1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của interleukin 6 trong cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm khớp dạng thấp và hiệu quả của thuốc ức chế interleukin 6-tocilizumab trong điều trị bệnh

5 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 274,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêm khớp dạng thấp - một bệnh khớp viêm mạn tính có biểu hiện không chỉ tại màng hoạt dịch, toàn bộ khớp mà còn có biểu hiện tại nhiều cơ quan, có tính chất hệ thống. Interleukin 6 (IL-6) là một cytokin đa chức năng có tác động sinh học rộng lớn điều hòa nhiều quá trình bao gồm các đáp ứng viêm cấp tại gan, chuyển hóa sắt, tạo máu, chuyển hóa xương và các bệnh lý tim mạch. IL-6 là nguồn gốc chính gây nhiều triệu chứng của bệnh. Hiểu biết về IL-6 mang lại tiến bộ lớn trong điều trị.

Trang 1

1 Vai trò của Interleukin 6 trong bệnh viêm

khớp dạng thấp

- Sơ lược về IL-6

IL-6 là một cytokine đa chức năng có tác

động sinh học rộng lớn điều hòa nhiều quá trình

bao gồm các đáp ứng viêm cấp tại gan, chuyển

hóa sắt, tạo máu, chuyển hóa xương và các

bệnh lý tim mạch IL-6 ảnh hưởng tới khớp thông

qua sản xuất yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch

máu (vascular endothelial growth factor- VEGF)

góp phần hình thành màng máu màng hoạt dịch

Pannus, kích thích hủy cốt bào trưởng thành và

tăng hoạt hóa và là chất trung gian trong quá trình

viêm mạn tính (tập hợp bạch cầu) IL-6 gây các

triệu chứng toàn thân do Il-6 là tác nhân kích thích

chính trong tổng hợp protein viêm giai đoạn cấp;

có mối liên quan giữa IL-6 và tình trạng thiếu máu

trong bệnh lý viêm; IL-6 kích thích tổng hợp cả

acid béo của gan và ly giải mô mỡ gây rối loạn lipid máu và tăng nguy cơ các biến cố tim mạch IL-6 tác động trên hệ miễn dịch do đóng vai trò chính trong điều hòa các tác nhân tham gia vào quá trình miễn dịch dịch thể (tế bào B), miễn dịch tế bào (tế bào T), hủy cốt bào IL-6 có thể duy trì đáp ứng tự kháng thể trong VKDT thông qua hoạt hóa TH17 IL-6 một cytokine được tìm thấy nhiều nhất trong dịch ổ khớp, là nguyên nhân chính gây ra các triệu chứng mạn tính toàn thân và tại chỗ trong bệnh VKDT IL-6 là một loại cytokine tiền viêm tạo

ra bởi nhiều loại tế bào khác nhau bao gồm tế bào

T và tế bào B, tế bào bạch cầu, bạch cầu đơn nhân và nguyên bào sợi IL-6 kết hợp trưc tiếp với phức hợp thụ thể màng IL-6 và glycoprotein-130 dẫn tới hoạt hóa tế bào viêm như đại thực bào và bạch cầu trung tính từ đó kích hoạt các phản ứng viêm, gây hủy hoại sụn khớp, xương IL-6 cũng

VAI TRÒ CỦA INTeRLeUKIN 6 TRONG CƠ CHẾ BỆNH sINH

CỦA BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP Và HIỆU QUẢ CỦA THUỐC

ỨC CHẾ INTeRLeUKIN 6-TOCILIZUMAB TRONG đIỀU TRỊ BỆNH

nguyễn thị ngọc lan*

*Trường Đại học Y Hà Nội - Hội Thấp khớp học Việt Nam

TÓM TẮT

Viêm khớp dạng thấp - một bệnh khớp viêm mạn tính có biểu hiện không chỉ tại màng hoạt dịch, toàn bộ khớp mà còn có biểu hiện tại nhiều cơ quan, có tính chất hệ thống Interleukin 6 (IL-6) là một cytokin đa chức năng có tác động sinh học rộng lớn điều hòa nhiều quá trình bao gồm các đáp ứng viêm cấp tại gan, chuyển hóa sắt, tạo máu, chuyển hóa xương và các bệnh lý tim mạch IL-6 là nguồn gốc chính gây nhiều triệu chứng của bệnh Hiểu biết về IL-6 mang lại tiến bộ lớn trong điều trị: thuốc

ức chế Interleukin 6-Tocilizumab kiểm soát được quá trình viêm khớp, bảo tồn cấu trúc khớp, tránh tàn phế, cải thiện được các triệu chứng toàn thân, cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân Hiệu quả

và tính an toàn của thuốc được chứng minh qua các nghiên cứu trong và ngoài nước

Từ khóa: Viêm khớp dạng thấp, Interleukin 6 (IL-6), thuốc ức chế Interleukin 6, Tocilizumab

Khoảng 0,1-1% dân số thế giới mắc bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT) tùy theo quốc gia Tỷ lệ này ở Việt Nam là 0,28% dân số Bệnh diễn biến mạn tính và bệnh nhân nhanh chóng trở thành tàn phế, giảm tuổi thọ Tổn thương biểu hiện không chỉ tại màng hoạt dịch, toàn bộ khớp mà còn có biểu hiện tại nhiều cơ quan, có tính chất hệ thống: thiếu máu, loãng xương, rối loạn mỡ máu, tăng nguy

cơ tim mạch đột quỵ Trên cơ sở hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của bệnh, điều trị nhắm đích là bước tiến mới của Y học hiện đại

Trang 2

có khả năng hoạt hóa các tế bào không có thụ

thể màng IL-6 miễn là chúng có chứa thụ thể

gp-130 phổ biến Cơ chế này liên quan tới thụ thể

dạng hòa tan của IL-6 Sự gia tăng nồng độ IL-6

cũng như nồng độ thụ thể IL-6 dạng hòa tan có

liên quan đến mức độ trầm trọng của bệnh và sự

tiến triển của bệnh

Trong khớp các tế bào hoạt dịch có thể tự tạo

ra IL-6 tại chỗ gây ra tình trạng viêm tiến triển tại

các khớp này Dưới tác động của IL-6, các tế bào

lympho B sẽ sản xuất ra yếu tố dạng thấp RF, từ đó

tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng trong khớp

và gây tổn thương khớp IL-6 cũng kích thích các tế

bào màng hoạt dịch sản xuất ra yếu tố tăng trưởng

mạch máu, từ đó hoạt hóa các tế bào nội mô mao

mạch màng hoạt dịch sản xuất ra các phân tử kết

dính, thu hút các loại tế bào viêm đến khoang khớp

Hậu quả của quá trình này là hình thành màng máu

màng hoạt dịch gây hủy hoại sụn khớp, đầu xương

dưới sụn, cuối cùng dẫn đến xơ hóa, dính và biến

dạng khớp IL-6 kích thích các tế bào hủy xương

hoạt động làm tăng quá trình tiêu xương, từ đó dẫn

đến tiêu xương và hủy khớp Phần dưới đây trình

bày chi tiết một số vai trò của IL-6 trong cơ chế

bệnh sinh của bệnh viêm khớp dạng thấp

- Vai trò của IL-6 trong đáp ứng miễn dịch

VKDT được đặc trưng bởi sự gia tăng yếu tố

dạng thấp (kháng thể IgM và IgG RF) và kháng

anti CCP trong cả huyết thanh và khớp Tế bào

B có vai trò trong sự tạo ra các kháng thể này và

ức chế tế bào B sẽ là một phương pháp điều trị

bệnh IL-6 đã được xác định là một yếu tố biệt hóa

tế bào B

Ngoài việc phát triển tế bào B, IL-6 ảnh hưởng

sự phát triển tế bào T Khi được kích hoạt, các tế

bào T ban đầu phát triển và tế bào T trưởng thành

được chia tiếp thành có tính chất tiền viêm như

Th1 Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng

các tế bào TH17 là những trung gian quan trọng

trong các bệnh tự miễn dịch và bảo vệ vật chủ

chống lại các mầm bệnh ngoại bào Tế bào TH17

sản xuất IL-17, -12 và -22

Tế bào TH17 cũng tham gia vào các phản

ứng bảo vệ chủ chống lại vi khuẩn và nấm, cho

thấy rằng IL-6 có thể đóng góp gián tiếp đến nhiễm

trùng chiến đấu thông qua TH17 phát triển tế bào

Nhìn chung, những phát hiện này chứng minh rằng IL-6 có vai trò quan trọng trong sự phát triển của các phản ứng miễn dịch thích ứng và có thể được tham gia vào cơ chế bệnh sinh của VKDT

- Vai trò của IL-6 trong việc chuyển từ giai đoạn viêm cấp tính đến tình trạng viêm mạn tính

Bạch cầu trung tính có khả năng giải phóng các enzym phân giải protein và chất trung gian nên

có vai trò quan trọng trong hiện tượng viêm và phá hủy khớp trong bệnh VKDT IL-6 tác động trực tiếp trên bạch cầu trung tính qua receptor của IL-6 tại màng tế bào Đã có bằng chứng chứng minh ức chế IL-6 sẽ ngăn chặn sự bám dính của bạch cầu trung tính Tác động khác của IL-6 trên bạch cầu trung tính bao gồm duy trì sự tồn tại của bạch cầu trung tính, hoạt hóa tăng sinh bạch cầu thông qua qua các cytokine viêm, huy động tập trung bạch cầu trung tính từ tuần hoàn và từ tủy xương Việc giải phóng các receptor IL-6 hòa tan cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình viêm cấp cũng như mạn tính Trong pha viêm cấp tính trong của bệnh VKDT, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào

và các tế bào nội mô giải phóng IL-6, kèm theo tăng bạch cầu trung tính tại dịch khớp Khi bệnh tiến triển, IL-6 được cho là yếu tố ảnh hưởng đến

sự chuyển đổi từ viêm cấp tính đến viêm mạn tính,

do sự tác động đến bạch cầu đơn nhân

- Vai trò của IL-6 trong các biểu hiện tại khớp của bệnh VKDT

Nồng độ IL-6 tăng cao trong màng hoạt dịch của bệnh nhân VKDT và tương quan thuận với mức độ viêm và tình trạng phá hủy khớp ở bệnh nhân IL-6 có vai trò trên quá trình này thông qua tác động đối với yếu tố VEGF ở bệnh nhân VKDT VEGF là một yếu tố tạo mạch mạnh làm tăng sự tập trung và sự phát triển của các tế bào nội mô, cũng như gây tăng tính thấm thành mạch và là chất trung gian viêm Có mối tương quan thuận giữa sự tăng nồng độ VEGF ở bệnh nhân RA và mức độ hoạt động bệnh, cho thấy VEGF có vai trò đặc biệt trong việc hình thành pannus (màng máu màng hoạt dịch) IL-6, với sự có mặt của receptor IL-6 hòa tan gây tăng nồng độ VEGF trong nguyên bào sợi màng hoạt dịch nuôi cấy từ bệnh nhân VKD và khi sử dụng kháng thể kháng IL-6 hòa tan thấy giảm đáng kể nồng độ VEGF

Trang 3

- Ảnh hưởng của IL-6 trên tổn thương bào

mòn xương

Tổn thương khớp trong VKDT được đặc

trưng bởi tổn thương bào mòn xương tại vị trí

bám của màng hoạt dịch và hẹp khe khớp, biểu

hiện của hiện tượng phá hủy của xương và sụn

khớp Trong nghiên cứu trên người và động vật,

tổn thương này được xác định là do hủy cốt bào

gây ra IL-6 gây tăng số lượng hủy cốt bào bằng

cách tác động vào các tế bào gốc tạo máu từ các

bạch cầu hạt, đại thực bào dòng hạt

Trong bệnh VKDT, IL-6 và receptor IL-6 hòa

tan gây hiệu ứng tiêu xương ở các tế bào giống

hủy cốt bào thu được từ dịch khớp của bệnh nhân

VKDT Quá trình này bị ức chế bởi các chất ức chế

IL-6 IL-6 cũng gây ảnh hưởng đối với các thành

phần của sụn khớp Proteoglycan là thành phần

chính của sụn khớp và sự sụt giảm chất này ở

bệnh nhân VKDT góp phần vào sự suy thoái sụn

IL-6 hoặc receptor IL-6 hòa tan đơn độc sẽ ức chế

chế trên tổng hợp proteoglycan, song sự kết hợp

của cả 2 thành phân này làm gia tăng rõ rệt tác

động này Như vậy có thể thấy vai trò quan trọng

đối với IL-6 trong việc gây ra tổn thương khớp

- Vai trò của IL-6 trong sự phát triển của các

triệu chứng toàn thân của VKDT

Các phản ứng ở giai đoạn cấp tính, một trong

những phản ứng đầu tiên của cơ thể được đặc

trưng bởi một số thay đổi mang tính hệ thống Quá

trình này bao gồm sự phóng thích các cytokine tiền

viêm và tăng protein pha viêm cấp tính Protein

pha viêm cấp tính được sản xuất trong gan (ví dụ

như CRP) và IL-6 là một chất chính kích thích gan

thực hiện quá trình này Ở bệnh nhân VKDT, nồng

độ IL-6 huyết thanh tương quan với nồng độ CRP

và hiện nay IL -6 được dễ dàng định lượng được

các trong dịch sinh học và được sử dụng như một

dấu ấn sinh học của tình trạng viêm và đánh giá

mức độ hoạt động bệnh

- Tình trạng thiếu máu do viêm mạn tính

Thiếu máu là biểu hiện hệ thống phổ biến

nhất của VKDT, được định nghĩa là hemoglobin

(Hb) mức <13 g/dl ở nam giới và < 12 g/dl ở phụ

nữ Hơn một phần ba số bệnh nhân VKDT và

trong một phần tư số bệnh nhân trong năm đầu

tiên của bệnh có biểu hiện này Bệnh nhân VKDT

thiếu máu bị ảnh hưởng về thể chất nghiêm trọng hơn so với những bệnh nhân không bị thiếu máu Các hepcidin peptide được sản xuất bởi các tế bào gan và điều chỉnh sự trao đổi chất sắt bằng cách ngăn chặn vận chuyển sắt và giải phóng sắt từ đại thực bào Trên thực nghiệm, IL-6 kích thích các tế bào gan người sản xuất hepcidi Hơn nữa, IL-6 gây tăng tiết hepcidin gấp 7,5 lần ở người tình nguyện khỏe mạnh Như vậy, mối liên quan giữ IL-6 và hepcidin đóng một vai trò quan trọng trong sự thiếu máu trong quá trình viêm ở nhiều bệnh nhân VKDT

- Loãng xương toàn thân

Loãng xương là một biểu hiện hệ thống chung ở bệnh nhân VKDT Bình thường, cơ thể có

sự cân bằng giữa hoạt động của hủy cốt bào và tạo cốt bào Sự mất cân bằng của quá trình này có thể dẫn đến mất xương toàn thể và thực nghiệm cho thấy IL-6 gây hiện tượng này

- Mệt mỏi và trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận

Có 41% số bệnh nhân VKDT than phiền về mệt mỏi ở các mức độ Các nghiên cứu trên tình nguyện viên khỏe mạnh cho thấy có sự gia tăng mệt mỏi và ngủ, giảm mức độ hoạt động và thiếu tập trung sau dùng IL-6 so với giả dược Đã chứng minh được những hiệu ứng IL-6 gây ra có liên quan tới hoạt động chức năng của trục dưới đồi

- tuyến yên - tuyến thượng thận Có mối liên quan giữ sự gia tăng nồng độ IL-6 huyết thanh với mức

độ mệt mỏi ở bệnh nhân VKDT

- IL-6, lipid và viêm

Bệnh nhân VKDT có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch Có các biểu hiện của xơ vữa ở các cấp

độ khác nhau, trong đó có rối loạn chức năng nội

mô và rồi loạn lipid máu Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ CRP cao có liên quan với sự gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tỷ lệ nhập viện và tử vong Tình trạng viêm do các tác động của IL-6 làm giảm nồng độ lipid lưu hành Khi các tình nguyện viên khỏe mạnh bình thường sử dụng IL-6 trong vòng 24h cho thấy nồng độ cholesterol, apolipoprotein B

và triglyceride giảm Cơ chế chính xác mà IL-6 gây

ra những thay đổi này vẫn chưa được biết Tuy nhiên, IL-6 ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa lipid bằng cách kích thích sự tổng hợp acid béo

ở gan và mô mỡ phân giải lipid Tăng nồng độ

Trang 4

triglycerid do giảm hoạt tính của lipoprotein lipase

trong mô mỡ; giảm cholesterol toàn phần do giảm

cả HDL and LDL dẫn đến thay đổi tỷ lệ: ApoB/

ApoA; Cholesterol toàn phần/ HDL; HDL/LDL và

làm tăng nguy cơ tim mạch

Độc lập với tác động trên lipid, IL-6 và CRP

có liên quan với tăng nguy cơ tim mạch ở người

bình thường khỏe mạnh cả 2 giới. Viêm nhiễm có

thể đóng một vai trò trong sự phát triển của xơ vữa

động mạch Nồng độ protein ở giai đoạn viêm cấp

tính, chẳng hạn như CRP được chứng minh là có

mối liên quan tới các sự cố tim mạch CRP- một

protein pha cấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp

được cho là yếu tố góp phần tạo xơ vữa động mạch

bằng cách kích thích các đại thực bào sản xuất yếu

tố mô tiền đông được tìm thấy trong mảng xơ vữa

động mạch) IL-6 làm gia tăng sản xuất CRP do

đó liên quan đến quá trình này IL-6 cũng có thể

làm tăng số lượng tiểu cầu trong máu có thể dẫn

đến sự hình thành các cục máu đông và do đó làm

tăng nguy cơ bệnh động mạch vành Hơn nữa, một

nghiên cứu mới đây cho rằng nồng độ IL-6 có giá trị

tiên lượng biến cố mạch vành ở bệnh nhân đau thắt

ngực không ổn định Hơn nữa, IL-6 có mối quan

với tỷ lệ tử vong tăng ở bệnh nhân hội chứng mạch

vành cấp tính Những bệnh nhân có biến chứng tim

mạch thường có nồng độ IL-6 huyết thanh cao hơn

đáng kể so với những bệnh nhân không có biến

chứng Ngoài ra, giảm trong IL-6 trong vòng 48h

cho thấy giảm tỷ lệ biến chứng trong khi khi tăng

IL-6 được cho là nguyên nhân gây tăng các biến

chứng của bệnh động mạch vành

2 Hiệu quả của thuốc ức chế Interleukin

6-Tocilizumab trong điều trị bệnh viêm khớp

dạng thấp

- Cơ chế tác dụng của tocilizumab

Tocilizumab là một loại kháng thể đơn dòng

được tái tổ hợp nhân bản hóa, nhắm đến cả các thụ

thể màng và các thụ thể hòa tan của IL-6 Nghiên

cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy, tocilizumab

có thể ức chế cả hai con đường truyền tín hiệu qua

màng tế bào của IL-6 Tocilizumab ngăn chặn con

đường truyền tín hiệu thông thường bằng cách kết

hợp với các thụ thể màng của IL-6 và làm giảm hoạt

động của IL-6 trên các tế bào có chứa thụ thể tiếp

nhận IL-6 Tương tự tocilizumab có thể ngăn chặn

việc truyền tín hiệu trực tiếp qua Il-6 trên nhiều loại

tế bào khác bằng cách can thiệp vào sự kết hợp IL-6 với các thụ thể dạng hòa tan của IL-6

- Hiệu quả của thuốc ức chế Interleukin 6- Tocilizumab trong một số nghiên cứu

Các nghiên cứu về hiệu quả của thuốc ức chế IL-6 trong điều trị VKDT cho thấy các kết quả ngoạn mục Nghiên cứu LITHE theo dõi sau 2 năm điều trị ở những bệnh nhân VKDT đáp ứng không đầy

đủ với Methotrexate cho thấy Tocilizumab có cải thiện hoạt tính bệnh về lâm sàng, ức chế hủy khớp (qua đánh giá tổng điểm Sharp Genant) và cải thiện chức năng thể chất và thuốc có tính an toàn Trong 12 tháng đầu, bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để dùng giả dược-MTX, 4mg/kg tocilizumab-MTX, hoặc 8mg/kg tocilizumab-MTX Trong năm thứ 2, bệnh nhân tiếp tục điều trị mù đôi ban đầu hoặc chuyển sang mở nhãn 8mg/kg tocilizumab-MTX Các tiêu chí chính để đánh giá ở tuần 104 là thay đổi trung bình của tổng điểm Sharp Genant được điều chỉnh (GmTSS) so với ban đầu và giá trị trung bình được điều chỉnh của diện tích dưới đường cong (AUC) cho sự thay đổi của chỉ số tàn phế - bảng câu hỏi đánh giá sức khỏe (HAQ-DI)

so với trước điều trị Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm khớp dạng thấp và tính an toàn cũng được đánh giá Kết quả cho thấy: Tại tuần 104, trung bình thay đổi so với ban đầu của GmTSS thấp hơn đáng kể ở nhóm dùng tocilizumab-MTX

4 mg/kg (0,58; p = 0,0025) hoặc 8 mg/kg (0,37; p

<0,0001) so với bệnh nhân dùng giả dược-MTX (1,96) Thay đổi trung bình AUC của HAQ-DI so với trước điều trị cũng thấp hơn đáng kể ở những bệnh nhân ban đầu được chọn ngẫu nhiên để dùng tocilizumab-MTX 4 mg/kg (-287,5; p <0,0001) hoặc

8 mg/kg (-320,8; p <0,0001) so với bệnh nhân ban đầu ngẫu nhiên dùng giả dược-MTX (-139,4) Các triệu chứng của viêm khớp dạng thấp được cải thiện Không có các tác dụng không mong muốn

Có nhiều nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân người Việt, song chúng tôi chỉ trích dẫn kết quả của một nghiên cứu đã được xuất bản năm 2014 Mặc

dù với thời gian ngắn (03 tháng) cũng mang lại kết quả khả quan Đối tượng gồm 60 bệnh nhân được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp theo tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ 1987, điều trị tại Khoa

Cơ xương khớp - Bệnh viện Bạch Mai, thời gian

Trang 5

Rheumatoid arthritis - a chronic inflammatory joint disease has manifestation not only in the synovial membrane, the whole joint but also expressed in many organs, systemically Interleukin 6 (IL-6) is a multi-functional cytokine which has broadly biological impact to regulate various processes including acute phase response in the liver, iron metabolism, hematopoietic, bone metabolism and cardiovascular diseases IL-6 is the main cause of many symptoms of the disease Understanding about IL-6 brings major advances in treatment: Interleukin 6 inhibitor -Tocilizumab controls the arthritis process, preserves joint structure, prevents disability, improves the systemic symptoms, improves quality of patients’ life Efficacy and safety of the drug were proven by studies in local country and abroad

từ tháng 3/2012 đến tháng 8/2013 60 bệnh nhân

này được chia làm 2 nhóm một cách ngẫu nhiên

Nhóm 1: được điều trị 04 liều tocilizumab (Actemra)

8mg/kg/liều truyền tĩnh mạch mỗi 4 tuần phối hợp

với methotrexat Nhóm 2, chỉ điều trị methotrexat

đơn độc Đánh giá kết quả sau điều trị mỗi 04 tuần

Kết quả cho thấy sau 12 tuần điều trị, phác đồ

Tocilizumab phối hợp với methotrexat đạt kết quả

cao hơn methotrexat đơn độc trong cải thiện mức

độ hoạt động của bệnh viêm khớp dạng thấp: nhóm

bệnh nhân dùng tocilizumab (04 liều) phối hợp với

methotrexat có tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng theo ACR

20, 50 và điểm hoạt động bệnh DAS28 khác biệt

có ý nghĩa so với nhóm dùng methotrexat đơn độc, với lần lượt là p<0,05 và <0,001 Tỷ lệ tác dụng không mong muốn tương đương ở cả hai nhóm (26,7%) bao gồm nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, triệu chứng tiêu hóa, viêm miệng, tăng huyết áp, tăng men gan mức độ nhẹ

3 Kết luận

Interleukin 6 (IL-6) là một cytokin đa chức năng có vai trò chính trong cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm khớp dạng thấp IL-6 ảnh hưởng tới cả triệu chứng tại khớp và toàn thân Thuốc ức chế Interleukin 6-Tocilizumab đạt hiệu quả cao và an toàn trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp

TàI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Thượng Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Lan

(2014)” Đánh giá kết quả của tocilizumab

(Actemra) phối hợp với methotrexat trong điều trị

viêm khớp dạng thấp”, Tạp chí Nội khoa Việt Nam,

số đặc biệt (tháng 12/2014) Trang 97-105

2 Cronstein BN (2007), “Interleukin-6-a key

mediator of systemic and local symptoms in

rheumatoid arthritis”, Bull NYU Hosp Jt Dis 2007;65

Suppl 1:S11-5

3 Dayer J M and E Choy, (2010), “Therapeutic

targets in rheumatoid arthritis: the interleukin-6

receptor” Rheumatology (Oxford), 49(1): p 15-24

4 Kremer J M, Blanco R, Brzosko M et al,

(2011), Tocilizumab inhibits structural joint damage

in rheumatoid arthritis patients with inadequate

responses to methotrexate: reusults from the

double-blind treatment phase of a randomized

placebo-controlled trial of tocilizumab safety and prevention of structural joint damage at one year (LITHE study), Arthtitis Rheum, 63(3), p 609-21

5 McInnes IB, Schett G (2007) “Cytokines in the pathogenesis of rheumatoid arthritis” Nat Rev Immunol 2007;7:429-42

6 Sarwar N, et al (2012) “Interleukin-6 receptor pathways in coronary heart disease:

a collaborative meta-analysis of 82 studies” Lancet 2012 Mar 31;379(9822):1205-13

7 Scheller, J., et al.(2011), The pro- and anti-inflammatory properties of the cytokine interleukin-6

Biochim Biophys Acta, 2011 1813(5): p 878-88

8 Yoshitake F, et al (2008) “Interleukin-6 directly inhibits osteoclast differentiation by suppressing receptor activator of NF-kappaB signaling pathways”

J Biol Chem 2008;283:11535-40

Ngày đăng: 02/11/2020, 07:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w