Khu vực phía Bắc hồ Hoàn Kiếm ngày nay thờng gọi là khu phốcổ 36 phố phờng đã đợc hình thành chủ yếu trong thời kỳ nàyvà đến nay trởthành một bộ phận quan trọng trong di sản kiến trúc đô
Trang 1tổng quan về lịch sử cảnh quan sinh thái mặt nớc và hiện
trạng hệ thống kênh mơng Hà Nội
1.1 Hệ thống sông hồ mặt n ớc và cảnh quan Hà Nội qua các thời kì
1.1.1 Từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIX (thời kì phong kiến)
A Thăng Long thời Lý (1009-1225), Trần (1226-1400), Hồ (1400-1407)
Trớc ngày xây dựng Kinh thành Thăng Long, miền Hà Nội là nơitập trung dân c đông đúc, buôn bán thịnh vợng mặc dù không phải là kinh đô củacác triều đại trớc (Ngô, Đinh, Tiền Lê) Chính nhờ những điều kiện kinh tế xã hộisẵn có mà khi dời đô tới, Lý Thái Tổ chỉ phải lo xây dựng Hoàng thành cònnhững khu dân c vốn có không phải xây dựng gì nhiều Khi mới xây dựng Kinhthành Thăng Long chia làm 2 phần : Hoàng thành và Kinh thành Một vòng thànhngoài cùng bao bọc toàn bộ khu vực thành và thị gọi là thành Đại La tức ThăngLong ngoại thành Vòng ngoài này đắp bằng đất với chức năng vừa phòng vệ vừangăn ngừa lũ lụt Mặt Đông, thành chạy dọc theo hữu ngạn sông Hồng nh một
đoạn đê của sông này, mặt Bắc dựa theo sông Tô Lịch từ phía nam hồ Tây cho
đến Yên TháI (đờng Hoàng Hoa Thám ngỳa nay), mặt Tây theo tả ngạn sông TôLịch từ Yên Thái đến Ô Cầu Giấy và mặt Nam theo sông Kim Ngu đến Giảng
Võ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền nối với đê sông Hồng Nh vậy tổng thể thành Đại Ladợc giới hạn khá rõ rệt bằng ba con sông : sông Hồng, sông Tô Lịch, sông KimNgu Trong qui hoạch tự nhiên, thành cũng là đê, sông cũng là hào
Phía ngoài bốn cửa thành là chợ, lớn nhất là chợ Đông (cửa sôngTô Lịch) và chợ Tây, là nơI trao đổi trực tiếp giữa bộ phận thành và bộ phận thị,cũng là nơI tập trung những hoạt động buôn bán của Kinh thành Khu vực ĐôngBắc lấy sông Tô Lịch và sông Nhị làm giới hạn, là trung tâm thơng nghiệp lớnnhất của Thăng Long khi đó Ơ đây tập trung khá nhiều phố phờng – chợ bến,trung tâm là phờng Hà Khẩu, chợ Đông, bến cảng cửa sông Tô và ngợc lên phíatrên, bến cảng Triều Đông (dốc Hoè Nhai) Phố phờng, chợ bến tấp nập tạo nêncảnh trên bến dới thuyền của một khu buôn bán tấp nập
Nội thành, Tô Lịch, Kim Ngu uốn khúc, nối liền với hồ Gơm và hồBảy Mẫu Thuyền mành san sát, đỗ vào tận bến Giang Tân ở mạn Nghĩa Đô, YênThái, nơi Tô Lịch nhận thêm nớc của sông Thiên Phù từ sông Nhị chảy vào, lenlỏi qua làng La (Xuân La) nổi tiếng trồng da Đời Lý Nhân Tông, sông Thiên Phù
bị lấp, sông Tô Lịch bị cát bồi nhiều, song nhà Lý vẫn rất cố gắn nạo vét sông Tôlàm trục giao thông thủy của Kinh thành, ven sông Tô Lịch mọc lên những vờncây trĩu quả ở các cửa ô : bởi, dừa, mơ, nhãn …
Trang 2Năm nhịp cầu bắc ngang sông Tô, thắng cảnh Thăng Long : cầu
Đuống xây đá (hàng Đờng), cầu gỗ Thái Hoà (mé dới nhà máy bia), cầu Cau(Thuỵ Khuê), cầu Tây Dơng (cầu Giấy), cầu Dừa (ô chợ Dừa) Thân cau, thân dừahoà với gỗ, đá, than, gạch nhói trong tay ngời Thăng Long đều là vật liệu xâydựng đẹp bền, đa dạng về kiểu dáng … Và còn cầu Yên Quyết (cống Cót), cầuNhân Mục (cống Mọc) … miền ven nội
Kinh thành Thăng Long có nhiều cảnh trí thiên nhiên rất đẹp, lại
d-ợc bàn tay nhân dân các thời tô điểm ngày càng phong phú Kinh thành có sôngHồng, sông Nhuệ bao bọc và có sông Tô Lịch chảy qua, ngoài ra còn có nhiều hồlớn nh hồ Dâm Đàm (hồ Tây), hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm), Thái Hồ… nhữngsông hồ ấy một mặt giúp cho kinh thành thoáng đãng êm dịu, mặt khác còn tạo ranhững nơi du lịch, giải trí, nghỉ ngơi tại những thăng cảnh đó
Trang 3H×nh 1.1 : thµnh th¨ng long 1490
B Th¨ng Long thêi Lª (1428-1527), M¹c (1527-1592), TrÞnh (1593-1787), T©y S¬n (1788-1802)
Trang 4Sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Lợi và các đời vua sau đều
đóng đô ở kinh thành Thăng Long Kinh thành Thăng Long trong thời nhà Hồ gọi
là Đông Đô, khi quân Minh chiếm đóng thành bị đổi tên thành Đông Quan Năm
1428, sau khi lên ngôi Vua, Lê Lợi lập lại tên Đông Đô, nhng đến cuối năm 1430thì gọi là Đông Kinh Tuy nhiên tên Thăng Long vẫn thông dụng đến cuối thế kỷXIX trớc khi chuyển thành Hà Nội Căn cứ vào bản đồ Hồng Đức năm 1490, thìHoàng thành thời Lê bao gồm cả khu vực Hoàng thành Thăng Long thời Lý-Trần
và khu vực tỉnh Hà Nội vào thời Nguyễn sau này, nghĩa là rộng hơn so với Hoàngthành thời Lý-Trần và tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn Nhng những bản đồ này đ-
ợc vẽ theo kiểu ớc lệ nên các vị trí cha xác định chính xác trên bản đồ thời nay
Sự bố trí trong kinh thành Thăng Long từ đầu thế kỷ XV đến cuốithế kỷ XVII không khác gì so với kinh thành Thăng Long thời Lý-Trần Khu phíaNam kinh thành vẫn là nơi binh sĩ ở Nhân dân ở khu vực các phờng dân c ngoàiHoàng thành không ngừng phát triễn Năm 1466, vùng kinh s đặt thành phủTrung Đô (đổi thành phủ Phụng Thiên 1496) gồm hai huyện Quảng Đức và VĩnhXơng Khu dân c của hai huyện chia thành 36 phờng, nguồn gốc 36 phờng ThăngLong bắt nguồn từ đó
Năm 1588, nhà Mạc (Mạc Hậu Hợp) huy động quân dân bốn trấnvùng đồng bằng đắp thêm ba lần luỹ ngoài thành Đại La, đa toàn bộ khu hồ Tâyvào phạm vi thành Thăng Long Có thể coi công việc xây dựng của Mạc Hậu Hợp
đã ấn định vị trí và diện mạo của hoàng thành Thăng Long suốt từ cuối thế kỷXVI cho đến cuối thế kỷ XVIII
Năm 1592, quân Trịnh sau khi đánh bại quân Mạc đã phá huỷ toàn
bộ thành luỹ phòng vệ của nhà Mạc, trong thời gian dài kinh thành Thăng Longkhông có vòng thành ngoài
Sau khi thống nhất đất nớc, chấm dứt thời kỳ Trịnh- Nguyễn phântranh, Nguyễn Huệ và vơng triều Tây Sơn đóng đô ở thành Qui Nhơn, bắt đầumột giai đoạn đổi mới của đô thị Thăng Long từ vị trí Kinh thành trở thành trấnthành
C Thăng Long thời Nguyễn (thế kỷ XIX)
Sau khi Tây Sơn thất bại hoàn toàn 1802, nhà Nguyễn định đô ởHuế và thành Thăng Long tiếp tục sự chuyển đổi của mình từ kinh thành trong
800 năm thành Trấn thành rồi dần trở thành tỉnh thành
Trang 5Khu vực phía Bắc hồ Hoàn Kiếm ngày nay (thờng gọi là khu phố
cổ 36 phố phờng) đã đợc hình thành chủ yếu trong thời kỳ nàyvà đến nay trởthành một bộ phận quan trọng trong di sản kiến trúc đô thị của thủ đô và cũng làmột trong những nét hấp dẫn của khách đến thăm thủ đô mà các nơi khác không
có đợc Ơ đây ngời ta thấy có sự hoà trộn của những yếu tố kinh tế, chính trị, xãhộicủa một nông thôn và của một thành thị, những dấu tích văn hoá,lịch sử gợi lạimột thời kỳ phát triễn đô thị lâu dài Nhiều lớp nhà lô nhô bám theo một hệ thống
đờng nhỏ hẹp, nhiều chỗ quanh co đã cấu tạo nên một dạng cấu trúc đô thị khá
đặc biệt và gây nhiều ấn tợng
D Đặc điểm cấu trúc không gian đô thị Thăng Long thời kỳ phong kiến
Trong sự hình thành nên không gian đô thị, yếu tố địa hình, địa thế
có vai trò quan trọng hàng đầu Điều này đợc coi là chân lý nên trong các “luậnchứng kinh tế kỹ thuật phát triễn đô thị” chúng cũng thờng đợc coi là những căn
cứ đầu tiên làm chổ dựa cho việc nghiên cứu Chân lý ấy không phải đến ngàynay mới nhận thức đợc mà ngay từ thời Vua Lý Công Uẩn đi tìm đất định đô đãchọn nơi “tiện hình thế núi sông” có “địa thế rộng rãi mà bằng phẳng, đất đai caoráo mà sáng sủa …”
Một cách khái quát có thể xem cấu trúc không gian đô thị ThăngLong-Hà Nội thời phong kiến gồm những yếu tố qui hoạch
1) Khu hành chính-chính trị-quân sự : đây chính là phần đô của trung
tâm đô thị này mặc dù nơi này đã có ít nhiều dân c sinh sống (làng Hà Nội cổ).Toàn bộ khu này đợc bao bọc bởi tờng thành với cấu trúc “ thâm nghiêm, kínhcổng cao tờng ”
Khu c trú, thủ công và thơng nghiệp : chủ yếu ở vùng phía Bắc HàNội ngày nay, nơi có sông Tô Lịch chảy qua nối liền phía Nam hồ Tây và ănthông với sông Hồng (phố Chợ Gạo, Hàng Buồm ngày nay) Đó là những làngxóm nông nghiệp ở hai bờ sông Tô Lịch, những làng nghề thủ công ở Nam hồTây, những xóm chợ buôn bán ở ven sông Hồng nhất là nơi cửa sông Tô chảy vàosông Hồng (phờng Hà Khẩu) Đó là vùng Kẻ Bởi với những làng thủ công làmgiấy, dệt vải, lụa … là vùng ven hồ Tây dệt vải, trồng hoa (làng Nghi Tàm)
Cả vùng đất ở mặt Đông, Đông-Bắc và sau đó lan xuống ĐôngNam của Hoàng Thành Thăng Long trải dài ra tới sông Hồnglà nơi hình thànhnên khu Kẻ Chợ, khu thị dân của Thăng Long “ 36 phố phờng”, khu c trú vớinhững hoạt động thủ công và thơng nghiệp đặc sắc
2) Khu c trú nông nghiệp: đây là một nét đặc biệt của đô thị Việt Nam
nói chung Nó khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa đô thị và nông thôn, “trong thị có thôn, trong thôn có thị” Nếu ở đoạn sông Tô phía Bắc là những làng
Trang 6thủ công thì gần với đoạn sông Tô ở phía Tây, sông Kim Ngu ở phía Nam đãhình thành khu dân c nông nghiệp, khu “thập tam trại” phía Tây kinh thành vềsau là các làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Liễu Giai, Đại Yên, Thủ Lệ … là một khukinh tế nông nghiệp ở Thăng Long.
3) Khu văn hoá, giáo dục và sinh hoạt công cộng : Tiêu biểu
là quần thể Văn Miếu-Quốc tử giám, bên cạnh đó là các trờng dân lập xen lẫngiữa các khu dân c đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí Các sinh hoạt vănhoá mà phần nhiều là lễ hội diễn ra tại nhiều nơi công cộng nh bên bờ sôngHồng, sông Tô, hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm … tại các đình chùa …
4) Giao thông: chủ yếu giao thông đối ngoại của kinh thành
Thăng Long là giao thông đờng thuỷ qua hai con sông Hồng và sông Tô Lịch.Giao thông đối nội là đờng đất đợc lát gạch ở giữa để chống lầy, đờng xá đợc tổchức qui cũ hơn
Trang 7Hình 1.2 Hà Nội – 1831 (thời nguyễn)
Đánh giá về vai trò của các dòng sông thời kỳ Phong Kiến
1)Nét địa lý trờng tồn của Thăng Long nghìn xa và Hà Nội ngàynay, đó là đặc trng của thành phố sông ngòi: thành phố ngã ba sông, nếu lấy cảhai dòng Nhị Hà- Tô Lịch làm hệ qui chiếu, làm trục chủ đạo; thành phố một bờsông (bờ phải), nếu chỉ lấy sông Nhị làm trục chính Bên cạnh đó, do sự chuyểndòng của sông Hồng cho nên đất Hà Nội là đất bãi do phù sa cá dòng sông bồi
đắp và địa hình địa mạo vùng Hà Nội có nhiều sông hồ
2)Hà Nội nội thành, bên hồ Tây,có dòng ông Tô Lịch, lại có rấtnhiều đầm hồ Xem trên các bản đồ từ thời xa cho đến giữa thế kỷ này, ta thấylãnh thổ Hà Nội là một vùng đầm lầy, một thành phố sông hồ, nửa đất nửa nớc.Qui hoạch Hà Nội cổ là nơng theo và thích ứng đến mức tối đa các hình thể tựnhiên sông hồ đó Phần lãnh thổ chủ yếu của Thăng Long-Hà Nội xa là phần đấtbồi, đợc bao bọc bởi sông Hồng ở phía bắc và phía đông, bởi sông Tô Lịch vàsông Kim Ngu ở phía tây và phía nam Lũy bọc ngoài là đê mà cũng là thành đất,
là đờng giao thông (đê La Thành) Sông hồ là nguồn nớc mặt dùng trong sinhhoạt mà cũng dùng trong hệ thống thủy lợi và giao thông truyền thống Sông hồcũng là những điều kiện địa lý đợc dùng làm nguyên lý sơ khởi chỉ đạo việc qui
tụ xóm làng, phờng phố và thành lũy phòng vệ (sử dụng những đoạn sông Hồng,sông Tô Lịch làm ngoại hào) Nhị Hà,Tô Lịch, Kim Ngulà những trục chủ đạo,
hồ Tây, hồ Gơm là những điểm trung tâm, từ đó tỏa ra “phố giăng mắc cữi, đờngquanh bàn cờ”
3)Tóm lại, từ buổi đầu những dòng sông vừa là trục giao thông,trục qui hoạch vừa là thành lũy thiên nhiên bảo vệ Thăng Long-Hà Nội Dòng nớccủa các con sông đó vừa là nguồn nớc sinh hoạt vừa là nguồn nớc tới cho đồngruộng, đồng thời cũng mang phù sa bồi đắp dần lên thành bãi, thành làng Dòngsông mang lại nguồn lợi kinh tế, lắm cá tôm, hai bên bờ là những làng mạc, vờncây, vờn rau xanh tốt Đôi bờ sông Tô Lịch còn là nơi hội tụ mua bán sầm uất, lànơi hò hẹn, nơi diễn ra những hoạt động văn hóa cộng đồng …
1.1.2 Từ giữa thế kỷ XIX đến 1945 (thời kỳ Pháp thuộc)
A Giai đoạn bình định và bắt đầu khai thác thuộc địa (1878-1885)
Sau khi chiếm đóng Hà Nội (1883), chính quyền thực dân cùng với
kế hoạch bình định và khai thác thuộc địa, đã áp dụng các biện pháp về khai thác
và qui hoạch khác nhau Với các mục tiêu đó ngay từ đầu thực dân Pháp đã chiếm
đóng hoàng thành Hà Nội, nhanh chóng phá hủy toàn bộ hệ thống tờngthànhcùng các kiến trúc truyền thống của một nền hành chính phong kiến Việt
Trang 8Nam Trong khi đó vẫn giữ nguyên khu vực kinh thành 36 phố phờng, một trungtâm buôn bán sầm uất đơng thời để khai thác nguồn lợi kinh tế qua hệ thống thuế,
đồng thời ủng hộ việc xây dựng nhà thờ và các trờng dòng Toàn bộ các côngtrình kiến trúc mà Pháp đã xây dựng ở Hà Nội giai đoạn đầu đều mang tính thựcdụng, dựa trên tinh thần của chủ nghĩa công năng, đơn giản trong kiến trúc
B Giai đoạn đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 1(1885-1920)
Từ 1885 đến 1920 là giai đoạn đẩy mạnh công cuộc khai thácthuộc địa lần thứ nhất Đây là thời kỳ mà Pháp bình định đợc Việt Nam Các côngtrình xây dựng ở giai đoạn đầu đợc coi là những hạt nhân để phát triễn ra xungquanh Hệ thống đờng phố rộng rãi đợc xây dựng qui hoạch theo ô bàn cờ, cótrang bị hệ thống kỹ thuật hạ tầng theo kiểu phơng Tây, cùng với việc đa vào sửdụng những phơng tiện giao thông cơ giới đầu tiên, là những yếu tố cơ bản thúc
đẩy quá trình phát triễn, mở rộng thành phố Cùng với thời gian, trong cấu trúc đôthị Hà Nội đã dần hình thành những khu chức năng riêng biệt Khu thơng nghiệp,dịch vụ trung tâm trên trục đờng Tràn Tiền-Hàng Khay, khu hành chính, chính trị
ở phía Đông hồ Hoàn Kiếm và các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thànhphố Khu 36 phố phòng vẫn là khu thơng mại dịch vụ truyền thống Năm 1889,thực dân Pháp đã lấp nhánh sông Tô từ chỗ cửa sông Hồng (Hà Khẩu) qua HàngCá, Hàng Lợc tới Thụy Khuê lập ra các phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Hàng Cá,Hàng Lợc
C Giai đoạn đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 2 (1920-1945)
Trong những năm từ 1920 đến 1945 thực dân Pháp tiến hành chơngtrình khai thác thuộc địa lần thứ hai với nhịp điệu và qui mô lớn hơn Trong bốicảnh ấy, các hoạt động xây dựng và qui hoạch thành phố Hà Nội có điều kiệnphát triễn mạnh hơn so với các thời kỳ trớcvới nhiều loại hình và phong cách kiếntrúc khác nhau Căn cứ trên các đặc điẻm kiến trúc và qui hoạch thì khu phốPháp ở Hà Nội đợc xây dựng trong 80 năm đã có sự hoàn chỉnh theo phơng phápqui hoạch phơng Tây Về phong cách kiến trúc đã có sự vận dụng linh hoạt từkiến trúc thuần túy Pháp đến các phong cách kiến trúc kết hợp khai thác các đặc
điểm của kiến trúc truyền thống Việt Nam và thích nghi với điều kiện khí hậu địaphơng Khu phố Pháp cùng với thời gian đã trở thành một quĩ đô thị đáng kể và
có những giá trị nhất định góp phần tạo nên nét hấp dẫn của Hà Nội Đó là sự kếthợp hài hòa giữa công trình và khung cảnh thiên nhiên nhiệt đới, thông qua tỉ lệcông trình kiến trúc vừa phải và sự chú ý đến cây xanh, cũng nh việc tạo nên một
số trục chính có công trình trọng điểm áng ngữ với vai trò là điểm nhấn, khônggian và mặt nớc hồ Hoàn Kiếm cũng đã đợc khai thác và tạo nét riêng cho Hà Nội
Trang 9D Cấu trúc không gian đô thị Thăng Long- Hà Nội thời Pháp thuộc
Cấu trúc đô thị mới đợc hình thành vào thời kỳ này (đầu thế kỷXX) có thể nhận biết rõ ràng trên bản đồ không gian đô thị Hà Nội và đợc đặc tr-
ng bởi các yếu tố sau :
1)Một hệ thống đờng phố kiểu bàn cờ, khác với hệ thống đờngtrong khu phố cổ “ 36 phố phờng” ít nhiều mang tính chất tự phát với những lối đinhỏ hẹp, ít nhiều quanh co, chỗ rộng chỗ hẹp không thông nhất… Mạng lới đờngphố đợc phát triễn về phía Nam hồ Gơm, đợc hoạch định trớc với những tuyếnthẳng kẻ ô với những đờng song song và vuông góc nhau tạo thành những khu đấtxây dựng tơng đối vuông vắn
2)Một phong cách kiến trúc vốn chỉ thịnh hành ở châu Âu thời đó :kiến trúc Phục Hng, cổ điển Pháp, Gô Tích, Rômăng … đợc thể hiện trên mộtloạt kiến trúc công cộng từ kiến trúc hành chính (phủ Toàn Quyền, dinh Thống
sứ, tòa án tối cao …), kiến trúc văn hóa (nhà hát, bảo tàng, trờng đại học …), cáckiến trúc công cộng khác (bu điện, bệnh viện, ngân hàng …) cho tới nhà ở (cácloại biệt thự Pháp)
3)Một hệ thống không gian mở gồm các quãng trờng, các vờn cây,
hồ nớc … liên hoàn với hệ thống không gian lu thông (các đại lộ), có ý nghĩa
đáng kể trong việc tạo nên cảnh quan đô thị có tầm nhìn rộng, đồng thời tăngthêm khả năng thông thoáng của môi trờng đô thị
Trang 10H×nh 1.3 : hoµng thµnh vµ kinh thµnh th¨ng
long -1883
Trang 11Hình 1.4: bản đồ thăng long- Hà Nội 1890
Trang 12Hình 1.5 : bản đồ Hà Nội - 1925
1.1.3 Từ 1945 đến nay (thời kỳ Cách mạng XHCN)
A Từ 1945 đến 1975 (thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc)
Trang 13Sau Cách mạng tháng 8 thành công, công việc nặng nề trớc mắt củatoàn dân tộc là kháng chiến chống thù trong giặc ngoài Cả Hà Nội sục sôi trongnhững ngày đầu kháng chiến, ngày 10-10-1954 thủ đô đợc giải phóng tng bừng
đón Bác Hồ cùng Chính phủ về Hà Nội Sau những năm đầu khôi phục và xâydựng, tháng 9-1959, Bộ Chính trị Trung ơng Đảng đã ra nghị quyết về qui hoạchcải tạo và mở rộng thành phố Hà Nội, qui định Hà Nội phải có bộ mặt xứng đáng,phơng châm cải tạo và mở rộng thành phố phải phục vụ nhiệm vụ trung tâm chínhtrị, văn hóa của cả nớc, phục vụ công nghiệp, sản xuất và đời sống nhân dân lao
động Do yêu cầu đó, địa giới của Hà Nội đã đợc mở rộng, diện tích Hà Nội cũ(năm 1954) là 1200ha, đến năm 1959 đã mở rộng tới 2000ha, và dân số Hà Nộinăm 1960 là 638000 ngời Về mặt hành chính, Hà Nội gồm 4 khu : khu Ba Đình,khu Đồng Xuân (về sau thuộc quận Hoàn Kiếm), khu Hoàn Kiếm và khu Hàng
Cỏ (phần đất phía Tây Bắc Hà Nội bao gồm 6 xã:Thụy Phơng,Phú Thợng, TừChâu,Xuân La, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; Quận VI ở phía Tây và Tây Nam bao gồm
5 xã : Hòa Bình , Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa, Trung Hòa, Mễ Trì QuậnVII ở phía Đông Nam bao gồm 6 xã : Ngọc Thụy, Thợng Thanh, Việt Hng, Tiến
Bộ, Hồng Tiến, Gia Lâm (đều ở bờ Bắc sông Hồng)
Bộ mặt đô thị đã từng bớc đợc đổi mới với những khu sản xuấtcông nghiệp, những khu lao động ít nhiều khang trang, một số công trình phúc lợicông cộng, cây xanh, đờng xá điện nớc … Công tác qui hoạch đã có những bớc điban đầu đáng khích lệ, một đồ án kiến trúc qui hoạch xây dựng thủ đô đợc vạch
ra với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô nhằm xác định phơng hớng pháttriễn cho Hà Nội Dựa trên qui hoạch đó mà nhiều khu xây dựng mới đã đợc hìnhthành, nhiều tuyến đờng đã đợc mở rộng hoặc làm mới Các khu công nghiệp nhThợng Đình, Minh Khai … các khu nhà ở Nguyễn Công Trứ, Kim Liên … cáckhu công viên, các công trình công cộng đều đã đợc xác định dựa trên qui hoạchnày
B Từ 1975 đến 1990 (thời kỳ khôi phục và chuyển đổi cơ cấu kinh tế)
Nhìn chung thời kỳ này công cuộc xây dựng thủ đô tuy đã có nhữngbớc phát triễn nhng là một thời kỳ đầy khó khăn do phải khắc phục những hậu quả
do chiến tranh để lại hết sức to lớn mà nhân dân ta phảI tốn nhiều công sức để hàngắn
Mặc dù vậy không gian đô thị đã đợc mở rộng đáng kể nhờ việcphát triễn những khu ở mới (cao tầng và thấp tầng) ở bên trong và ở cả vùng vennội, phát triễn các tuyến đờng giao thông (đờng tia và đờng nan quạt), bổ sung
Trang 14nhiều công trình công cộng, công trình công nghiệp cũng nh các khu cây xanh …
có thể coi Hà Nội lúc này đã có những bớc tiến bộ quan trọng trong việc cụ thểhóa định hớng phát triễn không gian đô thị theo qui hoạch tổng thể xây dựng thủ
đô đã đợc nghiên cứu từ nhiều năm trớc
Trong thời kỳ này, các dòng sông, kênh mơng nội thành dờng nh bịquên lãng trớc những lo toan khác của thành phố Hầu nh tất cả các dòng sông
đều trở thành nơi chứa đủ mọi loại chất thảI của tất cả các loại hoạt động sinh ra
và bị biến thành mơng rãnh, bị lấn chiếm dòng chảy …
C Từ 1990 đến nay (thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế)
Quá trình đô thị hóa của Hà Nội vào thời kỳ này diễn ra trong khungcảnh kinh tế xã hội diễn ra đầy biến động ở trong nớc cũng nh trên thế giới Sựchuyển hóa từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế đa dạngnhiều thành phần với những tác động rõ rệt của “thị trờng tự do”, chẳng những có tác
động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội mà còn để lại nhiều dấu ấn rõ trên bộ mặtkiến trúc đô thị Cha bao giờ bộ mặt kiến trúc đô thị Hà Nội biến đổi nhanh đến thế,một sự biến đổi đem lại nhiều điều phấn khởi lẫn nổi lo âu
Sự bung ra của việc xây dựng nhà ở t nhân đã là mối đe dọa trớctiên cho cảnh quan đô thị ở những khu phố cổ, một cảnh quan đô thị độc đáo vàmột di sản quí giá Di sản đó lu giữ bên trong những truyền thống về cách ăn ở vàsinh hoạt văn hóa, cách thức cấu tạo không gian kiến trúc, nghệ thuật tạo cảnh vớinhững sân trong, những bể nớc, hoa lá và chim muông Qua nhiều năm của nềnkinh tế bao cấp, di sản ấy không đợc tu bổ gì thêm mà trái lại bị áp lực của sựtăng dân số làm cho tàn tạ đi nhiều Tuy thế sự tàn tạ ấy không nguy hại bằng sựvô ý thức về bảo tồn di sản Khá nhiều nhà cũ này đã đợc thay bằng nhà mới,khang trang và hiện đại hơn nhng hình ảnh ấm cúng, gần gũi của kiến trúc đô thịtruyền thống đã bị phá vỡ
Làng cũ biến dạng và xuất hiện “làng mới” Quá trình phát triễncủa Thăng Long-Hà Nội cũng là quá trình lùi dần của làng truyền thống, trongquá trình lùi dần ấy, dấu tích của các cộng đồng c dân nông thôn thờng đợc bảo l-
u, để lại cho Hà Nội ngày nay nhiều kỷ vật có giá trị, đó là những đình chùa, đềnmiếu, nhà thờ họ, nhà văn chỉ … rải rác trong nội thành hiện nay và là một trongnhững nét đặc sắc của đô thị cổ kính này
Các làng ở xung quanh vùng ven nội là nơI diễn ra những biến
động rõ nét nhất, trớc tiên là đất ruộng của làng phải nhờng chổ cho sự phát triễnnhững khu ở mới của đô thị, các làng Kim Liên, Khơng Thợng, Quỳnh Lôi,
Trang 15Giảng Võ, Thành Công, Nghĩa Đô … đều đã nằm trong tình hình nh vậy Mất đi
đất canh tác, đơng nhiên các làng phải chuyển hớng sản xuất sang các ngànhnghề khác, thủ công, thơng nghiệp, công nghiệp của đô thị và cũng có một số lao
động chuyển đi các vùng kinh tế mới Từ đó một sự biến động lớn hơn nữa đãdiễn ra trên phần thổ c của những làng này,đặc biệt là từ sau khi phát triễn nềnkinh tế thị trờng Tại những làng nghề truyền thống đặc biệt là những làng trồnghoa nh Ngọc Hà, Liễu Giai, Nghi Tàm, Quảng Bá … thì sự biến dạng ấy là một
sự mất mát đáng tiếc đối với đô thị Đặc biệt là sự biến đổi cấu trúc không gian
đó cùng với sự tập trung dân c đã gia tăng sức ép ô nhiễm lên hệ thống sông hồ,kênh mơng vốn đã quá tải và ít đợc quan tâm Các dòng sông không còn đợc xem
là trục qui hoạch nữa mà ngời ta chú ý nhiều hơn đến sự phát triễn thành phố ravùng ngoại ô
Nhiều làng truyền thống mất đi, có lẽ để bù lại Hà Nội đã có một
số làng mới, tuy khái niệm làng ở đây không còn giống nh trớc, đó là các làng
nh : làng SOS dành cho trẻ em mồ côi, làng trẻ em Birla, làng kiến trúc Nhật, làng kiến trúc phong cảnh, khách sạn Phơng Đông (một loại làng du lịch)
Việt-và tiến tới có thể có làng văn hóa các dân tộc hoặc làng Olympic dành cho cácvận động viên Những khu xây dựng này tuy không quan hệ gì với sản xuất nôngnghiệp nhng vẫn đợc gọi là làng, có lẽ là để nói lên một đặc trng của qui hoạch có
đôi nét gần gũi với làng truyền thống, đó là một tổng thể với các khối kiến trúckhông lớn, có nhiều đất trồng cây và cộng đồng trong đó ít nhiều có sự gắn bó vớinhau trong một ý tởng chung nào đó, một lề lối sinh hoạt nào đó và nhìn tổngquát thì nó gợi suy nghĩ, gợi hình ảnhvề một kiến trúc làng với một mong muốnchung khi xây dựng tạo lập nên một cộng đồng dân c có nếp sống văn minh, quantâm bảo tồn nền văn hóa cổ truyền, một khu dân c đô thị nhng không xa rời nềnếp tốt đẹp của các làng xa Những khu xây dựng với loại nhà có khối tích nhỏ,
có nhiều vờn cây theo kiểu các làng nh vậy thực sự là điều tốt lành cho môi trờngsống và cảnh quan đô thị, nó sẽ là những “lá phổi nhỏ” góp phần cùng các lá phổilớn nh hồ Gơm, hồ Bảy Mẫu giúp cho điều kiện vi khí hậu của đô thị đợc cảithiện
1.2 Hiện trạng hệ thống kênh mơng của thành phố Hà Nội
A Hiện trạng thoát nớc của hệ thống kênh mơng
Hiện tại, có khoảng 120km cống (hệ thống cống chung) và 31,3kmmơng thoát nớc trong khu vực trung tâm đô thị chủ yếu ở 4 quận Hệ thống kênhmơng vẫn đảm nhiệm việc thoát nớc chung cả nớc ma và nớc thải sinh hoạt, côngnghiệp
Trang 16Các kênh mơng có loại tiết diện nhỏ nằm gọn trong các khu dân cchủ yếu tiếp nhận nớc thải sinh hoạt Lợng bùn cặn lắng rât nhiều do cha qua xử
lý Dòng chảy nhỏ, về mùa khô nhìn thấy cả đáy mơng (mơng Nam Đồng)
Các kênh mơng lớn nhận nớc thải từ các cống trong lu vực và các
hồ điều hoà để thải ra sông Lợng nớc thải từ các cống sau khi đổ vào hồ đã đợc
xử lý sinh học, đến khi mực nớc trong hồ đủ lớn sẽ đợc bơm ra các kênh mơng để
đổ ra sông Do đó, chất lợng của loại nớc thải này là chấp nhận đợc
Do kết quả của việc lắng đọng bùn cặn trong một thời gian dài,hiện tại tổng lợng bùn cặn lu cửu khoảng 26.000m3 ở các cống (chiếm 32% thểtích trong lòng cống) và khoảng 90.000m3 ở các kênh mơng (chiếm 24% diệntích dòng chảy) gây giảm công suất dòng chảy một cách đáng kể Lợng bùn cặnchiếm chổ gây ngập úng thờng xuyên khu vực nội thành và gây ảnh hởng đến môitrờng sống (mùi, cảnh quan, điều kiện vệ sinh …)
Cách thức quản lý xây dựng đô thị không chặt chẽ dẫn đến tìnhtrạng lấn chiếm hành lang bảo vệ kênh mơng hay tự ý xây dựng các cầu bắcngang kênh mơng làm đờng dẫn vào nhà Các kênh mơng phần bị lấp, phần bị lấnchiếm làm giảm diện tích dòng chảy, góp phần gây ngập úng cục bộ
Số liệu của mạng lới kênh mơng quận Đống Đa là một ví dụ
Chiều dài(m)
Có hànhlang(m)
Không hànhlang(m)