1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, hành vi và vấn đề sức khỏe liên quan đến người dân tiếp xúc hóa chất bảo vệ thực vật ở huyện Tân Hưng, tỉnh Long An

5 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 331,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện trên 338 đối tượng nông dân nhằm tìm hiểu về kiến thức, một số hành vi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và vấn đề sức khỏe liên quan.

Trang 1

VI

ỆN S

ỨC KH

ỎE CỘ

NG ĐỒ

NG

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

KIẾN THỨC, HÀNH VI VÀ VẤN ĐỀ SỨC KHOẺ

LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI DÂN TIẾP XÚC HOÁ CHẤT

BẢO VỆ THỰC VẬT Ở HUYỆN TÂN HƯNG, TỈNH LONG AN

Nguyễn Hồng Lập 1 , Nguyễn Văn Tập 1 , Nguyễn Thanh Bình 1

1 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Tác giả: Nguyễn Hồng Lập: ĐT: 0918172961;

Email: nhonglap@yahoo.com.vn

TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện trên 338 đối tượng nông dân nhằm

tìm hiểu về kiến thức, một số hành vi sử dụng hoá chất bảo

vệ thực vật và vấn đề sức khoẻ liên quan Kết quả cho tỷ lệ

kiến thức chung đúng về đường xâm nhập vào cơ thể 1,8%,

bệnh liên quan sau thời gian tiếp xúc hoá chất bảo vệ thực vật

3,55% và nơi tồn tại hoá chất bảo vệ thực vật 5,33% Kiến

thức đúng về chiều phun thuốc 56,3% Đọc tờ hướng dẫn

81,1%; người dân có thói quen trộn chung từ 2 loại thuốc trở

lên 94,4% Tỷ lệ người có sử dụng khẩu trang trong khi pha

thuốc là 51,2 % và phun thuốc 50,9% Thời gian phun thuốc

trên 6 lần / tháng 38,8% mỗi lần phun trên 4 giờ 73,4% Sau

khi phun, tỷ lệ đốt bỏ chai lọ thuốc là 47,3% Một số triệu

chứng thường gặp phải khi tiếp xúc hoá chất bảo vệ thực vật,

cao nhất là ngứa, đỏ, nóng rát vùng da 61% và thấp nhất là

đau bụng, tiêu chảy 15,4% Tỷ lệ người dân xuất hiện từ 3

triệu chứng trở lên là 62,7% Những nông dân có thời gian

phun thuốc nhiều hơn 6 giờ/ lần có tỷ lệ xuất hiện các triệu

chứng cao gấp 1,31 lần những nông dân có thời gian phun

thuốc dưới 03 giờ/ lần

ABSTRACT

KNOWLEDGE, BEHAVIOR AND HEALTH ISSUES

OF PEOPLE EXPOSED TO PLANT PROTECTION

CHEMICALS IN TAN HUNG DISTRICT, LONG AN

PROVINCE

The study conducted on 338 subjects farmers to survey

about knowledge, some acts of using plant protection

chemicals and related health problems Results for general

knowledge correct ratio of intrusion path from entering the

body by 1.8%, related disease after exposure time of plant

protection chemicals and where existing 3.55% plant protection

chemicals 5,33% Farmers have the right knowledge about

56.3% spraying direction Read leaflet 81.1%; Farmers have

the habit of drugs mixed from 2 or more 94.4% The percentage

of people using drugs masks while phase is 51.2% and spraying 50.9% Spray time of 6 times / month 38.8% per injection over 4 hours 73.4% After spraying, the rate of medication bottles flaring is 47.3% Some common symptoms of exposure

to plant protection chemicals, the highest of itching, redness, burning skin, and the lowest 61% are abdominal pain, diarrhea 15.4% The proportion of people appear from 3 symptoms was 62.7% or more These farmers have time to spray more than 6 hours / time ratio symptoms appear higher than 1.31 times farmers have time to spray less than 03 hours / times

Từ khóa: Hoá chất bảo vệ thực vật, kiến thức, hành vi,

sức khoẻ, Long An

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 67,0% diện tích trồng lúa, hoa màu Do đó, tỷ lệ cao người dân sử dụng thường các loại hoá chất bảo vệ thực vật Tỷ lệ cao người dân phơi nhiễm thường xuyên với hoá chất dẫn tới nguy cơ phát sinh bệnh tật Đặc biệt là tại các nước đang phát triển 99% trường hợp ngộ độc xảy ra ở các nước này, cho dù lượng tiêu thụ hoá chất bảo vệ thực vật chỉ chiếm 20% [5] Phần lớn người nông dân tại các nước này chưa nhận biết đầy đủ về tác hại cũng như nguy cơ do hoá chất bảo vệ thực vật gây ra[1] Nhưng tác hại do hoá chất bảo vệ thực vật gây ra như biến đổi môi trường sinh thái, tiêu diệt sinh vật có lợi như

cá, chim, mà còn tác động về mặt sức khỏe con người, đặc biệt người nông dân, mà chính họ tiếp xúc, đối mặt hàng ngày trên cánh đồng còn quá ít thông tin, và những nghiên cứu trong nước đặc biệt là nghiên cứu ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long về ảnh hưởng hoá chất bảo vệ thực vật tác động lên sức khỏe con người thì còn quá hạn chế Nhằm đưa

ra những biện pháp hợp lý nhằm kiểm soát và nâng cao sức khoẻ người dân Với mục tiêu: Nghiên cứu kiến thức, một số

Trang 2

II ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Người nông dân trồng lúa có tham gia phun

hoá chất bảo vệ thực vật tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An

vào vụ đông xuân tháng 12 năm 2012 và tháng 01 năm 2013

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu:

p (1-p)

n = Z² (1-α/2) -

d² n: cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi nhóm p = 0,31 là tỷ lệ người

dân tiếp xúc hóa chất BVTV trên trang trại trồng ớt có kiến

thức chung đúng là 31,1% tại Thái Lan của tác giả Prasit

Kachaiyaphum [7] (α=0,05), Z=1,96 d=0,05: là sai số cho

phép, Vậy cỡ mẫu tối thiểu là n = 329 người dân Thực tế

khảo sát 338 người

- Chọn mẫu: bốc thăm ngẫu nhiên chọn 3 xã trong 11

xã của huyện Tân Hưng Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 4-5 ấp

Tổng số hộp 3 xã được chọn là 2.246 hộ, khoảng cách mẫu

tính được là 5 Mỗi hộ chọn 1 đối tượng bao gồm thành

viên chính hoặc đối tượng tạm trú có tham gia phun thuốc

(trường hợp hộ có nhiều đối tượng đủ tiêu chuẩn cũng chỉ

chọn 01)

- Tiêu chí chọn vào: Người nông dân trong độ tuổi lao

động, nam giới có tiếp xúc trực tiếp hoá chất bảo vệ thực vật

và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại ra: Người nông dân tuổi dưới 18 hoặc trên

60 tuổi Hiện đang có bệnh đi kèm như tim mạch, tiểu đường,

bệnh thận, suy dinh dưỡng, bệnh viêm gan, xơ gan, bệnh ung

thư, thiếu máu, nghiện rượu Hoặc nông dân bị thiểu năng

tâm thần không có khả năng trả lời khi phỏng vấn

- Thu thập dữ liệu: Phỏng vấn: Bộ câu hỏi cấu trúc

- Xử lý số liệu: Các số liệu được nhập liệu và phân tích

theo phương pháp thống kê y học với phần mềm Epi-Data,

Stata-10 So sánh khác biệt bằng test χ², p ngưỡng < 0,05

Các chỉ số nghiên cứu:

1 Kiến thức:

- Kiến thức đúng về đường xâm nhập khi nông dân trả

lời đúng là qua cả 3 đường tiếp xúc qua da, qua tiêu hóa, qua

hô hấp

- Kiến thức đúng về nguy cơ bệnh sau thời gian dài tiếp

xúc với hóa chất BVTV khi nông dân trả lời đúng 4 bệnh: hô

hấp, da liễu, thần kinh, ung thư

- Kiến thức đúng về nơi hoá chất bảo vệ thực vật tồn tại

khi nông dân trả lời đúng 4 nơi tồn tại trong đất, nước , rau

quả, không khí

nơi hoá chất bảo vệ thực vật tồn tại

2 Hành vi:

- Số lần phun thuốc trong tháng <4 lần /tháng, 4 - 6 lần / tháng và >6 lần /tháng

- Thời gian mỗi đợt phun <3 giờ, 3 - 6 giờ, >6 giờ

- Đọc kỹ bản hướng dẫn sử dụng luôn luôn, đôi khi và không bao giờ đọc

- Cách thức sử dụng thuốc một loại, trộn chung nhiều loại, trộn chung phân bón

- Xử lý vỏ thuốc sau khi sử dụng Bỏ lại trên đồng, bán

ve chai, đốt bỏ, khác

- Các triệu chứng liên quan phun thuốc: có và không triệu chứng

Triệu chứng bao gồm: choáng, nhức đầu, nôn và ói, đỏ mắt, đau bụng, tiêu chảy, ho khó thở đau tức ngực, ngứa và

đỏ vùng da, các triệu chứng này xuất hiện trong đợt khảo sát phun thuốc vụ mùa đông xuân năm 2012 -2013

3 Đạo đức trong nghiên cứu

Quyền lợi và thông tin cá nhân của đối tượng được bảo vệ theo đúng quy định

III KẾT QUẢ 3.1 Kiến thức người dân về sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật

Bảng 3.1 Kiến thức người dân về sử dụng hoá chất bảo

vệ thực vật

Đường hóa chất BVTV xâm nhập vào cơ thể

Các bệnh liên quan sau thời gian dài tiếp xúc hóa chất BVTV

Nơi hóa chất BVTV tồn tại sau khi phun

Trang 3

VI

ỆN S

ỨC KH

ỎE CỘ

NG ĐỒ

NG

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chiều phun thuốc

Kiến thức cao nhất về đường xâm nhập vào cơ thể là qua

đường hít thở 86,9%; kiến thức đúng cả 3 đường (hít thở, da,

miệng) xâm nhập vào cơ thể là 1,8% Kiến thức về bệnh liên

quan sau thời gian dài tiếp xúc hóa chất BVTV là bệnh về

đường hô hấp chiếm 75,4%, trả lời đúng cả 4 bệnh 3,55%

Kiến thức cao nhất về hóa chất BVTV tồn tại trong nước sau

khi phun thuốc 48,2% và trả lời đúng cả 4 nơi (nước, đất, rau/

quả, không khí) là 5,33%

Kiến thức đúng về chiều phun thuốc cao nhất là cùng

chiều gió 56,3%

3.2 Hành vi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

Bảng 3.2 Hành vi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

Đường hóa chất BVTV xâm nhập vào cơ thể

Cách sử dụng thuốc

Có sử dụng khẩu

Có sử dụng khẩu trang

Số lần phun thuốc

Thời gian phun thuốc

Sử dụng dụng cụ đựng /pha thuốc

riêng, dán nhãn phân biệt

Xử lý vỏ thuốc

Kết quả tỷ lệ nông dân có đọc và hiểu rõ hướng dẫn trước khi sử dụng là 81,1% Sử dụng hóa chất BVTV bằng cách pha với vài loại thuốc 94,9%; có sử dụng khẩu trang trong khi pha thuốc là 51,2%; xử lý vỏ chai sau khi sử dụng lần lượt là đốt 47,3%, ngoài ra còn bỏ chôn ngoài đồng 24,6%

3.3 Một số vấn đề sức khoẻ liên quan đến người sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật

Bảng 3.3 Các dấu hiệu, triệu chứng sau khi tiếp xúc với hoá chất bảo vệ thực vật

Các dấu hiệu, triệu chứng (n=338) Tần số Tỷ lệ (%)

Triệu chứng chung (xuất hiện từ 3 triệu

Tỷ lệ cao nhất là ngứa/ đỏ /nóng rát vùng da với 61,0%

Tỷ lệ người xuất hiện từ 3 triệu chứng trở lên là 62,7%

Bảng 3.4 Liên quan triệu chứng chung với hành vi sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật

Triệu chứng

Số lần

2-3 lần 79 (61,2) (38,8) 0,32 0,90 (0,73-1,11)50 4-6 lần 80 (61,1) (38,9) 0,31 0,99 (0,73-1,10)51 Hơn 6 lần

Trang 4

Có (%) Không (%) (KTC95%)

Thời gian

Dưới

04 giờ 88 (65,2) (34,8) 0,06 1,25 (0,99-1,57)47

Từ 04

-06 giờ 77 (68,1) (31,9) 0,03 1,31 (1,03-1,65)36

Trên 06 giờ

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa những người

nông dân có hay không có triệu chứng chung (khi xuất

hiện nhiều hơn 03 dấu hiệu) với thời gian phun thuốc với

(p=0.03) Trong đó, những nông dân có thời gian phun thuốc

nhiều hơn 6 giờ/ mỗi lần có tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng

cao gấp 1,31 lần những nông dân có thời gian phun thuốc

dưới 03 giờ/ mỗi lần

IV BÀN LUẬN

4.1 Kiến thức sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật

Đa số nông dân có kiến thức về đường xâm nhập vào

cơ thể là qua đường hít thở chiếm 86,9%; kiến thức đúng

về đường xâm nhập vào cơ thể là 1,8% Kết quả tương tự

nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh với tỷ lệ xâm

nhập qua đường hít thở là 88,6%, tuy nhiên tỷ lệ người dân

có kiến thức đúng về cả 3 đường xâm nhập thấp hơn nhiều

40,5%[4] Tương tự, kết quả thấp hơn nghiên cứu của Prasit

Kachaiyaphum với tỷ lệ người có kiến thức tốt về sử dụng

hoá chất bảo vệ thực vật là 31,1%[7]

Kiến thức đúng về bệnh liên quan sau thời gian dài tiếp

xúc hóa chất BVTV là 3,55% Điều này rất phù hợp với câu

hỏi khảo sát về đường xâm nhập vào cơ thể qua đường

hô hấp là đa số, do vậy bệnh về đường hô hấp chiếm tỷ lệ

cao 75,4% Kết quả phù hợp với kết quả nghiên cứu của

Prasit Kachaiyaphum cho tỷ lệ bệnh đường hô hấp 76,6%,

bệnh da liễu 70,6% bệnh ung thư và bệnh thần kinh lần

lượt là 42% và 66%[7] Dù điều kiện phun thuốc ở hai nơi

khác nhau, ở nghiên cứu của Prasit Kachaiyaphum khảo sát

đối tượng là người dân trồng ớt, phun trên cạn, tỷ lệ mang

khẩu trang và áo quần bảo hộ lao động tương đối cao, nên

phần nào bảo vệ được trong lúc phun Còn ở nghiên cứu

này khảo sát người dân trồng lúa nước, phun theo chiều

dọc thửa ruộng, tỷ lệ mang khẩu trang khi phun thấp, đa số

không sử dụng phương tiện bảo hộ lao động khác như mang

áo, quần bảo hộ, thời gian phun thuốc khá dài nên phần nào

hóa chất thấm qua da, hay đường hô hấp nên ở đây đa số

khảo sát người dân có kiến thức đúng về chiều phun thuốc

là cùng chiều gió 56,3% Tuy nhiên do công việc phun thuốc trên cánh đồng lúa, diện tích thửa ruộng bố trí theo hình chữ nhật, trong đó chiều dài thường gấp 10 lần chiều rộng, nên người dân có thói quen phun thuốc theo chiều xuôi và ngược lại, mặc dù người dân trả lời có kiến thức đúng về chiều phun thuốc theo cùng chiều gió Phun thuốc thường là phun theo hướng trước mặc, chứ không chọn phun theo hướng vật lùi, phun trên cánh đồng nước, thêm vào là không sử dụng bảo

hộ lao động, điều này làm cho thuốc thấm vào da rất nhanh Chiều phun thuốc ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe nhưng người dân không chú trọng vấn đề này

4.2 Hành vi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

Trong tháng 1 vụ đông xuân 2012-2013 số lần phun thuốc lớn hơn 6 lần cao nhất với 38,8%; thời gian cho mỗi lần phun

từ 4-6 giờ là 39,9% Kết quả thu được lớn hơn nghiên cứu của Prasit Kachaiyaphum về thời gian phun thuốc lớn hơn 3 lần trong tháng 28,9% [7] Thời điểm tiến hành nghiên cứu

là giai đoạn giữa thời vụ nên số lần phun thuốc lớn hơn 6 lần trong tháng là phù hợp Do mỗi hộ có diện tích canh tác khá lớn nên thời gian phun 4 -6 giờ/lần phun cao Trong đó phun diệt cỏ chủ yếu vào giai đoạn đầu thời vụ, phun diệt sâu rầy khoảng 20 -30 ngày sau khi gieo hạt và sẽ phun xen kẽ với thuốc dưỡng cây Do vậy thời điểm khảo sát vào khoảng 1/3 của vụ nên số lần phun thuốc đa số phun từ 4 lần trở lên Qua khảo sát hành vi sử dụng hóa chất BVTV, kết quả cho thấy đa số nông dân có đọc và hiểu rõ hướng dẫn trước khi

sử dụng 81,1% Sử dụng hóa chất BVTV bằng cách pha các loại thuốc cao 94,9% Kết quả tương tự tác giả Nguyễn Tuấn Khanh là 82,3%[4], nghiên cứu của Prasit Kachaiyaphum là 1,4% [7] Sự khác biệt lớn ở nghiên cứu vì người dân muốn đạt hiệu quả cao khi phun thuốc, do đó phối hợp nhiều thuốc

sẽ có tác dụng diệt sâu rầy nhanh hơn, hạn chế được số lần phun Về nguyên tắc không phối hợp hơn hai loại thuốc, vì tác dụng hiệp lực đôi khi giảm, dư lượng thuốc tồn tại trong đất, hay theo dòng nước ra sông rạch làm ảnh hưởng đến môi trường sống

Sử dụng khẩu trang trong khi pha thuốc là 51,2%, và sử dụng khẩu trang trong khi phun thuốc là 50,9% Tuy nhiên khẩu trang mà người dân sử dụng thường là loại khẩu trang vải không đúng tiêu chuẩn dành cho người làm ở môi trường tiếp xúc thường xuyên chất độc Kết quả thấp hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh 92,2 % [4], và tác giả Nguyễn Thị Hà 90% [3]

Hành vi xử lý vỏ chai sau khi sử dụng lần lượt là đốt

Trang 5

VI

ỆN S

ỨC KH

ỎE CỘ

NG ĐỒ

NG

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

47,3%; bỏ chôn ngoài đồng 24,6% Ngoài ra một số hộ còn

tái sử dụng đựng thực phẩm Kết quả tương tự kết quả

nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh tỷ lệ vứt bỏ ngoài cánh

đồng 21,8%[4] Trong khi đó kết quả nghiên cứu của Prasit

Kachaiyaphum và cộng sự về hành vi xử lý vỏ chai như

vứt bỏ như rác, đốt bỏ, đựng thực phẩm lần lượt là 44,2%,

25,1% và 5,1%[7] Nhận thấy người nông dân có ý thức kém

trong việc xử lý dụng cụ chứa đựng hóa chất BVTV, đa phần

là chai nhựa, hay túi nhựa do đó nếu chôn vùi trong đất thì

khả năng phân hủy rất rất khó khăn, do vậy hình thức tốt nhất

là đốt bỏ không ảnh hưởng môi trường, an toàn cho bản thân

và cho môi trường xung quanh

4.3 Triệu chứng liên quan đến người sử dụng hoá chất

bảo vệ thực vật

Tỷ lệ cao nhất là ngứa, đỏ, nóng rát vùng da với 61,0%

Một số triệu chứng khác như nhức đầu 60,1%; đỏ mắt

58,3% Triệu chứng ho, khó thở đau ngực 54,4% Một nghiên

cứu trong nước của Phạm Bích Ngân và Đinh Xuân Thắng

tại TPHCM có kết quả như da ngứa mẩn đỏ 41,3%, đau đầu

85,5%, đỏ mắt là 20,6%[6] Một nghiên cứu khác được tiến

hành của tác giả Khúc Xuyền điều tra và đo nồng độ Wofatox,

kết quả thu được cho thấy người dân ngứa 58,26%, đau đầu

44,4%[8] Kết quả khác nhau lý giải rằng do liên quan công

việc mỗi nơi khác, điều kiện bảo hộ lao động chưa tương

xứng, tuy nhiên các triệu chứng điển hình khi tiếp xúc với thuốc hóa chất BVTV như nhức đầu, ngứa da, đỏ mắt thì nơi nào người dân một khi đã phơi nhiễm cũng có triệu chứng

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa những người nông dân có hay không có triệu chứng chung với thời gian phun thuốc Trong đó, những nông dân có thời gian phun thuốc nhiều hơn 6 giờ/ mỗi lần có tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng cao gấp 1,31 lần những nông dân có thời gian phun thuốc dưới 3 giờ/ mỗi lần

V KẾT LUẬN

Kiến thức người dân về cách sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật còn thấp Một số hành vi sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng Triệu chứng thường gặp phải khi tiếp xúc hoá chất bảo vệ thực vật, cao nhất là ngứa, đỏ, nóng rát vùng da 61% và thấp nhất là đau bụng, tiêu chảy 15,4% Tỷ lệ người xuất hiện từ 3 triệu chứng trở lên là 62,7% Những nông dân có thời gian phun thuốc nhiều hơn 6 giờ/ mỗi lần có tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng cao gấp 1,31 lần những nông dân có thời gian phun thuốc dưới 03 giờ/ mỗi lần

Do đó, cần có những biện pháp nâng cao kiến thức, thay đổi hành vi sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật có nguy cơ, qua đó nhằm nâng cao sức khoẻ người dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thủy (Eds.) (2007) Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Hà

Nội, Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội

2 Cục y tế dự phòng và môi trường (2010) Báo cáo công tác y tế lao động, bệnh nghề nghiệp năm 2009, Hà Nội

3 Nguyễn Thị Hà (2004) Nghiên cứu kiến thức thực hành và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên rau thương phẩm của người dân phường Túc Duyên, Đại học Y Dược Thái Nguyên, tr.35.

4 Nguyễn Tuấn Khanh (2010) Đánh giá ảnh hưởng của sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khỏe người chuyên canh chè tại Thái Nguyên và hiệu quả của các biện pháp can thiệp, Đại học Y Dược Thái Nguyên, tr.33-40.

5 Hà Huy Kỳ (2001) Điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe của người lao động tiếp xúc với hoá chất bảo vệ thực vật, Đề

tài khoa học công nghệ cấp Bộ, Bộ Y tế, tr 149

6 Phạm Bích Ngân, Đinh Xuân Thắng (2006) "Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khỏe của người phun thuốc " Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, 2, tr.72 -80.

7 Kachaiyaphum P, Howteerakul N, Sujirarat D, Siri S, Suwannapong N (2009) "Serum cholinesterase levels of Thai

chilli - farm workers exposed to chemical pesticides prevalence estimates and associated factors" Faculty of Public Health Mahidol University, Thai Lan, 52 (1), pp.89 -98.

8 Xuyên K, Hoi C, Trung Q (2000) "Occupational environment and skin disease in pesticide exposed subject in some

farms in Việt Nam" The Third National Scientific Conference on Occupational Health, National University of Singapore

Ngày đăng: 02/11/2020, 04:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w