Để có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch và mang lại doanh thu cao cho ngành du lịch của Phú Thọ, cần phải có sự đầu tư và quan tâm đúng mức của các cấp các ngành trong
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGUỒN KHÁCH CỦA
TỈNH PHÚ THỌ TRONG THỜI GIAN QUA.
2.1.Các điều kiện để phát triển kinh doanh du lịch tại tỉnh Phú Thọ.
2.1.1.Tài nguyên du lịch và hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch của tỉnh Phú Thọ.
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được tái lập ngày01/01/1997 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú Với diện tích tự nhiên là:3.519.56 ha Phú Thọ có 12 huyện, thành, thị gồm: Thành phố Việt Trì, thị xãPhú Thọ, 10 huyện: Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ,
Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phú Ninh với 273 cơ sở xã,phường, thị trấn Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị – kinh tế của tỉnh
Cách thủ đô Hà Nội 80km và các tỉnh xung quanh 100-300km, là điểmtiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc; phíaBắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; phía Nam giáp Hoà Bình; phía Đông giápVĩnh Phúc, Hà Tây và phía Tây giáp Sơn La Với vị trí cửa ngõ phía Tây củathủ đô Hà Nội và địa bàn trọng điểm kinh tế phía Bắc Nơi trung chuyển hànghoá thiết yếu của các tỉnh miền núi phía Bắc Các hệ thống đường bộ, đườngsắt, đường sông đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và cáctỉnh thành phố khác trong cả nước
2.1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Các điều kiện tự nhiên của Phú Thọ, đặc biệt là địa hình đa dạng đã tạocho Phú Thọ một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫnvới các loại hình có thể khai thác như : du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉdưỡng chữa bệnh, du lịch sinh thái Đáng chú ý trong số đó phải kể đến đầm
Ao Châu (huyện Hạ Hòa), vườn quốc gia Xuân Sơn (huyện Thanh Sơn), mỏnước khoáng nóng Thanh Thủy (huyện Thanh Thủy), Ao Giời - Suối Tiên(huyện Hạ Hòa) v.v
Trang 2* Đầm Ao Châu: Thuộc thị trấn Hạ Hoà của huyện Hạ Hòa cách thành
phố Việt Trì 60 km về phía Tây Bắc, có diện tích mặt nước 300 ha, xung quanh
có núi non trùng điệp tạo thành 99 ngách nước đan cài vào các khe núi TrongĐầm có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ được phủ bởi lớp thực vật đa loài phongphú Mặt nước trong xanh, không khí trong lành không bị ô nhiễm Với khôngkhí trong lành, phong cảnh đẹp, đầm Ao Châu là một điểm du lịch lý thú và hấpdẫn đối với du khách không chỉ trong nội tỉnh mà còn của cả các tỉnh lân cận và
Hà Nội với các loại hình du lịch như: nghỉ dưỡng, bơi thuyền, câu cá, leo núi,săn bắn
* Vườn quốc gia Xuân Sơn: Thuộc địa phận xã Xuân Sơn, huyện Thanh
Sơn cách thành phố Việt Trì 80km, nơi đây có hệ thống núi cao từ 1.000-1.400mét, với khoảng 15.000 ha rừng nguyên sinh và đặc trưng của Xuân Sơn là córừng nguyên sinh trên núi đá vôi, nhiều loại động vật, thực vật quy hiếm, nhiềusuối, thác nước Đặc biệt có khoảng 16 hang động đá vôi do quá trình phonghoá, thuỷ hoá tạo thành, có hang động chiều dài từ 5.000 đến 7.000 mét, nhiềunơi lòng hang rộng đến 50 mét, thạch nhũ tạo thành muôn hình vạn trạng, màusắc lung linh huyền ảo Vườn quốc gia Xuân Sơn là nơi duy nhất trong vùngtrung du miền núi phía Bắc có khí hậu phù hợp với loài rau Sắng đặc sản có giátrị kinh tế cao Ngoài các giá trị về sinh học và cảnh quan hang động đá vôi,trong vườn quốc gia Xuân Sơn còn có những dân tộc Mường, Dao cư trú từ lâuđời và cách biệt với các địa phương khác nên còn giữ được nhiều phong tục, tậpquán và các nét văn hóa bản địa chưa bị pha tạp
* Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ: Thuộc địa phận xã La
Phù, huyện Thanh Thủy cách thành phố Việt Trì 30 km Đây là khu mỏ nướckhoáng nóng có diện tích khoảng 3 km2, mới được tìm thấy từ năm 1999 Quanghiên cứu cho thấy trong nước khoáng nóng có nhiều chất vi lượng có lợi chosức khoẻ, nhiệt độ trung bình của nước nóng 37 – 400 C Tuy nhiên, người dântrong khu vực có mỏ nước nóng đã khai thác một cách tự phát, mở các phòng
Trang 3tắm phục vụ cho nhu cầu tắm nước nóng thư giãn và chữa bệnh của nhân dântrong vùng và các tỉnh lân cận cũng như khách du lịch từ Hà Nội lên
* Ao Giời - Suối Tiên: Suối Tiên thuộc địa phận xã Quân Khê, huyện Hạ
Hòa cách thành phố Việt Trì 70 km, nằm trên núi Nả có độ cao từ 1.000 đến1.200 mét, được phủ bởi màu xanh của rừng nhiệt đới, tại đây còn tồn tại nhiềuđộng, thực vật qúy hiếm Từ trên núi Nả có các dòng suối chảy quanh năm, quanhiều tầng, bậc tạo thành gần 20 dòng thác bạc, có vẻ đẹp kỳ ảo Một vài nămtrở lại đây, Ao Giời - Suối Tiên đã trở thành một địa chỉ du lịch leo núi, cắmtrại, nghỉ dưỡng quen thuộc đối với nhân dân trong tỉnh Phú Thọ và các tỉnh phụcận
* Thác Cự Thắng: thuộc xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn cách thành phố
Việt Trì khoáng 60 km Đây là vùng rừng núi với suối và thác nước còn nguyên
sơ chưa được đầu tư khai thác, cảnh quan đẹp và hấp dẫn, là địa điểm lý tưởngcho người dân trong vùng và các tỉnh lân cận nghỉ cuối tuần
* Thác Ba Vực: thuộc xã Yên Lương - Thanh Sơn cách thành phố Việt Trì 70km.
Nhìn chung, tài nguyên du lịch tự nhiên của Phú Thọ khá phong phú, hấpdẫn và được phân bố đều trên toàn toàn tỉnh Tuy nhiên, những tài nguyên nàycòn đang ở dạng tiềm năng Để có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách
du lịch và mang lại doanh thu cao cho ngành du lịch của Phú Thọ, cần phải có
sự đầu tư và quan tâm đúng mức của các cấp các ngành trong tỉnh
2.1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn :
Phú Thọ là tỉnh có lịch sử lâu đời, vùng đất phát tích của dân tộc ViệtNam Qua các cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ cho thấy Phú Thọ có rất nhiềuhiện vật đồ đá, đồ đồng minh chứng cho thời kỳ các Vua Hùng dựng nước VănLang, trong đó có các di chỉ nổi tiếng như: Gò Mun, Sơn Vi, Làng Cả, PhùngNguyên Phú Thọ còn lưu giữ nhiều các di tích, sự tích, truyền thuyết về đờisống sinh hoạt văn hoá, công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước qua hàng
Trang 4ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam Các lễ hội diễn ra trên quê hương PhúThọ cũng rất đa dạng, phong phú, mang nét văn hoá đặc sắc của những bản làngnhư: Hội Đền Hùng, Hội Phết - Hiền Quan, Hội bơi chải - Bạch Hạc, Hội rướcVoi - Đào Xá, Hội rước chúa Gái - Hy Cương, Hội ném còn của đồng bào Dântộc Mường Phú Thọ còn có kho tàng thơ ca, hò, vè rất đặc sắc, những làn điệuhát Xoan, hát Ghẹo, hát Đối, hát Ví mang âm hưởng của miền quê Trung du.
* Khu di tích lịch sử Đền Hùng
Khu di tích lịch sử đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyệnLâm Thao là nơi thờ cúng các Vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dântộc Việt Nam Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc,cách thủ đô Hà Nội 90 km Từ Hà Nội du khách có thể đến Đền Hùng bằngđường bộ theo quốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai Đền Hùng là ditích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, thuộc đất Phong Châu - địadanh mới là Lâm Thao - là đất của nhà nước Văn Lang trước đây
* Đền Mẫu ÂAu Cơ: thuộc địa phân xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa Đền
được xây dựng từ thời Hậu Lê trên mảnh đất rộng giữa cánh đồng, nằm ẩn dướigốc cây đa cổ thụ, mặt quay về hướng Nam, bên tả có giếng Loan, bên hữu cógiếng Phượng, phía trước có núi Giác, sau lưng sông Hồng uốn khúc như rồngthiêng bao bọc, xung quang đền có cây cối xum xuê Kiến trúc Đền có nhữngchạm gỗ quý giá được coi như những tiêu bản của nền nghệ thuật đương đại.Đền Mẫu Âu Cơ là di tích thờ Quốc Mẫu quan trọng trong hệ thống di tích lịch
sử văn hóa của tỉnh Phú Thọ Hàng năm thu hút đông đảo nhân dân và kháchthập phương về thăm tế lễ
* Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng: được xây dựng
vào năm 2001, tại Ngã 5 Đền Giếng, dưới chân núi Nghĩa Linh, Bộ Quốc phòng
đã xây dựng bức phù điêu có hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện vớicán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên phong Đây là công trình có quy mô hoành
Trang 5tráng được ghép với 81 khối đá xanh có trọng lượng 253 tấn, cao 7 mét, rộng 12mét đặt trang trọng trong quẩn thể di tích lịch sử Đền Hùng.
* Di tích kiến trúc nghệ thuật: Thể hiện qua nghệ thuật kiến trúc các đình,
chùa, đền miếu hay một số khu phố cổ, thành lũy pháo đài, đặc biệt tập trung tạiPhong Châu, Tam Thanh, Việt Trì như đình Hy Cương, đình Hùng Lô, đền Mẫu
Âu Cơ, đền Hiền Quang, đình Bảo Đà, đình Lâu Thượng, đình Đào Xá.v.v
* Chùa Phúc Thánh: chùa tọa lạc trên núi Ngạc Phác, xã Hương Nộn,
huyện Tam Nông, chùa do phu nhân thứ 5 của Vua Lýư Thần Tông là Lê ThịXuân Lan dựng năm 1145 Bà đã tu hành và mất tại đây năm 1171, trên điện thờbức tượng bà (tượng Thánh Mẫu) Mộ bà táng ở phía Tây chùa Chùa PhúcThánh là một trong số ít những ngôi chùa thời Lý còn lại đến nay với nhiều chitiết kiến trúc cổ kính làm bằng gỗ Chò Chỉ
*Lễ hội truyền thống: Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn
hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, một hình thức sinhhoạt tập thể của người dân sau những ngày lao động vất vả, là dịp để mọi ngườihướng về những sự kiện trọng đại hoặc liên quan đến những sinh hoạt tínngưỡng hay vui chơi giải trí Vì vậy lễ hội có tính hấp dẫn cao với du khách và
là một trong những tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị
Lễ hội Đền Hùng: Được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch và được
Nhà nước lấy đây là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương và được tổ chức theo nghi lễquốc gia Lễ hội Đền Hùng là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòigiống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng, nhắc nhở người dân Việt Namcùng chung sức xây dựng đất nước ngày thêm phồn vinh Lễ hội hàng năm thuhút hàng chục vạn du khách từ khắp mọi miền đất nước
Hội hát Xoan, hát Ghẹo: Trong gia sản to lớn về dân ca và nghệ thuật sân
khấu cổ truyền hát Xoan và hát Ghẹo là hình thức rất độc đáo Ngoài giá trị vềnghệ thuật, âm nhạc trong hát Xoan, hát Ghẹo còn ẩn chứa tư tưởng bên trongcủa loại hình nghệ thuật này Đó là tình, là nghĩa đối với nhau và dành chonhau
Trang 6Hội Cồng Chiêng của người Mường: người Mường có nhiều dịp sử dụng
Cồng Chiêng như; chúc tết, đám cưới, đám ma, mừng nhà mới, trong các nghi
lễ và cầu mùa
* Làng nghề truyền thống:
Làng Mây tre đan Đỗ Xuyên: là một làng nghề và những sản phẩm nghề
độc đáo Nghề đan cót nứa chắp có từ bao đời nay Sản phẩm nứa Chắp của ĐỗXuyên đã có mặt trên thị trường thế giới với các sản phẩm như đĩa, bát,
Nghề làm Nón lá: Sơn Nga, Sai Nga, Thanh Nga, nón Phú Thọ có nét
thanh tú, hài hòa, bình dị, bền đẹp rất phù hợp với khách du lịch quốc tế
Làng mộc Minh Đức: Xã Thanh Uyên, huyện Tam Nông, cùng với thời
gian sản phẩm mộc Minh Đức đã có mặt ở mọi miền của tổ quốc, được gắn tênlàng cho sản phẩm của mình luôn là niềm ước mơ của mỗi người dân Minh Đức
2.1.1.3 Đánh giá về việc khai thác tài nguyên của tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua
Việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ du lịch còn nhiềubất cập và chồng chéo, nhiều cấp, nhiều ngành cùng tham gia quản lý và khaithác một điểm tài nguyên Do vậy, việc xây dựng quy hoạch, việc đầu tư tôn tạo
và bảo vệ tài nguyên, môi trường chưa được quan tâm thỏa đáng Nhiều tàinguyên và môi trường du lịch đang có nguy cơ suy giảm do khai thác, sử dụngthiếu hợp lý và những tác động tiêu cực của con người và thiên tai ngày càngtăng
Đầu tư cho phát triển du lịch còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tạo ra đượcnhững sản phẩm du lịch đặc trưng có chất lượng cao của riêng Phú Thọ đồngthời tạo sức cạnh tranh chung với các tỉnh trong Vùng Trung du Miền núi phíaBắc Đầu tư cho công tác bảo tồn, phát triển các nguồn tài nguyên và bảo vệmôi trường du lịch; công tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến phát triển dulịch; đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao chưa đượcchú trọng đúng mức
Trang 7Nhận thức xã hội về ngành kinh tế du lịch của toàn dân vẫn còn yếu Việckhuyến khích và hỗ trợ cho cộng đồng dân cư - nơi có tài nguyên du lịch thamgia vào các hoạt động du lịch ở Phú Thọ hiện đã được nâng cao nhưng cònmanh mún và yếu; và do đó không khuyến khích được họ tham gia bảo vệ tàinguyên, môi trường du lịch
Hệ thống các cơ chế chính sách (đặc biệt là các cơ chế chính sách ưu đãi);các quy định pháp luật liên quan đến phát triển du lịch còn thiếu, chưa thật
thông thoáng so với yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế, chưa giải quyết tốt
mối quan hệ giữa quản lý và phát triển
Tình hình khai thác các tài nguyên du lịch ở Phú Thọ trong thời gian vừa
qua còn quá nhiều điều bất cập, tồn tại thiếu tính định hướng phát triển, thiếuđầu tư tôn tạo và bảo vệ, nhiều tiềm năng bị mai một, khai thác hoặc khai thácchưa hiệu quả
Để khắc phục được tình trạng này nhằm đưa hoạt động kinh doanh dulịch của Phú Thọ phát triển bền vững, thu hút được ngày càng nhiều khách dulịch đòi hỏi các ngành, các cấp đặc biệt bản thân các doanh nghiệp du lịch phải
có chương trình hoạt động tổng hợp nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư thíchđáng vào việc khai thác và tôn tạo các tài nguyên du lịch ở Phú Thọ
2.2.2 Cơ sở hạ tầng liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch.
Cơ sở hạ tầng xã hội được xem như một yếu tố không thể thiếu trong quá trìnhphát triển du lịch của một địa phương cơ sở hạ tầng xã hội phục vụ cho kinhdoanh du lịch thì có nhiều nhưng trong chuyên đề này chỉ phân tích một số cơ
sở hạ tầng xã hội có liên quan trực tiếp đến hoạt động du lịch đó là:
2.2.2.1 Hệ thống giao thông vận tải.
Giao thông đường bộ:
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi có hệ thống giao thông đường bộphát triển khá nhiều so với các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và
Trang 8được phân bố tương đối đều, hợp lý Mật độ đường ô tô đạt 1.09km/km2, caohơn của cả vùng Đông Bắc (0.62km/km2) Toàn bộ hệ thống đường bộ của tỉnhPhú Thọ dài 3.965 km Trong đó, có 5 tuyến quốc lộ với chiều dài qua tỉnh là
262 km, 31 tuyến đường tỉnh với chiều dài 730km, 94 tuyến huyện lộ dài 639
km, 94,6 km đường đô thị, 1.722,6 km đường xã và liên xã Ngoài ra còn hàngnghìn km đường dân sinh và lâm nghiệp
Giao thông đường sắt: Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có một tuyến đường sắt
thuộc mạng đường sắt quốc gia là tuyến Hà Nội - Lào Cai và 3 tuyến nhánhphục vụ các khu công nghiệp, nhà máy, với tổng triều dài 89,5 km
Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, riêng đoạn qua Phú Thọdài 74,9 km, giao thông đường sắt góp phần vận chuyển một lượng lớn hànhkhách và hàng hoá, tạo sự giao lưu giữa Phú Thọ và các tỉnh cũng như xuấtkhẩu hàng hoá qua cảng Hải Phòng Đây là tuyến đường sắt nối trung tâm kinh
tế Hà Nội với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc và từ đó có thể thông sangTrung Quốc
Giao thông đường thủy:
Tỉnh Phú Thọ có ba con sông lớn chảy qua: Sông Hồng, Sông Lô, Sông
Đà, gặp nhau tại thành phố Việt Trì Ngoài ra, còn có một số sông nhánh nhưSông Chảy, Sông Bứa Hầu hết các huyện, thị xã đều có sông chảy qua tạothành một mạng lưới đường thuỷ rất thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh
tế đặc biệt là giao thông đường thuỷ của tỉnh Tuy nhiên thì giao thông đườngthuỷ để phục vụ công tác du lịch thì chưa được sử dụng phù hợp
2.2.2.2 Hệ thống cung cấp điện, nước.
Hệ thống cấp nước: Hệ thống cung cấp nước sạch của tỉnh Phú Thọ còn
rất hạn chế chủ yếu nhờ vào 2 nhà máy nước Việt Trì và Phú Thọ, một số thịtrấn cũng có trạm cung cấp nước, nhưng công suất nhỏ chưa đáp ứng được nhucầu nước sạch Tỷ lệ dân cư ở đô thị được dùng nước sạch còn rất thấp, số còn
Trang 9lại phải dùng nguồn nước giếng đào, giếng khoan UNICEF ở các vùng nôngthôn nước sinh hoạt một phần nhỏ được cung cấp bởi các trạm cấp nước sạchnông thôn, giếng khoan UNICEF, còn phần lớn vẫn phụ thuộc vào các nguồnsẵn có, nước chưa qua xử lý, không bảo đảm chất lượng vệ sinh.
Nhà máy nước Việt Trì: có công suất 60.000m3/ngđ, mạng lưới đườngống từ Phi 600mm đến phi 800mm với tổng chiều dài 150km, cấp nước chothành phố Việt Trì (60% dân), thị trấn Lâm Thao, thị trấn Phong Châu, thị trấnHùng Sơn
Nhà máy nước Phú Thọ lấy từ nguồn nước sông Hồng, công suất thiết kế6.000 m3/ngđ, mạng đường ống truyền dẫn phi 200mm mới được lắp, cấp nướccho thị xã Phú Thọ (90% dân) khu vực Z121 thuộc Phú Hộ và cấp sang huyệnThanh Ba
Hệ thống thoát nước: Hệ thống thoát nước mới chỉ đạt 10,5% tổng chiều
dài đường, chủ yếu là thoát nước mặt và không qua xử lý Việc xử lý nước thảisinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa triệt để gây ô nhiễm nguồn nước, ônhiễm môi trường
Các bãi chôn lấp chất thải rắn đếu chưa hợp vệ sinh, vị trí các nghĩa tranghầu hết chưa hợp lý, chưa đủ khoảng cách vệ sinh gây ô nhiễm nguồn nước;
2.2.2.3 Hệ thống bưu chính viễn thông.
Mạng bưu chính, viễn thông thời gian gần đây đã được quan tâm pháttriển Số máy điện thoại tăng nhanh, năm 1995 toàn tỉnh có 5.594 máy thì năm
1997 lên 11.700 máy, bình quân 0,9 máy/ 100 dân Từ năm 2003 đến nay, hạtầng thông tin liên lạc của tỉnh Phú Thọ phát triển khá nhanh, đến năm 2007 đạt14,2 máy điện thoại/100 dân, tăng 4 lần so với năm 2007 Hình thành, pháttriển rộng khắp các dịch vụ Internet, hộp thư thoại Chất lượng thông tin liênlạc của tỉnh có bước tiến vượt bậc, từ chỗ chưa đáp ứng được nhu cầu thông tinliên lạc thì nay đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
Trang 10mạng điện thoại di động cơ bản đã phủ sóng tới tất cả các trung tâm của huyện,thị; 100% doanh nghiệp, cơ quan ở tỉnh, huyện được trạng bị máy tính, kết nốiInternet, nối mạng nội bộ.
2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch.
2.2.3.1 Hệ thống các cơ sở lưu trú tại Phú Thọ.
Hệ thống các khách sạn tại tỉnh Phú Thọ đã phát triển với tốc độ khánhanh Năm 2001 toàn tỉnh có 12 cơ sở lưu trú với 350 phòng và 652 giườngthì đến năm 2005 tăng lên 69 cơ sở với 1.083 phòng, tốc độ tăng trưởng trungbình trong thời gian này là 55,9% Tới cuối năm 2007 tăng lên đến 101 cơ sở,với khoảng 1.579 phòng, tăng 20% so với năm 2006
Bảng 2.1: Các cơ sở lưu trú tại tỉnh phú Thọ giai đoạn 2001 - 2007
Nguồn: Sở Thương mại - Du lịch Phú Thọ.
Sự phân bố các cơ sở lưu trú ở Phú Thọ không đồng đều Hầu hết các cơ
sở lưu trú đều tập trung ở thành phố Việt Trì (49 cơ sở lưu trú), thị xã Phú Thọ16/101 cơ sở lưu trú Theo thống kê có tới 49/101 cơ sở lưu trú của tỉnh nằm ởthành phố Việt Trì và số cơ sở lưu trú này lại chủ yếu nằm trên trục Đại lộHùng Vương Trong khi đó các khu, điểm du lịch khác của tỉnh như Đầm AoChâu, Xuân Sơn có rất ít các cơ sở lưu trú và các tiện nghi du lịch khác để
Trang 11phục vụ cho khách du lịch
Trang 12Bảng 2.2 : Tổng hợp hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Thọ năm 2007
Số KS, nhànghỉ
CSLT
Số giườngCSLT
Sốlượng Tỷ lệ
Sốlượng Tỷ lệ
Sốlượng Tỷ lệ
Trang 13kế nội ngoại thất không hợp lý, vệ sinh chưa đảm bảo theo yêu cầu Ngoài dịch
vụ lưu trú và ăn uống, ở một số khách sạn hiện nay phát triển thêm các dịch vụmới như massage, karaoke
*Cơ sở ăn uống:
Các cơ sở ăn uống bao gồm restaurant, coffee-shop, bar, quán ăn nhanhv.v Các tiện nghi phục vụ ăn uống có thể nằm trong các cở sở lưu trú nhằmphục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trútại các khách sạn hoặc có thể nằm độc lập bên ngoài các các cơ sở lưu trú, ở cácđiểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí nhằm phục vụ khách
du lịch cũng như các tầng lớp dân cư địa phương
Hiện tại Phú Thọ có khoảng 95 phòng ăn (restaurants) nằm trong và ngoàicác cơ sở lưu trú với khoảng 3.174 chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đápứng nhu cầu của khách lưu trú Ngoài ra còn có các cửa hàng ăn uống tư nhânphục vụ các món ăn Việt Nam nằm chủ yếu ở khu vực thành phố Việt Trì Tuynhiên các nhà hàng này thường có quy mô nhỏ, khó có khả năng đón các đoànkhách lớn; bài trí của nhà hàng đơn giản, không có khu chế biến riêng biệt, món
ăn chưa phong phú và vấn đề vệ sinh thực phẩm cũng chưa được chú trọngđúng mức
2.2.3.2 Các cơ sở vui chơi giải trí.
Các cơ sở phục vụ vui chơi giải trí bao gồm : Công viên, sân thể thao, nhàthi đấu, nhà văn hóa đã bước đầu được quan tâm đầu tư Nhìn chung các điểmvui chơi giải trí có quy mô nhỏ, các loại hình sản phẩm đơn điệu, các phươngtiện vui chơi giải trí, tham quan còn quá thiếu chưa thu hút được du khách cũngnhư kéo dài thời gian lưu trú của khách
2.2.3.3 Cơ sở vận chuyển khách.
Trang 14Vận chuyển khách là một dịch vụ không thể thiếu trong một chuyến dulịch Với phương tiện vận chuyển tốt, an toàn sẽ gây thiện cảm và tâm lý thoảimái cho du khách Trên địa bàn tỉnh hiện có trên 380 xe vận chuyển du lịch vớinăng lực vận chuyển là 10320 khách Phần lớn các xe chỉ vận chuyển khách nộiđịa Nhìn tổng thể thị trường vận chuyển khách du lịch đường bộ ở Phú Thọ còntương đối lộn xộn Các đầu xe của tư nhân và các thành phần kinh tế kháckhông có chức năng vận chuyển khách du lịch nhưng vẫn vận chuyển khách Có
lẽ đây cũng là hiện tượng phổ biến ở các địa phương Điều này làm cho doanhthu vận chuyển khách thấp
2.2.4 Nguồn dân cư xã hội và lao động trong ngành du lịch Phú Thọ.
2.2 4.1 Nguồn dân cư
Theo số liệu thống kê, năm 2007 toàn tỉnh có 661.200 người trong độ tuổilao động trong đó lao động thuộc khu vực Trung ương 27.000 người), Địaphương 37.300 người; ngoài nhà nước 584.300 người; doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài 12.600 người
Lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế gồm 661.200người, tập trung đông nhất ở khu vực 1, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủysản (480.000 người chiếm 80% dân số lao động); tiếp đến là trong lĩnh vực côngnghiệp chế biến (66.500 người, tương đương 10%) Lao động trong khu vựckinh tế dịch vụ những năm gần đây tuy có gia tăng song cũng còn chiếm tỷ lệnhỏ (9%) Cơ cấu lao động này chứng tỏ trình độ phát triển kinh tế của tỉnh còn
Trang 15thấp, các tiềm năng chưa được khai thác, hoạt động kinh tế chưa đem lại hiệuquả cao.
Huyện Đoan Hùng 107.318 54.732 52.586 6.526 100.792Huyện Hạ Hòa 111.521 56.876 54.645 8.323 103.198Huyện Thanh Ba 116.829 59.583 57.246 8.760 108.069Huyện Phù Ninh 109.922 56.060 53.862 16.642 93.280
Huyện Cảm Khê 129.943 66.271 63.672 5.953 123.990Huyện Tam Nông 81.423 41.526 39.897 4.267 77.156Huyện Lâm Thao 116.517 59.424 57.093 17.763 98.754Huyện Thanh Sơn 190.740 97.277 93.463 13.912 176.828
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2007.
2.2.4.2 Lao động ngành du lịch.