Phân tích và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp; thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang.
Trang 1Hà Nội - 2019
Trang 2-
THÂN MẠNH TRÍ
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Quản Lý Kinh Tế
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Ánh
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung đƣợc trình bày trong luận văn này hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Thân Mạnh Trí
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 5
5 Phương pháp nghiên cứu: 5
6 Kết cấu luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 6
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 6
1.1.1 Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 6
1.1.2 Khái niệm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 8
1.1.3 Đặc điểm, vai trò của xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 10
1.2 NỘI DUNG CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 18
1.2.1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu 18
1.2.2 Nghiên cứu chính sách đẩy mạnh xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế 19
1.2.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 20
1.2.4 Xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 22
1.2.5 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 24
Trang 51.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM
NÔNG NGHIỆP 26
1.3.1 Nhân tố quốc tế 26
1.3.2 Nhân tố trong nước 29
1.4 KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 32
1.4.1 Kinh nghiệm xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng 32
1.4.2 Kinh nghiệm xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc 34
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Giang 35
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG TRONG THỜI GIAN QUA 38
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA TỈNH BẮC GIANG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 38
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 39
2.1.3 Giới thiệu các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của tỉnh 42
2.2 THỰC TRẠNG ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG 43
2.2.1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu 43
2.2.2 Nghiên cứu chính sách đẩy mạnh xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế 48
2.2.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 52
2.2.4 Xúc tiến xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 58
2.2.5 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 62
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG 69
2.3.1 Những thành tựu trong đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang 69
Trang 62.3.2 Những hạn chế trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của
tỉnh Bắc Giang 71
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 74
Chương 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG 77
3.1 DỰ BÁO BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG 77
3.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI 79
3.2.1 Quan điểm, mục tiêu 79
3.2.2 Phương hướng 81
3.3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG 82
3.3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 82
3.3.2 Nhóm giải pháp về xúc tiến thương mại 90
3.3.3 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 91
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 93
3.4.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 93
3.4.2 Kiến nghị đối với Bộ, ngành 94
3.4.3 Kiến nghị đối với các hội: hội doanh nghiệp, hội doanh nhân, hội nông dân 96 KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
A Tiếng Việt
B Tiếng Anh
STT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1 ADB The Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
2 APEC Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
3 ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
4 ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á–Âu
5 FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại Tự do
6 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
7 GlobalGAP Global Good Agricultural
Practices
Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt toàn cầu
8 IMF The International Monetary
9 USD United States dollar Đô la Mỹ
10 VietGAP Vietnamese Good Agricultural
Practices
Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
12 WTO The World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang 46
giai đoạn 2013-2017 theo thị trường xuất khẩu 46
Bảng 2.2: Thực trạng quy hoạch một số sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh giai đoạn 2013-2017 49
Bảng 2.3 Mức hỗ trợ của tỉnh Bắc Giang đối với các sản phẩm 55
nông nghiệp lợi thế 55
Bảng 2.4: Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu nông sản tỉnh Bắc Giang 63
giai đoạn 2013-2017 63
Bảng 2.5: Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2017 64
Bảng 2.6: Giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2017 66
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Kinh phí xúc tiến thương mại của tỉnh giai đoạn 2013-2017 62
Hình 2.2: Kim ngạch xuất khẩu nông sản tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2017 64
Hình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2017 65
Hình 2.4 Tỷ trọng cơ cấu thị trường xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh Bắc Giang từ năm 2013 đến năm 2017 68
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn ba mươi năm đổi mới, hội nhập quốc tế đã giúp Việt Nam đạt đựơc những thành tựu lớn Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, năng lực cạnh tranh quốc gia và các doanh nghiệp, ngành hàng được nâng lên, thương mại ngày càng mở rộng, đầu
tư trực tiếp nước ngoài không ngừng gia tăng Trong thành tựu chung của cả nước, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng không thể thiếu Với gần 70% dân số sống ở nông thôn, hơn 48% lao động làm nông nghiệp, tạo ra hơn 25% GDP của đất nước, nông nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc thể hiện ở sản lượng hàng hoá và giá trị sản xuất tăng liên tục trong một thời gian dài, xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ cao, nhiều sản phẩm đa dạng, chất lượng tốt, có lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, tiêu, điều,… Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 10 năm qua giai đoạn 2008 -2017 đạt 300 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm Riêng năm 2017, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 40 tỷ USD, tăng 23,45 tỷ USD so với năm 2008 Nông nghiệp là ngành duy nhất xuất siêu ra thị trường thế giới Hiện đã có 10 nhóm mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD/ năm trở lên, 5 mặt hàng: tôm, trái cây, hạt điều, cà phê
và đồ gỗ đạt kim ngạch 3 tỷ USD/năm Xuất khẩu nông sản Việt hiện đứng thứ 2 ở Đông Nam Á và đứng thứ 15 thế giới Nông sản Việt Nam hiện có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ
Bắc Giang là một tỉnh thuần nông nằm ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Tỉnh có gần 90% dân số sống ở khu vực nông thôn, 68% lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp, ngành nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn của Bắc Giang Bắc Giang có địa hình vùng núi, đồi thấp, đồng bằng do đó có đầy đủ điều kiện để phát triển đa dạng các giống cây trồng vật nuôi nhiệt đới, á nhiệt đới, gieo trồng nhiều vụ trong năm Đây là lợi thế để phát triển nền nông nghiệp hàng
Trang 10hóa đa dạng, tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng Những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang có nhiều chuyển biến tích cực; hình thành được những vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, giá trị sản xuất cao; xây dựng thành công một số mô hình sản xuất hàng hóa có thương hiệu tầm cỡ quốc gia như: gà đồi Yên Thế, vải thiều Lục Ngạn, bưởi Diễn Lục Ngạn, cam Canh Lục Ngạn, vải sớm Phúc Hòa, lợn sạch Ngọc Châu, nhãn muộn Phúc Hòa… Đặc biệt, vải thiều Lục Ngạn đã sản xuất đạt tiêu chuẩn châu Âu (GlobalGAP) Đây là những sản phẩm nông sản sạch, tiêu chuẩn, dồi dào, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của người dân trong và ngoài nước Vai trò của sản phẩm nông nghiệp rất có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh tế của tỉnh Bắc Giang, do vậy việc xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển các sản phẩm nông nghiệp là việc làm cần thiết Tuy nhiên đến nay, chính sách xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang chưa phát huy hiệu quả Sản lượng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh còn khiêm tốn so với tiềm năng
Với mục đích phân tích thực trạng, vạch ra hạn chế và tìm ra những giải pháp
để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang là rất quan trọng
Chính vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Phân tích và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong 10 năm trở lại đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề tài, dự án cấp bộ, cấp tỉnh, cấp trường đại học nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp như:
- Luận án tiến sĩ “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào
thị trường EU trong điều kiện tham gia WTO” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Thuý
Hồng Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của các quốc gia sang thị trường EU trong điều kiện tham gia WTO, phân tích và đánh giá đúng thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU Luận án đã đưa ra 6 giải pháp để hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất
Trang 11khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU Thời gian nghiên cứu của luận án
từ năm 2007 – 2014
- Luận án tiến sĩ “Các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông
sản của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (2008) của tác giả
Nguyễn Minh Sơn Luận án đã đánh giá thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam, đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân của chính sách thúc đẩy xuất khẩu nông sản mà Việt Nam đã thực hiện, từ đó đưa các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam Thời gian nghiên cứu của luận án từ năm 1995-
2008
- Luận án tiến sĩ “Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (2007) của tác
giả Ngô Thị Tuyết Mai Luận án đã đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, tập trung nghiên cứu vào 4 mặt hàng là chè, cao su, cà phê và gạo và đã đưa ra 8 giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án đến năm 2007
- Luận án tiến sĩ “Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam” (2007) của tác
giả Trịnh Thị Ái Hoa Trong đó tác giả đã đi sâu phân tích, đề cập khá đầy đủ các
cơ chế, chính sách đã được Nhà nước ban hành trong thời gian từ khi Việt Nam đổi mới năm 1989 tới năm 2007 về xuất khẩu nông sản của Việt Nam Tác giả tập trung vào khâu đánh giá, điều chỉnh, hoàn thiện chính sách và đưa ra 5 nhóm giải pháp để hoàn thiện chính sách
- Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Giang
(2014) “Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Bắc
Giang giai đoạn 2013 – 2015” của nhóm tác giả Trương Thị Hồng Minh (chủ
nhiệm đề tài), Nguyễn Văn Tình, Ngô Thị Hồng Nhung, Bạch Thị Khánh Chi, Ngô Anh Hoàng Đề tài đã nêu khái niệm sản phẩm chủ lực, tiêu chí lựa chọn sản phẩm chủ lực, xác định sản phẩm hàng hóa nông nghiệp chủ lực của tỉnh Bắc Giang trong
Trang 12giai đoạn 2011-2013, phân tích thực trạng sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực và đưa ra các giải pháp phát triển các sản phẩm chủ lực đó
- Ngoài ra tác giả còn tham khảo một số tài liệu hội thảo về xúc tiến xuất khẩu các mặt hàng nông sản riêng biệt của tỉnh Bắc Giang như: hội thảo xúc tiến thương mại cho sản phẩm vải thiều do Bộ Công thương phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương tổ chức, Hội thảo Mở rộng thị trường tiêu thụ quả vải thiều do UBND tỉnh Bắc Giang phối hợp với UBND tỉnh Lào Cai tổ chức, Hội thảo Phổ biến tiêu chuẩn kỹ thuật và chế biến gà đồi Yên Thế đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu,…
Nhìn chung vấn đề xuất khẩu nông sản của Việt nam đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau Trong luận văn này tác giả sẽ đi sâu giải quyết những vấn đề đặt ra có tính thời sự hơn đối với hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là một số mặt hàng chủ lực của tỉnh Bắc Giang, và nêu lên những nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hiệu quả hơn trong thời gian tới Vì vậy có thể nói đề tài được lựa chọn mang tính thời sự cao, rất cần thiết trong bối cảnh tỉnh Bắc Giang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích một cách hệ thống vai trò, đặc điểm, thực trạng xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang, những thuận lợi và khó khăn trong tình hình hiện nay, luận văn cố gắng đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
- Phân tích thực trạng xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang; đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp
Trang 13- Đề xuất giải pháp, kiến nghị điều kiện thực hiện giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn lấy việc phân tích những vấn đề kinh tế chủ yếu của xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, phân tích vai trò, định hướng và những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp làm đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang, tập trung vào các sản phẩm chính: quả vải, sản phẩm rau quả chế biến, gạo, lạc Việc nghiên cứu chủ yếu ở phạm vi cấp tỉnh và các số liệu được thu thập, phân tích trong khoảng thời gian từ năm 2013-2017
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh làm phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh được sử dụng nhằm đưa ra các đánh giá, kết luận về thực trạng hoạt động xuất khẩu nông sản và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang
6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh
Bắc Giang trong thời gian qua
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh
Bắc Giang
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU SẢN
PHẨM NÔNG NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp
Một trong những hàng hóa thiết yếu, không thể thiếu đối với sản xuất và tiêu dùng của người dân ở mỗi quốc gia chính là nông sản Vậy quan niệm về nông sản hiện nay như thế nào? bao gồm những mặt hàng gì?,… Để trả lời câu hỏi này, hiện
có một số quan điểm khác nhau về nông sản cụ thể như sau:
Theo quan điểm của Tổ chức Thương mại Thế giới:
Sản phẩm nông nghiệp bao gồm một phạm vi khá là rộng các loại hàng hóa
có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:
- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản: lúa gạo, lúa mì, bột mì, sữa, động vật tươi sống (trừ cá và các sản phẩm từ cá), cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,…
- Các sản phẩm phát sinh: bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,…
- Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, da động vật thô
Theo quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc
Theo quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO), hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng hóa khác nhau bao gồm: nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới (chè, ca cao, cà phê, tiêu…), nhóm hàng ngũ cốc (mì, lúa gạo, kê, ngô, sắn,…), nhóm hàng thịt và các sản phẩm từ thịt (thịt
bò, thịt lợn, thịt gia cầm,…), nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu (các loại hạt có dầu như đậu tương, hướng dương,… và các loại dầu thực vật), nhóm hàng sữa và các sản phẩm từ sữa (bơ, pho mát và các sản phẩm làm từ sữa), nhóm hàng
Trang 15nông sản nguyên liệu (bông, đay, sợi, cao su thiên nhiên,…) nhóm hàng rau quả (các loại rau, củ, quả)
Theo Việt Nam:
Việt Nam là nước nông nghiệp truyền thống và lâu đời, Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, luôn đóng góp tỷ trọng đáng kể trong GDP cả nước Với
cách hiểu đơn giản, nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp trong đó ngành
nông nghiệp sẽ bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp Tuy nhiên, theo nghĩa rộng nông nghiệp sẽ còn cả lâm nghiệp và thủy sản Theo quan điểm mới, trong kết quả ngành nông nghiệp không tính giá trị hoạt động lâm nghiệp và thủy sản Hiện nay, cách hiểu về nông sản có phần thu hẹp hơn, tập trung chủ yếu
vào sản phẩm thu được từ đất Khi đó, nông sản được hiểu là sản phẩm hàng hóa
được làm ra từ tư liệu sản xuất đất đai
Tổng hợp từ các quan điểm trên cho thấy:“Nông sản là sản phẩm của hoạt
động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật nuôi (không bao gồm sản phẩm của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp)”
1.1.1.2 Khái niệm về xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp:
Xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động tất nhiên xảy ra khi phân công lao động xã hội đạt được một trình độ nhất định Bởi thế, có nhiều cách hiểu khác nhau
về xuất khẩu hàng hóa như:
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh với phạm vi vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc là hoạt động buôn bán của một nước với nước khác trên phạm vi quốc tế Đây không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là cả hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm thúc đẩy hàng hóa phát triển ổn định đem lại lợi ích cho quốc gia
Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động đưa hàng hóa (vật chất và dịch vụ) ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hóa khác có giá trị tương đương
Trang 16Một cách khái quát có thể hiểu, xuất khẩu là việc đưa hàng hóa ra nước ngoài nhằm thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa
Theo luật Thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hoạt động bán hàng của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán hàng hóa, bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu hàng hóa
Từ các quan điểm khác nhau có thể đưa ra khái niệm mang tính tổng quát
về xuất khẩu như sau: Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan
hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia
Trên cơ sở của khái niệm về nông sản và xuất khẩu, xuất khẩu nông sản có
thể định nghĩa như sau: Xuất khẩu nông sản là hoạt động trao đổi nông sản của một
quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia
1.1.2 Khái niệm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp là các hoạt động mang tính chất định hướng cho tương lai nhằm mục đích tăng số lượng hàng xuất khẩu vào một thị trường nào đó, đồng thời nâng cao mức lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh xuất khẩu Hoạt động này có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế quốc gia
và của các doanh nghiệp Cụ thể:
- Đối với nền kinh tế quốc gia
Đẩy mạnh xuất khẩu là nhân tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Đẩy mạnh xuất khẩu là con đường phù hợp nhất để Việt Nam tham gia vào sự phân công lao động quốc tế với điều kiện môi trường kinh tế và những thuận lợi vốn có như hiện nay Sự phân công lao động trong giai đoạn đầu tăng trưởng phải dựa trên lợi thế so sánh của từng quốc gia để sản xuất các sản phẩm và trao đổi với nhau Xuất phát từ những lợi thế so sánh của Việt Nam và các
Trang 17nước trên thế giới, trong giai đoạn công nghiệp hoá, Việt Nam sẽ sản xuất các sản phẩm thô và sản phẩm nông nghiệp, một số sản phẩm sử dụng nhiều lao động, sử dụng ít vốn ngoại tệ thu được thông qua hoạt động xuất khẩu đó
Thúc đẩy xuất khẩu sẽ giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình chuyển từ việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế sang sản phẩm chế biến Sự chuyển dịch về mặt chiến lược này sẽ được thực hiện trên các định hướng sau đây :
(1) Chuyển nhu cầu cuối cùng khỏi việc tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm sơ chế cùng với sự tăng lên về thu nhập;
(2) Chuyển lợi thế so sánh từ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thô, sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm sơ chế, sản phẩm chế biến sử dụng nhiều lao động sang sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế về mặt kỹ thuật sản xuất và kỹ thuật sản phẩm;
(3) Chuyển từ dư cầu sang dư cung rất nhiều loại sản phẩm, kể cả sản phẩm xuất khẩu;
(4) Chuyển từ sử dụng nhiều lao động không qua đào tạo sang chỗ hoạt động sản xuất đòi hỏi nhiều lao động có kỹ năng hơn và như vậy, tất yếu lao động phải dịch chuyển từ những ngành có năng suất thấp sang những ngành có năng suất cao hơn
Thúc đẩy xuất khẩu sẽ đẩy mạnh sự phát triển của thương mại quốc tế, đưa Việt Nam hội nhập nhanh vào nền kinh tế khu vực và thế giới Thông qua đó, Việt Nam sẽ có điều kiện để nhận chuyển giao công nghệ và vốn từ bên ngoài là hai yếu tố rất quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế
- Đối với doanh nghiệp
Đẩy mạnh xuất khẩu là một hoạt động đóng vai trò quan trọng đối với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, khi mà thị trường nội địa đang dần trở nên chật hẹp và sức cạnh tranh từ hàng hoá ngoại nhập ngày càng cao thì đẩy mạnh xuất khẩu thực sự là một hướng đi đúng đắn cho hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài Sau đây là những tác dụng của đẩy mạnh xuất khẩu đối với doanh nghiệp:
Trang 18Đẩy mạnh xuất khẩu mang lại cho doanh nghiệp cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường vô cùng rộng lớn với sức tiêu thụ cao, nhu cầu đa dạng, từ đó doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn Doanh nghiệp có cơ hội
mở rộng mối quan hệ kinh doanh, thương mại với các đối tác nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế
Mang lại cho doanh nghiệp những bài học kinh nghiệm quý báu để hoàn thiện hơn nữa hoạt động kinh doanh của mình, tránh những rủi ro có thể xảy ra Cùng với việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu đời sống của người dân, của doanh nghiệp sẽ được cải thiện với mức lương cao hơn, tỷ lệ thất nghiệp giảm
1.1.3 Đặc điểm, vai trò của xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
1.1.3.1 Đặc điểm của xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Một là, đối tượng xuất khẩu là hàng nông sản Ở Việt Nam, hàng nông sản
là sản phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, và từ hoạt động khai thác, đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản, các sản phẩm nghề muối Đó là những sản phẩm trực tiếp do sản xuất nông nghiệp tạo ra có thể nằm dưới dạng thô hoặc ở dạng sơ chế
Có sự khác biệt trong khái niệm hàng nông sản giữa WTO và Việt Nam Ở Việt Nam, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp Vì vậy,
nó cần phải đáp ứng được các nhu cầu của nước nhập khẩu và người tiêu dùng tại nước nhập khẩu về các chỉ số dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, an toàn kỹ thuật, môi trường Nông sản chủ yếu là các hàng tiêu dùng thiết yếu, việc XKNS chịu sự kiểm soát ngặt nghèo về chất lượng, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thời, hàng nông sản có đặc điểm là cầu nhìn chung ít co giãn, do đó, việc QLNN đối với XKNS phải hướng tới việc ổn định cung
Hai là, chủ thể của XKNS (hay còn gọi là người bán) là doanh nghiệp
kinh doanh XKNS Các thương lái và người nông dân của nước sở tại là các trung
Trang 19gian trong quá trình XKNS Nếu tổ chức không tốt dễ dẫn đến tranh giành, cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá
Ba là, người bán và người mua hàng nông sản xuất khẩu là những người
sống ở các nước khác nhau, có phong tục, tập quán và những nhu cầu khác nhau đối với tiêu dùng hàng nông sản
Bốn là, xem xét hoạt động XKNS theo chuỗi giá trị Từ sản xuất đến xuất
khẩu, hàng nông sản phải trải qua ba khâu chính: sản xuất nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp), thu mua, sơ chế/chế biến và bảo quản nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp - dịch vụ), và cuối cùng là xuất khẩu nông sản (thuộc lĩnh vực thương mại) Các khâu này đều liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau Mỗi một khâu trong quá trình này đều có những đặc điểm riêng biệt Xuất khẩu (tiêu thụ) là khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị của hàng nông sản, đây là khâu thu được nhiều lợi nhuận nhất trong chuỗi Hoạt động XKNS tuân theo sự điều tiết của thị trường và được tiến hành trên cơ sở tự do, bình đẳng theo giá cả thị trường Trong QLNN, cần điều tiết lợi ích giữa các khâu, phối hợp giữa các bộ ngành để nâng cao giá trị của nông sản
Năm là, hoạt động XKNS có nhiều nước tham gia Mỗi nước có thể thực
hiện tất cả các khâu trong chuỗi giá trị hàng nông sản xuất khẩu, từ sản xuất, chế biến, đến XKNS, hoặc chỉ tham gia khâu chế biến và XKNS tùy thuộc vào khả năng
và điều kiện của từng nước Các nước có lợi thế trong hoạt động XKNS không phụ thuộc vào việc nước đó đã XKNS nhiều năm hay không, điều quan trọng để giành được lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chất lượng, thương hiệu, thông tin thị trường hàng nông sản xuất khẩu…
Sáu là, trong hội nhập quốc tế, hoạt động XKNS phụ thuộc nhiều hơn vào
thị trường thế giới Việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương về cơ bản mang lại những tác động tích cực cho hoạt động XKNS Ngoài
ra, các thay đổi về cung cầu hàng nông sản, về chính sách của nước nhập khẩu, về đối thủ cạnh tranh đều có tác động lớn đến hoạt động XKNS Điều này đòi hỏi các nước nâng cao khả năng dự báo thị trường, cơ chế, chính sách điều hành quản lý
Trang 20hoạt động XKNS phải linh hoạt để theo kịp với những sự thay đổi nhanh chóng trên thị trường thế giới
1.1.3.2 Vai trò của xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Đối với nhiều nước trên thế giới, thực tiễn phát triển những năm gần đây đã chứng minh rằng, nhờ thực thi chính sách hướng về xuất khẩu mà nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, trở thành các quốc gia công nghiệp mới, có nền kinh tế giàu mạnh, hiện đại, có khả năng tiến kịp các nước kinh tế phát triển trong thập kỷ tới Do vậy đối với nhiều nước, xuất khẩu đã trở thành mũi nhọn của nền kinh tế, là đòn bẩy của tăng trưởng KTXH
Xuất khẩu nông sản chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong xuất khẩu hàng hóa nói chung của rất nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do sự khác nhau về lợi thế (vốn, lao động, công nghệ, điều kiện tự nhiên, chính sách của chính phủ) mà tỷ trọng xuất khẩu nông sản trong tổng KNXK của các quốc gia khác nhau Đặc biệt, với một số quốc gia có lợi thế nhất định về điều kiện tự nhiên và lao động thì xuất khẩu nông sản sẽ đóng góp một phần rất quan trọng trong GDP và có vai trò to lớn với phát triển của một quốc gia, cụ thể:
Một là, xuất khẩu nông sản góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế
và phát triển kinh tế của một quốc gia
Xuất khẩu hàng hóa nói chung, xuất khẩu nông sản nói riêng và sự tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Xuất khẩu có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự tăng trưởng của nền kinh tế và được thể hiện qua sự đóng góp trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Hai là, xuất khẩu nông sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực và lợi thế của quốc gia
Do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại,
cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi nhanh chóng Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-
Trang 21HĐH) để phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới là con đường tất nhân đối với từng quốc gia
Để phục vụ cho xuất khẩu, việc tổ chức sản xuất ở mỗi quốc gia đều phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới Điều này tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, bao gồm:
Xuất khẩu nông sản sẽ tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển thuận lợi Đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sẽ cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tạo điều kiện để nhiều ngành nghề mới ra đời, gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả là làm tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh
Xuất khẩu nông sản tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn để nhập khẩu thiết bị và công nghệ tiên tiến góp phần hiện đại hóa kinh tế đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới mạnh mẽ hơn Từ đó tăng thêm niềm tin và sự chủ động trong phát triển kinh tế đất nước
Thông qua xuất khẩu nông sản, các nhà sản xuất trong nước buộc phải cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới Để chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải tổ chức lại sản xuất tốt hơn, quản lý và kinh doanh hiệu quả hơn để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và
hạ giá thành, đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi ngày càng cao của thị trường
Xuất khẩu nông sản là nhân tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình CNH HĐH đất nước
Ba là, xuất khẩu nông sản có tác động tích cực đến việc nâng cao đời sống của nhân dân trên cơ sở tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Sản xuất nông sản xuất khẩu có khả năng thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập cao góp phần cải thiện đời sống Ở những nước có nguồn lao động dồi dào với tỷ lệ lao động nông thôn lớn, việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản không chỉ giải quyết được một lượng lớn lao động không có việc làm mà còn tạo nên sự ổn định về thu nhập cho những người dân sống ở nông thôn Tuy nhiên, để
Trang 22nắm vững và làm chủ được công nghệ trong quá trình sản xuất, người lao động buộc phải nâng cao trình độ cả lý thuyết và thực hành Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ có tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động cả về tính chất ngành nghề và cả về chất lượng lao động góp phần cải thiện đời sống của người dân Không chỉ vậy, một phần KNXK có thể dùng để nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của đời sống con người
Bốn là, xuất khẩu nông sản góp phần giữ ổn định nền kinh tế của đất nước
Trong các ngành hàng xuất khẩu thì nông sản là ngành hàng sử dụng nhiều nguồn lực lao động tại chỗ hơn cả Cho nên, khi xuất khẩu nông sản được giữ ổn định và tăng trưởng sẽ làm nền kinh tế có nhiều cơ hội hơn để phát triển Với các quốc gia đi lên từ ngành nông nghiệp, vai trò của xuất khẩu nông sản luôn giữ một
vị trí quan trọng trong sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước Thực tế cho thấy, ở nhiều quốc gia khi ngành công nghiệp tăng trưởng âm, dịch vụ chưa phát triển nhưng ngành nông nghiệp phát triển mạnh đã cứu được sự khủng hoảng kinh
mở rộng và phát triển theo
Như vậy, hoạt động đầu tư quốc tế sẽ mang đến nguồn vốn và công nghệ tiên tiến để mở rộng sản xuất nông sản xuất khẩu như việc đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến nông sản, chuyển giao giống và kỹ thuật thâm canh cây trồng có năng suất và chất lượng cao tạo nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất Việc ký kết các
Trang 23FTA hay gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường cũng như tăng
cường vị thế của quốc gia trên thị trường thế giới
Sáu là, xuất khẩu nông sản thúc đẩy quá trình phân công và chuyên môn hóa quốc tế, là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế của một quốc gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước chính là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập và phát triển trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau giữa các quốc gia Mỗi quốc gia sản xuất và xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng nông sản nói riêng không chỉ đáp ứng thị trường khu vực mà là một thị trường toàn cầu Thông thường, một quốc gia
sẽ lựa chọn một số mặt hàng có lợi thế để đầu tư sản xuất và xuất khẩu đồng thời nhập khẩu trở lại các sản phẩm mà mình không có hoặc có ít lợi thế Chẳng hạn, một số quốc gia có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động có thể lựa chọn mặt hàng nông sản để sản xuất và xuất khẩu… Sự phát triển của mỗi quốc gia sẽ được
đo lường bằng kết quả hội nhập của quốc gia đó với thế giới
Bảy là, xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy cải tiến cơ chế quản lý, chính sách kinh tế của nhà nước cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế
Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại đã, đang là xu thế phát triển chung của toàn thế giới, nó tác động sâu sắc và toàn diện đối với mọi lĩnh vực của đời sống KTXH của các quốc gia, làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế toàn cầu Chính vì vậy mà mỗi quốc gia, mỗi ngành khi tham gia vào thương mại quốc tế là đã tham gia vào một sân chơi với luật chơi chung, sức
ép cạnh tranh lớn song cũng rất bình đẳng Tuy nhiên, việc tham gia sẽ trở nên khó khăn, bất cập với những quốc gia có hệ thống quản lý thương mại hoạt động chưa bài bản, thiếu tính thực tiễn Do đó, để xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng ngày một phát triển thì việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện
hệ thống pháp luật hiện hành cho phù hợp với những cam kết quốc tế, phù hợp với
Trang 24quy định của tổ chức WTO sẽ là vấn đề cần giải quyết cấp bách và đồng bộ hiện
nay
1.1.3.3 Các hình thức xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Kinh doanh nông sản diễn ra dưới các hình thức khác nhau, có hình thức giao dịch buôn bán truyền thống và hình thức giao dịch buôn bán hiện đại Đối với mỗi thị trường, doanh nghiệp cần có những hình thức thâm nhập và bán hàng đặc thù để đạt được hiệu quả kinh doanh, phát huy sức cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của doanh nghiệp trên thị trường đó XKNS diễn ra dưới một số hình thức chính sau:
Một là, XKNS trực tiếp Đây là hình thức XKNS truyền thống, do chính
doanh nghiệp sản xuất trong nước đưa hàng tới khách hàng nước ngoài thông qua tổ chức của mình Có hai hình thức XKNS trực tiếp:
XKNS chính ngạch: Là hợp đồng XKNS theo giấy phép của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, lưu thông qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia, phải chấp hành đầy đủ các thủ tục xuất khẩu theo thông lệ và tập quán quốc tế Trong hình thức xuất khẩu này, tùy vào điều kiện giao hàng có thể chia ra thành các hình thức: xuất khẩu theo giá FOB, xuất khẩu theo giá CIF, xuất khẩu theo DAF
XKNS tiểu ngạch: Là hợp đồng XKNS theo giấy phép của ủy ban nhân dân
các tỉnh biên giới Với hình thức xuất khẩu này, các doanh nghiệp không phải thông qua nhiều thủ tục hành chính, nhưng nó chỉ được thực hiện với điều kiện là xuất khẩu sang các nước có chung biên giới
Ưu điểm của XKNS trực tiếp là: doanh nghiệp XKNS trực tiếp tiếp xúc khách hàng, trực tiếp tìm hiểu thị trường, nắm bắt nhu cầu mới và tâm lý thị hiếu thay đổi của khách hàng nên kịp thời cải tiến sản phẩm, thoả mãn tốt nhất nhu cầu
đó Việc trực tiếp tiếp xúc với thị trường nước ngoài, giúp cho doanh nghiệp dễ tiếp thu các kinh nghiệm quốc tế Ngoài ra, ưu điểm khác của hình thức này là doanh nghiệp XKNS không phải chịu những chi phí xuất khẩu trung gian và không phải chia sẻ lợi nhuận
Hạn chế của hình thức XKNS này là doanh nghiệp XKNS phải dàn trải các nguồn lực của mình trên phạm vi thị trường rộng lớn phức tạp, phải chấp nhận môi
Trang 25trường cạnh tranh quốc tế khốc liệt với nhiều rủi ro hơn Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có đủ nguồn lực để mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài, có khả năng quản lý, điều hành xuất khẩu hiệu quả Doanh nghiệp sử dụng các hình thức để XKNS trực tiếp sau: Mở chi nhánh bán hàng của mình ở nước ngoài; Xuất khẩu từ nước thứ ba; Xuất khẩu từ công ty liên doanh; Lập đại diện bán hàng ở nước ngoài; Tiến hành qua Hiệp hội XKNS
Hai là, XKNS gián tiếp (XKNS qua trung gian) Đây là hình thức XKNS mà
doanh nghiệp thông qua dịch vụ của tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành XKNS Các trung gian bao gồm: công ty quản lý xuất khẩu, đại lý trung gian xuất khẩu,…
Ưu điểm của hình thức này là các tổ chức trung gian thường nắm rõ phong tục, tập quán cũng như những quy định của nước nhập khẩu nên có thể đẩy nhanh việc mua bán Đồng thời, các doanh nghiệp XKNS giảm chi phí thâm nhập thị trường, tìm hiểu thông tin về thị trường, các đối thủ cạnh tranh thông qua các tổ chức trung gian
Hạn chế của hình thức này là doanh nghiệp kinh doanh XKNS không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên không đáp ứng đúng và kịp thời nhu cầu của khách hàng Hơn nữa, doanh nghiệp XKNS phải chia sẻ lợi nhuận với các trung gian
Ba là, thương mại điện tử: là hình thức XKNS ra đời trong nền kinh tế số hóa, là hình thức hoạt động thương mại không giấy tờ Đây là phương thức hoạt
động kinh doanh tiên tiến Ưu điểm của hình thức này là nếu doanh nghiệp áp dụng tốt sẽ giảm bớt các thủ tục hành chính, tạo được bước đột phá trong cạnh tranh xuất khẩu
Mặt hạn chế của hình thức này là đòi hỏi về điều kiện cơ sở vật chất, hệ thống pháp lý, trình độ cán bộ để ứng dụng hiệu quả thương mại điện tử của cả Nhà nước và doanh nghiệp; dễ gặp rủi ro do giao dịch “ảo” Đồng thời, trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên cần phải bảo mật hệ thống dữ liệu
Bốn là, XKNS thông qua các sở giao dịch hàng hóa Đây là một hình
thức XKNS hiện đại mà nhiều nước trên thế giới thực hiện Mặt tích cực của hình
Trang 26thức XKNS thông qua sở giao dịch là giá ổn định, chất lượng được kiểm định là các doanh nghiệp XKNS có thể biết được giá quốc tế trong từng tháng, từng quý để chủ động kế hoạch sản xuất kinh doanh, cân đối cung cầu; cho phép người nông dân, doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp xuất khẩu xích lại gần nhau; giảm thiểu các rủi ro về vấn đề biến động về giá do thời tiết, do mùa vụ cho nông dân cũng như doanh nghiệp XKNS
Mặt hạn chế của hình thức này đòi hỏi cao về trình độ tổ chức quản lý của nhà nước trong việc tổ chức thực hiện mô hình, trong kết nối với các sở giao dịch khác trên thế giới Thêm vào đó, chất lượng hàng nông sản phải ở mức độ cao, đồng đều
Ngoài ra, còn có các hình thức XKNS khác như: tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu hàng hóa, quá cảnh hàng hóa; XKNS theo nghị định thư (để gán nợ các loại theo Nghị định thư giữa hai nước); Buôn bán đối ứng (là phương thức xuất khẩu hàng đổi hàng)
1.2 NỘI DUNG CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Nghiên cứu đẩy mạnh thị trường xuất khẩu là việc đưa được sản phẩm nông nghiệp của nước mình thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng được phạm vi địa lý của thị trường và kết quả là tăng được kim ngạch xuất khẩu từ sản phẩm đó
Hoạt động đẩy mạnh thị trường xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp bao gồm
sự kết hợp giữa mở rộng thị trường xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp và các hoạt động hỗ trợ của các cơ quan nhà nước Các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu đối với các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần tạo nên thị trường xuất khẩu rộng lớn cho quốc gia đối với từng sản phẩm cụ thể
Trong hoạt động đẩy mạnh thị trường xuất khẩu của một quốc gia thì nhà nước và các tổ chức liên quan đóng vai trò quan trọng thông qua việc đề ra các
Trang 27chính sách xuất khẩu và định hướng thị trường cho từng ngành hàng và các doanh nghiệp trong nước Các Bộ ngành, các tổ chức xúc tiến thương mại, các đại diện thương mại và ngoại giao ở nước ngoài cùng phối hợp để giới thiệu hàng hoá của quốc gia với bạn hàng quốc tế, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, dự báo thị trường xuất khẩu, cung cấp những thông tin cập nhật về thị trường cho doanh nghiệp
Hoạt động đẩy mạnh thị trường xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp bao gồm việc định hướng và các biện pháp duy trì, mở rộng thị trường, xâm nhập thị trường, xác định cơ cấu thị trường, trong đó xác định tổng quan thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, thị trường trọng điểm, thị trường phụ cận, bổ trợ nhằm đảm bảo khai thác tiềm năng, lợi thế của từng thị trường, chủ động về thị trường, tránh hẫng hụt về thị trường do biến động về kinh tế, chính trị, thiên tai, Đặc biệt trong thời gian tới, cần giảm thị trường trung gian để tăng lợi ích xuất khẩu
1.2.2 Nghiên cứu chính sách đẩy mạnh xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế
Chính sách đẩy mạnh bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động một cách gián tiếp đến hoạt động thương mại quốc tế như chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá hối đoái,… Những chính sách này có thể có tác động thúc đẩy hoặc điều chỉnh hoạt động xuất khẩu nhưng phải phù hợp với nguyên tắc, quy định quốc tế
Đối với sản phẩm nông nghiệp có lợi thế, chính sách có thể tác động ở khâu sản xuất, khâu tiêu thụ xuất khẩu và khâu tiêu thụ ở biên giới Chính sách tác động
ở khâu sản xuất bao gồm chính sách trợ giá, chính sách tín dụng đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất, chính sách trợ cấp vốn đầu tư vào máy móc, hệ thống tưới tiêu, chính sách khuyến nông, chính sách sử dụng đất Chính sách tác động đến khâu tiêu thụ: định giá sàn thu mua, chính sách thuế sản phẩm nông sản xuất khẩu thô hoặc qua chế biến, chính sách trợ cấp ngành công nghiệp có liên quan, chính sách xây dựng khu sản xuất và chế biến, Chính sách tác động tại khâu tiêu thụ ở
Trang 28biên giới: thuế quan, trợ cấp xuất khẩu, chính sách tỷ giá, tiêu chuẩn chất lượng hàng xuất khẩu, thủ tục hải quan,
Đối với các nước đang phát triển, các chính sách đối với lĩnh vực nông nghiệp có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của quốc gia, cụ thể: Chính sách đẩy mạnh XKNS lợi thế góp phần khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp cho tăng trưởng khu vực nông nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung; Góp phần bảo đảm cân bằng đối nội và đối ngoại của nền kinh tế; Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp, nông thôn nói riêng theo hướng có hiệu quả
1.2.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Chính sách hỗ trợ bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động một cách gián tiếp đến hoạt động thương mại quốc tế như chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá hối đoái,… Những chính sách này có thể có tác động thúc đẩy hoặc điều chỉnh hoạt động xuất khẩu nhưng phải phù hợp với nguyên tắc, quy định quốc tế
Đối với sản phẩm nông nghiệp, chính sách hỗ trợ có thể tác động ở khâu sản xuất, khâu tiêu thụ xuất khẩu và khâu tiêu thụ ở biên giới Chính sách tác động ở khâu sản xuất bao gồm chính sách trợ giá, chính sách tín dụng đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất, chính sách trợ cấp vốn đầu tư vào máy móc, hệ thống tưới tiêu, chính sách khuyến nông, chính sách sử dụng đất Chính sách tác động đến khâu tiêu thụ: định giá sàn thu mua, chính sách thuế sản phẩm nông sản xuất khẩu thô hoặc qua chế biến, chính sách trợ cấp ngành công nghiệp có liên quan, chính sách xây dựng khu sản xuất và chế biến, Chính sách tác động tại khâu tiêu thụ ở biên giới: thuế quan, trợ cấp xuất khẩu, chính sách tỷ giá, tiêu chuẩn chất lượng hàng xuất khẩu, thủ tục hải quan,
Hiện nay Nhà nước ta đang sử dụng một hệ thống các chính sách tác động trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp, có thể kể đến một số chính sách chủ yếu sau đây:
Trang 29Chính sách ruộng đất có vai trò quan trọng đặc biệt vì có nhiều vấn đề kinh
tế, chính trị, xã hội trong nông nghiệp và nông thôn gắn liền với vấn đề ruộng đất Mục tiêu trực tiếp của chính sách ruộng đất là quản lý, sử dụng có hiệu quả, đồng thời bảo vệ độ phì nhiêu của đất đai, vì đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt của nông nghiệp
Chính sách tín dụng mục đích là bổ xung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp Hiện nay do năng lực tích luỹ còn thấp nên có tới 50% số hộ nông dân có nhu cầu vay vốn tín dụng Mục tiêu lâu dài của chính sách tín dụng là góp phần từng bước thúc đẩy sự ra đời của thị trường vốn trong nông thôn
Chính sách đầu tư vốn ngân sách cho nông nghiệp được nhà nước rất chú
trọng qua các thời kỳ phát triển kinh tế đất nước Trên thực tế tỷ trọng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho ngành nông, lâm nghiệp trong tổng số vốn đầu tư ngân sách cho khu vực sản xuất vật chất còn thấp Vốn ngân sách đầu tư chủ yếu cho khu vực quốc doanh nông, lâm nghiệp và xây dựng công trình thuỷ lợi
Chính sách thị trường và giá cả nông nghiệp mục tiêu là đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu trong hoạt động kinh tế của chủ thể sản xuất nông nghiệp về các dịch vụ đầu vào và đầu ra, đảm bảo đúng số lượng, chất lượng, thời gian không gian với những giá cả tương đối ổn định, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
Chính sách xuất khẩu nông sản là một chính sách quan trọng của nhà nước
ta, có ý nghĩa lớn trong việc khai thác lợi thế so sánh của nền nông nghiệp Việt Nam nhiệt đới gió mùa, lại có cả rừng và biển Chính sách xuất khẩu nông sản hiện nay gồm những nội dung cơ bản là:
- Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất và xuất khẩu Đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu và đa dạng hoá thị trường Tăng tỷ trọng nông sản chế biến, giảm tỷ lệ nông sản thô xuất khẩu
- Khuyến khích trong nước sản xuất những mặt hàng nông sản hay thực phẩm thay thế nhập khẩu để tăng hiệu quả kinh tế
Trang 30- Sử dụng các công cụ kinh tế (hạn ngạch, thuế,tỷ giá hối đoái) để khuyến khích xuất khẩu
Chính sách khuyến nông có từ rất sớm trong lịch sử phát triển nông nghiệp
nước ta, nội dung chủ yếu của công tác khuyến nông là:
- Phổ biến tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến bảo quản, phổ biến kinh nghiệm điển hình tiên tiến
- Bồi dưỡng và phát triển kỹ năng, kiến thức về kinh tế và kỹ thuật cho nông dân
- Tổ chức khuyến khích các phong trào sản xuất và hoạt động cộng đồng ở nông thôn
Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một chính sách lớn của
Đảng ta Mục tiêu của chính sách là biến nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp của nước ta thành nền kinh tế có cơ cấu hướng ngoại, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ nông thôn trong khi số lượng tuyệt đối của sản xuất nông nghiệp vẫn cứ tăng lên Chính sách với những nội dung chủ yếu sau đây:
- Phát triển nhanh, vững chắc và có hiệu quả các ngành công nghiệp dịch vụ
ở nông thôn trên cơ cở đó tăng nhanh tỷ trọng các ngành này trong cơ cấu kinh tế nông- công- dịch vụ ở mỗi vùng và mỗi địa phương Chú trọng những ngành công nghiệp dịch vụ phục vụ nông nghiệp
- Tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đa dạng hoá sản phẩm chăn nuôi và chú trọng chăn nuôi xuất khẩu
1.2.4 Xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Kế hoạch xúc tiến xuất khẩu đối với sản phẩm nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở chính sách đối với sản phẩm nông nghiệp có lợi thế xuất khẩu và chính sách thị trường xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp Đó là những chương trình, biện pháp nhằm xúc tiến, phát triển thương mại sản phẩm nông nghiệp của một quốc gia hoặc một địa phương thông qua các hoạt động như: tham gia vào hội chợ thương mại, các đoàn xúc tiến thương mại, các chiến dịch quảng cáo, cung cấp thông tin, tư vấn về triển vọng thị trường nước ngoài Chính sách xúc tiến thương mại được xây
Trang 31dựng để hỗ trợ thực hiện chính sách thị trường Trong điều kiện tự do hóa thương mại, các công cụ thuế quan bị hạn chế hoặc cấm sử dụng thì xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng trong xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của một quốc gia
Hoạt động xúc tiến xuất khẩu giữ vai trò là động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội đất nước: xúc tiến xuất khẩu hiện đại, với những nội dung hoạt động mới, nhất là việc xây dựng và thực hiện chiến lược xuất khẩu quốc gia, các chiến lược xuất khẩu ngành sẽ tạo ra những động lực và những nhân tố mới thúc đẩy xuất khẩu trong môi trường kinh doanh quốc tế ngày càng trở nên cạnh tranh khốc liệt Đối với Việt Nam, hoạt động xúc tiến xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay đóng một vai trò khá quan trọng trong việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu nói riêng
Nhà nước điều hành và tổ chức hoạt động xúc tiến xuất khẩu được thể hiện qua việc Nhà nước xây dựng khuôn khổ pháp lý điều tiết hoạt động này và tạo môi trường thuận lợi cũng như cung cấp các phương tiện hỗ trợ để công tác xúc tiến xuất khẩu thực sự có hiệu quả và có tác động thiết thực tới việc đẩy mạnh xuất khẩu Cụ thể:
- Tạo dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý theo cơ chế thị trường điều chỉnh hoạt động xuất khẩu và xúc tiến xuất khẩu của Việt Nam; chỉ đạo, hướng dẫn, điều phối hoạt động xúc tiến xuất khẩu của đất nước trong mạng lưới xúc tiến xuất khẩu quốc gia
- Thực hiện xúc tiến xuất khẩu sản phẩm thông qua những biện pháp hỗ trợ gián tiếp hay trực tiếp, có tác động lâu dài tới việc cung cấp sản phẩm xuất khẩu đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế hay có tác động trước mắt làm tăng nhu cầu đối với sản phẩm xuất khẩu của một nước ở thị trường nước ngoài
- Thành lập các cơ quan Chính phủ thực hiện hoạt động xúc tiến xuất khẩu: Cục Xúc tiến thương mại, các trung tâm, phòng xúc tiến thương mại ở các tỉnh, thành, các địa phương, các Đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài đều trực tiếp tiến hành các hoạt động xúc tiến xuất khẩu và là lực lượng nòng cốt trong mạng lưới xúc tiến xuất khẩu quốc gia,v.v Các Tổ chức xúc tiến thương mại này
Trang 32được thành lập để xúc tiến các chính sách thương mại quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề lợi ích quốc gia
- Đàm phán và ký kết các hiệp định song phương và đa phương tạo điều kiện tiếp cận thị trường rộng hơn cho các nhà xuất khẩu và các sản phẩm xuất khẩu
- Xây dựng và tổ chức mạng lưới thông tin quốc gia đáp ứng yêu cầu thông tin thương mại của các nhà xuất khẩu
- Cử các phái đoàn kinh tế thương mại tham quan, khảo sát thị trường nước ngoài và tiến hành xúc tiến xuất khẩu ở nước ngoài, đón tiếp các phái đoàn kinh tế thương mại của Chính phủ nước ngoài,v.v
- Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài, hay hỗ trợ các đoàn doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tham quan khảo sát lẫn nhau, v.v
- Tham gia và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực xúc tiến xuất khẩu của đất nước, v.v
1.2.5 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Hoạt động xuất khẩu khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều so với việc bán hàng
ở trong nước vì nó liên quan tới rất nhiều vấn đề về: Ngôn ngữ, bản sắc văn hoá dân tộc, sự vận động của thị trường, đồng tiền thanh toán, vận chuyển hàng hoá, pháp luật, chính trị, tập quán, thông lệ quốc tế Hoạt động xuất khẩu được tổ chức với nhiều nghiệp vụ từ điều tra nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, lập ra phương án kinh doanh cho đến đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng… Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện theo đúng thủ tục
và phải tranh thủ nắm bắt những lợi thế đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu đạt kết quả cao nhất
Đánh giá hiệu quả hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu là rất quan trọng và cần thiết Qua đó, xác định được hiệu quả của mỗi hợp đồng xuất khẩu cũng như một giai đoạn hoạt động xuất khẩu Nhờ các đánh giá đó sẽ có những biện pháp ứng xử phù hợp với việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu tiếp theo Hiệu quả xuất khẩu được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu:
Trang 33- Xét kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của mỗi nước Cụ thể hơn là, nước xuất khẩu đó đã xuất khẩu được bao nhiêu hàng hoá, khối lượng và trị giá là bao nhiêu Nếu kim ngạch xuất khẩu càng lớn chứng tỏ hiệu quả xuất khẩu càng cao Hơn thế nữa, kim ngạch cao và trị giá của hàng hoá đem xuất khẩu là lớn thì điều đó càng chứng tỏ chiến lược hướng về xuất khẩu của quốc gia đó
- Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu của một nước là hiệu quả khi kim ngạch xuất khẩu của nước đó liên tục tăng qua các năm, hoặc duy trì được một sự gia tăng ổn định qua các năm và các thời kỳ Sự tăng giảm không đều và bất thường trong kim ngạch xuất khẩu là dấu hiệu cho biết những tồn tại trong hoạt động này, hay hoạt động xuất khẩu không đạt được hiệu quả như mong muốn
- Thông qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu ta cũng có thể đánh giá được hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của một nước Khi các hàng hoá xuất khẩu là những hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao, khoa học kỹ thuật được áp dụng để sản xuất
ra những hàng hóa đó là hiện đại thì một điều tất nhiên là hàng hóa đó sẽ mang lại nguồn thu lớn cho nước xuất khẩu nếu đó là hàng hóa mà con người ưa chuộng Bên cạnh đó, các hàng hóa dưới dạng thô, chỉ sơ chế, chưa qua chế biến thường giá trị rất thấp, hơn nữa nó còn là mầm mống làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của nước xuất khẩu, giảm và mất dần khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế Qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu này ta có thể thấy được trình độ phát triển của các quốc gia
- Khả năng xâm nhập, mở rộng và phát triển thị trường: Kết quả trong việc thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu trên thị trường xuất khẩu, khả năng mở rộng sang các thị trường khác, mối quan hệ với khách hàng nước ngoài, khả năng khai thác, nguồn hàng cho xuất khẩu… Các kết quả này chính là những thuận lợi có thể khai thác để phục vụ cho quá trình xuất khẩu thu được lợi nhuận cao, khả năng về thị trường lớn hơn
Như vậy, với các chỉ tiêu trên các quốc gia tham gia kinh doanh xuất khẩu có thể dựa vào đó để điều chỉnh hoạt động xuất khẩu của mình sao cho hoạt động xuất
Trang 34khẩu mang lại hiệu quả cao nhất đáp ứng mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội mà quốc gia mình đã đề ra
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
1.3.1 Nhân tố quốc tế
- Tình hình xuất khẩu nông sản trên thế giới
Giá nông sản xuất khẩu cao hay thấp có tác động lớn đến hoạt động sản xuất trong nước, từ đó ảnh hưởng đến quy mô hàng xuất khẩu (nhập khẩu) của một quốc gia Khi giá xuất khẩu một mặt hàng nông sản nào đó cao với điều kiện quốc gia đó có lợi thế nhất định để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này thì quốc gia sẽ có hướng xuất khẩu nhằm thu ngoại tệ cho đất nước, song giá xuất khẩu cao lại khiến cho nhu cầu nhập khẩu hàng hóa trong nước giảm
Bên cạnh đó, giá xuất khẩu là một trong hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến KNXK hàng hóa Bởi vậy, giá xuất khẩu tăng sẽ làm KNXK hàng hóa tăng (tác động cùng chiều) và ngược lại
- Chính sách bảo hộ thương mại của các nước
Trong giao thương hàng hóa quốc tế, một quốc gia có thể gây hại cho lợi ích kinh tế của một quốc gia khác khi một mặt yêu cầu bên kia mở cửa để hàng hóa nước mình nhập khẩu vào, trong khi mặt khác quy định những rào cản kỹ thuật gắt gao lên hàng hóa được nhập khẩu Đó là sự không công bằng trong mậu dịch tự do Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp, các bên tham gia vào WTO hoặc ký kết với nhau những hiệp định tự do hóa thương mại, để tránh sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, có thể thực hiện các biện pháp bảo hộ nông nghiệp ở mức độ nhất định Các chính sách bảo hộ nông sản của các quốc gia làm hạn chế việc xuất khẩu nông sản vào các quốc gia đó Các địa phương muốn xuất khẩu nông sản sang các quốc gia này cần nghiên cứu kỹ các chính sách bảo hộ để đưa ra biện pháp ứng phó hợp lý
- Quy mô nền kinh tế của nước nhập khẩu
Trang 35Quy mô nền kinh tế nước nhập khẩu có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia Tức là, GDP của nước nhập khẩu lớn sẽ cho thấy nhu cầu mua sắm và nhập khẩu hàng hóa của nước đó tăng lên Tuy nhiên, khi GDP của một quốc gia tăng cho thấy khả năng sản xuất của quốc gia đó tăng theo
Vì thế cơ hội cạnh tranh của sản phẩm ngoài nước với sản phẩm trong nước sẽ càng gay gắt
Không chỉ vậy, mức cầu nước nhập khẩu của một quốc gia là cao hay thấp còn tùy thuộc vào mức thiết yếu của từng loại hàng hóa khác nhau Chẳng hạn, với những hàng hóa thứ cấp khi mức sống tăng, nhu cầu tiêu dùng sẽ giảm Với hàng hóa thông thường khi thu nhập tăng, cầu về hàng hóa đó cũng tăng theo song cùng với nó là sự tăng lên của chất lượng sản phẩm Song, với hàng hóa xa xỉ thì cầu và thu nhập lại tỷ lệ thuận với nhau Tuy vậy, việc xác định hàng hóa thứ cấp, hàng hóa thiết yếu hay hàng hóa xa xỉ lại còn tùy thuộc vào quốc gia đó là xuất khẩu hay nhập khẩu Đây là nguyên nhân dẫn đến KNNK của quốc gia đó tăng hay giảm? Trên thực tế rất khó để khẳng định rõ ràng được tác động của quy mô nền kinh tế nước nhập khẩu với KNXK là tác động cùng chiều hay ngược chiều Tuy nhiên, do nông sản là mặt hàng thiết yếu nên hầu hết các quốc gia đều quan trọng thứ hàng hóa này để phục vụ cho nhu cầu cơ bản của người dân Điều này có nghĩa khi GDP nước nhập khẩu tăng lên thì quốc gia đó đã tập trung sản xuất để gia tăng sản lượng
và nâng cao chất lượng nông sản trong nước - đồng nghĩa với nhu cầu nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm đi Khi đó, tác động của quy mô nền kinh tế nước nhập khẩu tới KNXK là tác động ngược chiều
- Khoảng cách giữa Việt Nam và các nước nhập khẩu
Khoảng cách giữa hai quốc gia được đề cập tới ở đây sẽ không chỉ là khoảng cách theo nghĩa đen - tức là khoảng cách về địa lý mà còn bao gồm cả khoảng cách về một số điểm khác như trình độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, khoảng cách về văn hóa, về ngôn ngữ,… Và dưới đây là tác động của hai nhân tố:
Khoảng cách về địa lý
Trang 36Khoảng cách về địa lý giữa hai quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cước phí vận chuyển hàng hóa cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa nói chung và nhóm nông sản nói riêng Khi khoảng cách giữa hai quốc gia càng xa, chi phí vận chuyển càng lớn kết hợp với đặc thù của hàng nông sản là tươi sống nên sẽ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nông sản Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý còn ảnh hưởng đến thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký hợp đồng,… do vậy sẽ ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường cũng như lựa chọn mặt hàng để xuất khẩu Qua phân tích cho thấy, khoảng cách địa lý có tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia
Đây là lý do khiến các quốc gia thường chú trọng nhiều hơn đến giao lưu thương mại với các nước có chung đường biên giới hoặc các nước trong cùng khu vực Thêm vào đó, khoảng cách địa lý còn ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển hàng hóa Tuy rằng với mỗi mặt hàng khác nhau thì mức độ tác động có thể là nhiều hay ít Song với nhóm hàng nông sản thì khoảng cách địa lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu nông sản của một quốc gia
Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế
Việc có hay không sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế cũng là một nhân tố hấp dẫn hay gây ra cản trở với hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia Điều này được giải thích rằng nếu hai nước có trình độ phát triển giống nhau thì tức là nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng, thị hiếu hay yêu cầu về chất lượng là tương đương nhau Vì thế hàng hóa của nước này sẽ đáp ứng được nhu cầu của nước kia, do vậy đây là nhân tố tạo thuận lợi cho xuất khẩu Ngược lại, nếu trình độ giữa hai nước không tương đồng nhau (có sự khác biệt lớn) sẽ làm cho hàng hóa của nước này khó hoặc không đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu dẫn đến hạn chế khả năng xuất khẩu
Bên cạnh hai nhân tố khoảng cách về địa lý và khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, còn nhiều các nhân tố khác cũng gây ra những ảnh hưởng gián tiếp đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia như văn hóa, lịch sử, thể chế chính trị… thông qua quan hệ sản xuất làm ảnh hưởng tới cung xuất khẩu và thông qua thị
Trang 37hiếu tiêu dùng làm ảnh hưởng tới cầu xuất khẩu Do vậy tác động của các nhân tố này thường không rõ ràng tới xuất khẩu của một quốc gia.
1.3.2 Nhân tố trong nước
- Các công cụ, chính sách của Nhà nước trong khuyến khích, quản lý xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
Các nhân tố về chính sách khuyến khích/quản lý xuất khẩu có tác động lớn đến kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia Song, tùy vào các công cụ sử dụng khác nhau mà các chính sách này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến xuất khẩu của một quốc gia Các chính sách tác động đến xuất khẩu khá đa dạng nên trong khuôn khổ của luận văn sẽ chỉ tập trung vào những chính sách tác động trực tiếp
đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia Cụ thể:
Chính sách thuế quan và phi thuế quan
Rào cản thương mại quốc tế bao gồm các biện pháp thuế quan và phi thuế quan Khi các rào cản thương mại tăng lên tức là thuế nhập khẩu tăng hoặc yêu cầu
về các tiêu chuẩn hàng hóa nhập khẩu nói chung và hàng hóa nông sản nói riêng cao hơn Kết quả sẽ gây ra những ảnh hưởng đáng kể làm giảm KNXK và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia Ngược lại, khi các rào cản này giảm đi (tức là quốc gia tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế, giảm thuế, quy định tiêu chuẩn linh hoạt…) sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu quốc tế (thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia)
Chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền này so với đồng tiền khác Có nhiều cách tiếp cận đến tỷ giá hối đoái nhưng luận văn sẽ dừng lại ở khía cạnh nghiên cứu sức mua của đồng tiền với các loại hàng hóa nông sản Do vậy, tỷ giá được đề cập đến chính là tỷ giá thực của đồng tiền ngoại tệ so với đồng tiền nội tệ
Thực tế cho thấy, tác động của chính sách tỷ giá hối đoái tới KNXK về mặt bản chất là do những thay đổi trong mức tỷ giá hối đoái gây ra Tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp đến giá hàng xuất khẩu - yếu tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị trường Khi đồng nội tệ của một quốc gia giảm giá so với các đồng
Trang 38ngoại tệ khác tức là giá cả của hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ sẽ giảm, khi đó cầu của hàng hóa này tăng làm cho sản lượng xuất khẩu tăng Ngược lại, nếu đồng nội tệ giảm giá so với ngoại tệ thì sẽ khiến cho sản lượng xuất khẩu giảm Tuy nhiên, đó mới chỉ là tác động của tỷ giá tới khối lượng xuất khẩu, còn tác động của
tỷ giá đến KNXK như thế nào thì còn phụ thuộc vào độ co giãn của cầu hàng xuất khẩu đối với giá
Nếu cầu hàng hóa là co giãn đối với giá thì khi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ tăng lên sẽ khiến tổng kim ngạch xuất khẩu tính theo ngoại tệ tăng lên Nếu cầu hàng hóa ít co giãn thì khi tỷ giá tăng sẽ khiến kim ngạch xuất khẩu tính theo ngoại
tệ giảm đi Đối với các nhóm hàng khác nhau có mức độ co giãn của cầu theo giá là không đồng nhất, tác động từ tỷ giá hối đoái cũng sẽ không đồng đều Bên cạnh tác động vào nhân tố cầu tại nước nhập khẩu thì tỷ giá hối đoái cũng có tác động đến cung hàng xuất khẩu Khi tỷ giá thay đổi khiến doanh thu của doanh nghiệp tăng, chi phí đầu vào giảm sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất, tăng cung hàng cho xuất khẩu Bên cạnh việc tỷ giá tăng hay giảm có những tác động trực tiếp trái chiều nhau tới kim ngạch xuất khẩu thì biến động tỷ giá của các đồng tiền cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
Trong một số trường hợp, khi tỷ giá biến động thì nhà xuất khẩu phải tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro (tức là chi phí họ phải bỏ ra cao hơn) khiến cho động lực xuất khẩu giảm Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp ngừng xuất khẩu do rủi ro tỷ giá thì doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu chi phí rút lui khỏi thị trường Với kết luận
về hai chiều tác động này sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải tối đa hóa lợi nhuận và lựa chọn tăng hay giảm xuất khẩu là khác nhau Do vậy, có thể nói biến động của tỷ giá gây những tác động không rõ ràng đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa
- Quy mô nền kinh tế nước xuất khẩu
Theo lý thuyết kinh tế, khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong lãnh thổ một quốc gia tăng lên sẽ đồng nghĩa với lượng cung hàng tăng lên và cơ hội xuất khẩu hàng hóa sẽ nhiều hơn Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của nhân tố này đối với KNXK của từng nước và mặt hàng khác nhau lại có sự khác nhau
Trang 39Chẳng hạn: với nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực phát triển thì kim ngạch xuất khẩu và GDP có quan hệ chặt chẽ với nhau Song, với nền kinh tế không lấy xuất khẩu làm mục tiêu chính thì lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra trong nước chưa hẳn đã phục vụ cho hoạt động xuất khẩu- tức là kim ngạch xuất khẩu và GDP ít có liên quan tới nhau Còn khi khả năng sản xuất tăng, giá trị sản xuất của quốc gia giảm xuống thì trường hợp này GDP sẽ có tác động ngược chiều với kim ngạch xuất khẩu Về mặt lý thuyết có thể đưa ra nhiều tình huống khác nhau với mức độ tác động của quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu đến kim ngạch xuất khẩu Song trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hai nhân tố này cho thấy mối quan hệ cùng chiều và chặt chẽ với nhau
- Quan hệ kinh tế thương mại giữa nước ta và các nước
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các mối quan hệ kinh tế quốc tế
có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và nông sản nói riêng của một quốc gia Khi xuất khẩu hàng hóa sang một nước nào đó có nghĩa
là hàng hóa đã xâm nhập vào một thị trường khác và nhà xuất khẩu sẽ phải đối mặt với những rào cản như thuế nhập khẩu hay vấn đề về hạn ngạch nhập khẩu Các rào cản này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ kinh tế song phương giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu
Trong khi đó, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay đã tạo điều kiện cho nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác nhau như ASEAN, APEC, EU,… được hình thành, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa các nước và các khối kinh tế đã được ký kết với mục tiêu là giảm thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá và thúc đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và toàn thế giới ngày càng phát triển Đây sẽ là tác nhân tích cực hay là rào cản với một quốc gia khi thâm nhập vào thị trường khác hoàn toàn phụ thuộc vào các quan
hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia Như vậy, với một quốc gia nếu có được những mối quan hệ kinh tế quốc tế mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong nước nhằm tăng KNXK Song để làm được điều này thì quốc gia đó cần tăng cường tham gia vào các liên minh kinh tế
Trang 40cũng như việc ký kết các hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương với các khối và các quốc gia khác
Tóm lại, trên phương diện lý thuyết đây là những nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản của một quốc gia Ngoài các nhân tố này, còn một số nhân tố khác có thể nhìn thấy về mặt trực quan mà chưa kiểm nghiệm thực tiễn hoặc đó có thể là các nhân tố mang đặc trưng riêng của khu vực và một quốc gia nhất định nào đó… cũng có thể gây ra ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào những nhân tố cơ bản, đã được kiểm chứng tương đối rõ ràng cả về mặt lý luận và thực tiễn
1.4 KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT
SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng là một tỉnh Nam Tây nguyên, cách thủ đô Hà Nội khoảng 1300
km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300 km; diện tích tự nhiên 9.773,5 km2 với độ rừng che phủ hơn 61% diện tích, Do đặc điểm địa hình, xã hội tạo cho tỉnh Lâm Đồng có những diện mạo vô cùng phong phú về điều kiện khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, quần thể động – thực vật và tính đa dạng sinh học cao; Với những điều kiện tự nhiên ưu đãi, tỉnh Lâm Đồng có tiềm năng phát triển ngành trồng và chế biến nông – lâm sản, đặc biệt các cây trồng như chè, cà phê, rau, hoa, cây dược liệu sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao; có thế mạnh nuôi cá nước lạnh, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm; trồng rừng, khai thác, chế biến các sản phẩm từ rừng trồng Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Lâm Đồng trong thời gian qua đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trên 10%/năm, tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp chiếm 46% GDP toàn tỉnh và chiếm 80% giá trị xuất khẩu của toàn tỉnh với sản phẩm đặc thù như: rau, hoa, chè, cà phê, bò sữa, bò thịt hiện nay, Lâm Đồng có tổng
số hơn 49.000 ha sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại Trong đó, có hơn 21.000 ha trồng rau, hoa, cây đặc sản ứng dụng công nghệ tưới phun tự động; 50 ha