Với mục tiêu tìm hiểu tình hình chăm sóc sức khỏe ban đầu tai nạn thương tích tại thành phố Huế năm 2011-2012. Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 502 người dân hiện đang sống trên địa bàn thành phố Huế xảy ra tai nạn thương tích trong năm 2011- 2012 đến điều trị tại các cơ sở y tế thành phố Huế.
Trang 1TÌNH HÌNH SƠ CỨU BAN ĐẦU TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2011 - 2012
Trần Bùi 1 , Trần Văn Hưởng 2 , Nguyễn Văn Tập 3
TÓM TẮT
Với mục tiêu tìm hiểu tình hình chăm sóc sức khỏe ban
đầu tai nạn thương tích tại thành phố Huế năm 2011-2012
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 502 người dân
hiện đang sống trên địa bàn thành phố Huế xảy ra tai nạn
thương tích trong năm 2011- 2012 đến điều trị tại câc cơ sở
y tế thành phố Huế Kết quả, có 65,9% số nạn nhân được sơ
cấp cứu ngay sau khi xảy ra tai nạn Người sơ cấp cứu nạn
nhân là người trong gia đình/ bạn bè/ thầy cô/ đồng nghiệp
60,4%, cán bộ y tế chỉ có 12,7% Hai kỹ thuật sơ cấp cứu
được sử dụng nhiều nhất là cầm máu tỷ lệ 46,2%; băng bó
tỷ lệ 43,5% Có 90,6% nạn nhân được vận chuyển đến cơ sở
điều trị trong vòng một giờ Kết quả điều trị có 93,8% số nạn
nhân bình phục hoàn toàn, di chứng có thể phục hồi 4,2%,
tàn tật vĩnh viễn 0,8%, tử vong 1,2%
Từ khóa: Tai nạn thương tích.
ABSTRACT
FIRST AID OF ACCIDENTS, INJURIES IN HUE
CITY, 2011-2012
With the objective of find out the situation of primary
health care injury accident in 2011-2012 in the city of Hue A
cross-sectional study was conducted on 502 people currently
live in the city of Hue, who have accident injuries in 2011
and 2012 and treated at the medical facility in Hue City
Results: 65.9% of aid victims immediately after the accident
scenes Family / friends / teachers / peers are aid to victims
60.4%, health workers accounted for only 12.7% rate Two
techniques are used aid as much as 46.2% bleeding rate;
bandaged ratio 43.5% 90.6% of the victims have been
transported to treatment facilities within an hour, a result
93.8% treated with victims recover completely, sequelae can
recover 4.2%, disabled permanently 0.8%, 1.2% mortality
Keywords: Injury accident.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn thương tích hiện là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ở khắp mọi nơi trên thế giới với số tử vong ước tính ngày càng tăng và là một trong những nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu Thành phố Huế là thành phố của tỉnh Thừa Thiên Huế, là di sản văn hóa của nhân loại, ở miền Trung của Việt Nam Dân số trung bình khoảng 340.000 người Trong những năm gần đây tốc độ
đô thị hóa khá nhanh, kinh tế xã hội phát triển nên phương tiên giao thông đi lại cũng gia tăng đặc biệt là là xe mô tô, bên cạnh đó Huế là một nơi thường xẩy ra lũ lụt có năm xẩy
ra 5-6 cơn lũ Điều đó càng làm cho nguy cơ xẩy ra tai nạn thương tích càng lớn Mặc dù hiện nay về tai nạn thương tích
có rất nhiều công trình nghiên cứu cả trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào
về tai nạn thương tích tương đối đầy đủ để có một cái nhìn tổng quát về tai nạn thương tích đối với cộng đồng người dân thành phố Huế Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu tìm hiểu tình hình chăm sóc sức khỏe ban đầu tai nạn thương tích tại thành phố Huế năm 2011-2012 nhằm góp phần phòng chống tai nạn thương tích ngay tại cộng đồng, địa phương
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Đối tượng: Người dân hiện đang sống trên địa bàn thành phố Huế xảy ra tai nạn thương tích trong năm 2011- 2012 đến điều trị tại các cơ sở y tế thành phố Huế
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu: 502 trường hợp tai nạn thương tích của người
dân thành phố Huế xẩy ra trong năm 2011-2012 (tháng
1 Bệnh viện thành phố Huế Điện thoại: 0914962 648 - Email: buihuehealthcenter@yahoo.com.vn
2 Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội
3 Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG ĐỒ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
5/2011 đến tháng 4/2012)
Chọn mẫu: Lấy mẫu toàn bộ.
Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng phiếu “Khảo
sát thương tích tại Việt Nam năm 2010” do Bộ Lao động
Thương binh Xã hội, Bộ Y tế, WHO, UNICEF và trường Đại
học y tế công cộng ban hành có sữa chữa cho phù hợp với
phạm vi đề tài nghiên cứu
Xử lý số liệu: Sử dụng các test thống kê, phân tích bằng
phần mềm Epidata, SPSS 11.5
Đạo đức nghiên cứu: Đảm bảo quyền lợi của đối tượng
tham gia nghiên cứu và bảo mật thông tin cá nhân
III KẾT QUẢ
Bảng 1 Số lượng nạn nhân được sơ cấp cứu tại chỗ
ngay sau khi xẩy ra tai nạn
Sơ cấp cứu tại chỗ Tần số Tỷ lệ (%)
Có 331 65,9
Không 170 33,9
Không nhớ/không rõ 1 0,2
Số nạn nhân được sơ cấp cứu khá cao có tỷ lệ 65,9%
Bảng 2 Người sơ cấp cứu tại chỗ
Người sơ cấp cứu Tần số Tỷ lệ (%)
Tự sơ cứu 46 13,9
Cán bộ y tế 42 12,7
Người trong gia đình/bạn
bè/thầy cô/ đồng nghiệp 200 60,4
Người đi đường 43 13,0
Tổng cộng 331 100,0
Trong số 331 người được sơ cấp cứu tại chỗ thì người sơ
cấp cứu tại chỗ cho nạn nhân chủ yếu là người trong gia đình/
bạn bè/thầy cô/đồng nghiệp của nạn nhân 60,4%, tự sơ cứu
13,9%, người đi đường 13%, cán bộ y tế chỉ sơ cứu 12,7%
Bảng 3 Nội dung sơ cấp cứu được thực hiện
Nội dung sơ cứu Tần số Tỷ lệ (%)
Hô hấp nhân tạo 2 0,6
Được băng bó 144 43,5
Được cầm máu 153 46.2
Cố định xương khớp 9 2,7
Khác 20 6,1
Không nhớ/không rõ 3 0,9
Tổng cộng 331 100
Hai nội dung được sử dụng để sơ cứu nhiều nhất là cầm
máu 46,2% và băng bó 43,5%
Bảng 4 Tình hình bệnh nhân đến cơ sở điều trị
Cơ sở điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Có đến cơ sở điều trị 490 97,6 Không đến cơ sở điều trị 12 2,4 Tổng cộng 502 100 Trong 502 nạn nhân thì số nạn nhân được đưa đến các cơ
sở điều trị 97,6%
Bảng 5 Cơ sở đầu tiên được chuyển đến
Cơ sở điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Trạm y tế 61 12,5 Bệnh viện(huyện)
thành phố 364 74,3 Bệnh viện trung ương 52 10,6 Bệnh viện tư nhân 7 1,4 Phòng khám tư nhân 4 0,8
Tổng cộng 490 100
Cơ sở đầu tiên nạn nhân được chuyển đến là bệnh viện thành phố Huế 74,3%, thứ hai là trạm y tế 12,5%, thứ ba là Bệnh viện Trung ương Huế 10,6%
Bảng 6 Phương tiện vận chuyển nạn nhân
Phương tiện chuyển Tần số Tỷ lệ (%)
Xe cứu thương 9 1,8
Xe ô tô 28 5,7
Xe máy 438 89,5
Xe đạp/ xích lô/ ba gác 6 1,2
Đi bộ/ khiêng/ cỏng 8 1,6
Tổng số 490 100 Các phương tiện chủ yếu để vận chuyển nạn nhân đến các cơ sở điều trị là xe máy 89,5%, xe ô tô 5,7% và xe cứu thương chỉ vận chuyển 1,8% nạn nhân bị tai nạn thương tích
Bảng 7 Thời gian từ khi xảy ra tai nạn đến khi được vận chuyển tới cơ sở khám chữa bệnh
Thời gian đến cơ sở y tế Số lần Tỷ lệ (%)
Dưới 30 phút 353 72,1
Từ 30 phút đến 60 phút 91 18,6
Từ 1 giờ đến 3 giờ 12 2,4
Từ 3 giờ đến 6 giờ 8 1,6
Từ 6 đến 24 giờ 12 2,4 Trên 24 giờ 14 2,9 Tổng cộng 490 100
Trang 3đến khi được chuyển đến các cơ sở điều trị dưới 30 phút là
72,1%, từ 30- 60 phút là 18,6%, từ 1 giờ đến 3 giờ là 2,4%
Bảng 8 Tình hình và kết quả điều trị của nạn nhân
Kết quả điều trị Số lần Tỷ lệ (%)
Đang điều trị 367 76,3
Bình phục hoàn toàn 84 17,5
Di chứng phục hồi 20 4,2
Tàn tật 4 0,8
Tử vong sau điều trị 6 1,2
Tổng cộng 481 100
Có 481/502 nạn nhân có kết quả điều trị, trong đó có
76,3% đang còn điều trị khi được phỏng vấn, đã ra viện và
bình phục hoàn toàn là 17,5%, có di chứng nhưng có thể
phục hồi là 4,2%, bị tàn tật là 0,8% và có 6 trường hợp bị tử
vong 1,2%
IV BÀN LUẬN
Tình hình sơ cấp cứu: Trong nghiên cứu của chúng
tôi về tình hình sơ cấp cứu khi tai nạn xẩy ra khá cao,
số trường hợp tai nạn thương tích được sơ cứu tại chỗ là
65,9% Nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu
của Nguyễn Dung điều tra tai nạn thương tích tại tỉnh
Thừa Thiên – Huế năm 2005, có 65,7% các trường hợp
tai nạn thương tích được sơ cứu ban đầu [3] Còn Lê vũ
Anh điều tra tình hình chấn thương ở trẻ dưới 18 tuổi tại
6 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên –
Huế, Cần Thơ và Đồng Tháp, được sơ cấp cứu 57,3% và
có 41,5% không được sơ cứu [1]
Về người thực hiện sơ cấp cứu ban đầu ngay sau
khi tai nạn thương tích xảy ra: Ở nghiên cứu của chúng
tôi mặc dù tỷ lệ người bị tai nạn thương tích được sơ cấp
cứu ban đầu khá cao nhưng người thực hiện sơ cấp cứu
lại là nhũng người không phải cán bộ chuyên môn y tế mà
nhiều nhất lại là người nhà, bạn bè, thầy cô, người đồng
nghiệp của nạn nhân chiếm 60,4%, tiếp đến là nạn nhân
tự sơ cứu chiếm 13,9%, thứ ba là người đi đường chiếm
tỷ lệ 13% Cuối cùng là nhân viên y tế sơ cứu 12,7%
Tương tự Như công trình của Lê Vũ Anh hơn 70% trường
hợp chấn thương được người nhà nạn nhân sơ cứu, 14%
được cán bộ y tế sơ cứu và 9,2% được người khác sơ cứu
(người đi đường) [1]
tôi, nội dung sơ cấp cứu ban đầu cho bệnh nhân khá đơn điệu chủ yếu hai thủ thuật thường dùng là cầm máu 46,2%
và băng bó 43,5% Tương tự như nghiên cứu tại Hà Nội, Hưng Yên, Thừa Thiên –Huế, tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai năm 2011, thì có 68,3% nạn nhân được sơ cấp cứu với hình thức băng bó, 62,8% được sơ cấp cứu bằng hình thức cầm máu [5] Nói chung sơ cấp cứu tai cộng đồng hai hình thức băng bó và cầm máu là chủ yếu Chúng tôi nhận thấy rằng sở dĩ hai kỹ thuật cầm máu và băng bó có
tỷ lệ cao điều này phù hợp với người sơ cấp cứu ban đầu phần lớn không phải là nhân viên y tế nên chủ yếu của
họ khi thấy tai nạn xảy ra nhất là khi thấy máu chảy thì thường băng hoặc buộc chặt vết thương lại để cầm máu là chủ yếu Tuy nhiên, điều này cũng nói lên rằng người dân cũng đã có ý thức về sơ cấp cứu ban đầu đối với tai nạn thương tích và dù sao cũng góp phần làm hạn chế nặng thêm của thương tích nhất là đối với các trường hợp vết thương gây mất máu nhiều
Cơ sở điều trị: Trong nghiên cứu của chúng tôi nạn
nhân bị tai nạn thương tích được đưa đến cơ sở điều trị khá cao Số được đưa đến cơ sở điều trị 97,8% Nghiên cứu của chúng tôi về nạn nhân được đưa đến các cơ sở điều trị có cao hơn tác giả Nguyễn Dung và Dương Quang Minh năm 2005, có 65,7% các trường hợp tai nạn thương tích được sơ cấp cứu ban đầu và điều trị tại các cơ sở y
tế [3] Hay của Lê Vũ Anh chỉ gần 70% trường hợp chấn thương được đưa đến khám và điều trị tại cơ sở y tế nhà nước [1] Có lẽ do thời điểm nghiên cứu khác nhau vì các nghiên cứu của các tác giả trên diễn ra đã nhiều năm trước trong khi hiện nay tình hình kinh tế xã hội có nhiều tiến bộ hơn, kiến thức phổ thông về y học của người dân cũng khá hơn trước và người dân cũng quan tâm đến sức khỏe của bản thân và người nhà hơn Bên cạnh đó, cơ sở
y tế được phát triển và hoàn chỉnh nhiều hơn trước và đặc biệt là bệnh nhân phần lớn là có đóng bảo hiểm y tế nên
dễ dàng cho nạn nhân đến cơ sở điều trị vì vậy tỷ lệ đến các cơ sở điều trị cao hơn
Phương tiện vận chuyển nạn nhân: Phương tiện chủ
yếu để vận chuyển nạn nhân là xe máy 89,5%, thứ hai là ô
tô 5,7%, thứ ba là xe cấp cứu 1,8%, thứ tư là đi bộ, khiêng/ cỏng 1,6% và thứ 5 là xe đạp/xích lô 1,2% Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu tại Hà Nội, Hưng Yên, Thừa Thiên-Huế, thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai năm 2011” có 81,8% nạn nhân được vận chuyển bằng xe máy(ô
tô cứu thương chỉ chiếm 3%) [5] Trần Văn Nam và cộng sự
ở Hải Phòng năm 2007, bệnh nhân được vận chuyển chủ yếu bằng xe máy 68,7% và taxi là 8,57%, chuyển bằng xe cấp
Trang 4VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG ĐỒ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
cứu chỉ có 2,6% [4] Về vận chuyển nạn nhân bằng xe máy
nghiên cứu của chúng tôi có cao hơn một chút nhưng vận
chuyển bằng xe máy là phương tiện vận chuyển chủ yếu để
đưa nạn nhân đến cơ sở điều trị, cũng giống như đề tài của
tác giả Nguyễn Dung năm 2005 [3] Phương tiện vận chuyển
cấp cứu nạn nhân xe máy chiếm 71,25% cũng là phương tiện
chủ yếu vận chuyển nạn nhân bị tai nạn thương tích Điều
này cho thấy rằng xe máy là một phương tiện đi lại và vận
chuyển chủ yếu của người dân mặc dù Thừa Thiên –Huế đã
có trung tâm cấp cứu 115
Cơ sở điều trị đầu tiên nạn nhân được chuyển đến:
Tỷ lệ nạn nhân chủ yếu được chuyển đến các cơ sở y tế nhà
nước trong đó được chuyển đến bệnh viện tuyến huyện (bệnh
viện thành phố) có tỷ lệ cao Tương tự nghiên cứu các mô
hình tai nạn thương tích tại cộng đồng của NguyễnThị Hồng
Tú người bị thương chủ yếu đến bệnh viện huyện (45,2%),
tỷ lệ đến bệnh viện tỉnh và trạm y tế đề 11,3%, đến bệnh viện
trung ương là 9,7% [6] Theo nghiên cứu của tác giả Lê vũ
Anh thì có gần đến 70% trường hợp chấn thương được đưa
đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế nhà nước [1] Ở nghiên
cứu của chúng tôi tỷ lệ nạn nhân được chuyến đến bệnh viện
thành phố là 74,3% có lẽ do điều kiện là ở Huế không có
bệnh viện tỉnh trong khi bệnh nhân có bảo hiểm y tế thì được
phân tuyến khám chữa bệnh ban đầu tại tuyến huyện và xã và
phần lớn nạn nhân bị chấn thương cũng không nặng lắm nên
nạn nhân được chuyển đến bệnh viện thành phố để điều trị
Chúng tôi cũng nhận thấy rằng nạn nhân được chuyển đến
bệnh viện trung ương mặc dù tỷ lệ chỉ có 10,6% nhưng hầu
hết là những nạn nhân bị chấn thương nặng hoặc có nguy cơ
đe dọa đến tính mạng và được phân loại phần lớn bởi người
nhà hoặc người đi đường, cho thấy rằng người dân cũng đã
biết đánh giá như thế nào là nạn nhân nặng, nhẹ, cần phải
chăm sóc ở tuyến nào cho phù hợp có lẽ đây là kết quả của
nhiều năm truyển thông giáo dục sức khỏe đặc biệt là giáo
dục về phòng chống tai nạn thương tích cho cộng đồng của
Thừa Thiên-Huế
Thời gian vận chuyển nạn nhân: Nghiên cứu của
chúng tôi thấy rằng đa số nạn nhân được vận chuyển trong
vòng 30 phút 72,1%, từ 30 phút đến 60 phút tỷ lệ 18,6%
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính nghiên cứu tại Bệnh viện
Việt Đức năm 2006, cho thấy đa số các trường hợp được
chuyển đến bệnh viện trước 1 giờ, chiếm 33% [2] Tỷ lệ
này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi nhưng ở đây Bệnh
viện Việt Đức là bệnh viện tuyến trung ương và rất nhiều
bệnh nhân trước khi chuyển đến Bệnh viện Việt Đức đều đã
qua chăm sóc tại một cơ sở y tế tuyến trước đã Còn trong
nghiên cứu của chúng tôi bệnh viện thành phố là bệnh viện
tuyến huyện thuộc tuyến cơ sở lại là nơi đăng ký khám chữa
bệnh ban đầu cho một lượng lớn bệnh nhân bảo hiểm y tế nên có tai nạn thương tích xẩy ra thì đều được người nhà đưa đến trực tiếp đến bệnh viện ngay lập tức Điều này cũng nói lên rằng sự phát triển mạng lưới y tế cơ sở, việc tham gia bảo hiểm y tế cũng góp phần rất thuận lợi cho người dân khi có sự cố về sức khỏe xảy ra
Kết quả điều trị nạn nhân bị tai nạn thương tích:
Tại thời điểm chúng tôi tiến hành phỏng vấn đang được điều trị là 76,3%, đã điều trị bình phục hoàn toàn là 17,5%,
đã điều trị bình phục nhưng có di chứng có thể phục hồi 4,2% Nhìn chung phần lớn bệnh nhân điều trị đều có kết quả tốt, số bệnh nhân đang còn điều trị chủ yếu là bệnh nhân nhẹ hoặc vừa và đa số là bị vết thương phần mềm rách da là chủ yếu và đang điều trị tại Bệnh viện thành phố Huế nên chúng tôi cũng có dịp quan sát kết quả về sau đều lành và xuất viện Kết quả phù hợp với tác giả Trần Văn Nam và cộng sự nghiên cứu tại Hải Phòng năm
2007, kết quả phần lớn các tai nạn thương tích đều phục hồi tốt 97,78% khỏi và đỡ khi ra viện, 0,26 bệnh nhân bị
tử vong và 0,09% di chứng tàn phế suốt đời [4] Tương
tự kết quả của tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú giám sát tai nạn thương tích tại 7 bệnh viện trong cả nước cho tất cả các lứa tuổi năm 2006, kết quả điều trị khỏi và đở giảm
là 95,61%, tử vong tại bệnh viện là 0,46%, quá nặng xin
về là 2,65%, nặng hơn phải chuyển là 1,27% Ở nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ tử vong có cao hơn (1,2%) nhưng
ở đây (Bệnh viện Trung ương Huế) là tuyến điều trị cuối cùng và những bệnh nhân tử vong đều là quá nặng nhưng không còn chuyển đi đâu nữa Trong khi ở các nghiên cứu khác tỷ lệ tử vong có thấp hơn, di chứng tàn tật vĩnh viển cũng thấp hơn nhưng khác nhau là do các bệnh viện điều trị đó chưa phải là tuyến cuối cùng điều trị cho nạn nhân nên còn có một số bệnh nhân quá nặng được chuyển lên tuyến trên nữa và hơn nữa còn có một số nạn nhân nặng quá không muốn để tử vong ở bệnh viện nên xin về nhà để
có thể chết tại nhà Vì vậy nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ
tử vong tại bệnh viện cũng như tỷ lệ tàn tật suốt đời có cao hơn các nghiên cứu khác
V KẾT LUẬN
Có 65,9% số nạn nhân được sơ cấp cứu ngay sau khi xảy ra tai nạn Hai kỹ thuật sơ cấp cứu được sử dụng nhiều nhất là cầm máu (46,2%); băng bó (43,5%) Có 90,6% nạn nhân được vận chuyển đến cơ sở điều trị trong vòng một giờ Kết quả điều trị có 93,8% số nạn nhân bình phục hoàn toàn, di chứng có thể phục hồi 4,2%, tàn tật vĩnh viễn 0,8%, tử vong 1,2%
Trang 51 Lê Vũ Anh, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Hồng, Nguyễn Trang Nhung, Lã Ngọc Quang (2004), Tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ em dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp, Đề tài cấp bộ ngành, Trung tâm nghiên cứu chính sách và phòng chống chấn thương
2 Nguyễn Đức Chính, Cao Độc Lập (2007), "Tình hình tai nạn thương tích trẻ em qua giám sát TNTT tại bệnh viện Việt Đức năm 2006" Tập san Ngoại khoa, Tổng hội Y dược học Việt Nam, 57, tr.18-23
3 Nguyễn Dung, Dương quang Minh (2008), Điều tra hộ gia đình về tai nạn thương tích tại tỉnh Thừa Thiên -Huế năm
2005, Hội nghị khoa học kỹ thuật ngành Y tế Thừa Thiên - Huế lần thứ II, tr.5 -14
4 Trần Văn Nam (2007), "Phân tích một số đặc điểm tai nạn thương tích ở trẻ em điều trị tai bệnh viện trẻ em Hải Phòng
từ tháng 8/2005 đến tháng 2/2007" Tạp chí Y học Việt Nam, 336, tr 65 - 71
5 Phòng chống tai nạn thương tích (2011), Tình hình sơ cấp cứu tai nạn thương tích của tình nguyện viên tại Hà Nội, Hưng Yên, Thừa Thiên-Huế, tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai năm 2011, http://moh.gov.vn:8086/pctainan/pages/tintuc aspx?CateID=5&ItemID=1080, truy cập ngày 1/5/2011
6 Nguyễn Thị Hồng Tú, Phùng Trí Dũng (2006), "Nghiên cứu các mô hình tai nạn thương tích do lao động tại cộng đồng" Tạp chí Y học Thực hành Bộ Y Tế, 538