Tổng quan về quản lí hành chính và tổ chức hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay a Quản lí hành chính giáo dục Việt Nam Giáo dục Việt Nam được quản lí theo các cấp từ trung ương đến địa ph
Trang 1TRƯỜNG HỌC
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ GIÁO DỤC BẬC TIỂU HỌC
I SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ GIÁO DỤC BẬC TIỂU HỌC
1 Đặc điểm của giáo dục đào tạo bậc tiểu học.
1.1 Tổng quan về quản lí hành chính và tổ chức hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay
a) Quản lí hành chính giáo dục Việt Nam
Giáo dục Việt Nam được quản lí theo các cấp từ trung ương đến địa phương,thống nhât với nhau theo ngành dọc Quản lí hành chính được mô tả như sau
Bộ giáo dục và đào tạo: là cơ quan trung ương giám sát các hoạt động
giáo dục ở Việt Nam Bộ quản lí nhà nước chịu trách nhiệm chung về việc lậpchính sách, lập kế hoạch và xây dựng chương trình của ngành giáo dục Cácchức năng chính của Bộ gồm lập chính sách, thực thi và đánh giá kế hoạch giáodục quốc gia, cũng như đề xướng biện pháp pháp luật liên quan đến giáo dục và
Trang 2đào tạo Bộ cũng chịu trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo chính sách cho các cấpđịa phương Trực thuộc bộ có các Vụ quản lí và điều hành các mảng giáo dụckhác nhau đó là.
- Vụ giáo dục mầm non
- Vụ giáo dục tiểu học
- Vụ giáo dục trung học
- Vụ giáo dục chuyên nghiệp
- Vụ Đại học và Sau Đại học
- Vụ giáo dục Thường xuyên
Ngoài ra, các vụ sau thuộc Bộ Giáo dục - Đào tạo thực hiện các chứcnăng cụ thể
Sở Giáo dục-Đào tạo: Đó là cơ quan có trách nhiệm cấp tỉnh về giáo dục
với những vai trò chính bao gồm phối hợp và hỗ trợ việc thực hiện các dịch vụ
ở cấp huyện Hơn nữa, các cấp trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp(Kỹ thuật và dạy nghề), cao đẳng và đại học nhìn chung thuộc trách nhiệm trựctiếp của cơ quan hữu trách về giáo dục tương ứng Các sở giáo dục do giám đốc
sở đứng đầu Về mặt hành chính, tỉnh chia thành các huyện
Phòng Giáo dục - Đào tạo: Các phòng giáo dục cấp huyện giám sát và
kiểm soát các trường phổ thông mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở Trongcác lớp tiểu học, việc đánh giá học lực để xét học sinh lên lớp được tiến hànhngay tại các trường đó Tuy nhiên, đến cuối lớp năm thì học sinh phải tham gia
Trang 3kì thi chuyển cấp để lên trung học cơ sở do Sở Giáo dục tổ chức Tuy nhiên,chính phủ đang có kế hoạch sẽ không tổ chức các kì thi chuyển cấp cuối lớp 5nữa Các cuộc thi ở các lớp trung học cơ sở do từng trường riêng biệt tổ chức,nhưng vào cuối lớp 9 sẽ có một kì thi quốc gia do Sở giáo dục tổ chức Cuốinăm lớp 12 cũng có một kì thi như vậy để đảm bảo chất lượng giáo dục đồngthời là cơ sở để học sinh đăng kí vào các trường học nghề, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học.
Ngoài ra, còn một số cơ quan độc lập có chức năng chuyên ngành cũngtham gia một phần vào sự phát triển giáo dục Việt Nam như NEIS-Viện khoahọc Giáo dục quốc gia, một số loại trường trực thuộc Bộ Lao động-Thương binh
và Xã hội
b) Hệ thống tổ chức giáo dục quốc dân Việt Nam
Hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam được chia thành các cấp khác nhau.Trong đó được phân chia chính là thành hai mảng giáo dục và đào tạo Cụ thểđược minh hoạ thể hiện như sau
Trang 4Trung học phổ thông
Upper secondary (3 năm / 3 yeas)
Tiểu học / Primary ( 5 năm/ 5 yeas) Trung học cơ sở/ lower Secondary (4 năm/ 4 yeas)
Mẫu giáo/ kindergarten
Nh tr à tr ẻ/ Nursery
Trung học chuyên nghiệp Froessional Secondary (3-4 năm / 3-4 yeas)
Dạy nghề/ Vocational training
D i h à tr ạn/ long term (1-3 năm / 1-3yeas)
Ngắn hạn/ Short term (< 1 năm)
Đại học University Education (4-6 năm/4-6 yeas)
Cao đẳng College education (3 năm/ 3 yeas)
Tiến sĩ Doctor (2-4 năm/2-4 yeas)
Thạc sĩ/Master (2 năm/2 yeas)
Giáo dục không chính quy
Non- formal
Trang 5Việt Nam có ba cấp giáo dục chính (tiểu học, trung học và cao đẳng, đại học)trong hệ thống giáo dục chính thức Cấu trúc của hệ thống giáo dục có thể đượcminh hoạ như sau: Lớp mẫu giáo 3-5 tuổi, 5 năm tiểu học, 7 năm trung học (4năm trung học cơ sở và 3 năm trung học phổ thông), và 3 -5 năm cho đại họchoặc cao đẳng, từ dưới 1 năm đến 3 năm theo các chương trình dạy nghề và kĩthuật Trên đó là thạc sĩ, tiến sĩ từ 2-4 năm.
Cũng có những chương trình dạy nghề và kĩ thuật có thời gian học khác nhau đểhọc viên có thể tham gia sau khi học xong trung học trung học cơ sở và trunghọc phổ thông Ngoài ra, các chương trình giáo dục phi chính quy như chươngtrình xoá mù chữ, sau xoá mù chữ, tiểu học và trung học cơ sở phi chính quycũng được tổ chức trên toàn quốc Trong đó chỉ có bậc tiểu học, trung học phổthông trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng, đại học có những hệ thốnggiáo dục không chính quy Đó là các lớp bổ túc văn hoá, lớp xoá mù, hệ tạichức, văn bằng 2
Bậc tiểu học và bậc trung học được quy định là nhóm giáo dục Trung họcchuyên nghiệp, dạy nghề, đại học, cao đẳng, thạc sĩ, tiến sĩ nằm trong nhóm đàotạo
1.2 Đặc điểm của giáo dục bậc tiểu học
Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14tuổi: được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 Tuổi của học sinh vàonăm học lớp 1 là 6 tuổi ( ý 1 điều 22 Luật giáo dục)
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ mục tiêu phát triển giáo dụcbậc tiểu học từ nay đến năm 2002 là: “ Nâng cao chất lượng toàn diện bậc tiểuhọc” Nên cần hiểu rõ đặc điểm của bậc tiểu học là bậc học nền tảng Đó là bậchọc đầu tiên của hệ thống giáo dục thuộc nền văn minh nhà trường của mỗiquốc gia Bậc tiểu học dành cho 100% trẻ em từ 6-11, 12 tuổi
Bậc tiểu học có bản sắc riêng và có tính độc lập tương đối: Đậm đặc tính
sư phạm, không nhất thiết phụ thuộc vào sự giáo dục nghiêm ngặt trước đó và
Trang 6các bậc học sau Bậc tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vữngcho trẻ em tiếp tục học lên bậc trên.
Bậc tiểu học có tính chất: Phổ cập và phát triển, dân tộc và hiện đại, nhânvăn và dân chủ
a) Giáo viên, cán bộ công chức: Giáo viên dạy trong các trường tiểu họcđược quy định phải có trình độ tốt nghiệp trung học sư phạm Nhung thực tế để
có đủ giáo viên giảng dạy thì những người không đủ khả năng học trung học sưphạm được phép thi vào những chương trình đào tạo khác như 12+2 Đặc biệtđối với vùng sâu vùng xa giáo viên có thể chỉ cần học qua chương trình 9+7 là
có thể giảng day Điều này dẫn đến sự mất cân đối giữa các vùng, miền trongnước Những vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi thì trình độ chuẩn giáo viênthấp hơn nhiều so với vùng thành thị
Tuy nhiên do đặc thù của lứa tuổi học tiểu học nên giáo viên cán bộ côngchức của bậc học tiểu học cũng có nét rất riêng biệt Đó là giáo viên tiểu họctrình độ chuyên môn không cần phải cao nhưng đòi hỏi kiến thức sư phạm lạirất cao Giáo viên ngoài nhiệm vụ giảng day, truyền đạt kiến thức tổng hoà vềthế giới xung quanh cho trẻ thơ còn phải một nhà tâm lí Giáo viên phải có lòngkiên nhẫn, nắm bắt được tâm lí trẻ thơ từ đó kết hợp với gia đình uốn nắn xâydựng nhân cách cho trẻ Giáo viên phải có trình độ truyền đạt kiến thức mộtcách khoa học, phù hợp với sự nhận thức của trẻ em hình thành nhân thức mớiđúng đắn đảm bảo trẻ em phát triển cân đối cảc về thể chất và tinh thần
Hiện nay lương giáo viên tiểu học chiếm gần 50% tổng quỹ lương ngànhGiáo dục-Đào tạo, có lẽ nguyên nhân chủ yếu là số lượng giáo viên tiểu họcđông nhất so với các bậc học khác Mặc dù số học sinh giảm mạnh trong khi sốgiáo viên chưa thể giảm tương ứng Bình quân lương giáo viên tiểu học năm
2003 là 1149307.2 ngàn đồng/ người/ năm Nhìn chung lương giáo viên tiểu họchiện nay đã tăng khá hơn nhiều so với năm 1998
b) Học sinh: Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6-10 (có thể số ít đến 14tuổi) Đây là lứa tuổi bước đầu đang có nhân thức đầu tiên về xã hội, hiểu biết
Trang 7đơn giản về tự nhiên xã hội và con người, bước đầu hình thành kỹ năng cơ bản
về nghe nói đọc viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ dìn vệsinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật Lứa tuổi học sinhtiểu học được hưởng đầy đủ quyền trẻ em Trong đó là quyền được chăm sócnuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức Quyền được pháttriển năng khiếu Mọi năng khiếu của trẻ đều được khuyến khích và tạo điềukiện thuận lợi để phát triển Quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt độngvăn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi Quyền đượchọc tập Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cho trẻ em thực hiệnquyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ theohọc ở trình độ cao hơn
c) Chương trình của bậc tiểu học: Chương trình của bậc tiểu học phảiđảm bảo truyền đạt được cho học sinh có lòng nhân ái, mang bản sắc con ngườiViệt Nam: yêu quê hương, đất nước, hoà bình và công bằng bác ái; kính trên,nhường dưới, đoàn kết và sẵn sàng hợp tác với mọi người; có ý thức về bổnphận của mình đối với người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môitrường sống; tông trọng và thực hiện đúng pháp luật và các quy định ở nhàtrường, khu dân cư, nơi công cộng, sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin trung thực
Có kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, con người và thẩm mĩ; có kĩ năng cơbản về nghe đọc, nói, viết và tính toán Biết các học tập, biết tự phục vụ, biết sửdụng một số đồng dùng gia đình và công cụ lao động thông thường Mục tiêucủa chương trình giảng dạy không chỉ cung cấp tri thức khoa học cho học sinh
mà còn hình thành nhân cách của học sinh,
d) Cơ sở vật chất: Bậc tiểu học đòi hỏi phải có cơ sở vật chất ổn định,hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ em về thể chất, tâm lí Đáp ứng nhucầu giảng dạy của giáo viên Tuy vậy do đặc điểm nền giáo dục nước ta có xuấtphát thấp về cơ sở vật chất cũng như sự quan tâm chưa đúng mức của một số bộphân dân cư Nhà nước ta từ trước tới nay mới chỉ thực hiện tốt công tác phổcập giáo dục tiểu học toàn dân đi đôi với tăng dần chất lượng giảng dạy, Mới
Trang 8chỉ bước đầu xây dựng cơ sở vật chất Những yêu cầu về chất lượng cơ sở vậtchất chưa thực sự được đảm bảo Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cơ sởvật chất ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng dạy, ảnh hưởng rất lớn đếnnhận thức của trẻ nhỏ Học sinh bậc tiểu học đang ở lứa tuổi bước đầu pháttriển về tâm hồn, thể chất nên cần có sự định hướng đúng đắn, môi trường phùhợp với sự phát triển đó Vì thế sự quan tâm về phương pháp giảng dạy, về cơ
sở vật chất là rất quan trọng Những dự án đổi mới chương trình giảng dạy, xoá
bỏ phòng học 3 ca, phòng học tạm thời tre lá, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuậtđang được thúc đẩy Trên phạm vi cả nước, hiện nay bậc tiểu học còn tồn tại
897 phòng học 3 ca, 35517 phòng học tạm thời tre lá Theo kế hoạch, trong 5năm 2001-2005 dự kiến đầu tư khoảng 45 ngàn tỷ đồng, chiếm gần 5,3% tổng
số vốn đầu tư phát triển để có thể tạo bước chuyển biến căn bản, toàn diện vànhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ dân trí toàn xãhội Tổng số vốn đầu tư này dành cho việc xoá phòng học tranh tre, bổ sungphòng học cho bậc tiểu học chấm dứt tình trạng học 3 ca Theo nghiên cứu thìchất lượng học sinh phụ thuộc rất nhiều vào thời gian học tại trường Học sinhhọc hết bậc tiểu học học cả ngày tại trường có trình độ hơn so với học nửa ngày
1 lớp học Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ học sinh tiểu học học cả ngày trên phạm vitoàn quốc mới đạt khoảng 26% Tỷ lệ này cao nhất là vùng Đồng bằng SôngHồng (Hà Nội là 86%) và Đông nam bộ, thấp nhất là ở vùng Đồng bằng sôngCửu Long, Tây Bắc và Tây Nguyên Tuy nhiên tỉnh thấp nhất lại thuộc về vùngĐông bắc (Cao Bằng 2,6%) Cần lưu ý hiện nay số học sinh tiểu học đang có xuhướng giảm nhanh nên việc xây dựng trường/ lớp mới phải thận trọng, tránhgây lãng phí đầu tư xây dựng cơ bản
Nhu cầu đầu tư xây dựng phòng học 2 buổi/ ngày
Số lượng phòng học Nhu cầu đầu tư 2003
Trang 9Tổng số Tổng số
phòng học cần thêm
và sửa chữa
Đồng bằng Sông Cửu Long 63.873 29.827 19.704 19.704 29.827
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ GD-ĐT
d) Tài chính: Bậc tiểu học có đặc điểm là phổ cập cho mọi người Họcsinh học tiểu học hoàn toàn được miễn học phí để đảm bảo công bằng cho mọingười Tuy nhiên thực tế, một số trường tiểu học lại rất thành công trong việchợp tác chặt chẽ giữa nhà nước, cộng đồng và phụ huynh để cùng hướng tớimục đích chung là cung cấp giáo dục cơ bản Kết hợp trong những cơ chế phânchia chi phí giữa nhà nước và cộng đồng và đóng góp bằng hiện vật của cộngđồng là những yếu tố quan trọng trong mở rộng mạng lưới trường tiểu học Mặc
dù không phải đóng học phí ở bậc tiểu học nhưng trong thực tế phụ huynh họcsinh lại được kì vọng là sẽ đóng góp các chi phí đầu vào cơ bản khác như phíxây dựng, bảo dưỡng và tài liệu học tập Các chi phí này tạo gánh nặng lớn chonhững gia đình có thu nhập thấp và có thể là một yếu tố gây cản trở việc đi họctiểu học Thách thức đặt ra cho nhà nước là phải nhận thức rõ những nghĩa vụ
cơ bản của mình trong việc cung cấp giáo dục bắt buộc cho tất cả trẻ em ở mứcphù hợp với điều kiện kinh tế Sẽ cần tiến hành những bước đi xa hơn nữa đểdần dần chuyển sang cơ chế nhà nước cấp toàn bộ kinh phí giáo dục tiểu học, cónhư vậy mới đảm bảo sự công bằng trong cung cấp giáo dục có chất lượng chomọi người
Trang 10Hiện nay kinh phí chi cho giáo dục được hỗ trợ từ nhiều nguồn Việt Nam
đã xây dựng mối quan hệ tốt với các nhà tài trợ, thể hiện qua số lượng ngàycàng nhiều các dự án hỗ trợ cho giáo dục tiểu học từ giữa những năm 1990 trởlại đây
2 Thực trạng giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Cùng với sự hình thành và ngày càng phát triển của hệ thống chỉ tiêuthống kê kinh tế xã hội nói chung, những năm qua ở Việt Nam đã thu thập vàtổng hợp được một số chỉ tiêu thống kê về giáo dục bậc tiểu học hoặc có liênquan đến giáo dục bậc tiểu học Những thông tin này rất cần thiết cho việcnghiên cứu đánh giá về giáo dục, làm căn cứ để Nhà nước đưa ra những quyếtđịnh và các vấn đề có liên quan đến giáo dục, nhằm tạo ra khả năng phát triểnthích hợp cho giáo dục cũng như nâng cao vai trò giáo dục trong quá trình pháttriển kinh tế xã hội của nước ta
Về mặt pháp chế Nhà nước Việt Nam quy định mọi người có quyền vànghĩa vụ tham gia giáo dục bậc tiểu học (như đã trình bày ở Chương I) Songthực tế ở nhiều nơi, nhiều lúc và nhiều khía cạnh quyền đó chưa thực sự đượcbảo đảm Nguyên nhân chủ yếu là do phong tục tập quán, nguồn gôc dân tộc màthực chất là tư tưởng lỗi thời vẫn còn tồn đọng trong các dân tộc cũng như cácvùng sâu vùng xa trong cả nước
Thực tế giáo dục bậc tiểu học rất quan trọng nó là khởi đầu, đặt nềnmóng cơ bản cho sự phát triển của con người Đòi hỏi phải có một chương trìnhphù hợp với tâm sinh lí của trẻ em đồng thời cơ sở vật chất cũng rất quan trọngđối với sự phát triển của trẻ nhỏ Tuy nhiên giáo dục đào tạo bậc tiểu học hiệnnay ở Việt Nam mới chỉ đạt yêu cầu về phổ cập cho mọi người còn những chỉ
số về chất lượng mới đang ở giai đoạn đầu thực hiện
Thế kỷ 21 được dự đoán là thế kỷ của chất xám, là thể kỷ của nhu cầutinh thần, nhu cầu văn hoá Vì vậy sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang trở nênhết sức quan trọng Trong tiến trình hội nhập của nước ta với thế giới, trình độgiáo dục và đào tạo của một nước là một trong những thước đo ưu tiên trong
Trang 11quan hệ quốc tế Hơn nữa, dân trí của một nước là đông lực cơ bản của sự pháttriển của nước đó Muốn nâng cao dân trí phải qua giáo dục và đào tạo Vì vậy
sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải được quan tâm đầu tư thích đáng của toàn xãhội nói chung và toàn ngành giáo dục và đào tạo nói riêng
2.1 Xét về phổ cập giáo dục
Trong những năm 1990, những năm được gọi là thập kỷ giáo dục cho mọingười Jomtien, tỉ lệ trẻ em đi học tiểu học tăng đáng kể khiến tỉ lệ nhập học tinhđạt ở mức cao gần 90% vào năm 2000-2001 Những tiến bộ về tỉ lệ nhập họcđúng tuổi đã được mở rộng đến tất cả các nhóm thu nhập, tất cả các vùng, tất cảcác nhóm dân tộc thiểu số và đến cả nam và nữ Điều này cho thấy sự thànhcông của chiến dịch quốc gia đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học cho tất cả trẻ
em ở tất cả các vùng miền trên cả nước
Tỉ lệ nhập học đúng tuổi tăng lên cũng đi kèm với những tiến bộ đáng kểđạt được đối với những chỉ số chính về hiệu quả Những chỉ số này bao gồm tỷ
lệ lưu ban và bỏ học giảm và tiến đến đi học đụng độ tuổi tiểu học từ 6-10 tuổi
Tỷ lệ nhập học tiểu học của trẻ em gái có truyền thống là cao ở Việt Nam Khichuyển sang thiên niên kỉ mới, tỉ lệ nhập học cho cả nam và nữ vẫn ở mức gầnnhư tương đương, ngoại trừ một số nhóm dân tộc có tỉ lệ nữ đi học vẫn luôn ởmức thấp
Trang 12Thách thức mà Việt Nam gặp phải trong thời gian thực hiện Kế hoạchgiáo dục cho mọi người 2003-2015 là củng cố những thành tựu hiện nay vànâng cao chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học lên chuẩn quốc tế Ưu tiên sẽ là tăng
tỷ lệ hoàn thành bậc học tương ứng với tỷ lệ nhập học cao Việc tăng gấp đôi tỷ
lệ hoàn thành bậc học từ khoảng 49% năm 1990/1991 lên khoảng 70% năm1999/2000 cho thấy xu hướng tích cực Tuy nhiên việc này cần phải xem xéttrong bối cảnh mà ở đó có một số lượng đáng kể trẻ em không thể tiếp cận đượcchu trình đầy đủ năm lớp tiểu học hoặc đạt được mức độ học tập cơ bản tốithiểu Trong năm 2000, ước tính số trẻ em thất học trong đó có cả trẻ em trong
độ tuổi tiểu học nhưng chưa bao giờ đi học hoặc chưa hoàn thành giáo dục tiểuhọc là khoảng 1,5 triệu (khoảng 15%) em trong nhóm tuổi 6-10 tuổi Tiếp tụctăng tỷ lệ hoàn thành bậc học sẽ đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt để đảmbảo nâng cao hiệu quả và đảm bảo rằng tất cả trẻ em đều hoàn thành chu trìnhđầy đủ của giáo dục tiểu học
Những thành tựu gần đây về số học sinh nhập học tiểu học đạt được ởmức lớn nhất đối với những trẻ em vùng xa và trẻ em từ các nhóm có thu nhậpthấp Điều này đạt được là nhờ có những chính sách mở rộng cơ hội tiếp cậncho các nhóm có khó khăn về giáo dục Với hệ thống điểm trường, nơi các lớptiểu học hoạt động ở thôn, bản nhưng lại liên quan về mặt hành chính với mộttrường chính thì hầu hết các thôn, bản ở vùng núi hoặc xa xôi hẻo lánh hiện đều
có các lớp tiểu học Tương tự như vậy, chính sách cấp phát sách giáo khoa miễnphí cho trẻ em dân tộc thiểu số, nơi mà chi phí cho sách giáo khoa vượt quá khảnăng tài chính của phụ huynh, cũng đã tạo điều kiện cho việc tiếp cận
Tỷ lệ nhập học của bậc tiểu học theo vùng
Trang 13Tây Nguyên 86.4 73.9 91.3
Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam: 1993, 1998
(*) Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2002 -WB
Sự đói nghèo, nguồn gôc dân tộc, vị trí địa lí và năng lực học tập lànhững cản trở chính đối với tiếp cận giáo dục Các hoạt động có trọng tâm hiệnđang được tiến hành nhằm xoá bỏ những bất công bằng về cơ hội học tập
Huy động hết 15% số trẻ em còn lại học đầy đủ chu trình giáo dục tiểuhọc là một ưu tiên chính sách quan trọng Nó đòi hỏi phải có những hoạt động
cụ thể nhằm giải quyết những nhu cầu học tập phức tạp hơn của trẻ em gặp khókhăn trong học tập Thiết kế và thực hiện những hoạt động như vậy khó hơn rấtnhiều so với những hoạt động được áp dụng cho đến nay và chỉ đủ để giải quyếtnhu cầu giáo dục cho đa số trẻ em thuộc những nhóm dân cư sống trong nhữngđiều kiện kinh tế xã hội bình thường hơn Các chương trình nâng cao cơ hộigiáo dục cho những trẻ em khó tiếp cận được là trọng tâm của ngày càng nhiềuchương trình khác nhau của chính phủ và một số chương trình cho nhà tài trợ hỗtrợ Các chương trình này nhấn mạnh sự cần thiết phải giảm học phí cho ngườinghèo, giảm giá sách giáo khoa và tài liệu học tập cho những cộng đồng có ít cơhội tiếp cận với thông tin trên văn bản, chú trọng vào các chương trình pháttriển ngôn ngữ tiếng Việt (ở lớp tiền học đường và những lớp đầu của tiểu học)nhằm tạo cơ hội tốt hơn cho những trẻ em nói tiếng dân tộc khi bắt đầu học tiểuhọc cho đến khi hoàn thành bậc học này Kinh nghiệm cho thấy rằng mộtphương pháp tiếp cân linh hoạt cho phép kết hợp những hỗ trợ đặc biệt sẽ nângcao kết quả học tập hơn là chỉ sử dụng đầu vào một cách cứng nhắc Thách thứccuối cùng là ở chỗ làm sao đảm bảo có được những nguồn lực bổ sung để tài trợthêm kinh phí liên quan đến nâng cao chất lượng và cung cấp giáo dục ở vùng
xa và vùng khó khăn
Tuy nhiên việc phổ cập giáo dục tiểu học cho mọi người ở nước ta gặp rấtnhiều khó khăn Mặc dù hiện nay đã phổ cập đến 95% học sinh trong toàn quốc