1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số yếu tố liên quan đến nhận thức, thực hành về thông tuyến bảo hiểm y tế của người cao tuổi tại 4 xã thuộc huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2017

5 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 339,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định một số yếu tố liên quan đến nhận thức, thực hành về thông tuyến bảo hiểm y tế của người cao tuổi (NCT) tại 4 xã thuộc huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2017. Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu.

Trang 1

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến

nhận thức, thực hành về thông tuyến bảo hiểm y tế của

người cao tuổi (NCT) tại 4 xã thuộc huyện Kiến Xương

tỉnh Thái Bình năm 2017 Đối tượng nghiên cứu: Người

cao tuổi đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu Phương

pháp nghiên cứu: Phương pháp dịch tễ học mô tả qua

cuộc điều tra cắt ngang Kết quả nghiên cứu: NCT trình

độ học vấn từ THCS trở xuống có xu hướng không biết

về quy định thông tuyến nhiều hơn NCT có trình độ trên

THCS 0,2 lần NCT từ 75 trở lên có xu hướng không biết

về quy định thông tuyến nhiều hơn 1,9 lần nhóm NCT

dưới 75 tuổi NCT biết quy định thông tuyến có xu hướng

khám, chữa bệnh thông tuyến Bảo hiểm y tế cao gấp 4,1

lần so với nhóm không biết về quy định này

Từ khóa: Người cao tuổi; bảo hiểm y tế; thông

tuyến, Thái Bình

SUMMARY:

AWARENESS, PRACTICE ABOUT MEDICAL

EXAMINATION, TREATMENT AT THE MEDICAL

ESTABLISHMENT OF THE SAME LEVEL OF

THE ELDERLY IN 4 COMMUNES, KIEN XUONG

DISTRIC, THAI BINH PROVINCE IN 2017

Objective: Identify some facrors related to

awareness, practice of medical examination, treatment

at the medical establishment of the same level of the

elderly in 4 communes of Kien Xuong district, Thai Binh

province in 2017 Subject: The elderly in the research

region Method: The cross-sectional descriptive study

with a combination of quantitative and qualitative

Results: Elderly people with lower secondary school

education tend to be less aware of medical examination,

treatment at the medical establishment of the same level than older adults with upper secondary education

of 0.2 times; Elderly people aged 75 and older tended

to be unaware of medical examination, treatment at the medical establishment of the same level than older people under 75 years of age 1,9 times; Older people who know the this regulation tend to have healthier access to medical care by 4.1 times than those who do not know about this regulation

Keywords: Elderly; health Insurance; treatment at

the medical establishment of the same level, Thai Binh

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự thay đổi về cấu trúc dân số dẫn đến biến đổi về

mô hình bệnh tật, trong đó có mô hình bệnh tật của NCT, đặc biệt là của NCT sống ở các vùng nông thôn Việt Nam, theo đó cũng ảnh hưởng đến hành vi khám chữa bệnh

của NCT Hiện nay phần lớn người cao tuổi chưa có thói

quen đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ, nhiều người không biết mình có bệnh hoặc biết có bệnh nhưng không tuân thủ theo đúng hướng dẫn điều trị Việc sử dụng dịch vụ

y tế của người cao tuổi thường bị hạn chế, đặc biệt là đối với người cao tuổi ở những vùng nông thôn không có thẻ bảo hiểm y tế [6]

Trong khi các nước phát triển có tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 99% -100% thì ở Việt Nam mới đạt

có 76% năm 2015 Đáng lưu ý là tỷ lệ người cao tuổi

có thẻ bảo hiểm y tế chỉ đạt 60% là cực kỳ đáng lo ngại cho công tác chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tham gia BHYT không chỉ để chữa bệnh mà quan trọng hơn là được khám bệnh thường xuyên để kịp thời phát hiện, điều trị bệnh ngay từ giai đoạn ban đầu [3] Trong khi đó, Luật Bảo hiểm y tế có rất nhiều quy định chế độ ưu đãi đối với người dân nói chung và người cao tuổi nói riêng, như

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHẬN THỨC, THỰC HÀNH VỀ THÔNG TUYẾN BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI 4 XÃ THUỘC HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2017

Nguyễn Hà My 1 ; Nguyễn Đức Thanh 1 ; Phạm Trường Sơn 2

Nguyễn Văn Tiến 1 ; Phan Thu Nga 1 ; Ngô Văn Đông 1

1 Trường Đại học Y Dược Thái Bình.

2 Trường Cao Đẳng Y tế Thái Bình.

Trang 2

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

một số đối tượng người cao tuổi được thanh toán phí vận

chuyển khi chuyển tuyến hay như việc quy định “thông

tuyến” khám chữa bệnh trong Luật sửa đổi bổ sung năm

2014 tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người tham gia

BHYT nói chung và người cao tuổi nói riêng trong việc

tiếp cận các dịch vụ y tế [1], [5] Nhằm tìm hiểu những

yếu tố liên quan đến nhận thức, thực hành thông tuyến

của người cao tuổi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với

mục tiêu:

Xác định một số yếu tố liên quan đến nhận thức, thực

hành về thông tuyến bảo hiểm y tế của người cao tuổi tại

4 xã thuộc huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2017.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: 4 xã thuộc huyện Kiến

Xương, tỉnh Thái Bình, bao gồm: thị trấn Thanh Nê, xã

Bình Minh; xã Bình Nguyên, xã Vũ Tây

- Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi hiện đang

sinh sống tại địa bàn nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện

từ 1/2017 – 12/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp dịch tễ

học mô tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

a/ Cỡ mẫu

Thay vào công thức, tính được cỡ mẫu cho nghiên

cứu là 465 NCT

b/ Phương pháp chọn mẫu:

+ Chọn xã: Chọn chủ đích 4 xã theo tiêu chuẩn sau:

- 2 xã đại diện cho khu vực thị trấn, ven thị trấn: Thị

trấn Thanh Nê, xã Bình Minh

- 2 xã đại diện cho khu vực xa thị trấn: xã Bình Nguyên và xã Vũ Tây

+ Chọn người cao tuổi: Tại mỗi xã được chọn, chúng tôi lập danh sách tất cả các thôn, sau đó tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 1 thôn để bắt đầu điều tra Sau đó lập danh sách NCT trong độ tuổi 60 trở lên tại thôn đó Chọn ngẫu nhiên theo hình thức bốc thăm

để phỏng vấn đối tượng đầu tiên của xã Áp dụng phương pháp “cổng liền cổng” để chọn đối tượng tiếp theo cho đến khi phỏng vấn đủ số đối tượng cho mỗi xã

2.3 Phương pháp thu thập thông tin

- Thông tin được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn thông qua bộ phiếu điều tra Xây dựng bộ phiếu điều tra phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu và dựa trên những nội dung qui định về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi được ban hành trong Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 và Luật Bảo hiểm Y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 [2], [3]

2.4 Các phương pháp hạn chế sai số

Hạn chế bằng cách tổ chức tập huấn kỹ lưỡng, thống nhất cách ghi nhận số liệu cho toàn bộ điều tra viên trước khi tiến hành nghiên cứu Giám sát quá trình điều tra nghiên cứu Các phiếu điều tra được làm sạch trước khi nhập vào máy vi tính

2.5 Xử lý số liệu

Số liệu sau khi điều tra được làm sạch thô và nhập vào máy vi tính bằng phần mềm EPI-DATA, sau đó chuyển sang phần mềm SPSS 22.0 để xử lý với các test thống kê

y học, giá trị p< 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê Kết quả thu được sau khi xử lý số liệu được trình bày dưới dạng các bảng, biểu đồ và hộp phỏng vấn sâu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Mối liên quan giữa trình độ học vấn, nhóm tuổi và hiểu biết về quy định thông tuyến

Trang 3

Bảng 3.2 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và hiểu biết về tuyến áp dụng quy định thông tuyến

95% )

Số lượng Tỷ lệ (%)

THCS trở xuống 119 19 16,0

>0,05 (0,1 -1,7)0,4

Bảng 3.3 Mối liên quan giữa nhóm xã và thực trạng khám, chữa bệnh thông tuyến

của người cao tuổi trong 1 năm qua

(n=311)

Không thông tuyến

(CI 95% )

Số lượng Tỷ lệ (%)

Gần trung tâm huyện 148 135 91,2

>0,05 1,3

(0,7 – 2,9)

Xa trung tâm huyện 163 144 88,3

không biết về quy định thông tuyến khám, chữa bệnh

bảo hiểm y tế chiếm 57,3% và chiếm 35,1% ở nhóm

NCT có trình độ trên THCS, NCT trình độ học vấn từ

THCS trở xuống có xu hướng không biết về quy định

thông tuyến nhiều hơn NCT có trình độ trên THCS

quy định thông tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chiếm 76,6% và chiếm 62,6% ở nhóm NCT dưới 75 tuổi, NCT từ 75 trở lên có xu hướng không biết về quy định thông tuyến nhiều hơn 1,9 lần nhóm NCT dưới

75 tuổi

Từ bảng 3.2 cho ta thấy NCT không biết tuyến thăm

khám bảo hiểm y tế áp dụng quy định thông chiếm tỷ lệ

16,0% ở nhóm có trình độ từ THCS trở xuống và chiếm

8,1% ở nhóm có trình độ trên THCS, không có mối liên quan giữa trình độ học vấn của NCT với hiểu biết về tuyến

y tế áp dụng quy định thông tuyến

Với những NCT có đi khám chữa bệnh trong năm qua thì

tỷ lệ thông tuyến khám, chữa bệnh ở nhóm NCT sống ở khu

vực gần trung tâm huyện chiếm 91,2% và ở nhóm NCT sống ở

khu vực xa trung tâm huyện chiếm 88,3% Không có mối liên quan giữa khu vực sinh sống và thực hành khám, chữa bệnh thông tuyến của người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Mối liên quan giữa nhận thức và thực hành khám, chữa bệnh thông tuyến

trong 1 năm qua (n=311)

Trang 4

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trong năm qua, đa số NCT không đi KCB thông

tuyến Tỷ lệ thông tuyến khám, chữa bệnh ở nhóm

biết quy định thông tuyến chiếm 18,5% và ở nhóm

NCT không biết quy định thông tuyến chiếm 5,2%

Có mối liên quan giữa nhận thức và thực hành khám,

chữa bệnh thông tuyến của người cao tuổi tại địa bàn

nghiên cứu, theo đó những NCT biết quy định thông

tuyến có xu hướng khám, chữa bệnh thông tuyến bảo

hiểm y tế cao gấp 4,1 lần so với nhóm không biết về

quy định này

IV BÀN LUẬN

Khoản 3 Điều 8 Thông tư 37/2014/TT-BYT

hướng dẫn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và

chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế quy

định: “Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, người tham gia

bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu

tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã hoặc phòng

khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền

khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế

tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa, hoặc bệnh viện

tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh” Có nghĩa là khi

người tham gia BHYT có đăng ký khám chữa bệnh

ban đầu ở một trạm y tế xã hoặc một phòng khám

đa khoa hoặc một bệnh viện cấp huyện thì họ được

quyền đi khám chữa bệnh ở các cơ sở khám chữa bệnh

trong cùng huyện đó hoặc trong phạm vi một tỉnh vẫn

được tính là đúng tuyến và không cần giấy chuyển

viện, có nghĩa là họ không bị giới hạn bởi một cơ sở

khám chữa bệnh ban đầu, như vậy họ vẫn được thanh

toán theo quy định [6] Với việc thông tuyến, người

dân có thẻ BHYT thuận lợi hơn rất nhiều trong việc

tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT, đặc biệt

thuận lợi đối với các trường hợp người lao động khi

phải di chuyển công việc từ địa phương này sang địa

phương khác hoặc người về hưu thay đổi nơi cư trú

Với quy định thông tuyến, các cơ sở khám, chữa bệnh bắt buộc phải đổi mới phong cách phục vụ, đầu tư về

cơ sở vật chất, nhân lực nhằm nâng cao chất lượng KCB

để thu hút người bệnh, lấy người bệnh làm trung tâm Tại tất cả các cơ sở y tế tư nhân tuyến huyện đều có số lượng bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tăng gấp 2 đến 3 lần so với cùng kỳ năm 2015 Thông tuyến đã làm tăng mức độ hấp dẫn của chính sách BHYT, thu hút người dân tham gia BHYT và thúc đẩy mở rộng đối tượng tham gia BHYT Năm 2016, số người tham gia BHYT theo hộ gia đình là 11.530.389 người, tăng 37,4% so với năm 2015 cho thấy người dân đã tin tưởng và nhận thấy lợi ích của chính sách BHYT Đồng thời, thông tuyến tạo nên sự công bằng hơn trong cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT giữa cơ

sở y tế công và tư [2]

Trong năm qua, đa số người cao tuổi không đi KCB thông tuyến Tỷ lệ thông tuyến khám, chữa bệnh ở nhóm biết quy định thông tuyến chiếm 18,5% và ở nhóm người cao tuổi không biết quy định thông tuyến chiếm 5,2% Có mối liên quan giữa nhận thức và thực hành khám, chữa bệnh thông tuyến của người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu, theo đó những NCT biết quy định thông tuyến có xu hướng khám, chữa bệnh thông tuyến bảo hiểm y tế cao gấp 4,1 lần so với nhóm không biết về quy định này (biểu

đồ 3.1)

Thực hiện quy định thông tuyến, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế gia tăng nhanh chóng, đạt 81,7% vào năm 2016 [2] Tuy nhiên thông tuyến cũng mang lại một

số bất cập như tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ bảo hiểm

y tế có xu hướng ngày càng gia tăng Có nhiều cơ sở khám chữa bệnh cạnh tranh để thu hút người có bảo hiểm đến khám không đúng quy định như chỉ định tăng các xét nghiệm cận lâm sàng, nhất là các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, các loại thuốc đắt tiền… Việc người có bảo hiểm đi khám chữa bệnh nhiều lần trong ngày, tuần, tháng để lấy thuốc không còn là hiện tượng cá biệt, cơ

Trang 5

đầu cho người dân, chúng tôi có hỏi trạm trưởng có

những ý kiến, những mong muốn gì đối với chính sách

BHYT để đáp ứng tốt việc KCB và thanh toán BHYT

Các ý kiến tiêu biểu của Trưởng Trạm y tế cho rằng

nên cung cấp thêm trang thiết bị cho trạm y tế xã;

thanh toán đầy đủ quỹ khám BHYT kịp thời, nhanh

chóng cho trạm

V KẾT LUẬN

- NCT trình độ học vấn từ THCS trở xuống có xu

hướng không biết về quy định thông tuyến nhiều hơn

NCT có trình độ trên THCS 0,2 lần

- NCT từ 75 trở lên có xu hướng không biết về quy

định thông tuyến nhiều hơn 1,9 lần nhóm NCT dưới 75 tuổi

- Không có mối liên quan giữa trình độ học vấn của

đối tượng với hiểu biết của đối tượng về tuyến khám, chữa

- Không có mối liên quan giữa khu vực sinh sống và thực hành khám, chữa bệnh thông tuyến của người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu

- NCT biết quy định thông tuyến có xu hướng khám, chữa bệnh thông tuyến bảo hiểm y tế cao gấp 4,1 lần so với nhóm không biết về quy định này

VI KHUYẾN NGHỊ

1 Tăng cường công tác truyền thông về chính sách bảo hiểm y tế để người cao tuổi hiểu rõ quyền lợi của người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế; đặc biệt là các quy định thông tuyến và quyền lợi của người cao tuổi khi thông tuyến

2 Các cơ sở y tế cần đẩy mạnh cải cách thủ tục khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo hướng thuận tiện, giảm phiền hà, giảm thời gian chờ đợi, đặc biệt đối với người cao tuổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2015), Thông tư số 40/2015/TT-BYT quy định đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu

và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

2 Bộ Y tế (2017), Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2017.

3 Đình Nam (2016), Phải tăng nhanh tỷ lệ người cao tuổi có bảo hiểm y tế

4 Quốc hội (2009), Luật Người cao tuổi Việt Nam

5 Quốc hội (2014), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, Số 46/2014/QH13

6 Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2006), Đánh giá việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam

Ngày đăng: 02/11/2020, 04:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w