Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch được phân thành: Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác
Trang 1KHÁCH DU LỊCH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ
NĂNG HẤP DẪN THU HÚT KHÁCH DU LỊCH.
1.1 Tổng quan về du lịch và khách du lịch.
1.1.1 Khái niệm du lịch.
Theo quan điểm tổng hợp: Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội ngày càng phổ biến, phát sinh các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế, bao gồm 4 nhóm nhân tố tương tác với nhau, khách du lịch, nhà cung ứng dịch vụ
du lịch, cộng đồng cư dân và chính quyền nơi đến du lịch Các chủ thể trên tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ của họ đối với hoạt động du lịch
Đối với khách du lịch: du lịch mang lại cho họ sự hài lòng vì được thưởng thức một khoảng thời gian thú vị, đáp ứng nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, thăm viếng tham quan
Đối với các đơn vị kinh doanh du lịch: họ xem khách
du lịch như một cơ hội kinh doanh để thu lợi nhuận qua việc cung ứng các loại hàng hoá và dịch vụ du lịch cho
du khách
Đối với chính quyền sở tại: du lịch được xem như là một nhân tố thuận lợi đối với nền kinh tế địa phương Chính quyền quan tâm đến số công ăn việc làm mà du lịch tạo
ra, thu nhập dân cư, các khoản thuế thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch
Đối với cộng đồng cư dân địa phương: du lịch được xem như là một cơ hội để tìm việc làm, tạo thu nhập, đồng thời
họ cũng là nhân tố tạo ra sự hấp dẫn đối với khách du lịch
Trang 2bởi lòng hiếu khách và những nét văn hoá đặc trưng của địa phương
1.1.2 Các loại hình du lịch.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch được phân thành:
Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau
Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch:
Du lịch chữa bệnh: khách du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: đây là loại hình du lịch có tác dụng làm giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày
Du lịch thể thao: cũng nhằm mục đích thư giãn nhằm để con người mạnh khoẻ hơn
Du lịch văn hóa: nhằm mở mang kiến thức, thoả mãn tính tò mò
Du lịch công vụ: mục đích chính của loại hình này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác nhiệm vụ nào đó
Du lịch thương gia: mục đích là tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án đầu
tư, ký kết hợp đồng
Du lịch tôn giáo: nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo đạo giáo khác nhau
Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương: loại hình này nhằm thoả mãn những người xa quê muốn về thăm hỏi họ hàng
Trang 3Du lịch quá cảnh: do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một nước nào đó trong thời gian ngắn để đến nước khác
1.1.3 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là tất cả những cái nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến hành trình du lịch
Sản phẩm du lịch được hợp thành từ nhiều bộ phận khác nhau: dịch vụ vận chuyển, lưu trú, vui chơi giải trí Sản phẩm du lịch chủ yếu mang tính chất vô hình, dịch vụ và tài nguyên chiếm 80%-90% Việc tạo ra và tiêu thụ sản phẩm du lịch thường có sự trùng lặp về không gian và thời gian Do đó để thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm, người mua hàng được đưa đến nơi sản xuất và tiêu thụ tại chỗ Do đặc điểm này, khách du lịch không thể thấy sản phẩm du lịch trước khi mua
Việc tiêu dùng sản phẩm có tính thời vụ Thông thường các hoạt động
du lịch có liên quan đến hoạt động ngoài trời tức là phụ thuộc nhiều vào thời tiết Do đó việc tiêu dùng dịch vụ càng mang tính thời vụ rõ nét
1.1.4 Khách du lịch.
1.1.4.1 Khái niệm khách du lịch.
Có không ít khái niệm về khách du lịch, mỗi nước, mỗi học giả có một khái niệm khác nhau Tuy nhiên lịch sử về khái niệm khách du lịch có từ cuối thế kỷ XVIII bắt nguồn
từ Pháp Trong thời kỳ này khái niệm về khách du lịch quy định :những người được coi là khách du lịch là người đến
Trang 4một địa điểm mới (khác với nơi cư trú thường xuyên) nhưng không được ở quá một năm tại đó, họ phải phát sinh hoạt động thành toán nhằm tiêu tiền tiết kiệm của họ tại nơi đến du lịch Các định nghĩa thời này đều mang tính phiến diện, chưa phản ánh một cách đầy đủ và chính xác nhất các đối tượng được coi là khách du lịch
Việc xem xét đối tượng nào là khách du lịch là việc rất quan trọng Nó phục vụ cho công tác thống kê du lịch, từ những số liệu tăng trưởng về lượng khách du lịch để từ đó
có chính sách kinh tế hoặc đầu tư một cách đúng đắn thích hợp vào ngành du lịch tránh tình trạng cung vượt cầu hoặc ngược lại
Có thể cụ thể hoá khái niệm về khách du lịch như sau: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến, có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) và không quá một khoảng thời gian quy định của từng quốc gia Cần phân biệt hai loại khách du lịch cơ bản:
Những người mà chuyến đi của họ có mục đích chính
là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về các điều kiện, tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hoá được gọi là khách du lịch thuần tuý
Những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác như công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn, hội họp Trên đường đi hay tại nơi đến những người này sắp xếp thời gian cho việc tham quan nghỉ ngơi Để nói lên được sự kết hợp
Trang 5đó, chuyến đi của họ gọi là du lịch công vụ, du lịch thể thao, du lịch thăm thân
1.1.4.2 Phân loại khách du lịch
Tổ chức du lịch Thế giới (WTO) ngày 4-3-1993 Hội đồng liên hợp quốc UNSC (United Nations Statistical Commisson) đã công nhận những thuật ngữ như khách du lịch quốc tế, khách du lịch trong nước, khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc gia để thuận tiện trong việc soạn thảo thiết kế du lịch giữa các nước trên thế giới trong đó:
Khách du lịch quốc tế (International) gồm: Khách du lịch quốc tế (Inbound tourist) gồm những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia, khách quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist) gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài
Khách du lịch trong nước ( Internal tourist) gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia
đó đi du lịch trong nước
Khách du lịch nội địa (Domestic tourist) khách du lịch trong nước cộng khách du lịch quốc tế đến, 3 loại khách du lịch trên là thị trường cho cơ sở lưu trú và là nguồn khách của quốc gia
Khách du lịch quốc gia (National tourist) khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Ở nước ta việc phân chia khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa theo Pháp lệnh du lịch
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp dẫn khách du lịch.
1.2.1 Chính sách của Nhà nước và địa phương
Chính sách của chính quyền có vai trò rất quan trọng đến sự phát triển của du lịch nói chung, thu hút
Trang 6khách du lịch nói riêng Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú Mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không trợ giúp cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự phát triển của ngành du lịch, điều này được thể hiện tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã định hướng đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Trên quan điểm chung này, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo một cách xác thực: ban hành một loạt các văn bản quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hành lang pháp lý cho du lịch phát triển, thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch ở Trung ương, chủ trương tập trung đầu tư
cơ sở hạ tầng ở các khu du lịch quốc gia và khu du lịch ở các tỉnh Tổng cục du lịch đã phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, chỉ đạo các Sở du lịch, Sở thương mại - du lịch và các doanh nghiệp du lịch triển khai đồng bộ, khẩn trương chương trình hành động quốc gia về du lịch trên tất cả các mặt, tuyên truyền quảng bá du lịch, gắn hoạt động du lịch với các hoạt đông văn hoá, làng nghề truyền thống, nâng cao chất lượng an toàn, an ninh ở các điểm, khu du lịch, giải quyết các thủ tục tạo thuận lợi cho các hoạt động du lịch
1.2.2 Sự ổn định an ninh chính trị và an toàn cho khách du lịch.
Không khí chính trị ổn định đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật văn hoá và
Trang 7chính trị giữa các dân tộc Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng Du lịch nói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển trong bầu không khí hoà bình, ổn định trong tình hữu nghị giữa các dân tộc
Những đất nước ít xảy ra các biến cố chính trị, quân
sự thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhân dân, các du khách tiềm năng Du khách thích đến những đất nước và vùng du lịch có không khí chính trị
ổn định, họ cảm thấy an toàn cho tính mạng và tài sản của mình Tại những nơi này, du khách có thể đi lại tự do
mà không có sự chú ý đặc biệt nào Những điểm du lịch mà tại đó không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, không có khủng bố, du khách có thể gặp gỡ dân bản xứ, giao tiếp và làm quen với phong tục tập quán của địa phương Sự phát triển của du lịch sẽ gặp phải những khó khăn nếu ở đất nước xảy ra những sự kiện làm xấu đi tình hình chính trị
ổn định hoà bình, trực tiếp hoặc gián tiếp đe doạ đến sự an toàn của du khách An ninh và an toàn xã hội không đảm bảo là những nhân tố ảnh hưởng rất xấu đến số lượng khách du lịch
Đất nước ta trong suốt những năm qua, tình hình chính trị luôn ổn định, đường lối chính trị và phát triển kinh tế của Việt Nam là muốn làm bạn với tất
cả các nước trên tinh thần hoà bình và hữu nghị Mặc dù trên thế giới đang xảy
ra chiến tranh, khủng bố ở nhiều nước, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến thân thiện và an toàn Đây là những yếu tố rất thuận lợi đã góp phần hấp dẫn, thu hút một lượng khách du lịch đáng kể trong thời gian vừa qua, trong đó khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng
Trang 81.2.3 Sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch.
Điều kiện đầu tiên để hình thành và phát triển ngành
du lịch là tài nguyên du lịch Theo Pháp lệnh du lịch, tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử,
di tích cách mạng, giá trị nhân văn công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch
Các tài nguyên này tạo nên những yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch mà thiếu nó không thể tạo ra sự hấp dẫn du lịch và đương nhiên không thể hình thành và phát triển ngành kinh tế du lịch
Khung cảnh thiên nhiên độc đáo, khí hậu mát mẻ trong lành, thế giới động thực vật đa dạng là những yếu
tố rất quan trọng để hấp dẫn và thu hút du khách Con người thường phấn đấu để cuộc sống của mình ngày càng đầy đủ về tiện nghi, để đạt được mục đích ấy họ đã làm cho cuộc sống của mình ngày càng xa rời thiên nhiên Trong khi đó với tư cách là một thành tạo của thiên nhiên, con người lại muốn quay về gần với thiên nhiên Do vậy du lịch trở về với thiên nhiên đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến
Bên cạnh đó, các tài nguyên có giá trị lịch sử, giá trị văn hoá cũng có sức thu hút đặc biệt đối với du khách, những tài nguyên này phục vụ một cách đắc lực cho nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của con người
1.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch của địa phương
Trang 9Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó hệ thống cơ sở hạ tầng
là một trong những điều cần thiết, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt đông kinh doanh du lịch Trình độ cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch hiện đại hay lạc hậu có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển của du lịch Một điểm đến du lịch, nếu có cơ sở hạ tầng tốt, sẽ góp phần tích cực trong việc hấp dẫn và thu hút khách Sớm ý thức được điều đó nhiều nước trên thế giới đã thực hiện chính sách
ưu tiên, đầu tư vốn cho việc xây dựng sân bay, bến cảng, điện, nước cùng với kết cấu hạ tầng khác theo hướng ngày một hiện đại, phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho hoạt động du lịch, nhờ đó tăng nhanh doanh thu và thu nhập ngoại tệ từ du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển và thu hút ngày càng nhiều du khách
1.2.5 Cộng đồng dân cư đia phương
Ngoài các yếu tố trên, thì cộng đồng cư dân cũng có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc hấp dẫn và thu hút khách Trình độ dân trí, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của các cư dân địa phương luôn là mục tiêu muốn khám phá của khách du lịch, đặc biệt là khách
du lịch quốc tế
Tại những nơi có truyền thống văn hoá độc đáo, phong tục tập quán cổ xưa, du khách có thể dễ dàng hoà mình, gặp gỡ, giao tiếp với cư dân địa phương và được đón tiếp một cách thân thiện, hiếu khách, những nơi mà thái độ cư
xử của dân chúng đối với du khách văn minh, lịch sự Tất
cả những điều tốt đẹp của cộng đồng cư dân địa phương sẽ
Trang 10là một thông điệp có sức hấp dẫn rất lớn trong việc thu hút và lưu giữ khách
1.2.6 Chất lượng phục vụ du lịch
Một chương trình du lịch hấp dẫn cần đạt được điều kiện đầu tiên trong quá trình xây dựng chương trình là làm sao cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch phải phù hợp với chủ đề chính và chủ đề bổ sung Các tuyến, điểm tham quan trong chương trình mang nội dung chủ đề chính phải xuyên suốt, đóng vai trò trung tâm Đồng thời cũng phải có sự phù hợp giữa các tuyến, điểm tham quan với tổng thời gian của các chương trình
Chất lượng phục vụ của doanh nghiệp khách sạn được thể hiện thông qua chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng của đội ngũ nhân viên, tính đa dạng và phong phú của các dịch vụ bổ sung trong khách sạn, chất lượng
tổ chức cung ứng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được coi là nhân tố không thể thiếu trong việc tạo ra sức hấp dẫn, thu hút khách, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường Nâng cao chất lượng phục vụ phụ thuộc vào bốn nhân tố sau:
Chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật: cơ sở vật chất kỹ thuật phải đảm bảo tính hợp lý trong hoạt động của các doanh nghiệp du lịch Trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phải đảm bảo tính đồng bộ, hiện đại, phù hợp với loại - hạng khách sạn, nhà hàng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của du khách, phù hợp với môi trường và loại hình du lịch
Chất lượng của đội ngũ nhân viên: quá trình cung ứng dịch vụ là quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa khách
Trang 11hàng với nhân viên Vì vậy cung cách đối xử, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ phục vụ của đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp du lịch có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định hiệu quả kinh doanh và chất lượng phục vụ
Văn minh phục vụ: trong kinh doanh du lịch, văn minh phục vụ là một yêu cầu không thể thiếu, thái độ cư xử văn minh, thân thiện sẽ rút ngắn khoảng cách và bỡ ngỡ ban đầu của khách du lịch với đội ngũ nhân viên phục vụ, khách
sẽ cảm thấy hài lòng và có ấn tượng tốt đẹp, điều này góp phần quan trọng trong việc thu hút và lưu giữ khách Văn minh phục vụ thể hiện qua các yếu tố: tinh thần, thái
độ phục vụ, khả năng thuyết phục, khả năng nắm bắt tâm lý, khả năng làm chủ quy trình phục vụ, mối quan hệ ứng xử giữa các nhân viên
1.2.7 Giá cả các sản phẩm dịch vụ du lịch.
Giá cả của sản phẩm du lịch là nhân tố rất nhạy cảm đối với quyết định mua của khách du lịch Giá cả và chất lượng có mối quan hệ biện chứng với nhau, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần chú ý đến mối quan hệ này
để đưa ra mức giá thích hợp nhằm thu hút khách nhiều hơn
Giá cả sản phẩm dịch vụ du lịch được xác định trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng như: chất lượng dịch vụ, tính độc đáo của sản phẩm du lịch, mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch, mức giá bán trên thị trường Doanh nghiệp du lịch nên áp dụng chính sách giá linh hoạt cho từng đối tượng khách
cụ thể và theo mùa du lịch để vừa không lãng phí cơ sở vật chất vừa thu hút được khách
1.2.8 Uy tín của doanh nghiệp kinh doanh du lịch.