1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cập nhật chẩn đoán và điều trị viêm gan virus C (Update the diagnosis and management of viral C hepatitis)

6 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 276,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẩn đoán viêm gan C mạn là dựa vào sự phát hiện cả HCV RNA và kháng thể kháng HCV và sự hiện diện của dấu hiệu viêm gan mạn, hoặc bởi sự tăng men transaminase hoặc bằng mô bệnh học. Vì trong trường hợp mới mắc HCV, sự thanh thải tự nhiên virus là rất hiếm ít khi vượt quá 4-6 tháng nhiễm virus, chẩn đoán viêm gan C mạn có thể thực hiện sau giai đoạn này.

Trang 1

CHẨN đOÁN VIÊM GAN C CẤP Và MẠN

Chẩn đoán nhiễm virus C cấp và mạn là

dựa vào sự phát hiện HCV RNA bằng phương

pháp y học phân tử nhạy (ngưỡng phát hiện < 15

đơn vị qt/ml) Kháng thể kháng HCV có thể phát

hiện bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ gắn

enzyme trong phần lớn bệnh nhân nhiễm HCV,

nhưng có thể (-) tính ở giai đoạn quá sớm và ở

bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng Do diễn tiến

tự nhiên hoặc điều trị gây thanh thải kháng thể

kháng virus C kéo dài khi không có HCV RNA,

nhưng có thể giảm và cuối cùng biến mất ở một

số bệnh nhân

Chẩn đoán viêm gan C cấp chỉ đúng nếu có

bằng chứng chuyển đổi huyết thanh qua kháng thể

khánh HCV, vì không có chỉ điểm huyết thanh minh

chứng nhiễm HCV trong giai đoạn cấp Có khoảng

50% bệnh nhân viêm gan C cấp có anti HCV (+) lúc

chẩn đoán Trong trường hợp này nghi ngờ viêm

gan C cấp khi triệu chứng lâm sàng phù hợp viêm

gan C cấp (men ALT > 10 lần, vàng mắt) và không

có tiền sử viêm gan C mạn hoặc các nguyên nhân

viêm gan cấp khác, và hay là có thể xác định nguồn

lây gần đây Trong tất cả các trường hợp HCV RNA

có thể phát hiện trong giai đoạn cấp chỉ có 1 giai

đoạn ngắn không phát hiện được HCV RNA

Chẩn đoán viêm gan C mạn là dựa vào sự

phát hiện cả HCV RNA và kháng thể kháng HCV

và sự hiện diện của dấu hiệu viêm gan mạn, hoặc

bởi sự tăng men transaminase hoặc bằng mô

bệnh học Vì trong trường hợp mới mắc HCV, sự

thanh thải tự nhiên virus là rất hiếm ít khi vượt quá

4-6 tháng nhiễm virus, chẩn đoán viêm gan C mạn

có thể thực hiện sau giai đoạn này

MỤC đÍCH đIỀU TRỊ Và KHI NàO CHẤM DỨT

đƯỢC đIỀU TRỊ

- Mục đích điều trị: là diệt trừ virus viêm gan C

để ngăn ngừa các biến chứng liên quan đến viêm gan C bao gồm viêm hoại tử, xơ hóa, xơ gan, ung thư gan và tử vong

- Kết thúc điều trị là đáp ứng bền vững được xác định là không phát hiện virus 24 tuần sau ngưng điều trị bằng XN phân tử nhạy với ngưỡng phát hiện là 15 IU/ml (SRV24) Nghiên cứu có theo dõi lâu dài cho thấy đáp ứng bền vững với HCV là trên 99% Giá trị của việc không phát hiện ra virus vào tuần 12 sau ngưng điều trị (SRV12) đã được chấp nhận ở Mỹ và châu Âu cho thấy tương hợp với SRV24 là 99%

đánh giá trước khi điều trị

Mối quan hệ nhân quả giữa nhiễm HCV và bệnh lý gan phải được thiết lập, mức độ nặng của gan, tải lượng nền virus giúp cho sự lựa chọn phát

đồ cá nhân

Tìm những nguyên nhân bệnh gan khác

Các nguyên nhân bệnh gan mạn khác nên được đánh giá một cách hệ thống và phải được XN tìm các virus ái gan, đặc biệt là viêm gan B Nghiện rượu, HIV, viêm gan tự miễn, các bệnh gan di truyền và chuyển hóa khác như hemochromatose, đái đường béo phì hoặc viêm gan do thuốc

đánh giá độ nặng của gan

Cần thực hiện trước khi điều trị Xác định xơ gan là rất quan trọng vì đáp ứng với điều trị và tiên lượng là tùy theo giai đoạn của xơ gan Chưa có

xơ hóa nhiều cũng có thể lựa chọn và định thời gian cho điều trị Bệnh nhân lâm sàng có xơ gan rõ thì không cần đánh giá xơ hóa gan Xơ gan rồi thì cần sàng lọc K gan Xơ hóa gan nặng rồi thì men gan có thể bình thường, đánh giá độ nặng của xơ gan cần thực hiện bất luận men ALT

CẬP NHẬT CHẨN đOÁN Và đIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRUs C

(Update the diagnosis and management of viral C hepatitis)

Hoàng trọng thảng*

*Đại học Y dược Huế

Trang 2

Sinh thiết gan là phương pháp để tham khảo

Biến chứng nặng chỉ 1/4000-1/1000 Hiện nay

viêm gan mạn C có thể đo độ đàn hồi gan thay

cho sinh thiết để đánh giá độ nặng hoặc đo các

chỉ số sinh học xơ hóa, nhưng khi xơ hóa còn ít thì

đo độ đàn hồi và chỉ số sinh hóa xơ hóa ít giá trị

Kết hợp các chỉ số sinh hóa xơ hóa hoặc với độ

đàn hồi cũng giúp giảm bớt chỉ định sinh thiết gan

Mô bệnh học cũng cần thiết trong trường hợp nguyên

nhân phối hợp như viêm gan C phối hợp viêm gan B,

hội chứng chuyển hóa, rượu hoặc tự miễn

Xác định tải lượng và genotype của HCV

Điều trị hiện nay cho genotype 1 bao gồm PIs

thế hệ 1 Phân dưới nhóm Genotype 1a/b cho các

thông tin liên quan về sự đáp ứng khác nhau và

hàng rào đề kháng với PIs khi điều trị phát đồ 3

thuốc cho type 1 Hiện nay có dữ liệu cho thấy dưới

nhóm (subtype) 1a ít nhạy cảm với DAAs hơn 1b

Xác định di truyền của kí chủ

Định gen IL28B mang lại thông tin có ích cho

việc quyết định trên lâm sàng cho genotype 1 hoặc

4 Giá trị dự báo âm cho genotype IL28B không thích

hợp là không đủ để xem là có ích Một genotype

IL28B thích hợp xác định cho bệnh nhân dể đáp ứng

nhanh và có cơ may đáp ứng với điều trị 2 thuốc,

trong việc lựa chọn bệnh nhân genotype 1 cần đến

sự quyết định của bệnh nhân và thầy thuốc

Chỉ định điều trị

Tất cả bệnh nhân viêm gan C mạn còn bù,

muốn điều trị và không có chống chỉ định Nên

điều trị liền cho bệnh nhân xơ hóa nhiều F3, F4

hoặc có biểu hiện ngoài gan: có globulin ngưng

kết lạnh, hoặc bệnh thận do phức hợp miễn dịch

HCV Với bệnh nhân chưa có hoặc xơ hóa nhẹ

nên trì hoãn điều trị để chờ phát triển các thuốc

mới Quyết định trì hoãn điều trị cũng nên xem xét

cho đối tượng ưu tiên, lịch sử tự nhiên và nguy cơ

của diễn tiến viêm gan mạn, bệnh kèm theo và tuổi

của bệnh nhân

Bệnh nhân nhiễm genotype 1 điều trị tiệt trừ

thất bại với PegIFN/RBV hoặc phối hợp 2 thuốc

này thì nên xem xét điều trị với PI với 3 thuốc Với

điều trị 3 thuốc này đưa tỷ lệ đáp ứng bền vững từ

29 lên 88%

Bệnh nhân không phải genotype 1 thất bại với điều trị tiên phát với IFN anpha có thể xem xét điều trị pegIFFN/RBV tùy vào đánh giá cẩn thận các yếu tố như điều trị đầy đủ trước đây và giai đoạn bệnh gan Quyết định điều trị hoặc chờ đợi cũng cần xét đến việc có sẵn thuốc mới không

Các dữ liệu về pha 3 khi điều trị genotype 1 với telaprevir và boceprevir (BOC)

Trong NC SPRINT-2 với BOC bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên Tất cả bệnh nhân được điều trị dẩn đường 4 tuần với PegIFN/RBV Nhóm 1 (nhóm đối chứng) được điều trị thêm 44 tuần bằng giả dược Nhóm 2 (nhóm điều trị dẩn đường với BOC), dùng PegIFN/RBV với 800mg BOC ngày 3 lần Thời gian điều trị là do đáp ứng về virus khi điều trị, với bệnh nhân có HCV RNA không phát hiện được ở tuần 8 và 24 thì ngưng BOC sau 28 tuần, trong khi bệnh nhân có HCV RNA còn phát hiện bất luận khi nào trong khoảng tuần 8 và 24 thì ngưng BOC vào tuần 28, nhưng tiếp tục PegIFN/RBV trong 48 tuần Nhóm 3 (nhóm BOC cố định), dùng PegIFN/ RBV phối hợp BOC trong 44 tuần Đáp ứng bền vững ở nhóm 1, 2, 3 là 38%, 63% và 66% Do đó khuyến cáo là:

- Bệnh nhân có HCV RNA không phát hiện được sau 8 tuần và cả sau 24 tuần thì ngưng điều trị sau 28 tuần

- Bệnh nhân còn phát hiện được HCV RNA bất cứ lúc nào trong khoảng 8 và 24 tuần thì nên điều trị cả 3 thuốc đến 36 tuần, rồi ngưng BOC và tiếp tục PegIFN/RBV cho đến 48 tuần

- Nên tránh điều trị đáp ứng hướng dẫn (response guided therapy) ở bệnh nhân xơ gan,

ở đây điều trị khuyến cáo là hướng dẫn 4 tuần với PegIFN/RBV tiếp theo là 44 tuần với PegIFN/RBV phối hợp với BOC

Năng lực của điều trị 2 thuốc trong nhiễm genotype 1: Điều trị 2 thuốc có thể thích hợp cho

bệnh nhân có cơ sở dự báo đáp ứng bền vững với PegIFN/ RBV Cần tính đến giảm chi phí và

để dung nạp với điều trị 2 thuốc Hơn nửa đôi khi bệnh nhân có bệnh kèm theo cần điều trị hoặc dự báo tác dụng phụ do tương tác thuốc với PI thế hệ

1 Trong thử nghiệm lâm sàng với PegIFN/RBV, đáp ứng bền vững là 46% và 42% ở BN viêm gan

Trang 3

C genotype 1 với PegIFN anpha 2a và PegIFN

anpha 2b phối hợp Ribavirin Đáp ứng này hơi cao

hơn ở BN châu Âu so với Mỹ

Ngoài ra ở bệnh nhân có chống chỉ định với

PIs thì điều trị 2 thuốc với PegIFN/RBV có thể

cho tỷ lệ đáp ứng bền vững cao ở bệnh nhân

chọn lọc nhạy cảm cao với PegIFN cũng tránh

được tác dụng phụ và chi phí cao của PIs Như

phân tích của post hoc cho thấy ở BN type1 có

genotype IL28B thì điều trị 2 thuốc cho kết quả

tương tự điều trị 3 thuốc với BOC Điều này cũng

đúng cho BN có đáp ứng bền vững khi điều trị

PegIFN/RBV 4 tuần hướng dẫn Telaprevir cũng

được dùng cho genotype1 có IL28B với phác

đồ 4 tuần hướng dẫn Điều này biện minh cho

việc tiếp tục tiếp tục dùng 2 thuốc PegIFN/RBV

mà không cần thêm Telaprevir Ở BN đáp ứng

cao với IFN anpha, lợi ích duy nhất của điều trị

3 thuốc là có thể rút ngắn thời gian điều trị với

TRV xuống 24 tuần và với BOC xuống 28 tuần

Với điều trị 2 thuốc nên dùng khi virus cơ bản

thấp <400.000IU/ml

Liều thuốc trong điều trị HCV genotype 1

PegIFN anpha 2a nên dùng liều 180µg/Tuần,

trong khi đó anpha 2b dùng theo trọng lượng cơ

thể 1,5 µg/kg/tuần Trong điều trị 3 thuốc, liều

Ribavirin là 1000-1200mg/ng với PegIFN anpha

2a và 800-1400mg theo trong lượng cơ thể với

anpha 2b Liều TRV là 750mg mỗi 8 giờ, gần đây

là liều 1125mg cho mỗi 12 giờ Liều BOC là 800mg

mỗi 8 giờ, cả 2 thuốc này uống khi ăn, với TVR

nên kèm thức ăn chứa 20g mỡ TVR thì dùng phối

hợp với PegIFN anpha 2a còn với BOC thì có thể

phối hợp với cả TVR và BOC

điều trị genotype 2, 3, 4, 5 hoặc 6

Ở BN nhiễm genotype 2 và 3, đáp ứng bền

vững là 76 và 82% với PegIFN anpha 2a phối hợp

Ribavirin và anpha 2b phối hợp với anpha 2b Các

nghiên cứu gần đây cho thấy đáp ứng bền vững

thấp hơn với genotype 3

Bệnh nhân genotype 4 đang được báo cáo

với thử nghiệm PegIFN/RBV Vì vậy mọi dữ liệu

đáp ứng bền vững là từ những NC nhỏ Các báo

cáo về đáp ứng bền vững là nằm trong khoảng

43-70% sau 48 tuần điều trị PegIFN anpha phối hợp

với RBV Một vài NC cho thấy với bệnh nhân Châu

Âu thì đáp ứng thấp hơn so với các nơi khác

Ở BN nhiễm HCV genotype 2,3,4,5 hoặc 6 điều trị chuẩn là phối hợp PegIFN anpha với RBV với liều 180µg/tuần còn anpha 2b là theo trọng lượng cơ thể với liều 1,5 µg/tuần Liều RBV là theo genotype của HCV Bệnh nhân genotype 4, 5 và

6 nên dùng RBV liều 15 µg/kg Bệnh nhân nhiễm genotype 2 và 3 có thể điều trị với liều RBV 800 µg/ngày, nhưng nếu BMI > 25 hoặc có các yếu

tố gợi ý đáp ứng kém như đề kháng insulin, HC chuyển hóa, gan xơ hóa nặng, xơ gan hoặc tuổi già thì phải dùng RBV theo trọng lượng cơ thể

Theo dõi điều trị

Theo dõi hiệu quả điều trị: Dựa trên đo tải lượng virus, cần dùng XN nhạy chuẩn xác, cùng một Labo Trong điều trị 2 thuốc nồng độ HCV RNA đánh giá trước điều trị, 4 tuần, 12 tuần, 24 tuần và cuối kỳ điều trị; rồi 12, 24 tuần sau điều trị đế đánh giá đáp ứng bền vững

Trong điều trị 3 thuốc với BOC, tải lượng HCV RNA nên đo vào tuần 4, 8, 12, 24 và cuối điều trị rồi 12, 24 tuần sau điều trị Trong điều trị với TVR (ở đây không có điều trị hướng dẫn 2 thuốc trước), nên định lượng HCV RNA vào tuần 4, 12, 24 và khi ngưng điều trị rồi 12, 24 tuần sau ngưng điều trị

Quy luật ngừng điều trị

Với điều trị 2 thuốc, nên ngưng nếu HCV RNA giảm < 2logIU/ml vì tỷ lệ đáp ứng bền vững nếu tiếp tục điều trị ở nhóm này chỉ<2%

Ở BN có HCV RNA có thể phát hiện được vào tuần 24 cũng rất ít cơ hội đáp ứng bền vững (1-3%) thì nên ngưng điều trị

Trong điều trị 3 thuốc với BOC, quy luật ngưng điều trị đã được lấy ra từ nghiên cứu SPRINT-2 Nên ngưng tất cả thuốc nếu tải lượng HCV RNA

> 100IU/ml vảo tuần thứ 12 của điều trị, nếu HCV RNA có thể phát hiện được vào tuần 24 và trong trường hợp bùng phát virus sau này

đáp ứng virus trong điều trị hướng dẩn 3 thuốc

Bằng chứng và nguyên tắc cho đáp ứng theo điều trị có hướng dẩn đã được thảo luận trong “dữ liệu pha III về điều trị nhiễm genotype 1 với TVR

và BOC”

Trang 4

Phác đồ điều trị cho BOC và TVR gồm cả đáp

ứng điều trị có hướng dẫn và ngưng thuốc được

trình bày trong hình 1A và 1B

đáp ứng virus trong điều trị hướng dẫn 2 thuốc

Thời gian điều trị với PegIFN/RBV có thể cá

nhân hóa theo đáp ứng của virus khi đang điều trị

Khi điều trị nồng độ của HCV RNA được đánh giá

vào 3 thời điểm cho tất cả các genotype, nồng độ

cơ bản, 4 và 12 tuần Dường như đáp ứng bền

vững tỷ lệ thuận với tốc độ làm sạch virus

Nên ngưng điều trị vào tuần thứ 12 nếu nồng

độ HCV RNA giảm < 2logIU/ml Bệnh nhân giảm

> 2log hoặc HCV RNA âm tính vào tuần thứ 12

có thể xếp vào 1 trong 3 nhóm sau theo đáp ứng

của virus

- Đáp ứng nhanh (RVR): là khi virus không

phát hiện được vào tuần thứ 4

- Đáp ứng sớm (EVR): là khi HCV RNA không

phát hiện được vào tuần thứ 12, trong 1 số tài liệu

người ta gọi là đáp ứng sớm hoàn toàn (cEVR)

- Đáp ứng chậm (DVR): là khi virus giảm > 2log

nhưng vẫn còn phát hiện được vào tuần thứ 12, và

không phát hiện được vào tuần 24, trong một số

tài liệu gọi là đáp ứng một phần (pEVR)

- Sự tái xuất hiện của HCV RNA bất kỳ thời

điểm nào khi đang điều trị gọi là bùng phát (BT)

Thời gian điều trị nên được áp dụng cho đáp

ứng của virus là:

1/ Nhiễm genotype 1: Với RVR là 24 tuần Một

NC đa trung tâm gần đây đề nghị chỉ áp dụng cho

BN có tải lượng nền thấp Vì cũng chưa có ngưỡng

để phân biệt HCV RNA cao hay thấp, BN genotype

1 có lượng HCV RNA cơ bản < 400.000IU/ml thì

điều trị 24 tuần, ở BN có HCV RNA cao thì điều trị

48 tuần Một số tác giả đề nghị ngưỡng cao hơn

2/ BN genotype 1 và có thể cả genotype 4 có

đáp ứng sớm mà không có đáp ứng nhanh thì điều

trị 48 tuần

3/ Bệnh nhân genotype 1 đáp ứng chậm

có thể điều trị 72 tuần Chưa có dữ liệu cho các

genotype khác

4/ Bệnh nhân nhiễm genotype 2 và 3 có đáp

ứng nhanh và tải lượng < 400.000IU/ml thì rút

ngắn điều trị xuống 16 tuần cần cân nhắc cho cái giá tái phát hơi cao hơn sau ngưng điều trị 5/ Bệnh nhân genotype 2, 3 có xơ hóa nhiều,

xơ gan hoặc có các yếu tố ảnh hưởng lên đáp ứng của virus như đề kháng insulin, HC chuyển hóa, gan nhiễm mỡ thì không nên rút ngắn điều trị xuống 16 tuần dù cho tải lượng nền thấp và có đáp ứng nhanh

6/ Bệnh nhân genotype 2, 3 không có đáp ứng nhanh và không có yếu tố ảnh hưởng đến điều trị cũng nên điều trị 48 tuần do HCV RNA không phát hiện vào tuần 24

Theo dõi tính an toàn khi điều trị

Triệu chứng giả cúm thường có khi điều trị với PegIFN anpha, thường dễ kiểm soát khi dùng paracetamol và giảm dần váo tuần 4-6 Cần lưu ý tác dụng phụ như mệt mỏi, trầm cảm, kích thích, mất ngủ, phản ứng da, khó thở Cần đo hormone giáp mỗi 12 tuần khi điều trị

Về tác dụng lên máu của PegIFN và Ribavirine

là giảm bạch cầu hạt, thiếu máu, giảm tiểu cầu và bạch cầu lympho, do đó cần đánh giá vào tuần 1,

2 và 4 của điều trị và vào tuần 4 đến tuần 8 sau

đó Cả BOC và TVR cũng làm thiếu máu đặc biệt

ở bệnh nhân xơ gan

Về da cũng rất thường gặp khi điều trị 2 thuốc hoặc có thêm PI TVR gây ban da có lúc nặng phải ngưng điều trị Trên 90% chỉ là nhẹ và vừa, trong khoảng 6% phải gián đoạn điều trị Một vài trường hợp nặng nguy hiểm

Khuyến cáo về giảm liều

Với PegIFN cần giảm liều khi tác dụng phụ nặng như trầm cảm nặng, BC trung tính giảm dưới

750 con/mm3, Tiểu cầu < 50.000 Thì PegIFN-α2a giảm xuống 135µg/tuần rồi xuống 90 µg/tuần khi dùng PegIFN-α2b thì liều giảm từ 1,5 µg/kg/tuần xuống 1µg/kg/tuần rồi xuống 0,5 µg/kg/tuần Nên ngưng PegIFN-α khi trầm cảm nặng, BC đa nhân trung tính < 500 con hoặc tiểu cầu < 25.000/mm3 Sau đó nếu BC trung tính và tiểu cầu tăng lên lại thì có thể tiếp tục nhưng phải giảm liều Gián đoạn interferon chỉ nên ngắn hạn thôi vì ngưng dài hạn sẽ làm giảm hiệu quả điều trị và xuất hiện đề kháng với PI trong điều trị 3 thuốc Nếu thiếu máu nặng Hb < 10g/dl, thì giảm liều Ribavirine xuống mỗi lần 200mg, Hb giảm nhanh khi phối hợp với

Trang 5

PI thế hệ 1, những trường hợp này phải giảm liều

nhanh Ribavirine phải ngưng khi Hb< 8,5mg/dl

BOC và TVR không nên giảm liều vì dễ gây

kháng thuốc Với cả 2 loại PI thế hệ 1 thì hoặc là

ngưng hoàn toàn khi tác dụng phụ hoàn dùng đủ

liều, mỗi khi đã ngưng thì không dùng lại

Một số biện pháp để cải thiện hiệu quả điều trị

Tuân thủ điều trị

Tuân thủ đầy đủ Peg IFN anpha và Ribavirin

giúp cải thiện tỷ lệ SVR Khuyến cáo giảm liều cần

xem xét và dùng liều tối ưu càng sớm càng tốt

để đạt được tác dụng của thuốc Tuân thủ điều trị

HCV được định nghĩa khi BN tiếp nhận > 80% Peg

INF và Ribavirin trong thời gian điều trị Dùng peg

INF không được tốt là do ngưng thuốc sớm hơn là

bỏ quên Dùng peg INF không tốt có thể cho phép

xuất hiện biến thể kháng thuốc trong phát đồ có

DAAs, đặc biệt trong pha sớm của trị liệu

Trước khi bắt đầu điều trị BN phải được

hướng dẫn liệu trình và tác dụng phụ và sử dụng

các biện pháp để giảm các tác dụng phụ này:

Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau, hoặc kháng trầm

cảm, khám định kỳ

điều chỉnh các yếu tố đi kèm:

Cân nặng ảnh hưởng lên đáp ứng của

PegIFN/RIba, ngay cả sau khi chỉnh liều Giảm

cân có thể phối hợp với SRV

- Lipids: Vòng đời của HCV liên kết chặt chẽ

với chuyển hóa lipid, một số thuốc hạ cholesterol

ức chế sự nhân lên của HCV và có thể cải thiện

đáp ứng điều trị

- Rượu: Uống rượu đã ảnh hưởng đến sự

tuân thủ của điều trị, do đó BN được khuyến cáo

bỏ rượu khi điều trị

- Hội chứng chuyển hóa: Đề kháng Insulin và

đái đường type 2 đã làm gia tăng tiến triển bệnh

gan và phát triển K gan Nó cũng làm giảm đáp

ứng với PegIFN/RBV Chính HCV không gây gia

tăng nguy cơ HC chuyển hóa nhưng nó gây ra rối

loạn sự ổn định đường máu trực và gián tiếp làn

tăng đề kháng insulin tại gan và ngoài gan

điều trị hỗ trợ

- Yếu tố tăng trưởng: Yếu tố tăng trưởng

hồng cầu có lợi trong việc hạn chế nhu cầu điều trị giảm liều Erythropoietine tái tổ hợp có thể dùng

để cải thiện Hb để tránh phải giảm hay ngưng liều Ribavirin Mặc dù không có thử nghiệm xác định EPO ảnh hưởng tốt lên SRV EPO được dùng khi

Hb giảm < 10mg/dl và sau đó duy trì từ 10-12mg/dl Thiếu máu thường nặng khi điều trị 3 thuốc với PI hơn là với PegIFNRBV Tỷ lệ đáp ứng bền vững không ảnh hưởng bởi giảm liều RBV

Hiện nay chưa có bằng chứng về giảm BC khi dùng pegINF/RBV Khi dùng yếu tố kích thích

BC hạt có thể giúp BN duy trì điều trị tối ưu HCV Hiếm khi phải ngưng điều trị do giảm tiểu cầu nặng Chất đồng vận thụ thể tiểu cầu có thể làm tăng tiểu cầu như romiplostim và eltrombopag

- Thuốc chống trầm cảm: ĐT pegINF/RBV có thể gây trầm cảm nặng có thể phải ngưng ĐT

đT lại với PegINF/RBV ở bệnh nhân không có đáp ứng bền vững

Có một lượng nhất định BN genotyp1 không

có SVR với PegINF/RBV; có thể chia làm 3 nhóm:

1 Bồng phát virus: Không phát hiện virus cuối kì ĐT, nhưng không có SRV

2 Đáp ứng virus 1 phần: Giảm virus > 2logIU/ml sau 12 tuần, nhưng không bao giờ âm tính

3 Không đáp ứng về virus Sau 12 tuần ĐT giảm < 2log IU/ml

Khuyến cáo:

- Bệnh nhân genotype 1 thất bại tiệt trừ virus lần ĐT đầu tiên với PegIFN/RBV thì nên điều trị lại với 3 thuốc: PegIFN/RBV và PI

- Đáp ứng ban đầu trong điều trị nền với IFN

là 1 dự báo quan trọng trong điều trị 3 thuốc, với những người tái phát có tỷ lệ điều trị lành cao hơn người đáp ứng một phần, hơn là người không đáp ứng Nếu không có dữ liệu về đáp ứng tiên phát với

ĐT 2 thuốc thì BN không nên điều trị hướng dẫn

- BN xơ gan và không có đáp ứng tiên phát thì có cơ hội điều trị khỏi thấp thì không nên ĐT theo hướng dẫn ngay cả với PI

- BN nhiễm các genotype khác type 1 và thất bại với ĐT tiên phát không phải với PegIFFN anpha có hoặc không với ribavirin, thì có thể điều trị lại với PegIFFN anpha và Ribavirin

Trang 6

1 EASL clinical Practice Guidline Management

ò hepatitis C virus infection J hepatol 2011;

55:245-264

2 Lavachy D Evolving epidemiology ò hepatitis

C virus Clin Microbiol infect 2011; 17: 107-115

3 Chevallierz S, Pawlotsky JM Diagnosis

and management of chronic viral hepatitis: antigen,

antibodies and viral genomes Best Pract Res Cli

Gastroenterl 2008; 22: 1031-1048

4 Kamili S, Drobeniuc J Laboratory diagnostics

for hepatitis c virus infection Clin Infect Dis 2012; 55:

S43-S48

5 Swain MG, Lai MY, Shiffman ML A sustained

virologic response í durable in patients with chronic

hepatitis C treated with peginterferon alfa 2a and

ribavirin Gastroenteroloy 2010; 139: 1593-1601

6 Martinot-Peignoux M, Stern C, Maylin S

Twelve weeks post treatment follow- up is relevant

as 24 weeks to determine the sustained virologic

response in patients with hepatitis C virus

Heatology 2010; 51: 1122-1126

7 Fried MW, Schiffman ML, Smith C

Peginterferon alfa 2a plus ribavirin for chronic hepatitis C virus infection N Engl J med 2002; 347: 975-982

8 Manns MP, Wedmeyer H Treating viral hepatitis c: efficacy side effects, and complications Gut 2006; 55: 1350-1359

9 Hezode C, Fontaine H, Dorival C triple therapy in treatment – experienced patients with HCV- cirrhosis in multi centre cohort of the French Early Access programme J Hepatol 2013; 59: 434-441

10 Marcellin P, Cheinquer H High virus response rates in rapid virologic response patients

in the large real-World PROPHESYS cohort confirm results from randomized clinical trials Hepatology 2012; 56: 2039-2050

11 De Nicola S, Aghemo A Interleukin 28B polymorphism predicts pegylated interferon plus ribavirin treatment outcome in chronic hepatitis c genotype 4 Hepatology 2012; 55: 336-342

12 Journal of Hepatology, Elservier Vol 60, February 2014 P: 394-420

TàI LIỆU THAM KHẢO

Ngày đăng: 02/11/2020, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w