1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về môi trường và sự gắn bó điểm đến tới hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch biển đảo Việt Nam: Trường Hợp Phú Quốc

20 53 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 459,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này thảo luận tác động của sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về môi trường và sự gắn bó điểm đến tới hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch biển đảo Việt Nam – cụ thể tại đảo Phú Quốc.

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ HIỂU BIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG, ĐỘ NHẠY CẢM VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ GẮN BÓ ĐIỂM

ĐẾN TỚI HÀNH VI TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI MÔI

TRƯỜNG DU LỊCH BIỂN ĐẢO VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP

PHÚ QUỐC

Nhóm tác giả:

Trần Huy Lương_ LH01_Khóa 42 Phan Minh Anh_LH01_Khóa 42 Nguyễn Đỗ Quang Huy_LH01_Khóa 42

GVHD:

ThS Phạm Tô Thục Hân

Tóm tắt: Đề tài này thảo luận tác động của sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về

môi trường và sự gắn bó điểm đến tới hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch biển đảo Việt Nam – cụ thể tại đảo Phú Quốc Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn: nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và nghiên cứu định lượng Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Kết quả thu được qua dữ liệu thu thập từ 120 đối tượng du khách đã từng đi du lịch Phú Quốc từ năm 2014 đến nay đã khẳng định mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố: Sự hiểu biết về môi trường, Độ nhạy cảm về môi trường, Sự gắn bó điểm đến tới Hành vi trách nhiệm của du khách đến môi trường du lịch biển đảo Việt Nam, cụ thể ở Phú Quốc

Từ khóa: Sự hiểu biết về môi trường; Độ nhạy cảm về môi trường; Sự gắn bó điểm

đến; hành vi trách nhiệm của du khách; Du lịch bền vững; Phát triển bền vững

1 GIỚI THIỆU

Là một nước tiềm năng phát triển du lịch biển đảo với hơn 3260 km đường bờ biển

và 2773 đảo ven bờ Trong đó, Phú Quốc là trung tâm phát triển du lịch biển của vùng biển phía Nam; Dưới ảnh hưởng của dự thảo luật đặc khu thì bối cảnh bất động sản nghỉ dưỡng ở đây đang bùng nổ Việc khai thác du lịch biển ở Phú Quốc gắn liền với hành vi của con người do đó sẽ gây nên những tác động hai chiều giữa lợi ích về kinh tế và tình trạng của môi trường thiên nhiên Vậy nên, việc bảo tồn môi trường cũng như hệ sinh thái biển đảo ở Phú Quốc là rất quan trọng và cần thiết Trong đó, nhận thức và thái độ của du khách về môi trường có tác động trực tiếp đến hành vi trách nhiệm đối với môi trường

Trước đó đã có nhiều nghiên cứu về hành vi trách nhiệm của du khách đến môi trường Nhóm tác giả đã tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây có liên quan đến đề tài này được thực hiện ở các điểm đến quốc tế khác nhau

Trang 2

trên thế giới và nhận thấy rằng các nghiên cứu trước đó chỉ tìm hiểu các yếu tố riêng

lẻ tác động lên hành vi của con người đến môi trường (Cheng & Huang, 2013) Vì vậy, nghiên cứu này nhóm tác giả sẽ làm rõ mối quan hệ trung gian và các ảnh hưởng lẫn nhau giữa các biến, cụ thể mức độ hiểu biết của du khách về môi trường ở đảo Phú Quốc cao hơn sẽ mang lại những tác động tích cực lên các mối quan tâm đến đảo Từ đó tạo nên các cảm giác gắn bó tích cực đối với đảo Xuất phát từ những tâm lý tích cực du khách sẽ có những hành vi có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường biển đảo ở Phú Quốc, mặt khác, khi du khách đã có những mối quan tâm về ảnh hưởng của các hoạt động du lịch, các tác động của con người lên môi trường biển đảo thì khả năng cao phát triển tinh thần trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường

Các kết quả tích cực của bài nghiên cứu như là thước đo cho các cơ quan chức năng trong việc giáo dục sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về môi trường cho người dân và hướng họ đến những hành vi trách nhiệm của du khách đúng đắn để có những tác động tốt lên môi trường Mô hình của bài nghiên cứu này là tiền đề cho các nghiên cứu sau này lên các đối tượng, phạm vi khác ở Việt Nam và xa hơn là khu vực Châu Á và cũng có thể được khái quát ở những đối tượng khác có cùng mối quan tâm - Là các vấn đề với môi trường như các điểm du lịch sinh thái, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn các di sản văn hóa vật thể

Sự hiểu biết về môi trường

Theo các nhà nghiên cứu môi trường (Amy, 1994; Huang & Shin, 2009) thì sự hiểu biết về môi trường chính là mức độ quan tâm đến môi trường tự nhiên và được xác định như là một sự hiểu biết đại chúng bao gồm: Bảo vệ môi trường, môi trường tự nhiên, hệ sinh thái và các thành phần trong hệ sinh thái

Bên cạnh đó, Viện Môi trường Phần Lan (Finnish Environment Institute, 2000) đã

chỉ ra rằng: Sự khác nhau về kiến thức sẽ dẫn đến những hành động khác biệt đối với môi trường Chính vì vậy, mức độ của hiểu biết sẽ khác nhau đối với từng nhóm đối tượng

Việc nâng cao kiến thức, trình độ hiểu biết của người dân vẫn là yếu tố then chốt trong việc gìn giữ, bảo tồn và tôn tạo cảnh quan tự nhiên, đa dạng sinh học của biển đảo Đồng thời, nghiên cứu của 2 nhà khoa học môi trường Wurzinger & Johansson (2006) về sự hiểu biết và độ nhạy cảm về môi trường cũng đã lý giải thêm rằng: Những du khách có sự am hiểu, có kiến thức phong phú về môi trường sẽ quan tâm nhiều hơn về những vấn đề môi trường của địa điểm tham quan và ngược lại Sivek

và Hungerford (1990) đã chỉ ra rằng kiến thức môi trường có thể nâng cao tính nhạy cảm về môi trường của con người, kiến thức môi trường và độ nhạy môi trường sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất của hành vi môi trường

Trang 3

Độ nhạy cảm về môi trường

Peterson (1982) đã xác định độ nhạy cảm về môi trường là “Các thuộc tính tình cảm dẫn đến một cá nhân xem xét môi trường từ một góc nhìn đồng cảm” Nó được chia thành hai phần: "Cá nhân ủng hộ môi trường tự nhiên" và "Có ý định hành động cho một mối quan hệ hài hòa với môi trường tự nhiên" Các cá nhân nhạy cảm với môi trường có một sự đánh giá và quan tâm cơ bản về môi trường tự nhiên, nhưng sự đánh giá cao và mối quan tâm này chưa đủ mạnh để thúc đẩy họ thay đổi hành vi của mình Hungerford và Volk (1990) tiếp tục giải thích rằng độ nhạy cảm về môi trường

là “Một quan điểm đồng cảm đối với môi trường”, được coi là một trong những biến góp phần vào nghĩa vụ công dân về trách nhiệm đối với môi trường; một sự kết hợp chặt chẽ giữa độ nhạy cảm về môi trường và sự phát triển của hành vi thân thiện với môi trường đã được xác định

Độ nhạy cảm về môi trường là biến tiền đề quan trọng của sự gắn bó điểm đến và hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường Nói cách khác, độ nhạy cảm về môi trường của khách du lịch đến các điểm du lịch là rất quan trọng, nó sẽ gia tăng

sự nhận biết về mặt tình cảm của họ với các điểm đến; trong khi chờ đợi, họ cũng sẽ thể hiện hành vi có trách nhiệm đối với các điểm đến này

Sự gắn bó điểm đến

Sự gắn bó điểm đến được hiểu là sự liên kết và chia sẻ giữa con người và nơi chốn (Raymond và cộng sự, 2011; Ruiz,Hernandez, 2014) hoặc nó có thể được định nghĩa

là bất cứ mối quan hệ nào dù tích cực hay tiêu cực giữa con người với một nơi chốn hay địa điểm cụ thể (Hidalgo,Hernandez, 2001; Kyle, Graefe & Manning, 2005; Lee, 2011; Scan, Nell, Gifford, 2010) Không chỉ gắn bó về không gian, các nhà nghiên cứu còn chỉ ra sự gắn bó với nơi chốn còn có thể kết hợp các khía cạnh khác - gia đình, bạn bè, cộng đồng và văn hóa địa phương (Kyle và cộng sự, 2005) Do đó, sự gắn bó bao gồm những ảnh hưởng, niềm tin, cảm xúc, kiến thức và cả hành vi (Dyer

và cộng sự, 2007; Ramkissoon, Weiler & Smith, 2013)

Khi các lý thuyết nhận dạng điểm đến được sử dụng để giải thích thái độ của người dân đối với phát triển du lịch, việc gắn bó thường được đo lường qua hai chiều: (1)

Sự nhận dạng điểm đến (gắn bó tượng trưng hoặc tình cảm với một địa điểm) và (2)

Sự phụ thuộc vào điểm đến (liên quan đến hoạt động chức năng của một địa điểm đối với các hoạt động giải trí) (Dyer và cộng sự, 2007; Lee, 2013; Ramkissoon và cộng sự,2013)

Sự phụ thuộc vào điểm đến phản ánh mức độ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cụ thể của con người, cũng như tầm quan trọng của một điểm đến trong việc đáp ứng các mục tiêu chức năng của các cá nhân (Moore, Graefe, 1994) Ngoài ra, sự phụ thuộc vào một điểm đến có thể dễ dàng gợi ra hành động hoặc hành vi cụ thể từ các cá nhân (Schreyer, Jacob & White, 1981; Williams,Vaske, 2003; Williams và cộng sự, 1992)

Trang 4

Hành vi trách nhiệm đối với môi trường

Hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường là những hoạt động mà không làm tổn hại đến môi trường, có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường sống Và được phân loại thành 2 loại sau: Hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường chung

và hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường cụ thể (Barr và cộng sự, 2011; Halpenny, 2010; Lee và cộng sự, 2013; Ramkissoon, Weiler & Smith, 2013) Hành

vi trách nhiệm của du khách với môi trường chung là nó được tiến hành trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân con người (Hines và

cộng sự, 2011) Hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường cụ thể là nó được biểu hiện bởi một du khách tại một điểm du lịch (Halpenny, 2010; Lee và cộng sự, 2013; Ramkissoon và cộng sự, 2013)

Các học giả đã khái niệm hóa hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường chung bằng cách sử dụng các hành động giáo dục, dân sự, tài chính, pháp lý, thể chất

và thuyết phục (Smith, Sebasto & D’Costa , 1995); bảo tồn năng lượng, di chuyển, vận chuyển, tránh lãng phí, tiêu thụ, tái chế, gián tiếp và các hành vi xã hội liên quan đến việc phục vụ (Kaiser, Wilson, 2004); và hành vi người tiêu dùng, sự sẵn sàng hi sinh và quyền công dân môi trường (Sternetal, 1999; Barretal, 2011; Becken, 2007) chỉ ra rằng khách du lịch thực hiện hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường chung thường xuyên hơn cụ thể

Dựa trên cơ sở kế thừa kết quả của các nghiên cứu đã có, mô hình nghiên cứu được

đề xuất gồm 4 thành phần: Sự hiểu biết về môi trường, Độ nhạy cảm về môi trường,

Sự gắn bó điểm đến, Hành vi trách nhiệm của du khách đối với môi trường Bốn thành phần này được đặt trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau và sẽ được kiểm định

độ phù hợp

Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp tiến hành qua hai giai đoạn: nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng Đầu tiên nhóm tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Chọn mẫu nghiên cứu

Nhóm tác giả chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện vì hạn chế về thời gian cũng như giới hạn về không gian địa lý

Kích thước mẫu nghiên cứu

Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích nhân

tố và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM đều cần phải có một cỡ mẫu đủ lớn Theo Hair và cộng sự (2006) để sử dụng phân tích nhân tố, kích thước mẫu tối thiểu phải

là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1 Còn đối với mô hình SEM, kích thước mẫu gấp 5 lần hoặc tốt hơn là 10 lần số biến quan sát (Kline, 2011,

trang 11-12) Với 6 biến quan sát thuộc biến Sự hiểu biết về môi trường là biến độc lập, 9 biến quan sát trong đó có 4 biến thuộc biến Độ nhạy cảm về môi trường và 5 biến thuộc biến Sự gắn bó điểm đến là biến trung gian, 5 biến quan sát thuộc biến

Hành vi trách nhiệm với môi trường là biến phụ thuộc tạo ra 20 biến quan sát trong

thang đo, dựa theo các cách tính kích thước mẫu đã nêu và khả năng thực hiện khảo sát của bản thân, bằng phương pháp chọn mẫu định mức, nhóm tác giả chọn kích thước mẫu là 120

Diễn đạt và mã hóa thang đo

Bảng 1 Thang đo các khái niệm nghiên cứu

Thang đo gốc Thang đo đã dịch sang tiếng Việt và điều chỉnh Mã hóa

Sự hiểu biết về môi trường (Environmental Knowledge)

I know that excessive ocean

recreational activities will

damage oceanic environments of

islands

(Cheng & Wu, 2015)

Tôi biết việc tổ chức quá nhiều các hoạt động vui chơi giải trí sẽ phá hoại môi trường biển đảo HIEUBIET1

I know that carbon dioxide

emissions by automobiles and

motorcycles will pollute the

islands (Cheng & Wu,

2015)

Tôi biết khí thải CO2 từ các phương tiện sẽ làm ô nhiễm môi trường biển đảo HIEUBIET

2

Trang 6

I know that over extensive

tourism development will

sacrifice natural resources and

environments (Cheng &

Wu, 2015)

Tôi biết việc phát triển du dịch quá rộng rãi sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và

phá hủy môi trường

HIEUBIET

3

I know that, in the trip, the use of

green tableware, such as bowls

and chopsticks will avoid

damage to the

environment (Cheng & Wu,

2015)

Tôi biết trong các chuyến

đi, việc sử dụng đồ dùng cá nhân thân thiện với môi trường sẽ tránh

khỏi việc phá hoại môi trường

HIEUBIET

4

I know that the use of

public transportation or

biking can avoid air

pollution (Cheng & Wu, 2015)

Tôi biết việc sử dụng các phương tiện công cộng và xe đạp sẽ giảm

ô nhiễm không khí

HIEUBIET

5

I know that the maintenance of

ecological balance will enhance

the sustainable development of

islands

(Cheng & Wu, 2015)

Tôi biết việc duy trì cân bằng sinh thái sẽ nâng cao

sự phát triển bền vững cho

Độ nhạy cảm về môi trường (Environmental Sensivity)

Việt và điều chỉnh

Mã hóa

I enjoy natural environment

(Cheng &

Wu, 2015)

Tôi thích môi trường tự

M1

I am concerned about the

ecological preservation in islands

(Cheng & Wu,

2015)

Tôi quan tâm việc bảo tồn

hệ sinh học trên các đảo NHAYCA

M2

I appreciate the natural

environment of

islands (Cheng & Wu, 2015)

Tôi yêu thích môi trường tự nhiên

của biển đảo

NHAYCA M3

I care about the impact of my

living habits on the natural

environments of

islands (Cheng & Wu, 2015)

Tôi quan tâm đến những

c động từ thói quen của mình lên

môi trường biển đảo

NHAYCA M4

Trang 7

Sự gắn bó điểm đến (Place Attachment)

I enjoy traveling in Penghu more

than

other tourism destinations

(Cheng & Wu, 2015)

Tôi thích đi du lịch đến Phú Quốc

hơn bất kì địa điểm du lịch nào khác

GANBO1

I am more satisfied with traveling

in

Penghu than other tourism

destinations (Cheng & Wu,

2015)

Tôi cảm thấy hài lòng với chuyến

du lịch ở Phú Quốc hơn là ở các địa điểm du lịch khác

GANBO2

It is more important to visit

Penghu than other tourism

destinations (Cheng

& Wu, 2015)

Du lịch đến Phú Quốc quan trọng với tôi hơn là du lịch ở các nơi

khác

GANBO3

No other tourism locations can

replace

the tourism of Penghu (Cheng &

Wu, 2015)

Không có địa điểm du lịch nào có thể thay thế được Phú

I have special feelings for the

Penghu and the tourists (Cheng &

Wu, 2015)

Tôi có cảm giác rất đặc biệt

về cả cư dân tại đảo Phú Quốc lẫn du

khách

GANBO5

Hành vi trách nhiệm với môi trường (Environmentally Responsible Behavior)

I try to solve the

environmental problems in

Penghu (Cheng & Wu,

2015)

Tôi luôn cố gắng giải quyết những vấn đề môi trường tại Phú

Quốc

MOITRUO NG1

I read the reports, advertising,

and book related to the

environment of Penghu (Cheng

& Wu, 2015)

Tôi có đọc những mẫu báo cáo, quảng cáo, và sách vở liên quan đến vấn đề môi trường tại Phú

Quốc

MOITRUO NG2

I discuss with others about

environmental protection of

Pengh

u (Cheng & Wu, 2015)

Tôi có bàn luận với mọi người

việc bảo vệ môi trường tại Phú Quốc

MOITRUO NG3

Trang 8

I try to convince companions to

adopt positive behaviors in the

natural environments of Penghu

(Cheng & Wu, 2015)

Tôi cố gắng thuyết phục các thành viên trong tour của mình có hành vi mang tính tích cực đối với môi trường

tự nhiên tại Phú Quốc

MOITRUO NG4

When I see others’ inadequate

environmental behavior in

Penghu, I will report it to the

authorities (Cheng & Wu, 2015)

Khi tôi bắt gặp những người khác có hành vi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường tại Phú Quốc, tôi sẽ báo cáo với chính quyền địa phương

MOITRUO NG5

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu để kiểm định thang đo và sự phù hợp của mô hình nghiên cứu Giai đoạn này được thực hiện thông qua việc khảo sát ngẫu nhiên các đối tượng khách du lịch nội địa đã từng tham gia hoạt động du lịch ở Phú Quốc bằng bản câu hỏi khảo sát giấy và biểu mẫu khảo sát online Dữ liệu được thu thập trong 1 tháng (từ tháng 25/01 đến tháng 25/02 năm 2019), với số lượng bản hỏi phát ra là 150 bản, thu về 134 bản, có 120 bản câu hỏi hữu dụng được đưa vào xử lý và phân tích

Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm IBM SPSS 23 và IBM AMOS 24 với các công cụ: kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) (dùng công cụ SPSS); phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory Factor Analysis), kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Model) (dùng công cụ AMOS)

Số lượng bản câu hỏi phát ra là 150 bản, thu về 134 bản, có 120 bản câu hỏi hữu dụng được đưa vào xử lý và phân tích Sau khi thống kê các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học của 120 đối tượng khảo sát, nhóm tác giả rút ra kết quả thống kê đặc điểm mẫu khảo sát được thể hiện trong bảng 2

Bảng 2 Đặc điểm mẫu khảo sát

Trang 9

Độ tuổi 24-30 31-40 26 20 21.7 16.7

Tình trạng

hôn nhân

Trình độ học

vấn

Thu nhập cá

nhân hàng

tháng

Nghề nghiệp

Vùng miền

sinh sống

Bắc Bộ (bao gồm khu vực Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ

Trung Bộ (bao gồm khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung

Nam Bộ (bao gồm khu vực Đông Nam Bộ và đồng

Số lần tham

gia hoạt động

du lịch tại

Phú Quốc

tính đến thời

điểm hiện tại

(Nguồn: Từ kết quả tính toán của nhóm tác giả)

Trang 10

20 biến quan sát được đưa vào kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Phép trích Principal Axis Factory cùng với phép quay vuông góc Promax được sử dụng để phản ánh cấu trúc dữ liệu chính xác hơn và phù hợp với các bước kiểm định tiếp theo là CFA và SEM Sau nhiều lần loại biến quan sát để thỏa các tiêu chuẩn hệ số KMO

= 0.804 > 0.5, eigenvalue > 1, các trọng số nhân tố < 0.5 hoặc chênh lệch giữa hai trọng số > 0.3, nhóm tác giả đã tiến hành loại bỏ 4 biến không phù hợp với tổng phương sai trích là 63,8% nằm ở cột cho biết các nhân tố này giải thích được lượng biến thiên của dữ liệu, còn lại 26.2% là bởi các nhân tố khác không rút trích được Sau khi loại các biến quan sát do kết quả phân tích EFA, hệ số Cronbach’s alpha của các nhân tố còn lại đều > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh > 0.3 nên đều đạt yêu cầu

Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA với 14 biến quan sát được giữ lại đều đạt yêu cầu về trọng số chuẩn hóa > 0.5 cho thấy mô hình tới hạn phù hợp với dữ liệu khi các chỉ số quan trọng đều đạt yêu cầu: CMIN/DF = 1.961< 3; GFI = 0.872, CFI = 0.927, TLI = 0.901 đều > 0.9; AGFI = 0.831 > 0.8; 0.05 < RMSEA = 0.090 < 0.10

Khi xem xét yêu cầu về độ tin cậy tổng hợp CR (Composite Reliability) > 0.7; giá trị hội tụ và giá trị phân biệt thể hiện qua phương sai trích EVA (Average Variance

Extracted) > 0.5; thang đo với 5 nhân tố, thang đo với 4 nhân tố và 14 biến quan sát

đều đạt yêu cầu Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA được trình bày trong bảng 3

Bảng 3 Tổng hợp các kết quả Cronbach’s anpha, trọng số

nhân số EFA, trọng số chuẩn hóa CFA

CFA

Ngày đăng: 02/11/2020, 06:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w