Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp về chăm sóc sức khỏe (CSSK) người lao động tại 2 doanh nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Trang 1VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
HIỆU QUẢ GIẢI PHÁP CAN THIỆP VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
Phạm Văn Dũng 1 , Đào Văn Dũng 2 , Phạm Văn Thao 3
TÓM TẮT
Sau thời gian áp dụng 1 số giải pháp can thiệp về công tác
chăm sóc sức khỏe cho người lao động tại 2 doanh nghiệp
thuộc tỉnh Đồng Nai đã cho thấy hiệu quả rõ rệt: Tỷ lệ người
lao động được khám sức khỏe định kỳ cao hơn trước can
thiệp và cao hơn đối chứng có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
(98,2% so với 79,2%) và (98,2% so với 89,5%) với HQCT
đạt 5,1% Tỷ lệ người lao động ốm phải nghỉ việc trong 2 tuần
trước điều tra thấp hơn trước can thiệp và thấp hơn đối chứng
(6,3% so với 12,4%) và (6,3% so với 15,4%) với p<0,001 và
HQCT đạt 94,9% Tỷ lệ người lao động được phục hồi chức
năng cao hơn trước can thiệp và cao hơn đối chứng (75,2%
so với 33,3%) và (75,2% so với 66,7%) với p<0,001 Tỷ lệ
người lao động có sức khỏe loại 1 cao hơn trước can thiệp và
cao hơn đối chứng (53,4% so với 40,3%) và (53,4% so với
47,5%) với p<0,01, HQCT đạt 24,1%
Từ khóa: Hiệu quả can thiệp, chăm sóc sức khỏe, người
lao động, doanh nghiệp
SUMMARY: INTERVENTION EFFECTIVENESS
ON HEALTH CARE FOR WORKERS AT SOME
ENTERPRISES IN DONG NAI PROVINCE
After a period of application interventions on health care
works for employees at two enterprises in Dong Nai province
had shown remarkably effects: Worker ratio periodic health
examinations was higher than before the intervention and
higher than the controls (98,2% versus 79,2%) and (98,2%
versus 89,5%) with p < 0,001, effective interventionwas
5,1% Ratio sick workers had to be off in 2 weeks was lowed
than before the intervention and lower than the control (6,3%
compared to 12,4%) and (6,3% versus 15,4%) p <0,001,
effective interventionreached 94,9% Worker ratio was rehabilitation was higher than before the intervention and higher than the control (75,2% versus 33,3%) and (75,2% versus 66,7%), p <0,001 Ratio of workers that health rank
1 was higher thanbefore the intervention and higher than the controls (53,4% versus 40,3%) and (53,4% versus 47,5%) with p <0 ,01, effective intervention reached 24,1%
Keys words: Effectiveness of interventions, health care,
workers and enterprises
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe người lao động (NLĐ) luôn là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng và năng suất lao động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hiện nay sức khỏe người lao động đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng và chưa được quan tâm đúng mức [2]
Đồng Nai là tỉnh tập trung tới 30 khu công nghiệp lớn trên địa bàn và tính đến năm 2014 có khoảng trên 500.000 người lao động Đồng Nai cũng là một trong số các địa phương trên
cả nước xảy ra nhiều tai nạn lao động và có tỷ lệ người lao động mắc bệnh nghề nghiệp ở mức cao [2], [5]
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp về chăm sóc sức khỏe (CSSK) người lao động tại 2 doanh nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Đồng Nai
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là người lao động làm việc tại 2 doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai
- Địa điểm nghiêm cứu: Công ty TNHH Minh Thạnh
1 Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, ĐT DĐ: 0903932107, email: dungbvdktn@yahoo.com.vn
2 Ban Tuyên giáo Trung ương
3 Học viện Quân y
Trang 2|Đồng nai
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 01/2014 – 12/2015
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng
có đối chứng
+ Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
{ Z1-α⁄2 √ 2P(1-P) + Z2
1-ß √ P1 (1-P1) + (P2 (1-P2)}²
n = -
(P1-P2)²
Trong đó:
n: Là cỡ mẫu tối thiểu
α = 0,05; β = 0,10
Z : Là hệ số tin cậy, với ngưỡng xác suất α = 5%, ta có:
Z = 1,96
β = 10%, có: Z1-β = 1,28
p1: Là tỷ lệ NLĐ ốm nghỉ việc năm 2013 theo báo cáo của
kết quả mong muốn là 10,6%, p2 = 0,106, tức là giảm được 8% NLĐ ốm nghỉ làm việc
Thay các giá trị vào công thức, tính được n = 407 người,
dự kiến có 5% bỏ cuộc nên n = 407 x 1,05= 427 người, trên thực tế đã điều tra 434 NLĐ ở 2 doanh nghiệp can thiệp và
470 NLĐ ở 2 doanh nghiệp đối chứng
- Phương pháp nghiên cứu: Phỏng vấn trực tiếp, KSK
NLĐ trước, sau can thiệp
- Các biện pháp can thiệp gồm:
+ Tập huấn, cung cấp các kiến thức cho NLĐ về ATVSLĐ, bảo vệ sức khỏe, phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
+ Kiện toàn tổ y tế của doanh nghiệp, bổ sung thuốc và trang bị y tế; tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ y tế của doanh nghiệp thực hiện hoạt động CSSK NLĐ theo quy định + Tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ y tế tuyến huyện về các nội dung chuyên môn liên quan đến CSSK cho NLĐ
3 Kết quả nghiên cứu
Bảng 1 Ý kiến đánh giá của người lao động về tình trạng khám sức khỏe định kỳ trước và sau can thiệp
Nội dung Nhóm can thiệp (n = 434) Nhóm đối chứng (n = 470) HQCT
1 Được khám sức khỏe định kỳ:
2 Số lần được khám sức khỏe định kỳ/năm
3 Cơ sở y tế thực hiện KSK định kỳ
TT BVSK LD và
Nhận xét: Tỷ lệ NLĐ được KSK định kỳ sau can thiệp
tăng hơn so với trước can thiệp (98,2% so với 79,2%) và cao
hơn so với nhóm chứng (98,2% so với 89,5%) với p<0,001,
và HQCT đạt 5,1% Về cơ sở KSK định kỳ cho NLĐ, tuyệt
đại đa số là do bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh tỷ lệ trước và sau can thiệp ở nhóm can thiệp và nhóm đối chứng đạt từ 83,1% đến 99,8% với p<0,05
Trang 3VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 2 Ý kiến đánh giá của người lao động về tình trạng bệnh tật trong 4 tuần trước điều tra trước và sau can thiệp
Nội dung
Nhóm can thiệp (n = 434) Nhóm đối chứng (n = 470) HQCT
1 Ốm phải nghỉ việc:
-2 Số lần ốm (nếu có)
3 Thời gian phải nghỉ việc do ốm
4 Nơi đến khám bệnh:
- Phòng y tế doanh
- Bệnh viện, CSYT
- Bệnh viện, CSYT
- Bệnh viện, CSYT
Nhận xét: Tỷ lệ NLĐ bị ốm phải nghỉ việc thấp hơn so
với trước can thiệp (6,3% so với 12,4%) và thấp hơn nhiều
so với nhóm đối chứng (6,3% so với 15,4%) với p<0,001
và HQCT đạt 94,9% Về thời gian phải nghỉ việc do ốm: tỷ
lệ NLĐ phải nghỉ việc 2 – 3 ngày do ốm sau can thiệp giảm
hơn trước can thiệp và với đối chứng với p<0,05 Ngược lại,
tỷ lệ NLĐ khi ốm phải nghỉ việc 1 ngày tăng lên so với trước can thiệp (54,2% so với 53,7%) và cao hơn so với đối chứng (54,2% so với 32,3%) với p<0,05 Về nơi đến khám bệnh: tỷ
lệ người bệnh đến bệnh viện, các CSYT tuyến tỉnh và y tế tư nhân cao hơn trước can thiệp và cao hơn nhóm đối chứng, với p<0,05
Trang 4sau can thiệp
Nội dung
Nhóm can thiệp
(n = 434) Nhóm đối chứng (n = 470) p,
HQCT TCT SCT TCT SCT
1 Mắc bệnh nghề nghiệp:
Không 97,5 99,5 95,7 99,0 >0,05
2 Được điều trị phục hồi chức năng
- Không 66,7 24,8 100,0 33,3 <0,001
-3 Bị tai nạn lao động:
-4 Được cấp cứu tai nạn lao động kịp thời
- Có 93,9 100,0 83,3 100,0 <0,05
-5 Cơ sở y tế của doanh nghiệp thực hiện tốt công tác
CSSK cho NLĐ:
- Có 82,6 95,9 66,4 75,7 <0,001
- Không 1,8 1,6 16,2 10,9 <0,001
- KB/KTL 15,6 2,5 17,4 13,3 <0,001
Nhận xét: Sau can thiệp không có tỷ lệ NLĐ mắc bệnh
nghề nghiệp trong khi tỷ lệ này trước can thiệp và ở nhóm
đối chứng sau can thiệp đều là 0,7% Tỷ lệ người bệnh được
phục hồi chứng năng tăng hơn trước can thiệp (75,2% so với
33,3%) và cao hơn nhóm đối chứng (75,2% so với 66,7%),
với p<0,001 Tỷ lệ NLĐ bi tai nạn lao động thấp hơn trước
can thiệp (3,6% so với 7,6%) và thấp hơn nhóm đối chứng
(3,6% so với 5,4%) với p<0,05, và HQCT đạt 52,6% Sau
can thiệp 100% các trường hợp bị tai nạn lao động đều được
cấp cứu kịp thời ở cả nhóm can thiệp và nhóm đối chứng,
trong khi tỷ lệ này trước can thiệp ở nhóm can thiệp là 93,9%
và nhóm đối chứng là 83,3% Tỷ lệ NLĐ đánh giá cơ sở y tế
của doanh nghiệp đã thực hiện tốt công tác CSSK cho NLĐ
tăng hơn trước can thiệp (95,9% so với 82,6%) và cao hơn
nhóm đối chứng (95,9% so với 75,7%) với p<0,001
Nội dung thiệp (n=427) Nhóm can chứng (n=429) Nhóm đối HQCT P
TCT SCT TCT SCT
- Bình thường 34,8 49,6 43,7 44,4 <0,00141,9
- Tiền THA 45,7 41,0 43,5 43,4 <0,00111,5
- THA độ 1 16,7 7,3 11,9 12,1 <0,001124,1
- THA độ 2 2,9 2,1 0,9 - <0,00127,6 Nhận xét: Tỷ lệ NLĐ có chỉ số HA bình thường tăng hơn trước can thiệp (49,6% so với 34,8%) và cao hơn nhóm đối chứng (49,6% so với 44,4%) với p<0,001, HQCT đạt 41,9% Ngược lại tỷ lệ NLĐ tiền THA, THA độ 1 và THA độ 2 đều
giảm hơn trước can thiệp và thấp hơn so với nhóm đối chứng,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001, HQCT lần lượt
là 11,5%; 124,1% và 27,6%
Bảng 5 Phân loại sức khỏe người lao động trước và sau can thiệp
Nội dung
Nhóm can thiệp (n=427) chứng (n=429) Nhóm đối HQCT P TCT SCT TCT SCT
- Loại 1 40,3 53,4 43,8 47,5 <0,0124,1
- Loại 2 35,1 24,9 32,7 27,7 <0,0113,8
- Loại 3 18,0 16,2 21,0 19,8 <0,014,3
- Loại 4 5,9 4,6 1,6 3,3 <0,0124,0
Nhận xét: Tỷ lệ NLĐ có sức khỏe loại 1 tăng hơn trước can thiệp (53,4% so với 40,3%) và cao hơn nhóm đối chứng (53,4% so với 47,5%) với p<0,01, HQCT đạt 24,1% Ngược lại tỷ lệ NLĐ có sức khỏe loại 2, loại 3 đều giảm hơn so với trước can thiệp và so với đối chứng, với p<0,01 và HQCT đạt 13,8% và 4,3% Tỷ lệ NLĐ có sức khỏe loại 4 tuy có giảm hơn so với trước can thiệp (4,6% so với 5,9%) nhưng vẫn cao hơn nhóm đối chứng (4,6% so với 3,3%)
Trang 5VI
ỆN S
ỨC KH
ỎE CỘ
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
IV BÀN LUẬN:
Theo Luật Lao động số 10/2012/QH13 [4], quy định:
NLĐ trong các doanh nghiệp phải được KSK định kỳ hằng
năm, kể cả người học tập, học nghề, ít nhất một lần trong
một năm, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại
thì ít nhất 6 tháng một lần Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ NLĐ được KSK định kỳ sau can thiệp đạt 98,2% cao hơn
trước can thiệp và cao hơn nhóm đối chứng với p<0,001
Kết quả này cũng cao hơn so với số liệu chung của các
doanh nghiệp trên toàn quốc (90,0%)[2] Thông qua KSK
định kỳ đánh giá được tình trạng sức khỏe của NLĐ; giúp
cho cá nhân bảo vệ, cải thiện sức khoẻ của họ; phát hiện
những ảnh hưởng của điều kiện lao động có hại đến sức
khỏe để có biện pháp dự phòng kịp thời Kết quả KSK định
kỳ sau can thiệp cho thấy, tỷ lệ NLĐ có sức khỏe loại 1
cao hơn trước can thiệp và cao hơn nhóm đối chứng với
p<0,001 và HQCT đạt 41,9%
BNN là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của
nghề nghiệp tác động tới NLĐ [1] Luật Lao động đã quy
định các trường hợp bị BNN phải được thống kê, báo cáo đầy
đủ; người bị BNN phải được điều trị chu đáo, KSK định kỳ
(ít nhất 6 tháng/lần) và có hồ sơ sức khoẻ riêng biệt [4] Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ mắc BNN sau
can thiệp giảm hơn trước can thiệp và giảm hơn đối chứng
Đặc biệt tỷ lệ NLĐ mắc BNN được điều trị PHCN sau can
thiệp tăng hơn 2 lần so với trước can thiệp (75,2% so với
33,3%) và cao hơn đối chứng (75,2% so với 66,7%) Theo
quy định, y tế các cơ sở có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ hồ
sơ khám bệnh nghề nghiệp cho NLĐ Hầu hết các BNN hiện
nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy, việc phát hiện
sớm để có biện pháp dự phòng, cách ly là rất cần thiết, đồng
thời, phải tăng cường các biện pháp phòng hộ, hạn chế cơ
hội tiếp xúc với các yếu tố độc hại và thường xuyên quản lý, theo dõi về sức khoẻ [1], [4]
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất cứ bộ phận nào của cơ thể NLĐ hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động Theo quy định của pháp luật, tất cả các vụ TNLĐ đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định [4] Kết quả nghiên cứu cho thấy,
tỷ lệ NLĐ bị TNLĐ giảm hơn nhiều so với trước can thiệp (3,6% so với 7,6%) và thấp hơn so vơi sđối chứng (3,6% so với 5,4%) với p<0,05 HQCT đạt 52,6% Việc phòng ngừa tai nạn lao động đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa người sử dụng lao động, NLĐ và nhiều ban ngành đoàn thể khác tham gia thực hiện vệ sinh an toàn lao động
V KẾT LUẬN:
Sau can thiệp công tác chăm sóc sức khỏe người lao động được cải thiện rõ rệt:
- Tỷ lệ người lao động được khám sức khỏe định kỳ cao hơn trước can thiệp và cao hơn đối chứng (98,2% so với 79,2%) và (98,2% so với 89,5%) với p<0,001, HQCT đạt 5,1%
- Tỷ lệ người lao động ốm phải nghỉ việc trong 2 tuần trước điều tra thấp hơn trước can thiệp và thấp hơn đối chứng (6,3% so với 12,4%) và (6,3% so với 15,4%) với p<0,001, HQCT đạt 94,9%
-Tỷ lệ người lao động được phục hồi chức năng cao hơn trước can thiệp và cao hơn đối chứng (75,2% so với 33,3%)
và (75,2% so với 66,7%) với p<0,001
-Tỷ lệ người lao động có sức khỏe loại 1 cao hơn trước can thiệp và cao hơn đối chứng (53,4% so với 40,3%) và (53,4% so với 47,5%) với p<0,01, HQCT đạt 24,1%
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bộ Y tế (2013), Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06 tháng 5 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế, về việc quy định khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động tại các doanh nghiệp
2 Bộ Y tế (2014), Báo cáo về công tác y tế lao động và phòng, chống bệnh nghề nghiệp năm 2013
3 Trần Thị Ngọc Lan (2008), Quản lý vệ sinh lao động và chăm sóc sức khỏe người lao động, Nhà xuất bản Lao động - xã hội, Hà Nội 2008
4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13, Quốc hội khóa VIII, ngày 18 tháng 6 năm 2012
5 Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và môi trường tỉnh Đồng Nai (2015), Công tác chăm sóc sức khỏe người lao động
và công tác quản lý vệ sinh lao động tại các khu công nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai