Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Authors: Nguyễn Thị Phương Advisor: Phạm Hùng Tiến Keywords: Lao động; Bắc Giang; Xuất khẩu lao động Issue Date: 2019 Publisher: Trường đại học Bách Khoa Hà Nội Abstract: Tổng quan cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động; thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số đề tài: …………
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: ThS Phạm Hùng Tiến
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài làm luận văn tốt nghiệp cao học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Viện Kinh tế và quản lý đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sâu sắc thầy giáo hướng dẫn ThS Phạm Hùng Tiến về sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Lao động- TB&XH tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ hoạt động trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo các địa phương và người lao động đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do khác nhau, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lý luận về XKLĐ 5
1.1.1 Khái niệm, nguyên nhân và vai trò của XKLĐ 5
1.1.2 Các hình thức và vai trò của các chủ thể trong XKLĐ 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động ở Việt Nam 12
1.1.4 Các biện pháp đẩy mạnh XKLĐ ở Việt Nam 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về XKLĐ 17
1.2.1 Sự hình thành và phát triển hoạt động XKLĐ ở Việt Nam 17
1.2.2 Kinh nghiệm XKLĐ trong nước và thế giới 19
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong hoạt động XKLĐ của Bắc Giang 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XKLĐ TẠI TỈNH BẮC GIANG 24
2.1 Đặc điểm của tỉnh Bắc Giang 24
2.1.1 Đặc điểm về địa hình của tỉnh Bắc Giang 24
2.1.2 Đặc điểm về Kinh tế - Xã hội của tỉnh Bắc Giang 26
2.1.3 Đặc điểm bộ máy quản lý xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Giang 29
2.1.4 Quy trình đi XKLĐ ở Việt Nam 33
2.2 Thực trạng XKLĐ của tỉnh Bắc Giang 36
2.2.1 Kết quả XKLĐ tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua 36
2.2.2 Phân tích kết quả điều tra người tham gia XKLĐ 43
2.2.3 Các hoạt động nhằm thúc đẩy XKLĐ của tỉnh Bắc Giang 48
2.2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến XKLĐ 50
2.3 Đánh giá chung về thực trạng XKLĐ của tỉnh 68
Trang 62.3.1 Đối với việc XKLĐ của tỉnh 68
2.3.2 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ XKLĐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 74
3.1 Quan điểm và định hướng XKLĐ của Việt Nam trong thời gian tới 74
3.1.1 Quan điểm 74
3.1.2 Định hướng 74
3.2 Quan điểm và Định hướng XKLĐ của tỉnh Bắc Giang 75
3.2.1 Quan điểm XKLĐ của tỉnh 75
3.2.2 Định hướng xuất khẩu lao động của tỉnh 75
3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 76
3.3.1 Giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước 76
3.3.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp XKLĐ 80
3.2.3 Giải pháp đối với NLĐ 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Kiến nghị 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Tổng hợp dân số, lao động, việc làm tỉnh Bắc Giang (2011-2015) 28
Bảng 2.2 Số lao động đi xuất khẩu phân theo huyện, thành phố (2015-2017) 37
Bảng 2.3 Số người đi XKLĐ của tỉnh theo giới tính giai đoạn 2015- 2017 38
Bảng 2.4 Tỷ lệ lao động có nghề trong tổng số lao động xuất cảnh (2015 - 2017) 39 Bảng 2.5 Cơ cấu XKLĐ theo độ tuổi của lao động giai đoạn 2015 – 2017 40
Bảng 2.6 Thị trường XKLĐ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015 - 2017 41
Bảng 2.7 Ngành nghề làm việc của lao động xuất khẩu tỉnh Bắc Giang tại nước ngoài, giai đoạn 2015 – 2017 42
Bảng 2.8 Độ tuổi và giới tính của người tham gia XKLĐ 44
Bảng 2.9 Tình trạng hôn nhân của người tham gia XKLĐ 45
Bảng 2.10 Nơi cư trú và mức thu nhập bình quân của lao động đi XKLĐ đã về nước 45
Bảng 2.11 Mức chi phí của người đi XKLĐ đã về nước 47
Bảng 2.12 Tổng hợp tình hình hỗ trợ người tham gia XKLĐ (2015 - 2017) 48
Bảng 2.13 Một số thị trường XKLĐ Việt Nam trong thời gian qua 51
Bảng 2.14 Mức độ cạnh tranh giữa các nước XKLĐ 52
Bảng 2.15 Xu hướng cung – cầu lao động tại một số thị trường XKLĐ 53
Bảng 2.16 Số lao động vi phạm pháp luật tại các nước từ 2015 - 2017 58
Bảng 2.17 Lao động vi phạm pháp luật bị trục xuất về nước 59
Bảng 2.18 Trình độ học vấn và chuyên môn của người tham gia XKLĐ 63
Bảng 2.19 Chất lượng lao động xuất khẩu của tỉnh 64
Bảng 2.20 Một số chỉ tiêu so sánh chất lượng lao động Việt Nam với các nước tham gia XKLĐ 66
Bảng 2.21 Công tác tổ chức đào tạo nghề cho người XKLĐ 68
Biểu đồ 2.1 Quy mô XKLĐ tỉnh Bắc Giang so với cả nước (2015 – 2017) 36
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu XKLĐ theo huyện, thành phố từ 2015 – 2017 37
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước đang phát triển có dân số trung bình năm 2016 của cả nước ước tính 92,70 triệu người, tăng 987,8 nghìn người, tương đương tăng 1,08% so với năm 2015, bao gồm dân số thành thị 32,06 triệu người, chiếm 34,6% Dân số nông thôn 60,64 triệu người, chiếm 65,4% dân số của cả nước, trong đó nam 45,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 46,95 triệu người, chiếm 50,6% Dân số Việt Nam hiện đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 7 tại Châu Á, là nước có nhiều lợi thế về sức lao động Sau 30 năm đổi mới, mở cửa, hội nhập và phát triển theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, do tình trạng gia tăng nhanh về dân số và lao động, dẫn đến nhu cầu việc làm luôn là vấn đề gay gắt, bức xúc đối với tòan dân Hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc di dân lao động đang là vấn đề nổi cộm trên toàn thế giới Mặt khác đất nước ta là một nước đông dân với hơn 70% lao động sống ở nông thôn, trình độ chuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi năm có khoảng 1,6 triệu người cần việc làm Chính vì vậy, xuất khẩu lao động (XKLĐ) không những là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, mà còn là một chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao động (NLĐ), xóa đói giảm nghèo (XĐGN), tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại và phát triển kinh tế bền vững gắn liền với công bằng xã hội
Bắc Giang là tỉnh trung du miền núi, kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, Năm 2016, dân số trung bình của tỉnh là 1.641.625 người, trong đó: số lao động tham gia các hoạt động kinh tế là 1.074.500 người, chiếm 65,45%; dân số khu vực thành thị là 185.976 người, chiếm 11,33%; khu vực nông thôn là 1.455.449 người, chiếm 88,67% Trong những năm qua, XKLĐ đã thực sự trở thành một giải pháp hữu hiệu đối với công cuộc XĐGN, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho một bộ phận NLĐ, đặc biệt ở khu vực nông thôn Nhờ hoạt động XKLĐ đã đem lại cho địa phương không chỉ là lợi ích kinh tế mà còn cả góc độ xã hội Đem
về nguồn ngoại tệ khá lớn tạo ra những chuyển biến cơ bản, thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sống cho nhiều hộ gia đình nông dân Xuất khẩu lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho NLĐ, góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của tỉnh
Năm 2017, toàn tỉnh có 4.374 người đã xuất cảnh đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động tham gia chủ yếu các thị trường như Đài Loan, Hàn Quốc,
Trang 10Nhật Bản, Malaysia, Trung Đông , đưa tổng số lao động của tỉnh hiện đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ trước đến nay khoảng 24.100 người, hàng năm số lao động này chuyển tiền về qua các ngân hàng, môi giới, người thân khoảng 1.400
tỷ đồng Sau thời gian đi XKLĐ trở về nước hầu hết họ đều có tích lũy khá, cải thiện tình trạng kinh tế gia đình, góp phần XĐGN, nhiều người trở nên giàu có, XKLĐ cũng tạo ra nguồn thu đáng kể cho địa phương Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải kể đến những mặt bất cập trong vấn đề quản lý về XKLĐ trên địa bàn tỉnh hiện nay như: Một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ về tuyển lao động trên địa bàn tỉnh còn hoạt động nhỏ lẻ, manh mún, thực hiện chưa nghiêm quy định của pháp luật về tổ chức, quản lý quá trình đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Đa
số NLĐ khi đi xuất khẩu đều là lao động phổ thông, trình độ chuyên môn tay nghề còn hạn chế; một bộ phận lao động chưa chú tâm tìm hiểu kỹ pháp luật, thông tin về thị trường lao động, trong quá trình lao động ý thức kỷ luật kém, chưa chấp hành đầy đủ quy định pháp luật, thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán của nước sở tại… Tình trạng lao động đã hết thời hạn hợp đồng nhưng không về nước mà ở lại cư trú bất hợp pháp; lao động bỏ trốn, phá hợp đồng ra ngoài làm việc vẫn diễn ra ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của NLĐ cũng như đất nước, con người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng Xuất phát từ những lý do trên,
đề tài: “Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý XKLĐ trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang” được chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc
sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu các khía cạnh khác nhau liên quan đến hoạt động XKLĐ Các công trình tiêu biểu mà tác giả luận án đã tiếp cận:
(1) Luận án phó tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Văn Hằng năm 1996 “Các
giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2010” Luận án thuộc chuyên ngành kinh tế, quản lý và kế hoạch
hóa quốc dân nhằm làm rõ vấn đề liên quan đến Quản lý nhà nước (QLNN) về XKLĐ theo cơ chế thị trường, phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ và những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn của XKLĐ Việt Nam đồng thời đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới QLNN về XKLĐ
(2) Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Phương Linh năm 2004 “Một số giải
pháp đổi mới quản lý tài chính về Xuất khẩu lao động Việt Nam theo cơ chế thị trường” Luận án thuộc chuyên ngành tài chính – lưu thông tiền tệ và tính dụng với
mục đích tập trung làm rõ vấn đề quản lý tài chính trong XKLĐ, phân tích hiện trạng quản lý tài chính XKLĐ của nước ta ở tầm vĩ mô, nêu ra những tồn tại và hạn
Trang 11chế cùng với nguyên nhân của nó và đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác quản lý tài chính về XKLĐ Việt Nam theo cơ chế thị trường
(3) Công trình nghiên cứu của TS Trần Thị Thu năm 2006 “Nâng cao hiệu
quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay”
Công trình được TS Trần Thị Thu tiến hành trên cơ sở thực tiễn XKLĐ tại Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại (SONA) với mục đích làm rõ khái niệm
và sự cần thiết nâng cao hiệu quả quản lý XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam, đánh giá hiệu quả quản lý XKLĐ và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý XKLĐ của các doanh nghiệp đến năm 2010
(4) Luận văn thạc sĩ của học viên Trần Thị Lý năm 2010 “Nghiên cứu ảnh
hưởng của việc Xuất khẩu lao động đến đời sống hộ gia đình huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” Luận văn nghiên cứu về ảnh hưởng của việc xuất khẩu lao động đến
đời sống kinh tế - xã hội của các hộ gia đình thuộc huyện Yên Dũng từ đó có các đề xuất, giải pháp thích hợp cho vấn đề XKLĐ của huyện
(5) Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Tiến Dũng năm 2010 “Phát triển xuất
khẩu lao động Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” Nghiên cứu và đúc kết
những vấn đề về cơ sở lý luận của phát triển xuất khẩu lao động trong hội nhập kinh
tế quốc tế, đồng thời đưa ra một số kinh nghiệm phát triển XKLĐ của một số nước
có điều kiện và cơ cấu lao động tương đồng với nước ta để có thể vận dụng vào phát triển XKLĐ Việt Nam Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về XKLĐ, đưa ra định hướng chiến lược, phương hướng, mục tiêu phát triển XKLĐ Việt Nam để từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp cơ bản có tính đồng bộ nhằm phát triển bền vững xuất khẩu lao động trong thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về vấn đề XKLĐ
Phân tích, đánh giá thực trạng XKLĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến XKLĐ của tỉnh Bắc Giang để thấy được những kết quả đã đạt được và những hạn chế của công tác này trong thời gian qua
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang góp trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
XKLĐ là một lĩnh vực rộng và phức tạp, do vậy đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng XKLĐ của tỉnh và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang góp trong thời gian tới
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại tỉnh Bắc Giang
Về thời gian: Đề tài tổng hợp, đánh giá các nội dung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2015 - 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Chọn điểm nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: Tập hợp từ các báo cáo, thống kê định kì hằng năm của Sở LĐTB&XH, Cục Thống kê tỉnh, các chủ trương, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh, các đề tài nghiên cứu khoa học về giải pháp đẩy mạnh XKLĐ
+ Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp, tổ chức các hội thảo Để thực hiện đề tài này tôi chọn 02 đối tượng là lao động đi XKLĐ đã về nước
và lao động đăng ký đi XKLĐ tại 03 huyện là: Yên Dũng, Tân Yên và Hiệp Hòa để điều tra khảo sát Đây là 3 huyện có phong trào đi XKLĐ ở 3 mức khác nhau (tốt, khá, trung bình) trong những năm qua Cụ thể số mẫu:
đã về nước
Lao động đăng
ký đi XKLĐ
Tổng mẫu
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Xử lý thông tin thứ cấp: tổng hợp,
chọn lọc thông tin có liên quan Xử lý thông tin sơ cấp: thông tin định tính là tổng hợp, phân loại và so sánh; thông tin định lượng là xử lý số liệu điều tra
- Phương pháp phân tích số liệu, thông tin: Phương pháp thống kê mô tả;
phương pháp so sánh; phân tích ma trận SWOT
- Hệ thống các chỉ tiêu phân tích: Chỉ tiêu chung về thực trạng; chỉ tiêu về sự
phát triển; chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động, doanh nghiệp XKLĐ
6 Kết cấu của luận văn
Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
Chương 2 Thực trạng công tác XKLĐ tại tỉnh Bắc Giang
Chương 3 Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác Quản lý XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
1.1.1 Khái niệm, nguyên nhân và vai trò của xuất khẩu lao động
1.1.1.1 Một số khái niệm chung
Lao động chính là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phù hợp với mục đích nhất định của con người
Theo Từ điển Tiếng Việt, lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần cho xã hội
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người
Như vậy, Lao động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động là yếu tố chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh
* Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường lao động Trong nền kinh tế thị trường, NLĐ muốn tìm việc phải thông qua thị trường lao động Về mặt thuật ngữ, “Thị trường lao động” thực chất phải được hiểu là “Thị trường sức lao động” để phù hợp với khái niệm của tổ chức lao động quốc tế: Thị trường lao động là một bộ phận của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mướn sức lao động Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là NLĐ và một bên là người sử dụng lao động Qua đó, cung - cầu về lao động ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung - cầu lao động
* Di cư lao động là Sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc Phần lớn các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong luật di cư Việc người lao động
đi làm việc ở nước ngoài thường được gọi là “Di cư lao động quốc tế” là một hoạt động bình thường Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di cư lao động quốc tế song nguyên nhân kinh tế vẫn là chủ yếu Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cư là một phần không thể tách rời giữa các nền kinh tế Ngoài ra, một số quốc gia còn đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết di
Trang 14cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho công dân họ ở nước ngoài
* Doanh nghiệp XKLĐ: là doanh nghiệp được Nhà nước cấp phép hoạt động XKLĐ, doanh nghiệp XKLĐ thực chất là doanh nghiệp hoạt động kinh tế dưới hình thức thực hiện dịch vụ cung ứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, đáp ứng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp nước ngoài Hoạt động trong quá trình tổ chức thực hiện gồm: Tìm kiếm thị trường, ký kết và thẩm định hợp đồng cung ứng lao động; tuyển chọn lao động; tổ chức đào tạo - giáo dục định hướng; tổ chức quản lý lao động xuất khẩu trong thời gian làm việc ở nước ngoài;
thanh lý hợp đồng
* Người lao động: là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam
cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này
Nguồn lao động xuất khẩu: là tất cả những NLĐ có nhu cầu XKLĐ, đi làm việc tại nước ngoài Tạo nguồn lao động xuất khẩu đang được chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm do tính chất quan trọng của nó Nguồn lao động xuất khẩu
là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng lao động xuất khẩu Nó góp phần giải quyết cho công tác tuyển dụng khi mà các doanh nghiệp tìm kiếm lao động xuất khẩu
* Xuất khẩu lao động: Là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài Nói cách khác, XKLĐ là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ CƯLĐ cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người
Theo tổ chức lao động quốc tế thì “XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động”
Xét theo hướng tiếp cận của nội dung nghiên cứu, khái niệm XKLĐ có thể được khái quát như sau: XKLĐ là hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài XKLĐ có tổ chức, hợp pháp thông qua các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ
Trang 151.1.1.2 Một số nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu lao động
Sự phát triển không đồng đều về lực lượng sản xuất và kinh tế xã hội, cũng như là sự phân bố không đều về tài nguyên thiên nhiên và dân số giữa các quốc gia
đã dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia về các yếu tố sản xuất Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc giải quyết tình trạng mất cân đối nói trên được tiến hành thông qua thị trường quốc tế, trong đó thị trường lao động quốc tế là thị trường các yếu tố đầu vào quan trọng của nhiều nước trong nhiều thập kỷ qua
Sơ đồ 1.1: Nguyên nhân dẫn đến XKLĐ
Một số nguyên nhân dẫn đến XKLĐ như sau:
- Những biến động về nhu cầu sức lao động: Những biến động về nhu cầu sức lao động là nguyên nhân khách quan dẫn đến xuất khẩu lao động Hay nói theo một cách khác, tính chất không đồng đều của quá trình tích lũy tư bản làm nảy sinh sự cần thiết phải có sự trao đổi quốc tế về hàng hóa sức lao động
Các tổ chức phi chính phủ
Di dân quốc tế và XKLĐ có tổ chức
Kinh
tế
Môi trường
Chính trị
Chiến tranh
Khác
Trang 16- Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế ngày càng tăng giữa các nước: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời không chỉ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mà còn dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng giữa tầng lớp chủ
sở hữu tư liệu sản xuất và người lao động trong mỗi quốc gia Một trong các quy luật đặc thù của chủ nghĩa tư bản là quy luật phát triển không đồng đều về kinh tế
và xã hội Hậu quả tất yếu của nó là sự phân hóa ngày càng sâu sắc về trình độ phát triển và sự phân chia các nước tư bản thành những nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo
- Sự chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên: Sự chênh lệch về tốc độ gia tăng dân số cộng với khoảng cách ngày càng gia tăng về trình độ phát triển kinh tế là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra hiện tượng xuất cư từ những nước có tốc độ tăng dân số cao hơn và trình độ phát triển kinh tế thấp đến các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn nhưng tốc độ tăng dân số thấp Ở nhóm nước tư bản phát triển
tỷ lệ tăng dân số là 1%, còn ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 2,3% Mỗi năm
có khoảng 83 triệu người được bổ sung vào dân số thế giới, trong đó có 82 triệu người sống ở các nước đang phát triển
- Sự kết hợp cả ba nguyên nhân trên: Di dân quốc tế về cơ bản là kết quả của
ba nguyên nhân nói trên Ba nguyên nhân này có những quá trình phát triển và giữa chúng có mối quan hệ nhân quả, quy định và tương hỗ lẫn nhau Khi tốc độ tăng dân số ở mức cao nhưng nền kinh tế phát triển chậm chạp sẽ dẫn đến nạn thất nghiệp nghiêm trọng Trong trường hợp đó một mặt cần phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, đặc biệt ở những ngành sử dụng nhiều sức lao động để thu hút lực lượng lao động; mặt khác có thể xuất cư một phần lao động dư thừa sang những nước khác
- Sự tăng thu ngoại tệ, tăng thu ngân sách, thu nhập và nâng cao trình độ chuyên môn cho người đi làm việc ở nước ngoài: Ngoài những nguyên nhân kể trên thì đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho di dân tự do và xuất khẩu lao động ngày càng trở nên hấp dẫn với nhiều nước trên thế giới, thậm chí nhiều nước
đã xây dựng thành chiến lược phát triển xuất khẩu lao động Ngân hàng Thế giới cho biết mỗi năm tổng số tiền lao động làm việc ở nước ngoài chuyển về quê hương đạt trên 80 tỷ Đô la mỹ (USD), chiếm 1,3% tổng sản phầm quốc nội (GDP) của toàn thế giới
1.1.1.3 Vai trò của xuất khẩu lao động
* Đối với Nhà nước: Góp phần tăng số lao động được tạo việc làm của cả nước Việc làm tạo ra nhờ hoạt động XKLĐ có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế quốc dân và với mỗi NLĐ Tạo việc làm thông qua hoạt động XKLĐ được thể hiện
Trang 17bằng các chỉ tiêu: tạo việc làm ở nước ngoài, chỉ tiêu này xác định số lượng việc làm được tạo ra ở nước ngoài cho lao động xuất khẩu; tạo việc làm nhờ hoạt động XKLĐ, chỉ tiêu này cho thấy hoạt động XKLĐ là một hoạt động dịch vụ và hệ thống cung cấp dịch vụ XKLĐ đang tạo ra nhiều việc làm cho NLĐ trong nước; tạo việc làm trong nước có liên quan nhờ tác động dẫn xuất của hoạt động XKLĐ như:
số việc làm của NLĐ về nước có việc làm, đặc biệt là các việc làm tốt hơn mà họ có được sau khi họ được nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, số việc làm do người trở về tạo ra thông qua đầu tư mở các cơ sở sản xuất kinh doanh
Góp phần tạo ra thu nhập cho NLĐ và những người tham gia vào hoạt động XKLĐ đồng thời nâng cao thu nhập bình quân của NLĐ và tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia NLĐ tham gia XKLĐ có mức thu nhập cao hơn nhiều so với làm việc trong nước Những người sau khi về nước có vốn tích lũy tiếp tục tạo thu nhập cho bản thân họ qua các hoạt động sản xuất Mặt khác, hoạt động XKLĐ tạo việc làm và thu nhập cho những người làm việc trong hệ thống dịch vụ XKLĐ
Mở rộng quan hệ hợp tác: hoạt động XKLĐ cũng giúp quan hệ giữa nước cung ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước
* Đối với các doanh nghiệp XKLĐ: đảm bảo các hoạt động XKLĐ được thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp vi phạm các quy định của Nhà nước, một trong những lý do đó là hoạt động XKLĐ chưa được các doanh nghiệp đầu tư bài bản Nội dung đào tạo - giáo dục định hướng, quản lý lao động ở nước ngoài,… không làm rõ các quy định của luật, tiêu chuẩn tuyển chọn lao động thiếu rõ ràng dẫn đến cán bộ vi phạm quy định Công tác thanh kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ cũng là nguyên nhân vi phạm kỷ luật của cán bộ doanh nghiệp và NLĐ xuất khẩu
Nâng cao uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp trong hoạt động XKLĐ, giúp doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, giảm các tình trạng phá vỡ hợp đồng, bỏ trốn,
vi phạm kỷ luật cũng như đảm bảo công việc, thu nhập
Doanh nghiệp tuyển được đúng đối tượng đi XKLĐ theo mục tiêu quản lý; tiết kiệm được thời gian, chi phí; giảm tình trạng về nước trước thời hạn của NLĐ; đồng thời giúp doanh nghiệp làm tốt công tác đào tạo - giáo dục định hướng, NLĐ ra làm việc ở nước ngoài sẽ đáp ứng tốt hơn về chuyên môn, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật, cũng như nắm bắt được tốt hơn về phong tục tập quán, có những ứng biến tốt hơn
về sức khỏe khi họ biết được khí hậu, thời tiết của nước nhập khẩu…; tăng doanh thu từ hoạt động XKLĐ; mở rộng quan hệ quốc tế, tăng đối tác kinh doanh; giúp NLĐ tránh được các rủi ro…
Trang 18* Đối với NLĐ: phần lớn lao động trực tiếp đi làm việc ở nước ngoài hiện nay
là từ khu vực nông thôn và từ các địa bàn huyện/xã nghèo Vai trò của XKLĐ đóng góp cho XĐGN đã được công nhận ở nhiều nơi trong cả nước Có thể thông qua các tiêu chí số người đi XKLĐ ở các hộ nghèo hoặc số hộ thoát nghèo nhờ có người đi làm việc ở nước ngoài,… sẽ thấy rõ hơn vai trò của XKLĐ với việc xóa đói giảm nghèo
Nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật: Khi tham gia XKLĐ, NLĐ sẽ học hỏi được ở nước ngoài về phong cách làm việc, kỹ năng, kinh nghiệm thực tế và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật Đặc biệt là những NLĐ được làm việc ở các nước có nền công nghiệp phát triển sẽ có điều kiện tiếp xúc với kỹ thuật hiện đại và tiên tiến Ngoài ra, XKLĐ còn có vai trò lớn là góp phần tiếp cận, khám phá và thúc đẩy ứng dụng công nghệ tiên tiến trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
1.1.2 Các hình thức và vai trò của các chủ thể trong xuất khẩu lao động
1.1.2.1 Các hình thức đi xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Theo Điều 6, Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Quốc hội, 2006)
có 4 hình thức như sau:
(1) Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
(2) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
(3) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề
(4) Hợp đồng cá nhân là hình thức lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động nước ngoài
1.1.2.2 Vai trò của các chủ thể trong xuất khẩu lao động
* Cơ quan quản lý Nhà nước:
- Mục tiêu: Khuyến khích XKLĐ phát triển nhanh về số lượng, đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động và đống góp vào phát triển kinh tế đất nước; Nâng cao chất lượng và hiệu quả của XKLĐ, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững; Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tham gia XKLĐ, đặc biệt là trong
Trang 19thời gian làm việc ở nước ngoài; Phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới
- Chức năng cơ quan Bộ Lao động Thương binh và Xã hội:
Tham mưu và xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động XKLĐ
Phát triển quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức nghề nghiệp – xã hội của các nước, xây dựng nền tảng pháp lý và quan hệ hợp tác để khai thác các thị trường XKLĐ, đàm phán, ký kết các Hiệp định Chính phủ về hợp tác sử dụng lao động với nước ngoài theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ; Tạo điều kiện thuận lợi, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp và người lao động khai thác các thị trường XKLĐ mới, duy trì và phát triển các thị trường hiện có
Cấp giấy phép hoạt động dịch vụ XKLĐ cho các doanh nghiệp đủ điều kiện; Đăng ký hợp đồng cho doanh nghiệp XKLĐ; quản lý chỉ đạo hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp; quản lý nội dung, chứng chỉ đào tạo - giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Xây dựng các chính sách hỗ trợ tài chính cho các đối tượng chính sách xã hội, giảm bớt khó khăn, chi phí đầu tư ban đầu, gia tăng cơ hội tham gia XKLĐ
- Chức năng cơ quan quản lý xuất khẩu lao động cấp tỉnh (UBND Tỉnh – Sở Lao động – Thương binh và Xã hội):
Tuyên truyền về các chính sách pháp luật về XKLĐ trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền về hiệu quả của XKLĐ, thu hút sự quan tâm của người lao động về cơ hội tìm kiếm việc làm, xóa đói giảm nghèo, hiệu quả kinh tế thông qua XKLĐ
Xây dựng các chính sách hỗ trợ tài chính cho các đối tượng chính sách xã hội, giảm bớt khó khăn, chi phí đầu tư ban đầu, gia tăng cơ hội tham gia XKLĐ
Xây dựng cơ chế, chính sách nâng cao chất lượng nguồn lao động của địa phương phù hợp với các yêu cầu của thị trường; chính sách thu hút khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực đào tạo lao động xuất khẩu tại địa phương và hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo
Hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ về tuyển chọn lao động tại địa bàn như: thông tin về chính sách quy định của địa phương về quản lý hoạt động XKLĐ, thông tin về thị trường lao động của tỉnh, thông tin về chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
Tạo thuận lợi trong việc kết nối trực tiếp và gián tiếp giữa các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ với người lao động có nhu cầu đi XKLĐ của tỉnh
Kiểm tra, giám sát hoạt động tuyển chọn và đưa người lao động của tỉnh đi XKLĐ thông qua các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ
Trang 20* Doanh nghiệp xuất khẩu lao động:
Thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức tuyển chọn người lao động tại các địa phương;
Ký kết Hợp đồng cung ứng lao động với bên nước ngoài, Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động, Hợp đồng bảo lãnh với người bảo lãnh trước khi người lao động đi làm việc;
Thỏa thuận với NLĐ về việc ký quỹ; yêu cầu NLĐ hoặc người bảo lãnh bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra theo quy định của pháp luật;
Bồi dưỡng kiến thức cần thiết, hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo
để dạy nghề, bổ túc tay nghề, ngoại ngữ cho NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với yêu cầu của từng thị trường lao động;
Tổ chức xuất cảnh cho người lao động và quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài
* Người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài:
Tìm hiểu thông tin về các hình thức đi XKLĐ, các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ, thị trường các doanh nghiệp tuyển chọn, ngành nghề, mức lương, yêu cầu công việc… để lựa chọn đi XKLĐ theo đúng nhu cầu
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động ở Việt Nam
1.1.3.1 Yếu tố khách quan
* Thị trường lao động quốc tế
Cung - cầu về lao động trên thị trường thế giới và khu vực: Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tốc độ tăng dân số thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu về nhập khẩu lao động, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cần đầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổ sung nguồn thu ngân sách và thu nhập cho NLĐ, rất cần đưa lao động ra nước ngoài làm việc
Cạnh tranh giữa các nước XKLĐ: XKLĐ được thực hiện trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia XKLĐ Ngày càng có nhiều nước tham gia vào lĩnh vực XKLĐ, trong hiện thời và trước mắt các nước nhập khẩu lao động chỉ muốn tiếp nhận lao động có kỹ năng cao, thích ứng với công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin, xiết chặt chính sách nhập cư có xu hướng quản lý lao động nhập cư thông qua các hợp đồng lao động tạm thời và chính sách quản lý lao động nhập cư; đồng thời các nước cũng thông qua Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) để giải quyết vấn đề di dân và nhập cư lao động một cách toàn diện, phục vụ lợi ích của các quốc gia, người lao động và toàn xã hội Do đó, chúng ta cần căn cứ đặc thù về nguồn để nâng cao chất lượng cạnh tranh
Trang 21Tình hình chính trị của nước có nhu cầu nhập khẩu lao động: Tình hình an ninh chính trị tại nước có nhu cầu nhập khẩu lao động có ảnh hưởng rất lớn đến vấn
đề tạo việc làm thông qua XKLĐ của mỗi địa phương, quốc gia muốn đưa lao động
đi XKLĐ Nếu quốc gia nước ngoài có tình hình an ninh bất ổn, thường xuyên xảy
ra chiến tranh, bạo loạn, sẽ là cản trở, gây rủi ro lớn đối với NLĐ làm việc tại quốc gia đó, NLĐ phải về nước, đồng thời cũng gây gánh nặng và trách nhiệm cho Nhà nước trong việc giải quyết hậu quả lao động về nước trước thời hạn
Yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc của nước nhập khẩu lao động: Ngôn ngữ, bản sắc băn hóa dân tộc, phong tục tập quán của mỗi quốc gia được coi là một rào cản đối với hoạt động tạo việc làm thông qua XKLĐ Bởi mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có những nét văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng và sử dụng ngôn ngữ giao tiếp khác nhau NLĐ muốn sống và làm việc ở quốc gia khác đều phải hiểu biết ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa của quốc gia đó, đồng thời phải hòa nhập được với nó, không phải NLĐ nào cũng làm được việc này, đặc biệt là NĐ có trình độ thấp Chính điều này đã trở thành rào cản cho hoạt động XKLĐ và là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề đáng quan tâm khác trong hoạt động XKLĐ
* Sự phát triển kinh tế - xã hội:
Vấn đề tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, địa phương có ảnh hưởng tới các hình thức XKLĐ và xu hướng của hoạt động tạo việc làm thông qua XKLĐ Với mỗi quốc gia, địa phương có cơ cấu kinh tế, mức độ phát triển kinh
tế xã hội khác nhau thì hình thức và xu hướng XKLĐ cũng khác nhau Tại các quốc gia, địa phương có tốc độ phát triển kinh tế xã hội thấp sẽ có xu hướng tạo việc làm bằng cách XKLĐ bậc trung và bậc thấp sang các nước có nhu cầu nhằm giải quyết việc làm và lấy tiền công, tích lũy ngoại tệ nhằm giải quyết bớt những khó khăn kinh tế trong nước và hình thức XKLĐ chủ yếu là XKLĐ thông qua các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp đưa NLĐ đi xuất khẩu là chủ yếu Nếu quốc gia có kinh tế xã hội phát triển sẽ có nhu cầu XKLĐ chất lượng cao sang các nước đang phát triển nhằm thu ngoại tệ và hình thức XKLĐ thông qua các doanh nghiệp nhận thầu, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài
1.1.3.2 Yếu tố chủ quan
* Chính sách XKLĐ của quốc gia, địa phương:
Nếu quốc gia, địa phương nào đó quan tâm đến vấn đề tạo việc làm thông qua XKLĐ cho NLĐ, có chính sách XKLĐ hợp lý, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược tạo việc làm ở địa phương; ban hành, tổ chức, thực hiện nhiều cơ chế, chính sách, chương trình, dự án tìm kiếm, khai thác, thu hút những thị trường lao
Trang 22động ngoài nước phù hợp với trình độ của NLĐ trong địa phương đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ có cơ hội tìm kiếm việc làm ngoài nước với mức thu nhập cao, quốc gia đó vừa giảm được tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong nước, phát triển kinh tế xã hội
Ngược lại nếu địa phương không quan tâm đến các chính sách về XKLĐ, không coi đây là nhiệm vụ chiến lược tạo việc làm trọng tâm, không tạo ra cơ chế thông thoáng, tạo điều kiện tìm kiếm, thu hút để đặt NLĐ vào các chỗ làm việc trống đầy tiềm năng ở nước ngoài thì NLĐ của địa phương đó sẽ bị bỏ qua nhiều cơ hội tìm đến được với những thị trường lao động ngoài nước hấp dẫn với mức thu nhập cao, khả năng xóa đói giảm nghèo nhanh, tích lũy vốn,
* Năng lực của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ:
Đặc điểm của doanh nghiệp XKLĐ (về trụ sở đóng địa bàn, cơ cấu tổ chức,
cơ cấu và trình độ nhân lực, ), chính sách, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp XKLĐ có ảnh hưởng đến hiệu quả tạo việc làm thông qua XKLĐ cho NLĐ bởi doanh nghiệp XKLĐ chính là tác nhân đặt NLĐ vào các chỗ làm việc trống được tạo ra ở nước ngoài Nếu doanh nghiệp có trụ sở đóng tại địa bàn, hoạt động uy tín,
có trách nhiệm, NLĐ địa bàn đó sẽ có cơ hội được tìm đến với doanh nghiệp một cách trực tiếp, chính thống, không dễ bị các đối tượng xấu lừa đảo, tìm được việc làm tốt phù hợp với mức thu nhập tốt Ngược lại nếu địa phương có những doanh nghiệp XKLĐ hoạt động không hiệu quả, hoạt động vì lợi nhuận,…sẽ là tác nhân xấu khiến cho vấn đề tạo việc làm thông qua XKLĐ không đạt hiệu quả, NLĐ bị lừa đảo, không tìm được việc như ý hoặc rơi vào tình trạng nợ nần, phá sản,
Trong bối cảnh khó khăn chung, đã có nhiều doanh nghiệp chú trọng đến đổi mới quản trị doanh nghiệp, chấn chỉnh lại quy trình điều hành nội bộ, cơ cấu lại, nâng cấp bộ máy cán bộ nhân viên, rà soát, hoàn thiện định hướng chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ, tập trung lực lượng vào các thị trường mà doanh nghiệp
có thế mạnh Tuy nhiên, còn nhiều doanh nghiệp hạn chế về quy mô đưa lao động hàng năm; về tính chuyên nghiệp trong tổ chức hoạt động; về sự cạnh tranh lành mạnh; về đầu tư bài bản trong công tác đào tạo nghề và giáo dục định hướng cho NLĐ; về chấp hành nghiêm quy định pháp luật
* Quy mô dân số và chất lượng nguồn nhân lực:
Quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển dân số của địa phương có ảnh hưởng lớn tới nhu cầu tạo việc làm thông qua XKLĐ của địa phương đó Từ nhu cầu này sẽ quyết định đến việc địa phương đó có quan tâm, tạo điều kiện cho công tác XKLĐ hay không
Trang 23Quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển dân số của địa phương sẽ quyết định đến quy mô, cơ cấu lực lượng lao động của địa phương đó Nếu dân số tăng nhanh, quy
mô lớn sẽ tạo ra áp lực lớn đối với vấn đề tạo việc làm cho lực lượng lao động Khi kinh tế địa phương chậm phát triển, không đủ sức tạo ra đủ việc làm trong nước, không giải quyết được việc làm cho một lực lượng lao động dồi dào là điều kiện để tạo việc làm ở ngoài nước thông qua XKLĐ, nhu cầu tạo việc làm thông qua XKLĐ
ở địa phương đó rất lớn
Ngược lại, khi địa phương có quy mô dân số nhỏ hẹp, trong khi kinh tế của địa phương phát triển, có nhiều chỗ làm việc trống, lực lượng lao động trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu nhiều chỗ làm việc trống trong nước thì địa phương
đó cần có nhu cầu nhập khẩu lao động nước ngoài, ít có nhu cầu tạo việc làm thông qua chỗ làm việc trống ở nước ngoài vì chỗ làm việc trống ở trong nước vẫn còn thiếu người làm
Đặc điểm, trình độ NLĐ, nhu cầu đi XKLĐ của NLĐ trong mỗi địa phương có ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm thông qua XKLĐ của địa phương đó Nếu địa phương có một lực lượng lao động với trình độ cao, có nhu cầu và động cơ tham gia XKLĐ đúng đắn sẽ tạo được việc làm cho NLĐ phù hợp với mức thu nhập cao, hợp
lý, nếu họ có trình độ kém, không đáp ứng được yêu cầu về công việc của nước nhập khẩu lao động hoặc nhu cầu và động cơ sai lệch sẽ ảnh hưởng làm cho quá trình tạo việc làm bị hạn chế, NLĐ không có cơ hội tìm được những việc làm có thu nhập cao, điều kiện tốt
Các nước nhập khẩu lao động truyền thống đang đổi mới đầu tư và hiện đại hóa công nghệ sản xuất, chuyển dịch đầu tư tư bản sang nước có giá nhân công và dịch vụ thấp và có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật cao, tăng dần tỷ trọng lao động chất xám cao trong tổng số lao động nhập
cư Theo thống kế của ILO, có khoảng hơn 60 nước có di cư và đi lao động nước ngoài, với tổng số gần 120 triệu người, trong đó các nước Châu Á chiếm hơn 50% Hầu hết các nước trên thế giới đều có lao động nước ngoài làm việc, ILO ước tính khoảng trên 200 nước trên thế giới tiếp nhận lao động nước ngoài, nhưng chủ yếu tập trung ở các nước phát triển, khoảng 1/3 ở Châu Âu, 20% ở Bắc Mỹ, 15% ở Châu Phi, 12% ở các nước Ả rập, tất cả các khu vực Châu Á và Nam Mỹ chiếm chưa đến 10% Để cạnh tranh với các nước trên chúng ta phải trang bị cho NLĐ về kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp đúng đắn
* Các yếu tố khác: tăng cường công tác quản lý; hạn chế đến mức thấp nhất
lao động phá vỡ hợp đồng; xử lý nhanh, chính xác các tình huống phát sinh trong quan hệ lao động; giáo dục đạo đức, hạn chế các vi phạm của người lao động khi đi
Trang 24xuất khẩu lao động góp phần tăng niềm tin của chủ sử dụng lao động khi sử dụng
lao động Việt Nam
1.1.4 Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở Việt Nam
1.1.4.1 Biện pháp từ phía Nhà Nước
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động xuất khẩu lao động Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ; giữ vững thị trường XKLĐ truyền thống; làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, tư vấn cho NLĐ; chú trọng công tác tuyển chọn lao động; liên kết với các đơn vị XKLĐ có năng lực; đầu tư vào công tác đào tạo, giáo dục định hướng; mở rộng thị trường XKLĐ; giải quyết vấn đề tài chính, hỗ trợ NLĐ Bên cạnh đó các cơ quan, các cấp ngành cũng cần tìm giải pháp giải quyết việc làm cho người hoàn thành hợp đồng lao động trở về nước Quốc hội đã ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2016, có hiệu lực từ 1/7/2007 khi Luật này có hiệu lực đến nay, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành được 02 nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 07 thông tư và thông tư liên tịch, 04 quyết định của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH và trên 20 văn bản hướng dẫn của cơ quan tổ chức thực hiện, nhằm cụ thể hóa thêm một số nội dung có liên quan tới các thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam; có những chính sách đặc thù hỗ trợ
và tạo điều kiện để các gia đình chính sách, hộ nghèo tham gia xuất khẩu lao động Việc triển khai các các quy định của Luật cũng đã được cơ quản quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này thực hiện tương đối đồng bộ và toàn diện, đáp ứng cơ bản các mục tiêu đề
Có thể nói, hệ thống các chính sách theo Luật này được ban hành đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động, tạo lập một cơ chế thông thoáng hơn trong hoạt động này và hướng tới việc bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các đối tượng thụ hưởng Cơ quan quản lý Nhà nước các cấp cũng đã tổ chức tuyên truyền, quán triệt văn bản pháp luật; chủ động trong việc ổn định, phát triển các thị trường lao động truyền thống, mở rộng thêm các thị trường mới theo phương thức cung ứng lao động bằng hiệp định hoặc thỏa thuận song phương
1.1.4.2 Biện pháp từ phía doanh nghiệp
Tăng cường hoạt động tìm kiếm, ký kết, thẩm định, đăng ký hợp đồng; tuyển chọn đúng lao động xuất khẩu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, yêu cầu công việc; nâng cao chất lượng đào tạo nghề - giáo dục định hướng; tăng cường quản lý lao động tại nước ngoài; thanh lý hợp đồng cho NLĐ sau khi hết hạn về nước
Các doanh nghiệp từng bước củng cố, tự vươn lên, tiếp cận thị trường lao động quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, năng động hơn trong hoạt động kinh
Trang 25doanh Nhiều doanh nghiệp chủ động tìm kiếm, khai thác, mở rộng thị trường tiếp nhận lao động, ký được nhiều hợp đồng cung ứng lao động với nước ngoài, bảo đảm quyền và lợi ích cho người lao động
1.1.4.3 Biện pháp từ phía người lao động
Nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề, trình độ ngoại ngữ, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp; cần phải nhận thức một cách đúng đắn về hoạt động xuất khẩu lao động; thường xuyên liên hệ với các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước sở tại và cơ quan đại diện hoặc người quản lý của doanh nghiệp XKLĐ của mình để khi cần thiết; làm thủ tục cần thiết với cơ quan Nhà nước sau khi hết hạn hợp đồng về nước
1.2 Cơ sở thực tiễn về xuất khẩu lao động
1.2.1 Sự hình thành và phát triển hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam bắt đầu diễn ra từ năm 1980 Trong suốt thời gian này cùng với sự biến đổi của đất nước hoạt động xuất khẩu lao động cũng đã có những bước biến đổi lớn, cụ thể:
Thời kỳ đầu từ năm 1980 đến năm 1990: lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước thông qua việc Nhà nước ký kết các Hiệp định lao động và trực tiếp thực hiện, chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, gồm Liên Xô (cũ), Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ) và Bungari Một bộ phận lao động với số lượng không nhỏ được đưa đi làm việc ở Iraq, Libya và đưa chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc ở một số nước châu Phi Trong
10 năm (1980-1990), Việt Nam đã đưa được 244.186 lao động, 7.200 lượt chuyên gia đi làm việc và 23.713 thực tập sinh vừa học vừa làm ở nước ngoài Ngân sách Nhà nước thu được khoảng 800 tỷ đồng (theo tỷ giá rúp/đồng Việt Nam năm 1990), hơn 300 triệu USD; Đồng thời, người lao động và chuyên gia đã đưa về nước một lượng hàng hóa thiết yếu với trị giá hàng nghìn tỷ đồng
Thời kỳ thứ hai từ năm 1991 đến nay: Thời kỳ này mở đầu bằng sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu dẫn đến sự tan dã của khối SEV buộc Nhà nước ta phải nhanh chóng đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Kể từ đó đến nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước, hoạt động XKLĐ cũng được quan tâm một cách đúng mực Số lượng người
đi làm việc ở nước ngoài tăng lên một cách nhanh chóng, từ con số 1.022 người năm 1991 đến năm 2000 đã tăng lên là 31.500 người, năm 2006 là 78.655 người và đến năm 2017 là 134.751 người Hiện có khoảng 500.000 lao động làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành, nghề khác nhau; trong đó Đài
Trang 26Loan là một trong những thị trường có nhiều lao động Việt Nam nhất, hiện tại có 93.000 lao động Việt Nam làm việc tại thị trường này, chiếm 30% tổng số lao động Việt Nam, hàng năm gửi về nước trên 400 triệu USD XKLĐ cũng trở thành một kênh đem lại nguồn thu nhập quan trọng cho đất nước Trong thời gian tới, nước ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động XKLĐ Tuy nhiên, hoạt động XKLĐ của
ta còn gặp nhiều hạn chế do trình độ và chất lượng của lao động xuất khẩu chưa cao, chưa tìm được đường vào cho những thị trường lớn, có thu nhập cao như EU, Hoa Kỳ,
Từ thực tế hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong thời gian qua có thể đánh giá khái quát như sau:
* Về ưu điểm:
Lĩnh vực XKLĐ đã và đang từng bước đổi mới phương thức hoạt động, phát triển nhiều hình thức dịch vụ tiến bộ, đầu tư có trọng điểm và nâng cao năng lực cạnh tranh Lao động và chuyên gia đang làm việc ở nước ngoài với nhiều ngành nghề đa dạng như xây dựng, cơ khí, điện tử, dệt may, chế biến thuỷ sản, dịch vụ, vận tải biển, chuyên gia y tế, giáo dục, tin học…
Dịch vụ XKLĐ đã góp phần làm cho hàng vạn người có việc làm với thu nhập cao; giảm được khoản đầu tư khá lớn cho đào tạo nghề và giải quyết việc làm trong nước, người lao động được nâng cao tay nghề, tiếp thu được công nghệ sản xuất mới và phương pháp quản lý tiên tiến, được rèn luyện tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp
Thị trường XKLĐ của nước ta từng bước ổn định và mở rộng, số thị trường nhận lao động Việt Nam ngày càng tăng lên Việc chỉ đạo khai thác, củng cố và mở rộng thị trường đã được định hướng: tập trung khai thác, củng cố các thị trường trọng điểm, từng bước tiếp cận, thí điểm để mở rộng sang các khu vực
Các hợp đồng ký kết với đối tác nước ngoài đều phù hợp với luật pháp nước ta
và luật pháp nước sử dụng lao động, phù hợp với mặt bằng thị trường và đảm bảo được quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ
* Về hạn chế:
Số lượng lao động đưa đi của các doanh nghiệp nhìn chung còn thấp so với yêu cầu Một số doanh nghiệp đã không tích cực đầu tư, thiếu chủ động trong tìm kiếm, khai thác thị trường để ký kết hợp đồng cung ứng lao động
Chất lượng đội ngũ lao động xuất khẩu của các doanh nghiệp vẫn còn thấp so với đòi hỏi của thị trường, nhất là ngoại ngữ, tay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại chủ yếu là XKLĐ phổ thông; một số loại lao động
kỹ thuật nước ngoài có nhu cầu nhưng ta chưa có đủ để đáp ứng
Trang 27Nhiều trường hợp người lao động tự bỏ hợp đồng trốn ra ngoài sống bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín lao động ta và thị trường lao động của Việt Nam Tình trạng lao động phải về nước trước hạn cũng xảy ra phố biến, dẫn đến việc doanh nghiệp mất nguồn thu phí dịch vụ, phát sinh tăng chi phí để giải quyết các vấn đề phát sinh và làm giảm đáng kể hiệu quả của dịch vụ xuất khẩu lao động của doanh nghiệp
1.2.2 Kinh nghiệm xuất khẩu lao động trong nước và thế giới
1.2.2.1 Kinh nghiệm xuất khẩu lao động một số nước trên thế giới
* Indonesia: là một nước XKLĐ lâu năm với quy mô lớn Từ những năm 1930 đến 1950 đã có hơn 200.000 người di cư sang lao động tại các đảo của Malaysia Theo Bộ nhân lực giai đoạn từ 1969 đến 1993 đã có 877.400 người ra nước ngoài làm việc số lượng tăng nhanh từ 7.400 người năm 1970 lên đến 405.000 người năm
1980 và giai đoạn 1989 đến 1993 đã có 465.000 người Những năm từ 1994 đến
1998 số lượng lao động Indonesia tăng nhanh, từ 2,1 triệu người tăng lên 3,2 triệu người theo Asian Migration News 1998 nguồn ngoại tệ do lao động chuyển về theo con đường chính thức năm 1996 đến 1998 là khoảng 2,72 tỷ USD Trên thực tế số ngoại tệ thu được có thể gấp 2-3 lần
Thị trường lao động Indonesia đến làm việc tập trung tại một số nước và khu vực như: Đông Nam Á, Malaysia, Singapore, Bruney, Đông Bắc Á Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Về chính sách, để đẩy mạnh XKLĐ Indonesia xây dựng chính sách về hệ thống tuyển mộ và đào tạo lao động chính sách đưa lao động đi nước ngoài làm việc
và chính sách quan hệ hợp tác lao động với nước ngoài, chính phủ Indonesia can thiệp vào XKLĐ thông qua việc quản lý thống nhất và chỉ đạo chặt chẽ chương trình việc làm ngoài nước
Năm 1994 Chính phủ Indonesia đã ban hành Nghị định về thủ tục và hệ thống tuyển mộ, việc thành lập các công ty tuyển mộ lao động, các điều kiện và các yêu cầu đối với tổ chức tuyển mộ quy định XKLĐ việc giải quyết tranh chấp các vấn đề pháp lý khác Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động XKLĐ của Indonesia cũng còn nhiều thiếu sót do những bất cập của pháp luật và sự không tuân thủ các quy định của công ty tuyển mộ và người lao động, những phạm vi lừa đảo về XKLĐ thường được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
* Philippines: Vào tháng 10/2008, Philippine tổ chức diễn đàn quốc tế lần thứ
2 về di cư và phát triển Đại diện của 160 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và 220 tổ chức xã hội dân sự đã tham dự diễn đàn này Các thành viên tham dự một phiên thảo luận về vấn đề bảo vệ quyền lợi của lao động di
Trang 28cư, bao gồm di cư, phát triển và nhân quyền, di cư hợp pháp và chính sách, thể chế tổng thể và mối quan hệ hữu nghị… Philippines được coi là một hình mẫu điển hình thế giới về XKLĐ Philippines nổi bật với chiến lược đầu tư, khai thác và thu về nguồn ngoại tệ khổng lồ từ XKLĐ Khoảng 1 triệu lao động Philippines ra nước ngoài làm việc mỗi năm, tính ra mỗi ngày gần 3.000 người rời đất nước đi XKLĐ, trong đó có cả những gia đình hai thế hệ Ước tính, Philippines có khoảng từ 9-11 triệu lao động đang làm việc tại nước ngoài, chiếm 11% dân số
Tiền kiều hối do lao động xuất khẩu chuyển về đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của quốc đảo này XKLĐ của Philippin được thực hiện một cách chuyên nghiệp và bài bản, chiến lược xuất khẩu lao động của Philippines bắt đầu từ những năm 1970, thời điểm mà nước này đang ngập nợ và cũng là thời kỳ bùng nổ nhu cầu lao động làm việc tại các nước Trung Đông khi giá dầu thế giới tăng Philippines có một cơ chế hoàn chỉnh thống nhất từ Trung ương đến địa phương, cả trong và ngoài nước về chính sách ưu đãi XKLĐ, nhất là đảm bảo phúc lợi cao cho lao động làm việc ở nước ngoài Phân tích hoạt động XKLĐ của các nước trong khu vực, nhiều nhà quản lý nhận ra, thành công của Philippines có được bắt đầu từ khung pháp lý Trong khi tỷ lệ NLĐ xuất khẩu ở Philippines phần lớn do khu vực tư nhân thực hiện nhưng Nhà nước giữ vai trò quan trọng khác, đó là bảo vệ quyền lợi của NLĐ và ngăn chặn tuyển người bất hợp pháp
1.2.2.2 Kinh nghiệm xuất khẩu lao động một số địa phương ở Việt Nam
* Tỉnh Bắc Ninh: Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng mới được tái lập từ năm 1997, xuất phát điểm kinh tế thấp, với nhiều khó khăn của một tỉnh mới tái lập, dân số tỉnh lại khá đông (năm 2014 là 1.132.231 người - nguồn cục thống kê tỉnh Bắc Ninh) nên vấn đề thiếu việc làm, thất nghiệp tại tỉnh còn tương đối cao Chính vì vậy, các cơ quan nhà nước tỉnh đã coi vấn đề tạo việc làm thông qua XKLĐ là một hướng đi trọng tâm, góp phần xóa đói giảm nghèo, hạn chế tình trạng thất nghiệp trong tỉnh
Cơ quan nhà nước tỉnh Bắc Ninh (tác nhân gián tiếp tạo việc làm cho NLĐ thông qua XKLĐ) đã bằng rất nhiều cơ chế, chính sách tìm kiếm, thu hút, hỗ trợ NLĐ tỉnh, tạo điều kiện tối đa để NLĐ tỉnh đến được với những chỗ làm việc trống
đã được tạo ra ở nước ngoài Một trong những chính sách hỗ trợ tối ưu mang lại hiệu quả cao trong thời gian qua cho công tác XKLĐ của tỉnh đó là chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề tới 3.000.000 đồng/người/lượt đối với các trường hợp NLĐ là thân nhân của gia đình chính sách, người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo; lao động thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp
mà không có đất bồi thường; lao động tham gia các chương trình đào tạo trình độ
Trang 29cao theo thỏa thuận giữa chính phủ Việt Nam với nước tiếp nhận lao động hoặc theo các hợp đồng cung ứng giữa các doanh nghiệp Việt Nam với đối tác nước ngoài Tỉnh sẽ hỗ trợ chi phí đào tạo là 3.000.000 đồng/người/lượt đối với các nghề : hàn Mag cơ bản, hàn Tig cơ bản, hàn hồ quan 3G, điện công nghiệp, hàn Tig 6G, Max 6G, điện tử công nghiệp Hỗ trợ 2.700.000 đồng/người/lượt đối với các nghề may công nghiệp, mộc dân dụng, tiện kim loại, tiện vạn năng, phay vạn năng, Đối với các nghề mài (máy mài cầm tay), phun sơn, xây chát, ốp lát được hỗ trợ 2.400.000 đồng/người/lượt Mức hỗ trợ đối với các nghề giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, các nghề khác theo nhu cầu là 2.160.000 đồng/người/lượt Đây là một chính sách hỗ trợ cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt và các đối tượng NLĐ đặc biệt khác trong tỉnh
có cơ hội được đi XKLĐ
* Tỉnh Thanh Hóa: Thanh Hóa là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc khác nhau, NLĐ có nhu cầu đi XKLĐ trong tỉnh phần lớn thuộc các vùng dân tộc nghèo, trình độ học vấn thấp Mặc dù với nhiều yếu tố không thuận lợi như vậy nhưng trong những năm qua công tác tạo việc làm thông qua XKLĐ của tỉnh lại đạt hiệu quả rất cao, đóng góp tích cực trong vấn đề xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong tỉnh Nguyên nhân là do tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ XKLĐ rất hay cần được học tập Một trong những chính sách đó là chính sách thu hút, hỗ trợ các doanh nghiệp XKLĐ trên địa bàn tỉnh Đối tượng là các doanh nghiệp đưa lao động của tỉnh đi làm việc ở nước ngoài đảm bảo việc làm ổn định; mức thu nhập của NLĐ (ghi trên hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài ký với NLĐ) từ
400 Đô la Mỹ/tháng trở lên; số lao động gặp rủi ro trên tổng số lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài dưới 4%; thực hiện tốt các quy định của pháp luật Mức hỗ trợ : Doanh nghiệp trong 01 năm đưa được từ 200 đến dưới 400 lao động của tỉnh đi làm việc ở nước ngoài được hỗ trợ số tiền bằng 200.000 đồng/lao động; doanh nghiệp trong 01 năm đưa được từ 400 lao động trở lên đi làm việc ở nước ngoài được hỗ trợ số tiền bằng 250.000 đồng/lao động Với việc hiểu rõ điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình, chính sách trên đã góp phần tích cực giúp cho một tỉnh miền núi như Thanh Hóa thu hút được nhiều doanh nghiệp uy tín, hoạt động có hiệu quả về địa phương tuyển lao động ra nước ngoài làm việc, thúc đẩy hoạt động tạo việc làm thông qua XKLĐ đạt hiệu quả cao, mang lại lợi ích to lớn cho sự phát triển đời sống kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 301.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong hoạt động xuất khẩu lao động của Bắc Giang
Thứ nhất, để tạo việc làm thông qua XKLĐ đạt hiệu quả cao thì các cơ quan quản lý Nhà Nước ở địa phương (với vai trò là tác nhân gián tiếp đưa NLĐ đến với chỗ làm việc trống đã được tạo ra ở nước ngoài) cần phải xác định tạo việc làm thông qua XKLĐ là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu cho ngân sách địa phương Các địa phương nếu quan tâm đến chính sách XKLĐ đều đạt hiệu quả cao trong công tác này
Thứ hai, cần có chính sách hỗ trợ XKLĐ hợp lý, quan tâm đến cả những đối tượng đặc biệt, các đối tượng đó là NLĐ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, con gia đình chính sách, muốn đi XKLĐ để xóa đói giảm nghèo nhưng không có đủ tiềm lực về tài chính để đi Những chính sách hỗ trợ có thể là hỗ trợ vay vốn với mức cao hơn so với những đối tương NLĐ bình thường khác, hoặc hỗ trợ thêm chi phí đào tạo, chi phí đi lại, ăn ở trong quá trình học tập, chi phí tàu xe, chi phí làm thủ tục xuất nhập cảnh
Thứ ba, với những địa phương có nhiều chính sách thu hút, quan tâm nhiều đến các doanh nghiệp XKLĐ sẽ tạo điều kiện thu hút được nhiều doanh nghiệp XKLĐ trực tiếp về đóng trụ sở tại địa bàn, hoạt động có uy tín, hiệu quả, từ đó đưa được nhiều NLĐ ra nước ngoài làm việc, NLĐ địa phương đó cũng có cơ hội đến được với doanh nghiệp XKLĐ một cách trực tiếp để trao đổi, tìm kiếm thông tin về việc làm ngoài nước phù hợp trình độ và nhu cầu của bản thân
Trang 31TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Việt Nam với dân số hiện nay khoảng hơn 92,70 triệu người, là nước đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới Tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang là một trong những vấn đề nổi cộm của nền kinh tế Việt Nam, những biện pháp thu hút đẩy mạnh đầu tư luôn được khuyến khích song chỉ giải quyết được một phần nào tình trạng thiếu việc làm, do đó XKLĐ là lựa chọn hữu hiệu và cần thiết cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay không chỉ là vì giải quyết được phần nào lao động dư thừa mà còn vì những lợi ích to lớn mà hoạt động này mang lại cho quốc gia như: tăng nguồn thu ngoại tệ và tăng trưởng kinh tế của địa phương, của đất nước; tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi được nhiều kinh nghiệm quản lý, học hỏi được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến ở nước ngoài
Tuy nhiên XKLĐ của nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế cần khắc phục như: NLĐ chưa tiếp cận trực tiếp được với doanh nghiệp XKLĐ, chất lượng lao động còn chưa cao; hiện trạng cò mồi, lừa đảo còn diễn ra nhiều, lao động hết hạn hợp đồng bỏ trốn ra ngoài làm việc còn nhiều, vấn đề thông tin tuyên truyền cho NLĐ về XKLĐ còn hạn chế
Với tính chất phức tạp, nhạy cảm và tính chất quốc tế cao của xuất khẩu lao động, sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động với tư cách hỗ trợ, quản lý, giám sát
và định hướng cho công tác XKLĐ là cần thiết, ứng với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, phải có một phương thức tổ chức và quản lý XKLĐ riêng, trong đó quản lý tài chính XKLĐ là một khâu quan trọng để đạt được hiệu quả kinh
tế - xã hội Việc vận dụng, khai thác tốt các nhân tố mới có ảnh hưởng đến XKLĐ
sẽ giúp cho chúng ta có cơ hội thực hiện thành công chiến lược XKLĐ Việt Nam trong những năm tới, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI
TỈNH BẮC GIANG
2.1 Đặc điểm của tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Đặc điểm về địa hình của tỉnh Bắc Giang
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Bắc Giang là tỉnh miền núi trung du vùng Đông Bắc Việt Nam nằm ở tọa độ
từ 21 độ 07 phút đến 21 độ 37 phút vĩ độ bắc; từ 105 độ 53 phút đến 107 độ 02 phút kinh độ Đông; cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương
và Quảng Ninh Bắc Giang hiện có 09 huyện và 01 thành phố, trong đó có 06 huyện miền núi và 01 huyện vùng cao (Sơn Động); 230 xã, phường, thị trấn (206 xã, 8 phường, và 16 thị trấn)
2.1.1.2 Địa hình
Bắc Giang có địa hình trung du, tuy phần lớn diện tích của tỉnh là đồi núi (89%) nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều, có thể chia địa hình Bắc Giang thành một số khu vực chính sau:
Một là, khu vực thuộc lưu vực sông Lục Nam, khu vực này có những đỉnh núi
cao và hiểm trở như các dãy núi Bảo Đài – Cấm Sơn và Huyền Đình – Yên Tử là đường phân giới của tỉnh với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Dương
Hai là, khu vực miền đồi trung du thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông
sang Tây Đây là miền đồi núi trung du được cấu tạo bằng trầm tích đá gốc, các ngọn đồi ở đây thường có độ cao từ 30m – 50m
Ba là, Khu vực phù sa cổ địa hình chủ yếu là đồi thoải lượn sóng, có độ cao
dưới 30m trên nền phù sa của sông Cầu, sông Thương Địa hình này thấy rất rõ ở các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên và thành phố Bắc Giang
Bốn là, khu vực địa hình chủ yếu là đồi núi thấp khá bằng phẳng và những
miền núi trũng như núi Neo ở Yên Dũng ngày nay nhiều đồi núi thấp và máng trũng ở Yên Dũng, Việt Yên, Lạng Giang đã được người dân cải tạo thành những ruộng cao thấp khác nhau để trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 33Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Với địa hình gồm hai tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc Một năm có bốn mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân và mùa thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình 22 – 23 độ C, độ ẩm dao động lớn, từ 73% - 87%
Đặc điểm tự nhiên như trên vừa tạo cho Bắc Giang nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt nhiệt độ và độ ẩm khá thuận lợi, không quá khắc nghiệt làm cho sản phẩm nông lâm nghiệp phong phú đa dạng đáp ứng nhu cầu của thị trường
2.1.1.4 Đất đai
Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp,
110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại là các loại đất khác Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi
Trang 34để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp - dịch vụ Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận Tỉnh đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao
2.1.2 Đặc điểm về Kinh tế - Xã hội của tỉnh Bắc Giang
2.1.2.1 Đặc điểm tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt mức cao hơn
cả nước, bình quân giai đoạn 2011-2015 ước đạt 9,5%/năm, trong đó, công xây dựng đạt 16,3%, dịch vụ đạt 6,3%, nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 4,7% GRDP bình quân/người được rút ngắn so với bình quân cả nước, năm 2015 ước đạt 1.530USD
nghiệp-Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng tích cực, năm 2015, lĩnh vực công nghiệp-xây dựng chiếm 41,6%, dịch vụ chiếm 34,8%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,6% Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Thu hút đầu tư phát triển đạt được kết quả khá, tổng vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội giai đoạn 2011-2015 đạt 108 nghìn tỷ đồng, bằng 134,8% mục tiêu, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 24,9% Trong đó, vốn ngân sách nhà nước (bao gồm
cả vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý, vốn ODA, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn vay tín dụng ưu đãi) chiếm 15,3%; vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%; vốn đầu
tư của các doanh nghiệp chiếm 22,2%; vốn đầu tư khu vực dân cư chiếm và doanh nghiệp tư nhân 44,5%
Giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh đã thu hút được 475 dự án, trong đó có 324 dự
án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký trên 17.100 tỷ đồng, 151 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.110 triệu USD Bên cạnh việc thu hút đầy tư các dự án, tỉnh đã quan tâm thu hút nguồn vốn ODA, NGOs để xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, điện, nước sạch và vệ sinh môi trường, các lĩnh vực giáo dục, y tế, tăng cường năng lực quản lý cho các cấp tại địa phương
Giai đoạn 2011-2015, đã có 2.465 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký trên 9,6 nghìn tỷ đồng; lũy kế có 4.782 doanh nghiệp với số vốn đăng ký trên 20,7 nghìn tỷ đồng
Trang 352.1.2.2 Đặc điểm về dân số và lao động của tỉnh Bắc giang
Năm 2015, dân số trung bình của tỉnh là 1.641.625 người, trong đó: số lao động tham gia các hoạt động kinh tế là 1.074.500 người, chiếm 65,45%; dân số khu vực thành thị là 185.976 người, chiếm 11,33%; khu vực nông thôn là 1.455.449 người, chiếm 88,67%
Giai đoạn 2011 – 2015, lực lượng lao động bình quân hàng năm tăng 8%/năm
Cơ cấu lao động theo độ tuổi: từ 15-24 chiếm 21,59%; từ 25-39 chiếm 27,55%; từ 40-49 chiếm 15,47%; từ 50 trở lên chiếm 19,43% Có thể nói đây là giai đoạn “dân
số vàng”, đáp ứng tốt nhất yêu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng lao động lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ So với năm 2006 lao động trong lĩnh vực nông nghiệp- lâm nghiệp và thủy sản từ 76,9% giảm xuống 60,8%, lao động công nghiệp – xây dựng từ 10,2% tăng lên 21%, lao động dịch vụ từ 12,9% tăng lên 18,2%
Chất lượng lao động: Những năm qua, vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm, chỉ đạo triển khai với nhiều chương trình, giải pháp thiết thực và có hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực, chất lượng lao động đã được nâng lên Đến cuối năm 2013, tỷ lệ lao động qua đào tạo tham gia hoạt động kinh tế đạt 40,5% (tăng 15,5% so với năm 2006), trong đó số lao động qua đào tạo nghề đạt 33,5%; số cơ sở dạy nghề đã tăng từ 42 cơ sở năm
2006 lên 90 cơ sở; quy mô đào tạo của các cơ sở dạy nghề tăng từ 21.583 người năm 2006 lên 28.160 người Bình quân mỗi năm có trên 20.000 lao động được đào tạo nghề, trong đó trên 70% lao động sau khi học nghề có việc làm, thu nhập bảo đảm cuộc sống
Trang 36Bảng 2.1 Tổng hợp dân số, lao động, việc làm tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2016
Lao động từ 15 thuổi trở lên đang làm việc trong
nền kinh tế quốc dân 998.770 1.025.600 1.041.800 1.058.000 1.074.500
+ Công nghiệp và xây dựng 162.800 187.600 218.700 242.400 250.000
Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động 37,0 40,5 44,0 47,0 50,5
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi chƣa có việc làm ở
thành thị 4,58 4,39 4,16 4,00 3,80
(Nguồn: Kế hoạch 96/KH-UBND tỉnh Bắc Giang ngày 13/5/2017)
Trang 372.1.2.3 Đặc điểm giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh từng bước phát triển, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 54 cơ sở đào tạo trong đó: 01 trường đại học; 03 trường cao đẳng; 04 trường Trung cấp nghề; 46 cơ sở có tham gia hoạt động dạy nghề Số lượng lao động được đào tạo tại các cơ sở đào tạo đã phần nào đáp ứng nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp Tuy nhiên với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay một số ngành nghề đòi hỏi người lao động phải có trình độ, chuyên môn kỹ thuật cao mới có thể đáp ứng được với những yêu cầu của doanh nghiệp thì nguồn nhân lực của tỉnh vẫn còn thiếu Chất lượng đào tạo còn bất cập, chưa phát huy được tính sáng tạo và độc lập trong suy nghĩ của học viên, bệnh thành tích vẫn tồn tại trong xã hội, điều này dẫn đến việc đào tạo ra một đội ngũ có bằng cấp nhưng kiến thức và năng lực không tương xứng Hằng năm có nhiều học viên ra trường nhưng không tìm được việc làm, do không đáp ứng được yêu cầu của người
sử dụng lao động, làm việc chưa đúng với chuyên môn được đào tạo vì vậy không thể đạt được hiệu quả cao trong công việc, nhà tuyển dụng khi nhận lao động thường phải đào tạo bổ sung mới sử dụng được
2.1.3 Đặc điểm bộ máy quản lý xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Giang
2.1.3.1 Bộ máy tổ chức quản lý về xuất khẩu lao động của tỉnh
Sau khi Bộ Chính trị có Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 29/8/1998 về XKLĐ và chuyên gia, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ra Nghị quyết số 42/NQ-TU về Chương trình giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó XKLĐ là một giải pháp quan trọng UBND tỉnh đã có văn bản số 1434/CV-CT ngày 22/10/2002, văn bản số 1537/CV-CT ngày 8/9/2004 chỉ đạo về công tác xuất khẩu lao động trong đó nêu chủ trương, định hướng và nhiệm vụ của các cấp, các ngành phải thực hiện Tỉnh
uỷ, UBND tỉnh cũng tổ chức các hội nghị chuyên đề chỉ đạo triển khai công tác xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh
Ngày 20/02/2012 UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định số UBND về việc thành lập Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động nhằm mục đích tăng cường công tác xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh, thành phần và trách nhiệm của các thành viên trong Ban chỉ đạo như sau:
19/QĐ-+ Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban phụ trách chung và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về tiến độ thực hiện và kết quả của Đề án XKLĐ Phân công các thành viên trong Ban chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được giao;
+ Sở Lao động – TB&XH làm Phó Trưởng ban thường trực có trách nhiệm thực hiện sự chỉ đạo các công việc của Trưởng ban ủy quyền, điều hành theo kế hoạch đã được Ban chỉ đạo thống nhất, giải quyết những công việc thường xuyên
Trang 38của Ban chỉ đạo, trực tiếp giải quyết mọi vướng mắc, khiếu nại, tố cáo trong quá trình triển khai, tổng hợp chung tình hình để báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Chỉ đạo nghiệp vụ và tổng hợp báo cáo công tác XKLĐ; giới thiệu các doanh nghiệp có chức năng hoạt động XKLĐ về các địa phương trong tỉnh tuyển lao động; tập huấn nâng cao nhận thức
và nghiệp vụ quản lý công tác XKLĐ cho cán bộ làm công tác Lao động TB&XH các cấp; kiểm tra, giám sát hoạt động XKLĐ
+ Sở Giáo dục & Đào tạo chủ trì phối hợp với Sở Lao động - TB&XH thực hiện các giải pháp mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho các Trường Trung cấp chuyên nghiệp, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Dạy nghề trên địa bàn tỉnh
+ Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các ngành liên quan, nghiên cứu, đề xuất
và cùng Sở Lao động – TB&XH trình UBND tỉnh các giải pháp hỗ trợ về vốn, chế
độ khuyến khích xuất khẩu lao động, kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo Đồng thời quản lý, cấp phát, hướng dẫn sử dụng, thanh quyết toán phần kinh phí thực hiện; + Công an tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn làm thủ tục xuất nhập cảnh cho người lao động, chủ động phối hợp với các ngành xây dựng biện pháp ngăn chặn và xử lý các hiện tượng lừa đảo gây thiệt hại tới người lao động;
+ Sở Thông tin truyền thông có trách nhiệm triển khai công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh đến các huyện/thị xã/thành phố và các xã, phường, thị trấn về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức đối với công tác xuất khẩu lao động trong mọi tầng lớp nhân dân;
+ Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm cân đối các nguồn nhân lực phục vụ công tác xuất khẩu lao động, trong quá trình cấp giấy phép kinh doanh đối với ngành và nghề liên quan đến xuất khẩu lao động, đào tạo bồi dưỡng kiến thức cần
có sự phối hợp với Sở Lao động - TB&XH đề xuất những giải pháp hữu hiệu;
+ Ngân hàng Chính sách xã hội có trách nhiệm hướng dẫn lao động tham gia xuất khẩu lao động vay vốn phục vụ công tác xuất khẩu lao động theo quy chế, thể
lệ của nhà nước;
Trang 39Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý xuất khẩu lao động cấp tỉnh
(Nguồn: Tác giả, căn cứ Quyết định số 19/QĐ-UBND Ngày 20/02/2012) 2.1.3.2 Hoạt động của ban chỉ đạo xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Giang
Xây dựng kế hoạch theo giai đoạn về XKLĐ của tỉnh:
+ Trong kế hoạch giải quyết việc làm hàng năm và giai đoạn 5 năm, căn cứ tình hình phát triển kinh tế xã hội theo từng năm, từng giai đoạn Sở Lao động - TB&XH là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo XKLĐ tỉnh đã đề nghị UBND cấp huyện căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội xây dựng kế hoạch về XKLĐ hàng năm Sau đó Sở tổng hợp và báo cáo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh để được phê duyệt
và đưa vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Các cơ quan đơn vị tham gia xây dựng kế hoạch gồm có: Sở Lao động - TB&XH, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, UBND và Phòng Lao động - TB&XH các huyện/thành phố
+ Căn cứ nhiệm vụ được phân công, Ban chỉ đạo XKLĐ tỉnh chỉ đạo UBND cấp huyện hướng dẫn các doanh nghiệp về tuyển lao động tại địa bàn xã, phường; chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với doanh nghiệp mở hội nghị tuyên truyền
và bàn biện pháp tổ chức hoạt động XKLĐ có hiệu quả Một số huyện đã xây dựng
Ban chỉ đạo XKLĐ tỉnh (Lãnh đạo UBND tỉnh – Trưởng ban)
Đào tạo (Phó trưởng ban)
Sở Kế hoạch &
Đầu tư (Thành viên)
Sở Thông tin truyền thông (Thành viên)
Ngân hàng CSXH tỉnh (Thành viên)
Trang 40cơ chế hỗ trợ người lao động từ nguồn ngân sách địa phương, qua đó tạo điều kiện cho người lao động, nhất là lao động nghèo tham gia XKLĐ
Tuyên truyền về các chính sách pháp luật về XKLĐ trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền về hiệu quả của XKLĐ thông qua cơ quan báo chí và truyền hình của tỉnh, các trang thông tin điện tử của các sở ban ngành; tổ chức các hội thảo, hội nghị để phổ biến các chính sách pháp luật mới về XKLĐ cho các cán bộ thực hiện nhiệm vụ
và người dân
Nâng cao chất lượng nguồn lao động qua việc đầu tư tập trung vào 5 trường dạy nghề trọng điểm của tỉnh trên tổng số 105 cơ sở đào tạo nghề; Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở dạy nghề đang từng bước được đầu tư hoàn thiện, giai đoạn 2011-2015 kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất từ các Chương trình, Dự án về dạy nghề là: 621.581 triệu đồng (trong đó: từ chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề là 330.225 triệu đồng; từ Ngân sách địa phương là: 76.473 triệu đồng) đầu tư cho 15 trường, cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Ngoài ra Bắc Giang cũng thực hiện chính sách thu hút khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực đào tạo lao động xuất khẩu tại địa phương và hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo
Hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ về tuyển chọn lao động tại địa bàn như: thông tin về chính sách quy định của địa phương về quản lý hoạt động XKLĐ, thông tin về thị trường lao động của tỉnh, thông tin về chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
Tạo thuận lợi trong việc kết nối trực tiếp và gián tiếp giữa các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ với người lao động có nhu cầu đi XKLĐ của tỉnh
Kiểm tra, giám sát hoạt động tuyển chọn và đưa người lao động của tỉnh đi XKLĐ thông qua các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ Hàng năm, Ban chỉ đạo XKLĐ đã tiến hành kiểm tra, giám sát các chương trình giải quyết việc làm theo đúng quy định, công tác tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, phát hiện mô hình
và nhân diện rộng được quan tâm thường xuyên; qua đó đề ra các giải pháp khắc phục kịp thời những vướng mắc, tồn tại Việc thực hiện cụ thể như sau:
- Quản lý, theo dõi hoạt động của các doanh nghiệp tuyển lao động trên địa bàn tỉnh: Sau khi kiểm tra tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, Ban chỉ đạo XKLĐ tỉnh
giới thiệu về các huyện, thành phố và chỉ đạo việc theo dõi, quản lý đối với hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức trong quá trình hoạt động tuyển chọn lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn UBND các huyện, thành phố kiểm tra hồ sơ, kế hoạch tuyển lao động của doanh nghiệp và tiếp tục giới thiệu doanh nghiệp xuống các xã, phường, thị trấn để tuyển chọn lao động; yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghiêm chế
độ thông tin báo cáo theo đúng quy định của pháp luật