1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ bang giao và những sứ thần tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam: Phần 1

103 106 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 6,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu mô tả quan hệ bang giao của các triều đại phong kiến Việt Nam với các nước Trung Quốc, Chămpa, Ai Lao..., cách ứng xử ngoại giao đĩnh đạc, tự tin của các vương triều Việt Nam nhằm thể hiện tính độc lập, tự tôn. Sách cũng phác họa chân dung một số sứ thần có những cống hiến xuất sắc trong việc thiết lập mối quan hệ bang giao.

Trang 1

NHÓM TRÍ THỨC VỆT

Đ ât nước - C(M 1 ngiiời ^

Quan QỆ bang giao

vã nliựng sụ lliần

llBU biểu

Trong lịch sử Việt Nam

Trang 2

Q u an k í kang Ị^ao và các sứ thần tiỀu kiểu

trong bch sứ V iit Nam

Trang 3

TỦ SÁCH "VIỆT NAM - ĐẤT N ư ớ c , CON NGƯỜI", t í '

lỆT NAM • ĐẤT NUỚC, CON N

ỌUAN HỆ BANG GIAO

Trang 4

Lời nói đẩu

Đảy là một cuốn trong bộ sách “Việt Nam - Đất nước con người”gồm nhiều cuốn về các chủ đề khác nhau Trong cuốn sách này nêu lên những quan hệ bang giao của các triều đại phong kiến Việt Nam với các nước Trung Quốc, Chămpa, A i Lao , mứu tả các cách ứng xử ngoại giao đĩnh đạc, tự tin và tinh tế của các vưcmg triều Việt Nam nhằm thể hiện tính độc lập, tự tôn, có văn hóa với sứ giả nước người, đồng thời lựa chọn một số sứ thần có những cống hiến xuất sắc trong việc thiết lập mối quan hệ bang giao của các vương triều phong kiến Việt Nam với các nước láng giềng {chủ yếu là với phong kiến Trung Hoa) trong chiều dài lịch

sử từ xưa đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 Gương mặt của những người đi sứ ưu tú, đại diện cho tài năng và đạo đức của dân tộc ta, những tấm gương về sự uyên bác, đức độ của nhà ngoại gmo, dù ở hoàn cảnh nào của xã hội cũng ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ, thể hiện bản chất cao đẹp “không làm nhục mệnh vua” trước uy quyền thiên tử luôn ngạo mạn và ké cả Chúng tôi cố gắng tránh sự trùng lắp với các danh nhân đã được giới thiệu trước dãy, như Mạc Đĩnh Chi với biết bao giai thoại đi sứ đã được nói tới trong cuốn “Những Trạng nguyên đặc hiệt trong lịch sử ỉ-^iệt Nam” hay Phan Huv Chú đã giới thiệu trong “Những nhà bác học nổi tiếng trong lịch sứ Việt Nam ”, tuy vậy có một vài trường hợp bất khả kháng nếu không nêu tên như một sứ thần lỗi lạc, ví dụ trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo hay Lê Quý Đón, tuy nhiên, ỏ đây chúng tôi tiếp cận họ từ góc độ nhà ngoại giao là chính.

Trang 5

ó T ù sàcỉì V ii't A' a m - íỉằt mrớí', con n^ười

Trải qua hàng nghìn nám lịch sứ dán tộc ta phải còn nhiều hơìt những người đi sứ các nước, nhưng vĩ khuôn khổ sách có hạn, chúng tôi chi chọn những người, theo đánh giá chủ quan của mình, xứng đáng là đại diện tiêu biêu cho giới ngoại giao dưới thời phong kiến.

Xin trăn trọng giới thiệu cuốn “Quan hệ bang giao và những

sứ thần tiéu biểu trong lịch si’t Việt Nam” với các dộc giả.

NHÓM TUYỂN CHỌN

Trang 6

I - VIỆT N A M TH Ờ I PHONG KIẾN TRO NG Q U A N HỆ BANG G IA O

V Ớ I CÁC NƯỚ C LÁNG GIỀNG

VẤN Đ Ề "SÁ CH P H O N G ” TR O N G QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA CÁC TR lỀ U ĐẠI PH O N G KIẾN

VIỆT NAM VỚI TR U N G Q U ố C

Phan Huy Chú trong Lịc/ỉ triầi hiến chương loại chí đã nhận

xét rất đúng khi nói rằng: “Trong việc trị nước, hoà hiếu với nước láng giềng là việc lớn Nước Việt ta có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nhân dân dựng nước

có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối ngoại thì xưng vương, vẫn chịu phong hiếu, xét lý thế lực phải như thế”[1; 1 3 5 r

“Xét lý thực phải như thế” - đó là cách nói của Phan Huy Chú Nếu chúng ta nói theo cách nói ngày nay thì có thể hiểu

đó là chủ nghĩa hiện thực trong chính sách đối ngoại với đại đế quốc phong kiến Trung Quốc thuở trước Cái “lý” mà Phan Huy Chú đề cập đến ở đây thực chất là: nếu con “cá lớn” Trung Quốc mà định “nuốt” con “cá bé” Việt Nam thì chúng

ta sẵn sàng “tiếp đón” và “tống tiễn” nó đi Khi nó ra đi rồi thì chúng ta lại cư xử mềm mỏng, mềm mỏng nhưng ngoan cường, không yếu hèn để buộc các triều đại phong kiến Trung

khào I trang 135 không để lừng chú thích để tránh lặp lại (NTC)

Trang 7

8 T ú sách V i ỉ t ĩ^ a n i - íỉất n ư ớ c, con iiỊỊirời

Quốc phải tôn trọng mình Đây như đã thành một nguyên tắc chi phối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Trung Quốc suốt các triều đại phong kiến Nguyên tắc ấy là xuất phát điểm cho mọi hoạt động ngoại giao của nước ta thời bấy giờ, trong

đó có hoạt động cầu phong của các triều đại phong kiến Việt Nam vởi Trung Quốc

Có thể nói, trong thờĩ đại phong kiến, vấn đề “sách phong” là một trong hai cơ sở chủ yếu (bên cạnh việc “triều cống”) để xây dựng nên quan hệ ngoại giao giữa các vương triều phong kiến Việt Nam và Trung Quốc Chúng ta có thể xem đây là “một kiểu quan hệ đặc biệt, kinh nghiệm trên thế giới chỉ thấy có trong quan hệ giừa Trung Quốc với các nước láng giềng mà Việt Nam thường được xem là một thí

dụ điển hình, với tất cả tính chất phức tạp, nhiều mặt của no”[3; 49]

Nói đến vấn đề “sách phong” giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với Trung Quốc nhưng thực tế hoạt động cầu phong ấy chỉ thực sự bắt đầu thực hiện rừ thế kỷ X (từ thời Ngô Xương Ngập), sau khi Việt Nam đã thoát ra khỏi ách đô

hộ của phong kiến Trung Quốc, giành lại được nền độc lập hoàn toàn Điều này cũng đồng nghĩa với việc là, chỉ khi nào bị thất bại về mặt quân sự, phải trao trả chủ quyền đất nước cho Việt Nam thì Trung Quốc mới chịu phong vương cho nước ta

Chính Phan Huy Chú trong Lkh triều hiến chương loại chí cũng

đã chỉ rõ đặc điểm này: “Nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu

thông hiếti với Trung Quốc, nhmg danh hiệu còn nhỏ, không được

dự vào hàng chư hầu triầi hội của nhà Minh đường Rồi bị Triệu

Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam Việt Vưcmg, chi được sánh với chư hầu của'Trung Quốc, chứ chưa từng được nêu là một nước Đến sau nội thuộc vào nhà Hán nhà Đường, bèn thành quận huyện Đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục

Trang 8

mớ mang bờ cõi, bấy giờ điền lễ sách phong của Trung Quốc mói nhận cho đứng riêng là một nước"[\, 136].

Vậy là xét về thực chất, việc Trung Quốc phong vưctng cho Việt Nam trước hết là công nhận vị trí độc lập của Việt Nam theo điển lễ đã đưỢc xác định của Trung Quốc với các nước có quan hệ triều cống và thụ phong Và đối với Việt Nam, nước có biên giới ngay sát đại đế quốc phong kiến Trung Quốc, lại đã từng bị Trung Quốc xâm chiếm hàng ngàn năm, thì việc cầu phong luôn được sử dụng như một phương sách ngoại giao để giữ mối quan hệ hoà hiếu với nước láng giềng này

Hoạt động cầu phong ấy kéo dài đến thời vua Tự Đức (triều Nguyễn), bởi đến năm 1885 với hoà ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Hoa thì đã chấm dứt vĩnh viễn quan hệ thượng quốc - chư hầu giữa Việt Nam với Trung Quốc

bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc thời phong kiến

Có thể nói, dưới thời đại phong kiến ở nước ta, các vị vua sau khi giành được chính quyền đều có mong muốn xin phong vương với Trung Hoa Cái lý buộc các vua phong kiến Việt Nam xin phong vương cũng như các triều vua trước đó là ở cái thực tế: Việt Nam là một nước nhỏ, sát cạnh ngay một quốc gia phong kiến Trung Hoa lớn gấp nhiều lần, lại thường xuyên có mưu đồ thôn tính Việt Nam

Vì thế, để đảm bảo an ninh, để có thể duy trì quan hệ hoà hiếu với nước láng giềng khổng lồ ấy, các vua nước ta phải

có đường lối đối ngoại “mềm dẻo”, “lấy nhu, thắng cương”, giả danh “thần phục”, cầu phong Trung Quốc

Hơn nữa, khi cầu phong Trung Quốc, bên cạnh lợi ích

dân tộc, các vị vua ờ nước ta còn tính đến lợi ích giai cấp

Trang 9

10 T ủ ĩácỉì V iớ t T^atn - J ả t n ư ớ f, con n^ườỉ ■■

dòng họ mình, bởi ngay từ đầu họ đã nhận thấy sự cần thiết phải khẳng định chính thống, hỢp pháp hoá sự tồn tại của triều đại mình, để ổn định “nhân tâm” và cũng là để làm chỗ dựa hậu thuẫn bảo vệ quyền lợi lâu dài của dòng họ Điều này đồng nghĩa với việc họ phải sớm được “thiên triều” Trung Quốc phong hiệu

Không những vậy, các vị vua dưới thời phong kiến nước

ta cũng nhận thức sâu sắc được cần có sự phong vương của Thiên triều để khẳng định vai trò của mình với các nước trong khu vực Có như vậy mới thực hiện được ý muốn của các triều đại phong kiến Việt Nam: tự coi mình như một

“Trung Quốc” nhỏ hơn ở phía Nam đối với các nước chư

hầu, ngang hàng với nước Trung Quốc ở phía Bắc Điều này

được thể hiện đặc biệt rõ nét dưới thời nhà Nguyễn

Trong khi đó, bản thân Trung Quốc cũng sẵn lòng chấp nhận việc cầu phong của các vị vua nước ta vì một mặt nó là phương tiện giao hảo, duy trì không để quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam bị cắt đứt, mặt khác để cốt giữ lấy cái quan

hệ giữa “thiên triều” Trung Hoa với “phiên thần” Việt Nam như là một nhu cầu thiết thân về cả lợi ích chính trị lẫn kinh tế của mình Do đó, sau những đoàn sứ bộ của nước ta sang cầu phong, các vua Trung Quốc đã cử sứ sang ban sắc phong cho các vua Việt Nam

Vì những lý do ấy, suốt từ thời Ngô (từ Ngô Xương Ngập) đến thời Nguyễn, các vị vua phong kiến Việt Nam ngay khi lên ngôi, việc dầu tiên là xin phong vương của các hoàng đế Trung Hoa

với Trung Quốc thời phong kiến

Sau đây là bảng thống kê việc các vua nước ta cử sứ giả

Trang 10

Ọ t ia n lié iH iiìĩị ĩịia o r à rd c s ir llì ầ n tiê u h icu 1 1

sang Trung Quốc cầu phong và việc vua Trung Quốc ban sắc phong cho ta từ triều Ngô (bắt đầu dưới thời Ngô Xương Ngập) đến triều Nguyễn (Theo Ngô Sĩ Liên và các sử thần

triều Lê, 1967-1972 Đại Việt sử ký toàn thư Nxb KHXH, tập

1, 2, 3, 4; Phan Huy Chú, 1961 Lịch triều hiến chương loại

chí - Bang giao chí, bản dịch Nxb Sử học, Hà Nội; Quốc sử quán triều Nguyễn, 1993 Khâm đụth Đại Nam hội điển sự lệ,

phần chính biên, Nxb Thuận Hoá, gồm 15 tập và Quốc sử

quán triều Nguyễn, 1962-1978 ỡ ạ i Nam thực lục, Nxb

KHXH, gồm 38 tập.)

T ên các

triều đại

Nước ta sang Trung Quốc cầu phong

Sắc phong của hoàng đế Trung Quốc ban cho vua Đại Việt

1 Triều

Ngô

- Ngô Quyền chưa

xin phong vương

Hoàng sai con là

Đinh Liễn sang

- 975: Phong Đinh Tiên Hoàng làm Nam Việt Vưctng

và p)inh Liễn làm Giao Chi Quận vưctng.

Trang 11

đô đốc Giao Châu chư quân

sự, An Nam đô hộ, Tĩnh hải quản Tiết độ sứ, Giao châu quán nội quan sát xử trí đằng

sứ, Kinh Triệu Quận hầu.

- 988; Vua Tống phong cho làm Kiểm hiệu Thái uý.

- 993; Phong làm Giao Chi Quận vương.

- 997: Phong làm Nam Bình vương kiêm Thị trung.

- 1010; Phong Lý Thái Tổ chức Kiếm hiệu Thái phó, Tinh hái 'nết độ sứ quan sát

sứ, Xử trí sứ, An Nam đô hộ, Ngư sứ đại phu, Thượng trụ quốc Giao Chỉ Quận vưctng Sau thêm Đồng binh chương sự.

- 1012: Phong thêm: Khai phủ nghị đồng tam ti.

- 1014: Phong thêm Bảo Tiết Thù Chinh công thần.

- 1018: Phong thêm: Kiểm hiệu Thái uý.

- 1022: Phong thêm Kiểm

Trang 12

C^iuiỊt Ịìè lnỉiiịị ĩỊÌao và vác sứ lỉiầii liêu lúvỉi 1 3

- 1055: Vua Lý

Thánh Tông sai sứ

sang Tống cáo tang.

- 1138; Vua Lý Anh

Tông sai sứ sang

hiệu Thái sư.

- 1028: Phong thêm Thị 'Trung Nam Việt vương.

- 1028: Phong cho vua Lý 'Thái Tông làm An Nam đô hộ Giao Chỉ Quận vương.

- 1032: Phong thêm: Đồng 'Trung 'Thư môn hạ Bình chương sự.

- 1034: Phong thêm Kiểm hiệu 'Thái sư.

- 1038; Phong vua làm Nam Bình vưttng.

- 1055: phong Tăng 'Thị 'Trung Nam Việt vưttng.

- 1055: Sách phong vua Lý 'Thánh 'Tông làm Kiểm hiệu Thái uý tĩnh hái quân 'Tiết độ

sứ, An Nam đô hộ Giao (T í Quặn vưttng.

- 1064: Phong thêm: Đồng trung thư môn hạ Bình chưttng sự.

- 1068: tiến Nam Bình vư(tng.

- 1074; phong vua Lý Nhân 'Tông làm Giao Chi Quận vương.

- 1086: phong vua làm Nam Bình vưiTng.

- 1130: Phong vua Lý 'Thần 'Tòng làm Giao (T í Quận vương.

- 1138: Phong vua Lý Anh 'Tông làm Giao (T i Quận

Trang 13

rống cáo tang

1 hằn Tông.

vương.

- 1175: Đặc cách phong vua làm An Nam Quốc vưtmg"’.

- 1177: Phong vua Lý Cao Tỏng làm An Nam Quốc vương.

5 Triều - 1229; Vua Trần - 1229: Phong vua Trần Thái Trần Thái Tông sai sứ l'ông làm An Nam Quốc

sang thăm nưttc

Tống.

vương.

- 1261; Vua Trần - 1261: Vua Mông c ố phong Thánh Tông sai sứ vua Trần Thánh Tông làm An sang thăm nưtíc Nam vưctng.

Mòng Cổ - 1262: Nhà Tống phong vua

làm An Nam Quốc vưiíng, gia phong Thượng hoàng làm An Nam đại vương.

1290: Thượng - Nhà Nguyên không cho sứ hoàng (Thánh

Tông) băng, sai

Đình Giới sang báo

tang và xin phong.

sang phong.

- 1368; Vua Trần - 1368: Vua Minh Thái Tổ

Dụ Tông sai sứ sang phong cho vua Trần Dụ Tông thăm nhà Minh làm An Nam Quốc vưimg.

6 Triều - 1403: Hồ Hán - 1403: Nhà Minh phong Hồ

Hồ Thưitng sai sử sang Hán Thương làm An Nam

Minh xin cầu

phong.

Quốc vưttng.

7 Triều - 1427; Vua Lê Thái - 1427: Nhà Minh Phong Trần

Lê sơ Tổ sai người dâng Cáo làm An Nam Quốc vưtmg.

' 'I hco i’han lluv chú: Lịch triều hiến chương loại chi Sdd Ir 138:

Trang 14

c^uưn ỈÌV liunịị ịỊÌuo và Cík sứ tỉìần tiêu Ịìicu 1 5

biến cầu phong cho

Trần Cảo.

- 1429; Vua Lê Thái - 1431: phong vua Lê Thái l'ổ

Tố sai sứ sang xin

sách phong.

quyền thự An Nam Quốc sử.

- 1434: Vua Lé - 1435; Quốc vương đem sắc Thái Tông sai sứ cho vua Lê Thái Tông quyền sang báo tang Thái

Tổ và cầu phong

coi việc nước.

- 1442: Vua Lê

Nhân Tông sai sứ

sang báo Tang Thái

Tông và cầu phong.

- 1460; Vua Lẽ 1462: Phong vua Lê rhánh Tông sai sứ Thánh Tông làm An Nam sang cầu phong Quốc vưttng.

- 1497: Vua Lê - 1499: Phong vua Lê Hiến Hiến Tông sai sứ Tông làm An Nam Quốc sang báo lang Thánh

Tông và cẩu phong.

vưtmg.

- 1504; Vua Lê Dục - 1506: Phong vua Lê Dục Tông sai sứ sang Tông làm An Nam Quốc báo tang Hiến Tông

và cầu phong.

vương.

1510; Vua Lé - 1513; Phong vua Lê Tương rưííng Dực sai sứ Dực làm An Nam Quốc sang cầu phong vưiTng.

8 Triều - 1540: Mạc Dâng - 1540; Phong cho Mạc Đăng Mạc Dung sai sứ mang Dung làm Đô Thống sứ, ắn

hàng biến sang Yên bạc nha môn lòng nhị phẩm Kinh cầu phong ấn khắc chữ; An Nam Dô

thống sứ ty.

9 Triều - 1597; Vua Lê Thế - 1598: phong vua Lê Thế

Lé Trung 'l'ông sai sứ sang Tông làm An Nam Đô thống

Trang 15

16 T ù sứcỉì V iê t 7 ^a m - (ỉiit iurớCf con nííirờỉ

Hưng cầu phong.

Toán cho sứ sang

báo tang và xin sắc

phong.

- 1789: Phong vua Quang Trung làm An Nam Quốc vưtTng.

- 1792: Phong vua Quang Toản làm An Nam Quốc vương.

11 Tricu - 1802: Vua Gia - 1804; Vua Thanh cứ người Nguyền Long cử sứ bộ do mang cáo, sắc, ấn dcn làm lẻ

Lê Quang Định

làm chánh sứ sang

xin phong vương

tuyên phong cho Gia Long.

- 1820: Vua Minh - 1822: Vua Thanh cừ người Mạng cử sứ bộ do mang cáo, sắc làm lẽ tuyên

ty Đ ô thống sứ.

- 1647: Phong cho Thần Tông (lúc này là Thái thượng hoàng) làm An Nam Quốc vương.

- 1651: Phong cho chúa Trịnh

là Phó Quốc vương.

- 1667: Phong vua Lê Huyền Thông làm An Nam Quốc vương.

- 1683: Phong vua Lê Hi Tông làm An Nam Quốc vương.

- 1719: Phong vua Lê Dụ Tông làm An Nam Quốc vương.

- 1734: Phong vua Lê Thuần Tông làm An Nam Quốc vương.

- 1761: Phong vua Lẽ Hiển Tông làm An Nam Quốc vương.

- 1778: phong Lê Chiêu Thống

Trang 16

C ịitan hè ìxtnii ịỉịao rà rút' sứ thần tiêu hiếu, 1 7

Ngô Thì Vị làm

chánh sứ sang báo

tang vua Gia Long

và xin phong vương

cho vua Minh

phong cho Minh Mạng

Mạng

- 1841: Vua Thiệu - 1842: Vua Thanh cử người Trị cử sứ bộ do mang sắc để làm lễ sách phong chánh sứ Lê Văn cho Thiệu Trị

Phúc sang báo tang

vua Minh Mạng và

xin phong vương

cho vua Thiệu Trị

- 1848: Vua Tự Đức - 1849: Vua Thanh cử người

cử sứ bộ báo tang mang sắc thư làm lễ sách vua Thiệu Trị và

xin phong vương

cho vua Tự Đức

phong cho Tự Đức

Qua bảng thống kê trên, chúng ta nhận thấy: việc xin phong vương của các triều đại phong kiến nước ta bắt đầu từ khi nước ta giành lại đưỢc độc lập chủ quyền từ thế kỷ X dưới thời Ngô, qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần,

Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn Tây Sơn; Nguyễn, việc xin phong vương theo quy định là một việc đặc biệt hệ trọng trong quan hệ ngoại giao giữa nước ta với Trung Quốc

mà hầu như không một triều đại nào ở nước ta bỏ qua

Cứ theo thông lệ bình thường, khi nước ta có vua qua đời, vua'mới lên nối ngôi lại cử một sứ bộ sang Trung Quốc báo tang và một sứ bộ sang xin phong vương Hai sứ bộ này

do hai vị quan cao cấp đứng đầu và cùng đi trong một đoàn,

về phía Trung Quốc, sau khi vua nhận được biểu của vua Nam thì cũng cử 2 bộ sứ bộ, một phong vương cho vua mới

và một sang tế vua đã chết, trong đó có một trong hai vị

Trang 17

18 T ú sách V iê t T^aitì - Jẳ1 n ư ớ c , con itĩỊười

chánh sứ làm trưởng đoàn chung Theo sự thống kê của Phan

Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, chúng ta thấy:

sứ thần được mà Trung Quốc cử sang có thể là một vị quan cao cấp trong triều như Thượng thư, Thị lang, hay cũng có khi là các quan đầu tỉnh biên giới gần nước ta như Tổng đốc Lưỡng Quảng hay Tuần phủ Các sứ thần do vua Trung Quốc

cử sang mang sắc phong cho vua nước ta, nếu là triều đại mới lên nắm quyền thì được ban cho cả ấn vàng - tượng trưng cho quyền lực của Thiên triều Tiếp đó, việc phong vương sẽ diễn

ra theo nghi thức, thủ tục rất long trọng tại kinh đô (thời Đinh, Lê là ở Hoa Lư, các đời sau diễn ra ở Thăng Long; đến thời vua Tự Đức dưới triều Nguyễn diễn ra ở kinh đô Huế) từ việc đón tiếp sứ bộ Trung Hoa, các nghi lễ phong vương đến việc ban thưởng và chiêu đãi sau lễ thụ phong của các vị vua phong kiến nước ta Cụ thể;

Khi nhận được tin phái đoàn Trung Quốc mang sắc thư

và quốc ấn của vua Trung Quốc sang phong vương, các vua phong kiến nước ta lúc này đều cử những quan chức cấp cao của triều đình làm hậu mệnh sứ cùng với hàng nghìn lính và các tuỳ tùng lên tận Nam Quan để đón Trên đường đến nơi làm lễ phong vương, hàng loạt trạm hay còn gọi là các công quán được dựng lên Đó là những ngôi nhà sang trọng cho phái đoàn và tuỳ tùng nghi chân Tiêu biểu như công quán ở Đồng Đăng thời vua Minh Mạng (triều Nguyễn) Đây là một nhà vuông, hai phía phải và trái đều có thêm nhà phụ, mỗi nhà

có 5 phòng chính, hai nhà ngang và một nhà có 5 phòng chính

và 2 phòng ngang Tất cả đều lợp ngói Ngoài ra còn có nhà để cúng bái, 2 trại lính [4; 23-44] Qua đó để thấy sự đón tiếp rất long trọng các sứ bộ Trung Hoa của nước ta

Đến lễ phong vương cho các vua phong kiến nước ta, các nghi lễ diễn ra theo một trình tự chặt chẽ trong không khí rất

Trang 18

long trọng Sau đây xin trích một đoạn tả cành lễ phong vương của sứ bộ nhà Thanh cho các vua Nguyễn được giám mục Pellesin ghi lại và được Cadiere dẫn ra trong bài viết của mình

ở cuốn: “Những người bạn cố đô Huế” năm 1916

“Hoàng đế (Trung Hoa) chỉ định một Chánh sứ và một Phó sứ Khi đến biên giới An Nam, vua (An Nam) sẽ cử những

vị quan đến đón họ và có trọng trách chờ đợi họ một cách cung kính Các quan An Nam lễ kính cẩn đón nhận cái tráp rồng đựng những phong phẩm của hoàng đế, có nghĩa là phải quỳ

ba lần, lạy chín cái (đầu đụng vào đất) trước cái tráp

Quan An Nam phải quỳ một lần, lạy ba lạy trước vị Phó đại diện của hoàng đế

Khi đoàn đến địa phận An Nam thì các giấy tờ từ triều đình Trung Hoa, và các đồ vật từ hoàng đế Trung Hoa gửi đến phải được cất giữ tại nhà khách dành cho phái đoàn Trung Hoa

Sau khi làm thủ tục quỳ lạy thường lệ trước các phong phẩm ấy, các đại diện An Nam phải lạy ba lạy trước các đại diện Trung Hoa và đại diện Trung Hoa không được miễn cho các đại diện An Nam khỏi phải lạy

Vào ngày như đã ấn định, tuyên đọc các tờ sách phong, thì vua An Nam cùng thái tử và quan chức sẽ đến nhà khách của các đại diện ở để làm lễ đón rước các văn kiện của hoàng

đế và cái tráp rồng Sau khi đã lễ bái theo thủ tục trước các phong phẩm, thì vua tự về cung và tờ sách phong đựng trong tráp rồng cũng như các tặng phẩm từ hoàng đế sẽ được đặt vào một cái xe riêng và đưa về hoàng cung

Đoàn sứ giả Trung Hoa được dẫn đầu bởi cờ hiệu hoàng

đế, trống và nhạc công, họ đi qua cửa chính và theo sau là các vật phẩm để trao gửi; họ bước lên các tầng cấp của điện

Trang 19

20 T ú S í i c l ì V ic t ĩ ^ a n i - Í Ỉ ( U Í ÌỈC Ớ Í-, con t K Ị ĩ r ờ i

vua mà ở giữa đã đặt sẵn một hương án và hai bên cạnh có hai bàn khác nữa Bàn giữa là nơi đặt các tặng vật do hoàng

đế Trung Hoa gửi sang

Vua, thái tử cùng các quan lại An Nam làm lễ trước các vật ấy bằng ba quỳ, chín lạy và sau đó đến quỳ trước bàn đã đặt tờ phong sắc để nghe đọc tờ này Khi đọc xong thì tờ sắc được đặt trở lại trên bàn và vua lại quỳ ba quỳ lạy chín lạy rồi đứng đậy Các sứ giả Trung Hoa cáo từ, vua và đoàn tuỳ tùng tiễn chân họ đến tận ngoài rồi trở về cung ”[7; 306]

Rõ ràng chúng ta thấy các vua nước ta đă phải “nhún nhường”, thực hiện những nghi lễ vô cùng long trọng và mệt nhọc để nhận được sắc phong của hoàng đế Trung Hoa.Sau lễ thụ phong ấy, các vị vua dưới thời phong kiến nước la còn ban thưởng và chiêu đãi rất hậu cho các sứ thần Trung Hoa Ví như; vua Minh Mạng sau lễ thụ phong đã chiêu đãi phái đoàn Trung Hoa một bữa cỗ thượng hạng (30 món), sáu bàn thứ phẩm (40 món) và 29 bàn hạng ba (30 món mỗi bàn) Ngoài ra còn có thêm 16 món ăn tráng miệng; không những thế, vua còn tặng quà rất hậu: 10 nén bạc mỗi nén 10 lạng, 4 livre'** quế hạng tốt, 20 tấm vải hoàng bố; 20 tấm vải bông Ngoài số quà đó còn có thêm: 2 sừng tê giác, 1 đôi ngà voi, 1 bộ li rượu bằng vàng, 2 livre trầm hương [8; 90-92] Đó là chưa kể đến số quà của các quan chức chỉ định như đại diện biếu cho các sứ thần Trung Hoa trên đường về đến Nam Quan

Có thể thấy, từ việc đón tiếp sứ bộ Trung Hoa, việc thực hiện những nghi lễ phong vương long trọng đến việc ban thưởng và chiêu đãi sứ thần Trung Hoa sau lễ thụ phong là

cả một sự “nhún nhường” của các vua nước ta với mục đích

I livre của l’háp ngàv xưa lương đưiTng 0.5kg hiện nay.

Trang 20

( ^ u a n hè /«i/K( ĩịiao rà cúc sứ thần tiên hiến 21

nhận được sắc phong cùa hoàng đế Trung Hoa Mặt khác, chính sự “nhún nhường”, mềm dẻo này cũng đã toát lên được tầm quan trọng của việc xin phong vương từ hoàng đế Trung Hoa của các vua triều Nguyễn như thế nào? Một mặt nhằm cốt giữ quan hệ hoà hiếu giữ hai nước, mặt khác đảm bảo lính chính thống, hỢp thức hoá sự lên nắm quyền của mình, phục vụ cho quyền lợi giai cấp dòng họ về láu dài Đó

là phương cách giả danh “thần phục”, nhún nhường với Trung Quốc mà triều đại nào ở Việt Nam cũng áp dụng trong ứng xử với Trung Quốc

Song dù được quy định nghiêm ngặt, nhưng qua theo dõi diễn biến việc sách phong, cầu phong của các vua Đại Việt như bảng thống kê trên chúng ta thấy, việc thực hiện ra sao là tuỳ thuộc vào tương quan so sánh lực lượng giữa Trung Quốc và nước ta cũng như vào tiềm lực và vị thế của bản thân hai nước

Từ Đinh Tiên Hoàng dến Quang Trung, sau khi lên ngôi hầu hết đều sai sứ sang Trung Quốc xin cầu phong, nhưng trong rất nhiều trường hỢp, chính “Thiên triều” Trung Quốc chủ động sai sứ sang sách phong chứ các vua nước Nam không sang cầu phong Điển hình như các vua triều Trần nhường ngôi nhau, chưa sang cầu phong: Trần Thái Tông (1225 - 1258), Trần Thánh Tông (1258 - 1278), Trần Nhân Tông (1279

- 1293) Hay khi mới dựng nước, nhà Đinh, Lê chỉ được phong làm Kiểm hiệu Thái sư, Giao Chỉ Quận vương rồi tiến dần lên Nam Bình vương Đến thời Lý, vua Lý Anh Tông mới là vị vua đầu tiên được nhà Tống phong làm An Nam Quốc vương

và cũng lần đầu tiên nước ta được gọi bằng quốc hiệu An Nam Qua đó để chúng ta thấy tương quan lực lượng giữa hai nước có tác động như ihế nào tới quan hệ bang giao Hay nói cách khác quan hệ bang giao cũng là tấm gương phản ánh thế

và lực của mỗi quốc gia

Trang 21

22 T ủ Siíclì T i é t ì ^ a m - (ỉiĩt Ịxước, con lìĩỊirờí

Dưới ảnh hưởng của tư tưởng triết học Trung Hoa mà chủ yếu là Nho giáo, các vị vua thời phong kiến Việt Nam đều đã tự đặt quyền lực “trời” ban cho mình dưới quyền lực của “Thiên triều” Trung Hoa và xem đó như là một điều hctp lẽ trời trong quan hệ giữa nước lớn với nước nhỏ Các vua nước ta lúc này dù xưng là hoàng đế với thần dân trong nước, song với họ nếu chưa đưỢc Thiên triều công nhận qua

“sách phong” thì cũng vẫn chưa có sự đảm bảo giá trị hỢp pháp trong mắt người dân và các nước lân cận Do vậy, từ thời Ngô Xương Ngập (triều Ngô) đến thời vua Thiệu Trị (triều Nguyễn), các vua đều phải xin phong vương sau khi

lên ngôi, thậm chí các vua triều Nguyễn tuy đóng đô ờ Phú

Xuân (Huế) nhưng đều phải thân chinh ra Thăng Long để làm lễ tuyên thụ Riêng đến thời Tự Đức (triều Nguyễn) thì nghi lễ tuyên phong đã được diễn ra ở Huế với những nghi thức trang trọng, tốn kém theo đúng thứ tự nghi lễ cổ xưa Điều đó đã minh chứng rõ nét rằng: các vua nước ta đều tuân theo sự phân định ngôi thứ một cách rỏ ràng: “chư hầu” thì phục tùng “Thiên tử” cho đúng phép, đúng lễ

Bề ngoài thì như vậy, song ta nên hiểu thực chất của việc sách phong, triều cống này ra sao?

Trong tư tưởng của các triều đại phong kiến nước ta - đại diện cho cả dân tộc Việt Nam lúc này cũng giống như tư tưởng của người Việt Nam hàng nghìn năm qua luôn hiểu khái niệm “độc lập” có nghĩa là đất nước hòa bình, không

có ngoại xâm, phương Nam và phương Bắc cương giới phân định rõ ràng, còn “lệ thuộc” được hiểu là bị mất độc lập, bị ngoại bang xâm chiếm đất đai, lảnh thổ và bị đè nén, áp bức trên mọi lĩnh vực Nếu chúng ta đối chiếu cách hiểu trên với việc sách phong, triều cống thời bấy giờ thì rõ ràng là việc

Trang 22

thực hiện sách phong, triều cống của các triều đại phong kiến Việt Nam với Trung Hoa lúc này xét về cơ bản là không xâm phạm vào nguyên tắc “độc lập”, tức là sẽ không

bị “lệ thuộc” theo cách hiểu như trên Thực tế cho ta thấy danh hiệu “Quốc vương” mà Trung Hoa phong cho các vua nước ta chỉ mang tính chất tượng trưng mà thôi Các vị vua dưới thời phong kiến Việt Nam ngoài thì xưng vương nhưng trong nước lại xưng đế với thần dân Hơn nừa, tuy danh nghĩa là “Thiên tử” đứng đầu “Thiên hạ” song thực tế thì Trung Quốc không được biết gi nhiều về những công việc nội trị của Việt Nam, ngoài những thông báo mang tính nghi lễ ngoại giao việc vua này lên ngôi, vua khác băng hà Không những vậy, chúng ta còn dễ dàng nhận thấy hễ khi Trung Quốc có ý đồ xâm lấn đất đai biên giới, lãnh thổ hay khi an ninh biên giới bị đe doạ thì các triều đại phong kiến nước ta đều kiên quyết đánh trả bằng mọi phương tiện quân chính trị, ngoại giao, quân sự

Có thể nói, không phải ngẫu nhiên mà Tsuboi

trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa đã nhấn

mạnh rằng: “Lịch sử của đất nước Việt Nam cũng là lịch sử của sự khẳng định độc lập với Trung Hoa”[9; 43] Điều này đúng không chi trong thời chiến mà cả trong thời bình Quả thật, lịch sử Việt Nam đâ hằn sâu dấu ấn của cuộc chiến đấu chống đế quốc Trung Hoa Song sang thời bình ông cha ta

đả thực hiện một tập tục khôn khéo, kéo dài hàng ngàn năm bắt đầu từ Khúc Thừa Dụ là “Độc lập thật sự, thần thuộc danh nghĩa” để ngoại giao được với một nước như Trung Quốc, để giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn lảnh thổ và hoạt động cầu phong của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng không nằm ngoài mục đích tối cao ấy

Trong bối cảnh hiện nay, khi xu thế toàn cầu hóa, quốc

Trang 23

24 T ù sá d ì V iê t ỉ^ a iii - j ầ l m rớc, con íiíỊinyi

tế hoá đang lôi cuốn mỗi một quốc gia, dân tộc, khi xu hướng hòa bình, hỢp tác, phát triển đã thành xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới thì công tác ngoại giao lại càng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi dân tộc trong việc giữ vững nền độc lập, mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới Tuy rằng quan hệ với các nước lớn ngày xưa và ngày nay có khác nhau song những phương cách ứng xử mà ông cha ta để lại có thể gỢi lên cho chúng ta tìm ra nhừng đối sách thích hợp để ứng xử với các nước lớn trong thời đại ngày nay

[3] Tạ Ngọc Liễn, 1995 Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thế

kỷ X V -đ a u thế ký XVI NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[4] Nguyền Thế Long, 2005 Bang giao Đại Việt triều Nguyễn Nxb

Văn hoá Thông tin.

[5] Quốc sử quán triều Nguyền, 1962-1978 Dại Nam thực lục, Nxb

KHXH, gồm 38 tập.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, 1993 Khăm định Đại Nam hội điển

sự lệ, phần chính biên, Nxb Thuận Hoá, gồm 15 lập.

[7] Trích tập san Nhi/ng người bạn cố đô Huế năm 1916, 1993 Nxb

Thuận Hoá.

[8] Trích tập san Những người bạn cố đô Huế năm 1917, 1993 Nxb

Thuận Hoá.

[9] Yoshiharu Tsuboi, 1992 Nước Dại Nam đối diện với Pháp và

Trung Hoa 1847 - 1885 Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội.

T h S Nguyễn T h ị M ỹ H ạnh

K hoa V iệt N am học, Đ H S P H à Nội

Trang 24

LƯỢC S Ử QUAN HỆ ĐẠI V IỆT - CHĂM PALịch sử quan hệ ngoại giao của Đại Việt với các nước lân bang như Trung Hoa ở phía Bắc, Ai Lao (Lào ngày nay)

ở phía Tây, Chămpa ở phía Nam đã tạo nên một mạng lưới giao thoa chằng chịt tới mọi linh vực của đời sống xã hội và xuyên xuốt diễn trình lịch sứ Việt Nam Bên cạnh người láng giềng phương Bắc hùng mạnh, luôn có xu hướng thâu tóm, đồng hóa và sáp nhập Đại Việt thành một phần lảnh thổ cúa họ, Đại Việt còn phải ứng xử với những người láng giềng ở phía Tây và phía Nam Không to lớn, vĩ đại như người khổng lồ Trung Hoa nhưng Chămpa và Ai Lao luôn làm cho các triều đại trong lịch sử Việt Nam phải để mắt, tính toán đến mỗi khi có những biến cố quan trọng Đặc

biệt là với người Chàmpa ờ phương Nam mà sử Việt hay

Tàu trước kia gọi là Lâm Àp, rồi Chiêm Thành

Xét về thời điểm lập quốc thì nhà nước (vhàmpa ra đời

từ khá sớm, vào khoảng cuối thế kỷ II Vào khoảng thời gian này, các mô hình nhà nước Việt sơ khai đả bị lan rà bởi sự xâm lấn của Trung Hoa và đang trong thời kỳ Bắc thuộc Do lãnh thổ có khoảng cách xa xôi, địa hình hiểm trớ, đi lại khó khản nên chính quyền đô hộ không thể can thiệp hoặc xâm lấn quá sâu vào lảnh thổ Chãmpa Bên cạnh đó, vàn hóa Nam Á lại có một hành trình riêng biệt và ảnh hưởng mạnh

mẽ đến các quốc gia Đòng Nam Á nói chung và Chãmpa nói riêng Hội tụ hai điều kiện trên, Chàmpa đâ phát triển độc lập vơi một thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa khác biệt so với Trung Hoa Khoảng thế ký IX, X, Chãmpa đã có những thành tựu rực rỡ về kinh tế, chính trị và văn hoa Khi đó, Đại Việt mới bước vào quá trinh tái cấu trúc mô hình nhà nước độc lập, tự chủ sau nghìn năm Bắc thuộc Từ khi

Trang 25

26 T ú :ỉáclì V íi’t ĩ*Jíiĩn - liất ĩtỉrớc, con n^ưởi

Chămpa lập quốc cho đến trước khi Đại Việt tái cấu trúc nhà nước, mối quan hệ bang giao đâ diễn ra rồi, mặc dù đó

là quan hệ với chính quyền đô hộ Tuy nhiên, khoảng thời gian này đả tạo tiền đề cho một giai đoạn quan hệ, giao thoa sôi động trong thời Trung đại của lịch sử Việt Nam

Trong diễn trình lịch sử của Việt Nam, quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa có thể được chia thành 4 giai đoạn chính

Bắc thuộc

Đây là thời kỳ sơ khởi cho quá trình bang giao kéo dài giừa Đại Việt và Chămpa sau này Những dấu ấn không nhiều nhưng cũng đủ cho chính sử Đại Việt ghi chép đưỢc một số cuộc đụng độ giữa chính quyền đô hộ với Chiêm Thành (bao gồm cả việc người Chiêm liên kết với một vài cuộc khởi nghĩa của người Việt để chống lại chính quyền đô hộ)

Từ trước năm 192 đến 248, quan hệ giữa chính quyền đô

hộ với Chămpa chủ yếu xảy ra theo con đưímg chiến tranh

“Đời vua Quang Võ nhà Đông Hán, năm 40, ở Giao Chỉ, hai chị em Bà Trưng khởi nghĩa, man di ở Nhật Nam có hưởng ứng Nhà Hán sai Mã Viện sang đánh dẹp, không đầy 3 năm bình định hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, nhưng quân Hán vào đến hai huyện Cự Phong, Vô Công cùa quận Cửu Chân rồi trở lui, chứ không vào đến quận Nhật Nam (tuy nhiên, Mã Viện cũng lập đưỢc cột trụ đồng để đánh dấu cương vực ở Hà Tĩnh ngày nay - Đ.Đ.T)“’

Sau khi người Chăm lập quốc và tự gọi vương quốc của mình là Chămpa, sứ Trung Hoa và Việt gọi là Lâm Ảp, thì

Nuô Sỹ Liên D ạ i I 'ici sir ký lo àn ih ir. lập 1 N \b K lio u hụ c X ã h ộ i. I là Nọi 1972 lr.9'ỉ.

Trang 26

( ^ I ia n lìc Ịh iriịị ^ ia o r ù rá c sứ th ầ n lic t i hiưu 27

mối quan hệ, giao thoa giữa chính quyền đô hộ với Chămpa bắt đầu Những lần triều cống ít ỏi vào buổi đầu thành lập quốc gia khiến cho quá trình giao thoa bằng con đường hòa bình diễn ra rất hạn chế Cho đến khi Ngô Quyền chấm dứt nghìn nãm Bắc thuộc, đã liên tục xảy ra những cuộc đụng

độ giừa Chămpa và chính quyền đô hộ

Quan hệ giữa Chămpa với chính quyền đô hộ thời Đường

cũng không mấy sáng sủa như các triều đại trước Theo Đại

Việt sti kv toàn thư, cho đến trước năm 938, chi có lần đụng độ

duy nhất vào năm 722, khi Mai Thúc Loan nổi dậy liên kết với người Lâm Âp để chống lại chính quyền đô hộ

Trong gần 1.000 năm, số lần va chạm giữa Chămpa với chính quyền đô hộ đóng trên lãnh thổ Đại Việt không nhiều nhưng việc đó cũng đánh dấu sự lớn mạnh của Chămpa Duy trong chính sử của Đại Việt có ghi lại hai sự kiện về mối quan hệ đầu tiên giừa cư dân Việt với người Chămpa.Sau khi Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, vào nãm 543, “mùa hạ, tháng 4, vua Lâm

Âp cướp quận Nhật Nam, vua (Lý Nam Đế) sai tướng là Phạm Tu đi đánh tan ở quận Cửu Đức”“ * Sau sự kiện này phải đến gần 200 nãm sau, vào năm 722, Mai Thúc Loan đã liên kết với người Châm để chống lại triều đình đô hộ nhà

Đường Sự kiện này, Đại Việt sử kv toàn thư đã dẫn theo Tăn

Đường thư: “ Tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giừ

châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với nước Lâm Âp, Chân Lạp, số quân nói đến 30 vạn người Đường đế sai Nội thị tá giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc và đô hộ

sở là Quang Sở Khách đánh dẹp dưỢc”'*’

Hai sự kiện ít ỏi trong một quãng thời gian quá dài khó

m C)Nuô S\ l.icn D ạ i ỉ iệ í sư ký lo à n íhư. lập 1 sđd Ir 130 1 16.

Trang 27

28 7 li sáclì V ic l ì^ íitn - itíỉl n ư ớ c, con niịirời

chất khách quan về mối quan hệ Việt - Chám và những giá trị vãn hóa đã được giao thoa Nhưng với các sự kiện xảy ra không nhiều lại kéo dài trong khoảng thời gian gần 1.000 nãm cũng đủ để ta có thể tạm nhận định rằng, nhừng hoạt động quân sự cũng như ngoại giao đã diễn ra từ đáy và là tiền đề cho quá trình giao quan hệ giữa Đại Việt với Chảmpa ở giai đoạn sau này

2 Quan hộ giữa Đại c ồ Việt với Chămpa

Vào thời Đinh - Tiền Lê, quan hệ giữa Đại c ồ Việt và Chãmpa mang tư cách là hai quốc gia độc lập, tự chủ Điều này khẳng định rất nhiều cho vị thế của văn hóa Việt với Chăm vốn đã dịnh hình từ trước đó rất lâu và có nhiều thành tựu đáng kể Việc Đại c ồ Việt tự chủ đã tạo điều kiện cho quan hệ giữa hai quốc gia đưỢc đẩy lên mức độ cao nhất,

đó là các hoạt động ngoại giao

Cũng giống như quan hệ với chính quyền đô hộ phương Bắc vào thời Bắc thuộc, đến giai đoạn sau này, quan hệ giừa Chãmpa với Đại c ồ Việt cũng không mấy suôn sẻ Các cuộc gặp gỡ chủ yếu diễn ra bằng bạo lực và gây chiến ở khu vực biên giới giữa hai nước Sự kiện năm 979, “phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn hơn nghìn chiếc thuyền thủy quân của Chiêm Thành (Chămpa) vào cướp, muốn đánh thành Hoa

Lư Do hai cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang nổi gió lớn nên sau một đêm, thuyền dều chìm đắm, Nhật Khánh và người Chiêm (Chàm) dều chết đuối, duy chỉ có thuyền vua Chiêm được trở về nước Nhật Khánh là con cháu của Ngô Tiên chúa Quyền, irươc đây xưng là An Vương, cùng với 12 sứ quân chiếm giữ một chỗ Tiên hoàng dẹp yên, lấy mẹ của

Trang 28

Ọuíin ỈU’ Aí//1^ Xỉ^iao t'à (■(/(■ sứ tlìần liêu lĩiêti 2 9

cho Nam Việt vương Liễn (tức Đinh Liền), còn sỢ sinh biến nên đem công chúa gả cho, ý muốn dập hết lòng oán vọng của hắn Nhưng Nhật Khánh thì bên ngoài nói cười như không, mà trong bụng vẫn bất bình, mới đem vỢ chạy sang Chiêm Thành, khi đến cửa biển Nam Giới, lấy gươm xẻo má

vỢ kể tội rằng; Cha màv lừa dối hiếp tróc mẹ con ta, ta há lại vì

mày mà quên đức tính của cha mày ư? Màv về đi, ta đi đằng khác để tìm người có thể cứu ta Nói xong bỏ đi Đến đây nghe

tin Tiên hoàng băng mới dẫn người Chiêm vào cướp”“ ’ Đó chỉ là một cái cớ khởi binh hỢp lý cho Chămpa vốn có dã tâm xâm lấn Đại c ồ Việt từ rất lâu rồi

Sau biến cố năm 979 nói trên, khi Lê Hoàn lên ngôi, nhà Tiền Lê phải đương đầu với cuộc tiến công của người Tống ở phương Bắc (năm 981) Ngay sau khi đánh dẹp được quần xâm lược Tống, thanh thế của Lê Hoàn cũng như vương triều Tiền

Lê được đay lên rất cao Ngay lập tức, ông đã đích thân dẫn quân đi đánh Chămpa Quyết định của Lê Hoàn cho phép đưa

ra một số giả định về nguyên nhân: Thứ nhất, ông nhận thấy được mối hiểm họa mà Chămpa đem lại từ trước đó đối với an nguy của đất nước Thứ hai, việc thắng nhà Tống chưa đủ uy

vũ để thể hiện sức mạnh của nhà nước; hơn nữa, ông cũng muốn Chiêm Thành (Chămpa) thần phục như một giải pháp đối trọng quyền lực với phương Bắc Chính vì vậy, ngay sau khi phá Tống, Lê Hoàn gấp rút chuẩn bị lực lượng và tiến hành bình Chiêm Nãm 982, “vua thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được Trước đây, vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ Vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém được Phê Mỵ Thuế tại trận; Chiêm Thành thua to; bắt sống đưỢc

( I )

Trang 29

30 Tu sách Vict ĩ*huin - íỉíit mrớc, COII lỉiịười

binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt đưỢc kỹ nữ trong cung trăm người và một người thầy tăng người Thiên Trúc; lấy các

đồ quý mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tôn miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư (tức Hoa Lư)”“\ Lần chinh phạt của Lê Hoàn đã mở đầu cho một chuỗi liên tục các sự kiện chiến tranh sau này với cách thức thông thường là dùng quân sự để đè bẹp đối phương

và bắt người, lấy của cải mang về Việc có mặt của nhà sư người Thiên Trúc cũng chính là một trong những dấu hiện cho thấy Phật giáo đã được tiếp nhận và phát triển mạnh ở Hoa Lư, kinh đô của Đại c ồ Việt khi đó

Lần đại chinh phạt của Lê Hoàn cho thấy sức mạnh quân sự của Đại c ồ Việt đã tỏ ra ưu trội hơn Chămpa và đặc biệt là thể hiện tư cách một nhà nước có chủ quyền độc lập trước Đại Tống Năm 986, “(vua) sai Ngô Quốc Ân sang thăm nước Tống để đáp lễ, và nói về việc người Chiêm Thành là Bồ La Át đem hơn trăm người đến quy phụ”‘^\

Cũng từ những cái cớ Chiêm Thành quy phụ nhỏ bé ấy, Đại

Cồ Việt có thể chính danh là nhà nước độc lập, tự chủ quan

hệ trực tiếp với Đại Tống

Sức mạnh của vương triều Tiền Lê khi đó không những

đã tạo được uy thế ban đầu cho Đại c ồ Việt mà còn cho Đại Việt sau này trước Chămpa Các sự kiện vào năm 989 ghi việc Dương Tiến Lộc làm loạn và quy phụ Chiêm Thành, Chiêm Thành không nhận; năm 994, “cháu vua nước Chiêm Thành là Chế Cai vào chầu Trước đây, nước Chiêm Thành sai Chế Đông đem dâng sản vật địa phương, vua trách là trái

đã cho thấy uy vũ của Đại c ồ Việt ngay từ buổi lập quốc và

( I I (21,(31

Trang 30

lìè Ẳíí/I^ ịịiao rà các sử tlìần tiêu lùcu 31

sự thần phục đến mức sợ hãi của Chiêm Thành Tuy nhiên,

sự thần phục của Chiêm Thành chỉ thể hiện ra bề ngoài với chiêu thức triều cống sản vật, còn bên trong lại là sự chống đối ngầm, nó sẵn sàng trỗi dậy mỗi khi Đại c ồ Việt (sau này

là Đại Việt) suy yếu Những năm cuối của vương triều Tiền

Lê, tức vào năm 997, “mùa thu, tháng 7 Chiêm Thành đem quân nhòm ngó biên giới nước ta”“\ Rồi bản thân trong nội tại của vương triều Tiền Lê cũng xảy ra những mâu thuẫn chính trị, đến nỗi, năm 1005, “mùa đông, tháng

10, Đông Thành Vương thua chạy vào đất Cử Long Vua (Lê Hoàn) đuổi bắt chạy sang Chiêm Thành

Trong một thời gian ngắn ngủi (968 - 1009), trải qua hai vương triều Đinh - Tiền Lê, nhà nước Đại c ồ Việt giao thiệp với Chiêm Thành không nhiều Tuy nhiên, đó cũng là những dữ kiện đầu tiên về mối quan hệ giữa hai quốc gia độc lập, tự chủ Hơn nữa, cũng trong thời gian này, chính quyền của hai vương triều đang cố gắng củng cố sức mạnh quân sự là chủ yếu để tạo uy thế ban đầu mà chưa bỏ nhiều tâm sức đến phát triển văn hóa xã hội của đất nước

3 Quan hệ giữa Đại Việt với Chămpa

Sang đến thời Lý - Trần, Đại Việt bước vào một thời kỳ mới Sự lớn mạnh của một quốc gia dựa trên sự tự tin vào tiềm lực quân sự, bản lĩnh chính trị và nền tảng kinh tế xã hội Vương triều Lý (1009 - 1225), và Trần (1225 - 1400) là kết quả tiếp nối của vương triều Đinh, Tiền Lê Sau sự kiện Ngô Quyền chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc, vương triều Đinh, Tiền

Lê đã xây dựng những viên gạch đầu tiên, mở ra thời kỳ phát triển cho các vương triều sau này Thời Lý, Trần là sự tiếp nối, kết quả của những điều kiện xã hội trước đó để lại

( I I C )

Trang 31

32T ú MÍCỈÌ ỉ' ict ^ u m - ílíú nướí', t on ntỊirờí

Có thể tạm chia tách mối quan hệ Đại Việt - Chãmpa theo

hai phương thức cơ bản: một là, qua con đường ngoại giao (triều cống, quy phụ ); hai là, qua con đường chiến tranh (các hoạt động quân sự, cướp bóc, quấy nhiễu ) Đây là thời kỳ bang giao giữa Đại Việt và Chămpa diễn ra sôi nổi nhất trên nhiều phương diện Sự thần phục của Chămpa chủ yếu diễn ra thông qua hình thức triều cống sản vật địa phương Mặc dù số lượng các sản vật không nhiều nhưng nó đã trở thành biểu tượng thần phục của nước nhỏ, yếm thế hơn một quốc gia cường thịnh Mặt khác, qua các hoạt động cống nạp của Chămpa, để đáp lễ, Đại Việt cũng cử sứ thần sang để bày tỏ sự giao hảo, úy lạo và cả phong vương cho các vua Chiêm Thành (Chămpa) nữa Cùng với những hoạt động ngoại giao có tính chất nghi lễ nhà nước như vậy, các nhóm người Chăm (có thể tướng lĩnh, thân vương, cư dân ) bị thất thế, sỢ nguy hại tới bản thân và gia đình nên kéo nhau sang Đại Việt thần phục

Xu hướng này cũng không chỉ diễn ra một chiều, mà đôi lúc quan, quân, thân vương của Đại Việt bị thất sủng cũng chạy sang Chămpa để nương náu

Nhiều cứ liệu lịch sừ cho thấy rằng, con đường ngoại giao giữa Đại Việt và Chămpa thời Lý - Trần khá phát triển Ngay sau khi triều Lý định đô ở Thăng Long, vào năm

1011, “mùa hạ, tháng 4, nước Chiêm Thành sang dâng sư tử”"' được coi là sự triều cống đầu tiên Cho đến năm 1225, khi vương triều Lý kết thúc, đã xảy ra 20 lần triều cống liên tiếp của Chàmpa xen lẫn sự phong vương của Đại Việt cho vua Chiêm (Chăm) Sử chép vào năm 1198, “mùa thu, tháng 7 sứ Chiêm Thành sang cống và xin sách phong cho vua nước ấy”; và, năm 1199, “mùa đông, tháng 10, vua (Lý Cao

‘' * D ạ / l 'iệl sử ký toàn //?IA tập I sđd tr 193.

Trang 32

c^uan Ịìè /w/i^ t*ỉ«o và CÚC' s ứ tỉiần tièu lìièu 33

Tông) ngự đến phủ Thanh Hóa bắt voi Rồi sai sứ sang phong vua nước Chiêm Thành”"' Bên cạnh con đường ngoại giao chính thống như vậy, các biểu hiện khác của phương thức này như quy phụ cũng được nhắc đến rất nhiều trong chính sử Kể từ sự kiện năm 1039, “mùa hạ, tháng 4, con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt, cùng Lạc Thuấn, Sạ Đẩu, Sa Kế, A Thát Lạt sang quy phụ nước ta”‘^' Đến cuối triều Lý, tới 4 lần phía Chămpa có người sang quy phụ, và có lần lên đến hơn trăm người

Thời Trần (1225 - 1400) là một giai đoạn đặc biệt trong quan hệ giừa Đại Việt và Chămpa, nửa đầu thì hữu hảo, ấm áp; nửa sau thì nguội lạnh và liên tục chiến tranh Hoàn cảnh ngoại giao vào đầu thời Trần có chính sách đối ngoại khôn khéo với Chămpa ở phương Nam, xây dựng lực lượng

lo đối phó với Trung Hoa ở phương Bắc Đặc biệt, sau 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, uy thế của Đại Việt tăng lên gấp bội Cũng chính trong cuộc chiến với kẻ thù chung hùng mạnh như vậy, Đại Việt và Chămpa đã phải bắt tay nhau để cùng đối phó Đây cũng là một trong những

lý do cơ bản để mối bang giao trở nên nồng ấm giữa hai quốc gia Và đỉnh cao của sự hữu hảo này chính là cuộc hôn nhân của Chế Mân với Huyền Trân công chúa Từ 1225 đến trước khi xảy ra các cuộc đụng độ vào khoảng những năm 50 thế kỷ XIV, sử chép có tới 21 sự kiện liên quan đến hoạt động ngoại giao, trong đó 16 sự kiện người Chiêm Thành sang triều cống‘% 3 sự kiện liên quan đến việc người Chiêm quy phụ, số còn lại nói về cuộc hôn nhân giừa Huyền Trân

( 1) (21

(-11

ỉ) ạ i i iệ l sir ký lo àn thư. tập 1 sdd 298 215.

Ni>ii\(?n riiị PlnrcTiiii Chi O iia n hệ ỊỊÌữ a D ạ i ì l ệ l với C hăm pa th ờ i Ir á n (thế ky x m - M V ). l ạp chí Xghiẽn cứu D ỏng Xam -í số 8-2007 tr.37- 44.

Trang 33

34 T u ĩá c ỉi V i ê t - í lồ l n ư ớ c , con ỊiĩỊirờ i

và Chế Mân Ngay sau khi nhà Trần giành được quyền lực

từ tay nhà Lý, năm 1228, “mùa đông, tháng 10, nước Chiêm Thành sang cống”“ * Bắt đầu từ đây, vào các năm 1242,

đã gây ra nhiều tranh cãi trong nội bộ vương triều và bàn thân cuộc hôn nhân này đã mang đậm màu sắc chính trị Để lấy được Huyền Trân, Chế Mân đã “đem hai châu ấy (ỏ , Lý) làm lễ vật dẫn cưới”; nhà Trần được đất đai và đặc biệt là an ninh biên giới phía Nam quốc gia được bảo đàm

Bên cạnh những hoạt động ngoại giao có tính chất đt

sứ\àhôĩi nhân, dưới thời Lý - Trần, còn có nhừng sự kiện

quy phụ của người Chăm sang đất Việt và ngược lại Tuy nhiên, những người Việt lưu vong sang Chãmpa lại thương

gắn với các cuộc chiến tranh xin không nhắc ở đây mà chỉ

đề cập đến những quy phụ của người Chăm sang Đại Việt Nếu như thời Lý có 4 lần quy phụ thì triều Trần cũng xay ra

4 lần Lần thứ nhất, nàm 1279, “mùa xuân, tháng giêng, nước Chiêm Thanh sai Chế Năng và Chế Diệp sang cống Bọn Chế Năng xin ở lại làm nội thần, vua không nhạn”'^' Lần thứ hai, năm 1352, “mùa xuân, tháng 3, Chế Mỗ nước Chiêm Thành chạy sang nước ta”'"^’ Lần thứ ba, năm 1390,

“tháng 6, con của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô và em là Chế

(1) C U - H (4) (M

Trang 34

Sơn Nô sỢ bị giết, bèn chạy sang nước Và lần thứ tư, vào năm 1397, “mùa đông, tháng 11, tướng Chiêm Thành là Ché Đa Biệt cùng với em là Mộ Hoa Tử Ca Diệp đem cả nhà sang hàng nước ta”*"' Những lần quy phụ như vậy không cho ta nhiều thông tin để suy đoán về quá trình giao thoa vãn hóa Việt - Chãm nhưng lại cho thấy một kênh ngoại giao khác mỗi khi có biến động từ phía bên kia Đây cũng chính là những tình huống nhạy cảm dần đến chiến tranh hoặc quan hệ cãng thắng giữa hai nước.

Bên cạnh các hoạt động ngoại giao qua lại giữa hai nhà nước Chãmpa và Đại Việt thời Lý - Trần thông qua triều cống, quy phụ, hôn nhân thi chiến tranh là con đường thứ hai khiến cho việc giao thoa văn hóa diễn ra hết sức mạnh

mê Người Chiêm Thành (Chàmpa) một mặt tỏ ra thần phục Đại Việt, mạt khác lại tổ chức quân dội quấy rối, thậm chí tiến công trực tiếp ra kinh sư Thãng Long Điều này làm cho các vương triều của Đại Việt luôn phải lưu lâm và tố chức những cuộc đại chinh phạt nhàm trấn áp sự quấy nhiều dó Trong thơi Lý, người Chãmpa liên tục có những hành dộng xâm lấn biên giới phía Nam Đại Việt Các tướng lần lượt cử đi trấn áp, dánh tan, dẹp yên, tuy nhiên, không dưỢc lâu dài Chính vì vậy, vào nãm 1044, “mùa xuân, tháng giêng, phát khí giới trong kho ban cho các quân Ngày Quý Mão, vua (Lý Thái Tỏng) thân di dánh Chiêm Thành”'^' nhầm giải quyết tận gốc vấn dề an ninh biên giới phía Nam cho Dại Việt Trong cuộc chinh phạt này, vua Lý Thái Tông dã “dcm quân vào thành Phật riiệ Sai sứ di khắp các hương ấp phủ dụ nhân dân”*''' Sau cuộc chinh phạt ấy,

' i>iii I iị'l sư k\ loàn ihư tộp 2 sdđ tr 207

' Pọi I icl sư kv loàn thư t(ip 1, sdcl Ir 2.VÌ.

Poi I iẹl sư ký liiòn thư lập I sdd tr 22 } 224,

Trang 35

Chàmpa triều cống đều đặn, nhưng nảm 1068, “Chiêm Thành dâng voi tráng, sau lại quấy nhiều biên giới”''^ Đây cũng chính là cái cớ trực tiếp để vua Lý Thánh Tông mở cuộc đại chinh phạt lần hai vào năm 1069 Sử chép: “ Mùa xuân, tháng 2, vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người” Sau cuộc chinh phạt Chiêm Thành này, bén cạnh khối lượng “tù binh” Chăm khá lớn, Đại Việt còn lấy được đất đai do Chế

Củ dâng để chuộc tội Việc “Chế Củ dâng ba châu Địa Lý,

Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội Vua bằng lòng tha cho Chế Củ về nước”'"' làm cho lãnh thổ của Đại Việt được mở rộng và đặc biệt những hiểm họa về an ninh quốc gia cũng được đẩy ra xa hơn Nhưng chỉ sau đó vài năm, nãm 1074,

“Chiêm Thành lại quấy rối biên giới”‘^\ “Mùa thu, tháng 8, sai Lý Thường Kiệt di đánh Chiêm Thành, không dược Thường Kiệt bèn họa địa đồ hình thế núi sông cùa 3 châu

Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh rồi về”'^’ Tuy trận này không thắng, lại không phải là cuộc đại thảo phạt nhưng nó cũng cho ta thấy rằng quan hệ giừa hai nước phụ thuộc rất nhiều

vị thế quân sự và tiềm lực kinh tế xã hội

Bên cạnh nhừng hoạt động quấy nhiễu ở vùng biên giới là cái cớ cho Đại Việt tiến công Chămpa, còn xảy ra những sự kiện quy phụ của ngưìti Việt sang Chămpa (về hình thức thì cũng giống với sự quy phụ của người Chàm sang Đại Việt nhưng về bản chất lại hoàn toàn khác), đây là lý do thứ hai để Đại Việt xuất quân Sử chép năm 1104, “mùa xuân, tháng 2, sai

Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành Trước đây, Lý Giác trốn sang Chiêm Thảnh, nói lình hình hư thực của nưcTc ta Vua Chiêm Thành là Chế Ma Na nhân thế đem quân vào cướp

36 7 Ù S(U lì Ĩ'^/V/ ì^ o m - ílòf nir<ý( con n\ftrời

III CI I-II.UI

D ạ i I iệ l sư ký lo ìin thư. lập I sdd Ir 2.Ì3 23.3 236 237.

Trang 36

lấy ba châu Địa Lý mà Chế Củ đã dâng Đến đây, sai Lý '1'hường Kiệl đi đánh phá đưỢc, Chế Ma Na lại nộp đất ấy”“'.Sau những cuộc đại chinh phạt lớn của vương triều Lý, cho đến đầu thời Trần, các hoạt động quấy nhiễu lẻ tẻ của

người Chăm vẫn diễn ra ờ biên giới Đại Việt Sang nửa đầu

thời Trần, những hoạt động quân sự diễn ra rất ít giữa hai quốc gia, hơn nữa, nhĩíng lần đụng độ này lại thường được giải quyết bằng con đường hòa bình Sau lần chinh phạt vào năm

1252, “mùa xuân, tháng giông, vua (Trần Thái Tông) thân đi đánh Chiêm Thành Mùa đông, tháng 12 bắt được vỢ vua Chiêm Thành là Bố Da La và các thần thiếp nhân dân rồi về”'’' Năm 1311, “mùa đông, tháng 12, vua (Trần Anh Tông) thân đi đánh Chiêm Thành”*’’, nhưng “trận đánh này không mất một mũi tên mà bình được Chiêm Thành”*^’

Những va chạm quân sự giữa hai quốc gia diễn ra ác liệt lại chủ yếu vào cuối thời Trần Đặc biệt sau khi Chế Mân chết, xảy ra sự kiện Trần Khắc Chung được cử đi đón công chúa Huyền Trân vào năm 1307 Kể từ đây, nhừng rạn nứt trong quan hệ hai nước càng bộc lộ rõ nét Trong các cuộc

va chạm ban đầu, phần thắng thường nghiêng về Đại Việt, những hoạt động ngoại giao cũng thưa dần và xuất hiện nhiều mâu thuẫn sâu sắc Đặc biệt, ngay trong lúc bối cảnh của Đại Việt đang suy vi tột độ đến nỗi “bây giờ, thái bình

đã lâu, biên thành không có phòng bị, giặc đến không có quân để chống lại”'^’, Chàmpa đột ngột hưng khởi dưới triều đại của Chế Bồng Nga, ông vua có tài thao lược, đầy tham vọng và bản lĩnh chính trị Chế Bồng Nga đánh ra Thăng Long vào năm 1371, “tháng 3 nhuận, người Chiêm Thành

D ạ i Việt sư ký toàn thư. lập I sdd Ir 244.

Trang 37

38 T ũ sứ(7ỉ V i c l 'N a iìì - j ấ t n ư ớ c , CO/I n ĩịư ờ i

sang cướp, do cửa biển Đại An, tiến thẳng đến kinh sư Vua (Trần Nghệ Tông) đi thuyền sang Đông Ngàn để tránh quân giặc vào thành, đốt phá cung điện đồ thư trụi cả”'‘\ Sau đó, nãm 1377, “tháng 11, người Chiêm Thành vào cướp, giặc biết có phòng bị, mới do cửa biển Thiên Phù tiến thẳng đến Kinh sư”'^’ Rồi, năm 1378 “tháng 6, giặc đánh sông Đại Hoàng, vua sai Hành khiển Đỗ Tử Bình chống giữ Quan quân tan vờ Giặc liến đánh kinh sư, bắt người cướp của rồi về”‘^' Sau ba lần Chế Bồng Nga tiến ra Thàng Long, kể lừ đó trở đi những trận đánh giang co liên tục diễn ra ở khu vực biên giới giữa hai nước, cho đến khi Bồng Nga tử trận vào nãm 1390

Kể từ vương triều Lê sơ, mô hình nhà nước của Đại Việt đả hoàn toàn được Hán hóa, hoàn toàn theo tư tưởng Khổng - Mạnh, đặc biệt trên phương diện thượng tầng kiến trúc và tư tưởng chính trị của triều đình quan phương Rồi dần dà, nó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới lối sống của dân chúng phi quan phương Chính vì thế, quan hệ Đại Việt - Chămpa về hình thức không thay đổi nhiều, nhưng bên trong Đại Việt đã có một vị thế, tiềm lực, suy nghĩ và cách thức hành xử đã khác trước kia rất nhiều Nó càng đưỢc khẳng định vào triều vua Lê Thánh Tông, vị quân vương có quyền uy nhất trong lịch sử Việt Nam thời Trung đại

v ề quan hệ ngoại giao, các hình thức cử sứ thần giừa hai quốc gia vẫn diễn ra đều đặn Chiêm Thành (Chămpa) vẫn triều cống để tỏ ra thần phục trước thiên triều Cũng giống với thời kỳ trước, những hoạt động ngoại giao luôn xen giửa các cuộc đụng độ quân sự Tuy nhiên, nhự^đã nói ở trên, tâm thế, nội lực của Đại Việt đã có những thay đổi lớn và

( I ) 0 ( 3 1

D ụi l 'iệi sư kỷ toàn thư. tập 2 sdd ir 179 188 191.

Trang 38

( ^ u a n lìè lìa n ^ tịiao rù CÍÍC s ứ tlìà n ỊÌSit hiêu 39

hoàn thiện mạnh mẽ về mọi mặt từ đời sống chính trị, xã hội đến sức mạnh quân sự Khi giao hảo với Chãmpa, Đại Việt tự coi mình là thiên triều và gọi họ dân man Bên cạnh

đó, việc chiến đấu chống nhà Minh vào năm 1427 thành công đã làm cho uy lực của vương triều Lê sơ trở nên mạnh hơn bao giờ hết Nên ngay sau khi chiến thắng, “nước Chiêm Thành cho người sang cống” và để tỏ rõ uy thế của mình, vua Lê Thái Tổ đã “cho ngựa và lụa bảo về, sai

ấy, vào “mùa thu, tháng 7, người Chiêm Thành dâng sản vật địa phương”, và ngay sau đó, “tháng 8, lấy viên ngoại lang là

Lê Khắc Hài và Bùi Tất ư ng làm chánh phó sứ mang ngựa

và đồ uống rượu bằng pha lê màu xanh trắng sang cho vua Chiêm Thành”'"’ Sự cống nạp cùa Chiêm Thành và sự đáp

lễ có tính chất ban phát của vua Lê cho chúng ta nhận định rằng, sức mạnh, uy thế cũng như suy nghĩ của Đại Việt khi

đó đã được đẩy cao lên một tầm mới

Sang năm 1434, đã xảy ra một biến cố kép, “Chiêm Thành bắt người ở châu Hóa”'^’ Nhưng do vụ bắt người không trót lọt, nên ngay lập tức vua Chiêm Thành đã “sai sứ mang thư và sản vật địa phương sang hiến để cầu hòa thân”'''’ Mặc dù triều thần Đại Việt có hặc tội, quở trách, nhưng khi sứ thần trở về nước Chiêm vào năm 1435, vua Lê vẫn “ban cho lụa tấm”*^’ Kể

từ những năm đầu của vương triều Lê sơ cho đến khi suy vong vào đầu thế kỷ XVI, Chiêm Thành cho sứ thần sang cống nạp, dâng các sản vật địa phương vào các năm 1448,1449,1467 Tuy nhiên, quan hệ ngoại giao vào thời kỳ này có vẻ không suôn sẻ như thời Lý - Trần, sứ thần được cử sang mỗi khi Chiêm Thành (Chămpa) phạm vào điều gì đó với Đại Việt Việc cử sứ

( I ) (2), 15)

D ại Việt sư kỷ toàn thư, tập 3 sđd lr.32, 40 86 87, 110.

Trang 39

40T ú súch V iê t A /ơ /ii - j ấ í n ư ớ c, con nĩịười ■■■

thần sang chi có tính chất hòa hoãn xung đột quân sự giữa hai quốc gia mà thôi Điều này cũng làm triều đình nhà Lê liên tục hặc tội sứ thần của Chămpa về lễ giáo, việc cướp phá ở vùng biên giới Sử chép, năm 1449, “mùa thu, tháng 7, sứ Chiêm Thành là bọn Bô Sa Phá Tham Tốt cùng đi với Nguyễn Hữu Quang sang Vua sai tư khấu Lê Khắc Phục và nạp ngôn Nguyễn Mông Tuân hỏi văn sứ Chiêm Thành về tội giết vua (Chămpa) Sứ Chiêm Thành không trả lời được, chỉ lạy tạ mà thôi”“\ Rồi năm 1467, “tháng 3, sai Thượng thư Lễ bộ Lê

Hoàng Dục đặt yến đãi sứ thần Chiêm Thành ở quán Bắc sứ

Sai nội quan hỏi sứ thần nước Chiêm về lẽ nước nhỏ kính thờ

nước lớn Sứ Chiêm Thành trả lời: Nước Chiêm tôi đối với thánh

triều như là con nhờ cậy cha mẹ, bảo thế nào thì nghe theo thế.'”^^\

Bên cạnh các hoạt động ngoại giao chính thống như vậy, dưới triều Lê sơ cũng xảy ra một vài lần quy phụ vào các năm 1434,

1448 Riêng lần quy phụ năm 1448, sử chép: “ Người Chiêm Thành là Phan Mỗ đem đàn ông, đàn bà hơn 340 người sang hàng Xuống chiếu cho ở các đạo”*^'

Mặc dù uy vũ của triều Lê sơ đối với Chămpa đã lớn mạnh đến mức “bảo thế nào thì nghe theo thế”, nhưng các hoạt động quấy nhiễu vẫn liên tiếp xảy ra ở khu vực biên giới hai nước Năm 1434, “Chiêm Thành bắt người Châu Hóa Vua Chiêm Thành là Bố Đề nghe tin Thái Tổ băng, thấy vua mới lên ngôi, ngờ rằng trong nước có biến loạn, bèn thân đem quân ra đóng ở cõi gần”‘''l Năm 1445, “mùa

hạ, tháng 4, người Chiêm Thành đến cướp thành An Dung

ở châu Hóa”^^\ Những lần quấy nhiễu như vậy, ngay lập tức, triều đình Đại Việt tổ chức phản công “Tháng 12, sai Bình chương sự Lê Khả đem quân đi đánh Chiêm Thành”**^ Lần

(1) (21, ( 3), C1),(5).(6)

Đ ạ i K/ệ/.sw Ả 5 ' 1.3 sđd, tr 156, 204 148.86 135.

Trang 40

Ọíiíi/I Aíi/í^ Sỉiao và các A'if thấit tiêu íùểu 41

chinh phạt này kéo dài cho đến năm 1446, thì “mùa hạ, tháng 4, các quân của Lê T hụ đánh phá được thành Chà Bàn, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, và các phi tần, bộ thuộc, ngựa voi, đồ quân khí của các tướng đầu hàng rồi về” “ l

“Aíộc bản Chính Hòa tr 356-357, tập II cũng ghi nhận:

năm 1446, vua Lê sai T rịn h Khả, Lê Thụ và Lê Khắc Phục đã đem 60 vạn quân tấn công Chăm Pa, thành Viịaya rơi vào tay quân Việt, vua Chăm là Bí Cai (Bichai) bị bắt sống mang về Thăng Long cùng với nhiều phi tần”‘^\

Sự kiện năm 1469, “tháng 3, người Chiêm Thành đi thuyền vượt biển để đến quấy châu Hóa”^^l Và việc năm

1470, “tháng 8, quốc vương Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn thân đem quân thủy bộ voi ngựa hơn 10 vạn đánh úp châu Hóa”^‘'\ Đã trở thành cái cớ hợp lý cho Lê Thánh Tông tiến hành cuộc đại chinh phạt Chiêm Thành lớn nhất trong lịch sử Trung đại Việt Nam Sự kiện năm 1471 đã trở thành niên điểm vô cùng quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa Rất nhiều học giả đã đồng thuận với quan điểm, sau trận chiến này, Chiêm Thành không còn đủ sức gượng dậy được nữa Để chuẩn bị cho cuộc chinh phạt với quy mô lớn, Lê Thánh Tông đã cất công làm rất nhiều thủ tục khác nhau, từ việc năm 1470, “mùa đông, tháng 10 sai sứ sang nước M inh Nguyễn Đ ình Mỹ tâu việc Chiêm Thành quấy nhiễu biên giới”^^^ Cho đến việc, “tháng 11, ngày 6, vua xuống chiếu thân đi đánh Chiêm T hành”*^*^ Sự chu đáo về mọi mặt, đã khiến vua Lê Thánh Tông tổ chức cuộc chinh phạt được chính danh, thuận lẽ đứng từ nhiều góc độ Việc chinh thảo đã được đặc biệt mô tả trong các pho chính sử của Đại Việt Ngay sau khi giành được thắng

( I ) (3), (4) (5) (6), Jập Ịị 1 3 5 ^ 1 3 ^ ^ 224, 228,

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w