức mạnh của tên tướng giặc bạo tàn Hắn ra lệnh chém đầu sứ giả Trên con đường đi tới chân núi Thành Sơn để chịu chết, Nguyễn Biểu vẫn ung dung bình thản, ô n g bình thản vì sự nghiệp giữ nước, vì thà chết chứ không bao giờ chịu quỳ gối trước giặc ngoại xâm Trong khi Nguyễn Biểu cất cao đầu đi đến

c^ttư n lìè Ị>an^ ịịi(ii) rò cúr sứ tlưìn tiền 133

Trang 30

134T.Í sách V iê l ỉ ^ a m - J ấ t n ướ c, con iiỊỊưới '

nơi hành hình thì Trương Phụ quay vào dinh Tổng binh, hắn cúi đầu sỢ hăi Nguyễn Biểu đã bị điệu ra ngoài thành, những tiếng quát tháo chửi mắng của con người ấy đối với tên tướng giặc như còn vọng lại Trương Phụ thầm nghĩ: Cả dân nước Nam này ai cũng như Nguyễn Biểu thì làm sao có thể dẹp nổi?'*'

Chi sau đó năm năm thôi, vào năm Mậu Tuất (1418) cả nước Nam này đá vùng dậy chiến đấu trong mười năm trời, đánh tan đội quân xâm lược của nhà Minh, lật đổ toàn bộ ách thống trị của chúng mà chính bản thân Trương Phụ đã góp phần đặt lên đầu cả dân tộc nhỏ bé ở Phương nam này Lúc bấy giờ Nguyễn Biểu không còn nừa, nhưng khí phách anh hùng và tinh thần xả thân vì nước của ông được cả dân tộc kế tục để làm tròn sự nghiệp giữ nước mà Nguyễn Biểu còn bỏ dở

Nhân dân miền Nghệ An - Hà Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn ông là Nghĩa vương Các triều đại sau cũng đều truy

''*CÓ chuyện kể khác: Hàng tUOTg là Phan Liêu lúc ấy ton hót với Phụ

năng nuốt được co đầu người, tất cũng có khá năng nuốt tươi được '1'rương Phụ) Lrương Phụ giận lam, đưa câu ấy ra bất ông phải đối lại Dối được mới cho về không đối được thì chém Nguyền Biểu ung dung

n h à 'ĩrầ n vẫn còn!).

1'rưưng Phụ giận lam dổi ý không tha nữa lại sai cắt lưỡi của ông:

- Thừ xem cát lười nó di nhà Trần có còn được nữa hay không ???

Ke dó Phụ sai trói ông vào chân cầu dể cho nước thủy triều lên cao dìm chết Tương truyền ờ dưới chân cầu ông dùng mtSng tay vạch vào

(Nguyễn Biều từ tiết ngày 11 tháng 7).

Trang 31

Ọ iia n hê hơììịị ịịiao t*à các sứ thằn ticu lúcu 135

phong ông làm Phúc thần Hiện nay tại xả Yên Hồ, huyện Đức Thọ có đền thờ Nguyễn Biểu được xây dựng vào thời nhà Lê để tưởng nhớ công lao của ông

Từ năm 1941, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã công bố

trong Khai trí tiến đức, tập san số 2 và 3, mấy bài thơ Nôm đời Hậu Trần được gom trong Nghĩa sĩ truyện: một bài của

vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc “đầu người” của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra

Cùng với núi Thành Sơn, với dòng sông Lam, Nguyễn Biểu còn mãi mãi được các thế hệ mai sau ngỢi ca cùng câu

đối ghi ờ đền Nghĩa Liệt:

“Tồn Trần kính tiết Thành sơn thạch Mạ tặc dư thanh Lam thủy ba”.

(Tiết cứng phò Trần đá Nghĩa Liệt Tiếng vang mắng giặc sóng Lam Giang)

N g u ồ n : http:lltrannhuong.coml

DANH NHÂN BÙI CẦM H ổ (1390 - 1483)(*)

Thời Lê Thái Tổ, Bùi cầm Hổ được xem là một trong hai

vị khai quốc công thần và đã được cử làm Thái sư dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái Tông; con gái Bùi cầm

Hổ cũng được tiến cung trở thành Bùi Quý phi, vỢ của vua Lê Thái Tông, sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương

Nguồn; htlp://hobuivietnam.com.vn/index.php?nv=News&at=article

&sid=862

Trang 32

1 3Ó T ù a á i ìì \ ict ì ^ a m ~ j ắ l nướí', con nịịtrời

Bùi Cầm Hổ làm quan trải thờ ba đời Hoàng đế nhà Hậu Lê, đó là Lê Thái Tổ (1428 - 1433), Lê Thái Tông (1433 - 1442) và Lê Nhân Tòng (1442 - 1459) với chức quan được ông nắm giữ lâu dài nhất là Đô ngự sử

Sau khi Lê Thái Tổ mất, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính cho vua Lê Thái Tông lúc đó mới 11 tuổi, cậy quyền làm nhiều điều trái phép, nhửng ai không hỢp ý tìm cách hãm hại Lê Sát đã cố tiến cử với vua Thái Tông các gian thần như: Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bán, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư (nhừng nhân vật này từ thời

Lê Thái Tông đã có công về phe với Lê Sát để vu cáo Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn nhưng vua Thái Tổ đã có lệnh cấm những người đó tham dự triều chính) Lúc đó Bùi Cầm Hổ và Nguyễn Thiên Tích đã thẳng thắn can vua Thái Tông nên theo lời di huấn của cha Vua Thái Tông nghe theo, cương quyết giữ phép tắc của Lê Thái Tổ, không phục chức cho mấy người đó

Vì vậy Lê Sát ghét Bùi cầm Hổ ô n g bị đổi ra làm An phủ sứ trấn Lạng Sơn Thủ đoạn trù dập của Lê Sát là thế nhưng ông vẫn không vì thế lấy đó làm điều Khi Lê Sát phạm tội chuyên quyền, nhà vua ra lệnh chém bêu đầu, ông được triệu về kinh đô làm Ngự sử trung thừa và ông đã can vua không nên áp dụng hình phạt đó đối với một đại thần từng là phụ chính vốn là khai quốc công thần

Trong việc chọn cộng sự ông cất nhắc trước hết những người trung trực kiên quyết dám nói sự thực bảo vệ lẽ phải Tiêu biểu là việc tâu xin nhà vua đề bạt Trần Hiển làm Thị Ngự Sử bởi ông nhận thấy thái độ cương trực thẳng thắn của Trần Hiển đã dám dâng sớ tố cáo Lê Hiệu là viên Tổng quản cậy mình có uy quyền cho lấp đoạn sông mà thuyền bè

Trang 33

C^iKUt ỈU’ luiiiịf rù í<i<' s ứ íỈHÌn tièu 137

thường qua lại thuận tiện để làm cúa riêng

Bùi Cầm Hổ cũng có nhiều công lao trong hoạt động ngoại giao, trong hai lần sang sứ nhà Minh và những năm trấn thủ ở Lạng Sơn Nảm Quý Sửu, 1433 Lê Thái Tổ sai ông cùng Trình Thuấn Du và Nguyễn Khả Chi đi sứ sang nhà Minh với trọng trách giữ mối hòa hoãn dài lảu giữa hai nước, cho dân sự hưởng thái bình, nhà Lê được yén vị Với tài ứng phó và vóc tướng uynghiêm của ông, vua nhà Minh phải tôn trọng đoàn sứ bộ của nước Nam, và cũng nể vì khi ông khảng khái cự tuyệt lời mua chuộc của nhà Minh Thời gian 2 năm 7 tháng làm An phủ sứ Lạng Sơn, Bùi cầm Hổ

đã góp phần quan trọng vào việc giừ hòa hiếu giữa hai nước, vùng biên giới được yên ổn Năm Mậu Ngọ - 1438, sứ nhà Minh sang báo tin địa phương Thái Bình (thuộc tỉnh Quảng Tây ngày nay) nổi loạn, Bùi cầm Hổ được vua Lê tin cậy cử cùng Lê Bá Kỳ sang sứ nhà Minh, ông đã thẳng thắn tố cáo trước vua Minh về việc thổ quan châu Tư Lãng phủ Thái Bình đã vượt biên lấn chiếm đất Đại Việt Rồi năm Kỷ Tỵ -

1449, có tin báo từ biên giới, hai ty Khâm Sai và Tổng Liêu (Quảng Tây) đem binh mã cát cứ, kiểm soát bờ cõi biên giới Bùi Cầm Hổ và Tư khấu Nguyễn Khắc Phục được cử đi thị sát làm rõ tin giả, giải quyết ổn định vùng biên

Khi nghỉ về quê ông vẫn chăm lo đồng điền như một lão nông, ông đã cùng dân làng xây một con đập bằng đá chặn dòng khe Vẹt dẫn nước từ núi xuống đủ tưới hàng trăm mẫu ruộng của làng xưa nay vốn bị hạn hán ô n g đã trở thành một trong những vị “tổ sư” ở vùng Nghệ Tĩnh về đắp đào kênh dẫn nước tưới ruộng Khi ông mất triều đình ghi công và phong Bỉnh Quân Đại vương, Thượng đẳng Phúc thần, đền thờ ông được xây cất ở Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, ngay bên hữu ngạn ngọn khe Vẹt trước chân núi Bạch Tỵ

Trang 34

138 T ú íííU Ìĩ T i c t ì^ a rn - itíit lurớí', con tnịtrời'

trong dãy núi Hồng nhân dân cả vùng quen gọi là đền Đô Đài;

“Tháng giêng Đô Đài, tháng hai Hương Tích” Đền thờ hiện nay đã được Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Bùi Cầm Hổ với toàn bộ sự nghiệp nhân cách đức độ và phong tiết của ông đã tạo nên tấm gương sáng ngời về đạo lý truyền thống tốt đẹp bằng dấu ấn lịch sử hết sức sâu đậm để lại hậu thế dài lâu không thể phai mờ

LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN

NGUYỄN TRỰC'*’

Trạng nguyên Nguyễn Trực tên chữ là Công Dĩnh, hiệu

Hu Liêu Ông sinh năm 1417, trong một dòng họ nối đời khoa bảng Cụ nội ông là Nguyễn Tử Hữu từng giữ chức Hàn lâm viện thị giảng kiêm Thẩm Hình viện sự triều Trần Ông nội là Nguyễn Bính - Huấn đạo phủ ứ n g Thiên, một người nổi tiếng tài ba đức độ Thân sinh Trạng nguyên

là Nguyễn Thời (Thì) Trung, một nhà thơ khá nổi tiếng đầu thời Lê, từng làm quan trong triều, nổi tiếng thanh liêm đạo đức Phu nhân trạng nguyên Nguyễn Trực là bà Đỗ Thị Chừng - người làng Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai

Tương truyền, Nguyễn Trực từ bé đã nổi tiếng thần đồng Mười tuổi đã đọc thông viết thạo Hán văn Mười hai tuổi chỉ ham thích việc học Mười tám tuổi đi thi Hương đã

đỗ đầu Năm 26 tuổi đỗ đầu thi Đình (Đệ nhất giáp, đệ nhất danh tiến sĩ) đứng đầu 33 tiến sĩ cùng khóa - cuộc thi do

' ’*Nguồn: hllD://\\\wv.l')a()m()i.com/1 on-\ inh- ^ran^-niĩuven-N guven-I ruc/ 54/6097563 epi

Trang 35

Ọ u a n Ììc ỈH iitịị ĩịia o tHi càc sif tỉiầ n tiê u lù /u 139

đích thân vua ra đề và chấm Đến nay, bài thi Đình của Nguyễn Trực đưỢc đánh giá là một trong những bài thi Đình hay nhất

Làm quan, kinh qua nhiều chức vụ lớn, Nguyễn Trực luôn giữ đưỢc phẩm cách nhà Nho ô n g thanh cao đến nỗi vua Lê Nhân Tông sai vẽ hình ông để bên cạnh ngai vàng

để tỏ ý không lúc nào quên Còn vua Lê Thánh Tông thì kính trọng sai văn thần đem bộ sách “Thiên Nam hạ” đến tận nơi ở của ông để tiện “biên tập”

về danh vị “Lưỡng quốc trạng nguyên”, chuyện kể rằng: Khi đi sứ, bằng tài thơ phú và đối đáp, ông được vua Minh mến mộ và mời dự kỳ thi Đình Không ngờ, ông lại đỗ đầu Vì thế nên được vua nhà Minh phong “Lường quốc trạng nguyên” Lúc được vua giao tiếp sứ thần nhà Minh là Hoàng Gián, Nguyễn Trực đối đáp như thần, lại hạ bút họa ngay một lúc 50 vần thơ lưu biệt khiến sứ thần phương Bắc vô cùng thán phục Dù làm quan to trong triều nhưng Nguyễn Trực mấy lần cáo quan muốn lui về vui thú điền viên nhưng không được Đến khi ông mất, vua Lê Thánh Tông điếu rằng:

Đời dõi nho tông phát ấp bang;

Trong đạo đức, có từ chương;

Nối dòng thi lễ nhà truyền báu;

Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng;

Nam - Bắc hai triều danh vang;

Phong lưu một cửa họ sang;

Từ đường ở đấy niềm tây lạnh;

Dấu củ càng thơm xạ có hương.

(T r íc h từ bài: Tôn vinh trạng nguyên Nguyễn Trực)

Trang 36

140 lú Sííí ịi ỉ' iẽt ĩ\niii - ílíìl /iưởí', i‘tw Iì{ịườt

'TRẠNG LỢN ” NGUYỄN NGHIÊU Tư**'

ỏ n g hiệu là Tùng Khê người xà Phù Lương, huyện Võ Giàng, phú Từ Sơn, trấn Kinh Bắc

Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 lức tháng Hợi nên đật tên là Nguyễn Văn Trư

và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn).Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần cùng bố đi bắt lợn, gặp kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi;

- Ổng gì thế bố?

Người cha đáp:

- Ông Trạng!

T rưnói:

- Lớn lên con cũng làm ông Trạng!

Từ đó đi chơi với trẻ trong làng, ông đều khoe:

Hai câu ứng khẩu hơp thành câu đối khá hay

Cạnh làng ông là làng Yên Đinh đất học, có cụ đồ sang chơi ra cho trạng vế đối, mang đề tài lcfn, nghề sinh sống của nhà này:

- Lợìi cấn ăn cám tốn (ý là lợn có chửa ăn hết nhiều cám

nhưng Cấn và Tốn là hai quẻ trong bát quái)

' * Nguồn: liup://\v\v\s bacninh.gov.vn/dukhaeh/rrangArin% 20chi% 20ti%

Trang 37

c ^ iu in /|»‘ Intnií ụ/(io rá ííĩ< sứ tììúỊì líihi hicu 1 4 !

Trạng đối ngay:

- Chó khôn chớ cắn càn.

Câu đối xấc xược làm cụ đồ cay đắng, song vế đối chỉnh quá, chó khôn đừng cắn bậy, mà Khôn và Càn cũng là hai quẻ trong bát quái Cụ đồ khuyên bố mẹ Trư cho Trư đi học

Chính cụ đồ bị ông đối xược ấy dạy ông nãm mới 8 tuổi, ông học rất giỏi, nghe một biết mười, lễ phép, chuyên cần, bạn học có người gấp rười, gấp đôi tuổi đều thương mến Những ngày trời mưa bạn thường cõng ông qua chỗ lội.Khi ở nhà lúc nào ông củng chàm lo đèn sách, khi ra ao rửa bèo, ra vườn hái rau, tay vẫn cầm cái que nhọn vạch xuống đất hoặc vào lá chuối, lá khoai những chữ khó nhớ.Đến khi “biết chừ”, thầy đồ gửi ông ra học cụ Vũ Mộng Nguyên người xã Đông Sơn, huyện Tiên Du, đỗ Thái học sinh không làm quan nhà Hồ mà về dạy học

Là học trò tiêu biểu nhất của cụ Vũ Mộng Nguyên, óng

đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn (1448) niên hiệu Thai Hòa năm thứ 6 đời vua Lê Nhân Tông

Tương truyền đêm trước ngày thi Đình vua Nhân Tông nằm mơ thấy lợn đỗ trạng, vua sai xa giá xem bảng thấy trạng tân khoa là Nguyễn Văn Trư, dân gian coi yết báng cứ kháo thành vè “Long dầu lỢn-Nguyễn Văn Trư”, vua liền đối tên cho Trạng là Nguyễn Nghiêu Tư

Trang 38

142 T u sácỉi V iẻ t ĩ ^ a m - íiất /Iirớí , ctìtì n ^ư ờ

i-Nghè quan Trạng Khi về hưu vua phong “Thượng quốc công chí sĩ” và vỢ được hàm “nhất phẩm phu nhân”

Năm 1459 Lê Nghi Dân giết vua tiếm vị, sai ông đi sứ cầu phong, nhà Minh hoạch:

- Sao lại dám giết em mà tranh ngôi vua?

Nghiêu Tư trả lời:

- Đường Thái Tông giết cả anh là Kiên Thành, em là Nguyên Cát là việc cũ của thiên triều, thì việc nước lôi ngày nay có gì là lạ?

Thấy sứ thần Đại Việt trả lời rất đúng lý nhà Minh đành nhận phong vương

Khi đoàn sứ thần ta tới ải Nam Quan, viên coi cửa ải nhà Minh ỷ thế nước lớn, ngạo mạn treo lên cửa quan một

chữ thập lớn bằng gỗ mà không mờ cửa đón tiếp.

Trạng nói:

- Ý các người muốn coi người Minh là “tung hoành vũ trụ” Đâ vậy thì Đại Việt ta đây “bao quát càn khôn”, sai người bện một cái vòng tròn lớn bằng lụa tết mắc lên đầu chữ thập, cả chừ thập lọt trong vòng tròn ấy

Viên quan coi ải khiếp phục, mở cửa quan nghênh liếp

Khi sắp yến tiệc họ đưa trạng và phó sứ dạo thăm cung điện rồi mới đưa đến đấy Trạng bèn bảo phó sứ cùng ngồi lên sập thất bảo Thấy vậy, quan Minh ra hoạch:

Trang 39

- Cớ sao sứ thần lại ngược ngạo, vô lễ đến như vậy? Không trông lên trên kia xem, chỗ này là chỗ gì?

Trạng ta bình thản:

- Dám thưa, ngài lấy cớ gì cho sứ thần tôi là ngạo? Biển

đề hai chữ Kính Thiên, chiết tự ra là kính nhị nhân (chữ thiên là giời, tách ra là hai chừ nhị nhân là hai người) thực hẳn là ý bản quốc muốn đem cái ngôi này mà hậu đãi sứ thần xa lại Ngài dạy thế chúng tôi quyết không chịu Vả nghe cổ nhân có nói: “Đãi người phưthig xa cốt lấy bụng thực” Tôi nghe Thánh triều lấy thành tín đãi người ngoại quốc Thế mà sứ giả nước xa tới lại đem cái bụng trí thuật làm oai Tôi sỢ người ta nghe tiếng dẫu có lòng thực hướng

mộ, cũng sinh nghi mà không lại nữa

Viên quan nhà Minh thấy trạng nói chẻ hoe như đã rõ gan một từ trước, vội vàng:

- Xin quý ngài xá lỗi Nghĩ là buổi ban đầu, thử xem ngài có phải là bậc tài giỏi không thôi Nhưng quý ngài quả

là bậc thông minh, đà giỏi mà biết trước được như thế còn

hề chi?

Trong thời gian ở Trung Quốc ông lập được nhiều công lớn, nhất là việc dạy hoàng tử học, được vua Minh rất đỗi quý phục phong ông là Lường quốc Trạng nguyên

Song vì ông sinh ra trong nhà bán thịt lợn, tên là Trư và gọi là LỢn, đã là lợn thì phải học dốt Dãn mới bịa ra chuyện rằng thày dạy “Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng”, ông đọc ra “thiên lích thong manh, thánh nằm chỏng gọng”

Thế mà đỗ Trạng nên mọi chuyện gặp may được bịa ra như bia “hạ mã” ông đọc là “bất yên” thì tự dưng trong làng

có đám cháy, con gái Bùi tướng công tên là Phấn ra vế đối

Trang 40

“bát đao phân mề phấn” ông không đối được mới chép vào báo lúc thi đỗ sẽ đối, vào triều đề thi là “thiên lý trọng kim chung”, ông đcm đối vào rồi lại đem vế ấy về đối ớ nhà Bùi tướng công, hay tuyệt vừa đỗ Trạng vừa được vỢ, rồi chuyện cầu mưa, xử kiện, xem bói, đối chừ ứ Trung Quốc thảy đều gặp những sự may mán, trùng hợp đến lạ lùng.

Nghệ sĩ dân gian nào đó đã chép thành chuyện Trạng Lợn

mà ta thường đọc Cực đoan hơn nữa, ở Hà Nam có hẳn sách

Trạng Lợn dài 18 hồi theo kiểu chương hồi Tam Quốc chi.

tuổi ông mới lều chõng đi thi và dỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến

sĩ xuất thân đời vua Hồng Đức thứ 15 (1484) Được bổ làm quan Thượng thư bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu, từng được cử

đi sứ Trung Quốc

Hoạt động và cống hiến của Nguyễn Sư Mạnh chủ yếu ở

thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) và thời Lê Hiến Tông (1498 - 1504) - là thời kỳ phát triển thịnh đạt cúa quốc gia phong kiến Đại Việt

Năm Cảnh Thống thứ 3 (1500), Nguyễn Sư Mạnh tham gia doàn sứ bộ sang nhà Minh, về sự kiện này, các lài liệu

chính sừ như Đại Việt sử kv toàn thư (tập III, Nxb VHTT, H.2003, tr 33); Khâm đựih Việt sử thông giám cương mục (tập

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w