Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp định lượng được tiến hành từ tháng 02/2016 - 6/2016 tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống trên 270 đối tượng là bà mẹ có con dưới 5 tuổi người Đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) nhằm (1) Mô tả kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng (TCM) và (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 20,4% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có kiến thức đạt và 19,6% ĐTNC có thực hành đạt về phòng bệnh TCM.
Trang 1VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG ĐỒ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY
CHÂN MIỆNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA
BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ TÂN THANH,
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2016
TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng phương
pháp định lượng được tiến hành từ tháng 02/2016 - 6/2016
tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, mẫu được
chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống trên 270 đối
tượng là bà mẹ có con dưới 5 tuổi người Đồng bào dân tộc
thiểu số (ĐBDTTS) nhằm (1) Mô tả kiến thức, thực hành
về phòng bệnh tay chân miệng (TCM) và (2) Xác định một
số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh
TCM của bà mẹ Kết quả nghiên cứu cho thấy có 20,4%
đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có kiến thức đạt và 19,6%
ĐTNC có thực hành đạt về phòng bệnh TCM Nghiên cứu
đã xác định được một số liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ với tình
trạng mắc bệnh của con (p<0,05), số lượng nguồn thông tin
mà bà mẹ tiếp nhận được Trên cơ sở kết quả thu được,
nghiên cứu khuyến nghị bà mẹ thường xuyên vệ sinh nhà ở,
vệ sinh cá nhân cho mẹ, cho trẻ bằng xà phòng trước và sau
khi thực hiện các hành vi vệ sinh cá nhân, thực hiện xử lý
phân, dịch tiết của trẻ đúng cách, không cho trẻ đi tiêu ngoài
vườn và thực hiện các biện pháp tiêu độc, khử trùng phòng
bệnh TCM
Từ khóa: Kiến thức, thực hành, bệnh tay chân miệng, bà
mẹ có con dưới 5 tuổi, người đồng bào dân tộc thiểu số
SUMMARY
KNOWLEDGE AND PRACTICES OF ETHNIC
MINORITY MOTHERS ON THE PREVENTION OF
HAND-FOOT-MOUTH DISEASE FOR CHILDREN UNDER 5 YEARS OF AGE IN TAN THANH COMMUNE, LAM HA DISTRICT, LAM DONG PROVINCE, 2016
This cross sectional study was conducted from February
2016 to June 2016 in Tan Thanh commune, Lam Ha district, Lam Dong province The study applied the systematic sampling selection, with the sample size of 270 ethnic minority mothers
of children under five years of age with the purpose to describe knowledge and practices of these mothers on the prevention of hand-foot-mouth disease for their childre and the associations with mothers’ knowledge and practice on the prevention of hand-foot-mouth disease Results of the study showed that there were 20.4% mothers aqquired appropriate knowledge, while 19.6% of them reported appropriate practices on the prevention of the disease for their children The study also identified some associations between knowledge and practices of these mothers on the prevention of the hand-foot-mouth disease with the status of reporting children to be acquired the disease in the past (p<0,05) and the information sources on the disease that these mothers received Based on the study results, it
is recommended that mothers should frequently clean their houses, wash their hands and their children with soap after having contact with children’s stool, as well as appropriately manage children’s stool and succus Mothers should not let children defecate openly and should apply appropriate sterilized methods to prevent the diseases
Key word: Knowledge, practice, hand-foot-mouth
1 Trung tâm Y tế huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
2 Trường Đại học Y tế Công cộng; Email: Lthhsph@gmail.com
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh nhiễm vi rút cấp
tính, lây truyền theo đường tiêu hóa và tiếp xúc trực tiếp với
dịch tiết người bệnh, thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi và có
khả năng gây thành dịch lớn Dấu hiệu đặc trưng của bệnh
là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở
dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân,
đầu gối, mông Bệnh có thể diễn biến nặng và tử vong nếu
không được phát hiện sớm, điều trị kịp thời Tại nước ta, bệnh
TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả
nước, số mắc thường tăng từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng
9 đến tháng 12 [4] Cho đến nay, bệnh chưa có vắc xin phòng,
chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Biện pháp tuyên truyền nâng
cao kiến thức, thực hành và phát hiện sớm các biểu hiện của
bệnh là chủ yếu trong phòng bệnh TCM hiện nay [4]
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu mô tả cắt ngang có
phân tích của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cộng
sự về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến
phòng chống bệnh TCM của người chăm sóc chính trẻ dưới
5 tuổi tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2013, cho
thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có kiến thức, thực
hành chung đạt yêu cầu lần lượt là 62,8% và 45,2% Nghiên
cứu cũng xác định yếu tố liên quan giữa kiến thức và thực
hành về phòng chống bệnh TCM ĐTNC có kiến thực đạt về
phòng chống bệnh TCM có thực hành cao gấp 5,8 lần các
ĐTNC có kiến thức không đạt Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (p<0,001)
Tại xã Tân Thanh kiến thức và thực hành của bà mẹ về
phòng bệnh TCM được xác định là có vai trò quan trọng
trong phòng bệnh TCM cho trẻ em Đặc biệt đáng lưu ý là
kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM của bà mẹ có con
dưới 5 tuổi là người đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS)
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô
tả kiến thức, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan
đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con
dưới 5 tuổi người ĐBDTTS tại xã Tân Thanh, huyện Lâm
Hà, tỉnh Lâm Đồng, năm 2016”
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
ĐTNC là bà mẹ có con dưới 5 tuổi người ĐBDTTS có
thời gian sống liên tục từ một năm trở lên tại xã Tân Thanh,
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, gồm 6 thành phần dân tôc
(K’Ho, Cill, Dao, Tày, Nùng, Thái) Đối tượng đồng ý tham
gia nghiên cứu, không có vấn đề về thần kinh có khả năng
Lâm Đồng
2.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
Z2 (1-α⁄2 ) p(1-p) n= -
d2 Trong đó:
Z: Hệ số tin cậy, với α = 0,05, Z(1 - α/2) = 1,96
p: Tỷ lệ bà mẹ có thực hành đạt về phòng chống bệnh TCM, tham khảo từ nghiên cứu của Phạm Văn Thanh tại Đăk Lăk (2012), p = 0,18 [6]
d: Độ chính xác kỳ vọng, chọn d = 0,05
Theo công thức trên thì cỡ mẫu tối thiểu đưa vào nghiên cứu là 226 Để tránh thiếu hụt mẫu chúng tôi cộng thêm 20% và cỡ mẫu cuối cùng đưa vào nghiên cứu là 270
bà mẹ Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu k = 2
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng bộ phiếu phỏng vấn kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi người ĐBDTTS để thu thập các biến số sau:
Thông tin chung: Tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế hộ gia đình, con đã từng mắc TCM, được nghe thông tin về TCM
Kiến thức phòng bệnh TCM: Tác nhân gây bệnh, biểu hiệu nhận biết bệnh, đường lây truyền bệnh, nguy cơ mắc bệnh, dung dịch sát khuẩn phòng bệnh TCM…
Thực hành phòng bệnh TCM: Thực hiện các biện pháp
vệ sinh cá nhân cho mẹ, cho trẻ, vệ sinh đồ chơi, vệ sinh môi trường, nhà ở bằng xà phòng và các dung dịch sát khuẩn Nhóm biến số liên quan: Bà mẹ có con đã mắc bệnh TCM, số lượng nguồn thôn tin tiếp nhận bệnh TCM, kinh tế
hộ gia đình, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi, dân tộc…
2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là: 35 điểm Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là: 17 điểm ĐTNC trả lời đúng 50% số điểm trở lên là đạt yêu cầu Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi-data, kiểm tra làm sạch lỗi, mã hóa
và xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0 để tính tỷ lệ (%) và giá trị OR (test χ2)
2.5 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua tại Biên bản số: 082/2016/YTCC-HD3, ngày 29 tháng 02 năm 2016 Mã số: 016-082/DD-YTCC
Trang 3VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG ĐỒ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Kết quả Bảng 3.1 cho thấy đa số ĐTNC trong độ tuổi ≤
25 (50,7%) Về thành phần dân tộc, tập trung nhiều là bà mẹ
người dân tộc K’Ho (27,7%), dân tộc Dao (22,6%), dân tộc
Nùng (21,9%) Về trình độ học vấn (TĐHV) chủ yếu các bà
mẹ có trình độ trung học cơ sở (THCS) (43,7%), làm nông
chiếm đa số (95,9%), gia đình thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo
(25,9%), bà mẹ có con đã mắc bệnh TCM là (21,1%)
3.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ người ĐBDTTS
về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi
Kiến thức chung của ĐTNC về phòng bệnh TCM cho trẻ
dưới 5 tuổi được trình bày ở Biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức chung về phòng
bệnh TCM
20,4%
79,6%
Kiến thức đạt Kiến thức không đạt Tổng hợp kết quả nghiên cứu về kiến thức phòng bệnh
TCM bao gồm: Đường lây truyền, biểu hiện nhận biết bệnh,
nguy cơ mắc bệnh, các biện pháp phòng bệnh TCM theo
thang điểm đánh giá cho thấy, có 20,4% ĐTNC đạt về kiến
thức phòng bệnh TCM và 79,6% ĐTNC không đạt kiến thức
về phòng bệnh TCM
Thực hành chung của bà mẹ người ĐBDTTS về phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi được trình bày ở Biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ thực hành chung của ĐTNC
80.4 19.6
Thực hành đạt Thực hành không đạt
Từ Biểu đồ 3.2 tổng hợp kết quả nghiên cứu về thực hành phòng bệnh TCM bao gồm: tần suất rửa tay bằng xà phòng (RTBXP) của ĐTNC trước và sau khi thực hiện các hành vi
vệ sinh cá nhân, tần suất vệ sinh nhà ở, vệ sinh môi trường,
vệ sinh đồ chơi cho trẻ theo thang điểm đánh giá cho thấy,
có 19,6% bà mẹ đạt về thực hành phòng bệnh TCM và 80,4%
bà mẹ không đạt thực hành về phòng bệnh TCM
3.3 Một số yếu tố liên quan với kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ người ĐBDTTS
Bảng 3.2 trình bày một số yếu tố liên quan với kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà
mẹ tham gia nghiên cứu
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1 Thông tin chung của ĐTNC (n=270)
Nghề nghiệp Tần số Tỷ lệ % Hộ gia đình Tần số Tỷ lệ % bệnh của con Tiền sử mắc Tần số Tỷ lệ %
Trang 4Số
nguồn
thông tin
Kiến thức phòng bệnh TCM phòng bệnh TCM Thực hành trạng Tình
bệnh của con
Kiến thức phòng
Không
1 nguồn (92,7%)114 (7,3%)9 (89,4%)110 (10,5%)13 mắcĐã (31,5%)18 (68,5%)39 (56,1%)32 (43,9%)25 Hai
nguồn
trở lên
101 (68,7%) (31,3%) 46 (72,8%) 107 (27,2%) 40 Chưa mắc (92,5%) 197 (7,5%) 16 (86,9%) 185 (13,1%) 28 Tổng số (79,6%)215 (20,4%)55 (80,4%)217 (19,6%)53 Tổng số (79,6%)215 (20,4%)55 (80,4%)217 (19,6%)53
95% CI= [2,59-12,84],
p<0,001 95% CI= [1,58 -6,35], p=0,006 95% CI= [0,01-0,10]; p<0,001 95% CI=[0,09 - 0,38]; p<0,001 Kết quả Bảng 3.2 cho thấy có mối liên quan, có ý nghĩa
thống kê giữa số lượng nguồn thông tin mà bà mẹ tiếp nhận
được về bệnh TCM với kiến thức và thực hành của họ về
phòng bệnh TCM cho trẻ dưới 5 tuổi Những bà mẹ tiếp nhận
từ 2 nguồn thông tin trở lên có kiến thức và thực hành cao
hơn những bà mẹ chỉ nghe được từ 1 nguồn thông tin lần lượt
là 5,77 (p<0,001) và 3,16 (p=0,006) lần Nghiên cứu cũng ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) giữa tình trạng mắc bệnh của con với kiến thức, thực hành của bà
mẹ Những bà mẹ có con chưa mắc bệnh có nguy cơ có kiến thức, thực hành đạt thấp hơn những bà mẹ có con đã mắc bệnh lần lượt là 96% và 81%
Bảng 3.3 cho thấy không có yếu tố liên quan, giữa thành
phần dân tộc, kinh tế hộ gia đình với kiến thức, thực hành của bà mẹ (p > 0,05)
Bảng 3.3 Mối liên quan giữa dân tộc, kinh tế hộ gia đình với kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM
Dân tộc
Kiến thức phòng bệnh TCM phòng bệnh TCM Thực hành Hộ gia
đình
Kiến thức phòng
Không
Gốc Tây
Nguyên (81,3%)91 (18,7%)21 (85,7%)96 (14,3%) Nghèo16 (77,1%)54 (22,9%)16 (87,1%)61 (12,9%)9
Dân tộc
khác (78,5%) 124 (21,5%) 34 (76,6%) 121 (23,4%) 37 Không nghèo (80,5%) 161 (19,5%) 39 (78,0%) 156 (22,0%) 44
Tổng số (79,6%)215 (20,4%)55 (80,4%)217 (19,6%)53 Tổng số (79,6%)215 (20,4%)55 (80,4%)217 (19,6%)53
95% CI = [0,65-2,18], p = 0,58 95% CI = [0,96-3,51], p = 0,06 95% CI = [0,42- 1,58] ; p=0,55 95%CI = [0,87-4,17]; p = 0,098
Trang 5VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG ĐỒ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3.4 Liên quan giữa kiến thức với thực hành chung
về phòng bệnh TCM
OR = 5,56; 95% CI = [2,75-11,24], p < 0,001
Bảng 3.4 cho thấy có yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa kiến thức và thực hành về phòng bệnh TCM của bà mẹ
Những bà mẹ có kiến thức đạt có thực hành đạt cao gấp 5,56
lần những bà mẹ có kiến thức không đạt (p<0,001)
IV BÀN LUẬN
4.1 Kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM của
ĐTNC
Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức chung đạt về phòng bệnh TCM
cho trẻ dưới 5 tuổi trong nghiên cứu này là 20,4%, tỷ lệ thực
hành chung đạt là 19,6% Các tỉ lệ này thấp hơn so với một
số nghiên cứu khác cùng chủ đề, như nghiên cứu của Phan
Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương 2013 tại Lệ Chi, Gia Lâm,
Hà Nội là 62,8% và 45,2% [1], nghiên cứu của Cao Thị Thúy
Ngân năm 2012 tại Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội là 41,5%
và 69,5% [3] cũng như nghiên cứu của Viện Chiến lược và
Chính sách y tế năm 2012 là 80% và 60% [5] Tất cả các
nghiên cứu trên tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thực hành chung
đạt về phòng bệnh TCM đều cao hơn nghiên cứu của chúng
tôi Đáng lưu ý là các nghiên cứu đề cập đánh giá tỷ lệ điểm
kiến thức, thực hành chung đạt của bà mẹ đều cao hơn
nghiên cứu của chúng tôi Vì nghiên cứu tại Tân Thanh thực
hiện trên nhóm ĐTNC là người ĐBDTTS, khác hoàn toàn
với ĐTNC của các nghiên cứu trên đa phần bà mẹ là người
Kinh có trình độ học vấn tốt hơn, nhận thức tốt hơn so với
ĐTNC trong nghiên cứu này Đồng thời nghiên cứu tại Tân
Thanh thực hiện tại một xã vùng III, là xã vùng sâu, xa của
huyện miền núi ở khu vực Tây Nguyên, với điều kiện kinh tế,
phương tiện nhà ở, nước sạch, môi trường sống, nhà vệ sinh,
dung dịch sát trùng phục vụ cần thiết cho việc vệ sinh phòng
bệnh TCM của bà mẹ rất hạn chế Tuy nhiên so với nghiên
cứu của Phạm Văn Thanh tại huyện Cư M’gar - Đăk Lăk năm
2011 tỷ lệ bà mẹ người ĐBDTTS có kiến thức đúng về phòng
bệnh TCM là 16,6% [6], kết quả nghiên cứu của chúng tôi
cao hơn Tuy địa bàn nghiên cứu tương đồng ở khu vực Tây
Nguyên nhưng có thể do thời gian nghiên cứu của chúng tôi
được thực hiện vào năm 2016, khu trú trên 1 xã trọng điểm
về bệnh TCM và trong các năm từ 2011 đến nay có nhiều chương trình truyền thông về phòng bệnh TCM được thực hiện qua các kênh khác nhau Chính vì vậy, ĐTNC trong nghiên cứu này tôi có thể được tiếp nhận thông tin nhiều hơn
so với nghiên cứu của Phạm Văn Thanh được thực hiện vào năm 2011, thời điểm mà bệnh TCM mới bắt đầu xuất hiện tại khu vực
4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của
bà mẹ về phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới 5 tuổi
Số lượng nguồn thông tin mà bà mẹ nhận được, phản ánh
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với kiến thức, thực hành của bà mẹ Những bà mẹ tiếp nhận từ 2 nguồn thông tin trở lên có kiến thức, thực hành cao hơn những bà mẹ chỉ nghe được từ 1 nguồn thông tin lần lượt là 5,77 lần và 3,16 lần So với nghiên cứu Phạm Văn Thanh tại Cư M’gar Đăk Lăk 2012 cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ với việc tiếp nhận thông tin về phòng bệnh TCM, mối liên hệ này cũng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [6] Điều này thể hiện việc đa dạng hóa các hình thức truyền thông về bệnh TCM là rất quan trọng trong việc cung cấp và nâng cao kiến thức phòng bệnh TCM cho bà mẹ Tiền sử mắc bệnh TCM của con có yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM của bà mẹ (p<0,001) Kết quả nghiên cứu cho thấy có yếu tố liên quan, giữa tiền sử về tình trạng mắc bệnh của con với kiến thức, thực hành của bà mẹ Những bà mẹ có con chưa mắc bệnh
có nguy cơ kiến thức, thực hành đạt thấp hơn so với những
bà mẹ có con đã mắc bệnh TCM tương ứng là 96% và 81%
So với nghiên cứu Phạm Văn Thanh tại Cư M’gar Đăk Lăk
2012 cũng chỉ ra sự khác biệt giữa tiền sử mắc bệnh của con với kiến thức của bà mẹ (p<0,001) [6] Điều này phản ánh thực tế những bà mẹ có con đã từng mắc bệnh họ đã được tiếp xúc với tình trạnh bệnh của con, thấy được những dấu hiệu, triệu chứng đặc trưng của bệnh, đồng thời trong quá trình đưa con đi khám tại các CSYT họ được tiếp xúc với CBYT, được tuyên truyền về bệnh TCM nên kiến thức, thực hành của họ cũng sẽ tốt hơn những bà mẹ có con chưa từng mắc bệnh TCM
Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa kiến thức và thực hành về phòng bệnh TCM của bà mẹ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Những bà mẹ có kiến thức đạt thì có thực hành đạt cao gấp 5,56 lần những
bà mẹ có kiến thức không đạt Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương tại
Lệ Chi - Gia Lâm Hà Nội 2013 (OR= 5,8) [1] và nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân tại Trung Liệt - Đống Đa - Hà Nội
2012 (OR= 7,5) [3]
Trang 6là người ĐBDTTS, trên phạm vi của một xã nên chỉ có tính
đại diện cho quần thể ở xã nghiên cứu Đánh giá thực hành
của ĐTNC chỉ thông qua phỏng vấn, chưa có điều kiện để
quan sát trực tiếp
IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kiến thức chung về phòng bệnh TCM của bà mẹ có con
dưới 5 tuổi người ĐBDTTS chưa cao, tỷ lệ bà mẹ có kiến
thức chung đạt yêu cầu 20,4% Kiến thức về nhận biết các
dấu hiệu, triệu chứng của bệnh, yếu tố nguy cơ dễ mắc bệnh,
cách phòng bệnh đều chưa đầy đủ
hành chung đạt 19,6% Nghiên cứu này tìm ra 3 mối liên quan: Liên quan giữa kiến thức, thực hành với nguồn thông tin về bệnh TCM bà mẹ tiếp cận được, về tình trạng mắc bệnh của con cũng như kiến thức có liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM
Bà mẹ cần được cập nhật kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM cho trẻ như kiến thức về đường lây truyền bệnh, triệu chứng của bệnh, các yếu tố nguy cơ, các biện pháp phòng bệnh TCM Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân cho mẹ, cho trẻ trước và sau khi thực hiện các hành vi
có hại cho sức khỏe
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương và cs (2014), "Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng,
chống bệnh TCM của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội", Tạp chí Y học Dự phòng, Tập XXIV(Số 5) tr 52-58.
2 Hội chữ thập đỏ Việt Nam (2011), Báo cáo khảo sát sơ bộ về bệnh tay chân miêng tại các tỉnh phía Nam, Hà Nội.
3 Cao Thị Thúy Ngân (2012), Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt quận Đống Đa, Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội
tr 32-59
4 Bộ Y tế (2012), Quyết định số 581/QĐ-BYT ngày 24/2/2012, Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh Tay Chân Miệng, Hà Nội
5 Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2012), Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông về phòng chống bệnh tay chân miệng tại một số địa phương, Hà Nội.
6 Phạm Văn Thanh (2012), Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở huyện CưM'gar, tỉnh Đắk Lắk năm 2012, Luận văn Chuyên khoa I - Y tế Công cộng,
Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội