Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứuĐể đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài và thực hiện các nhiệm vụ đã đặt ra, chúng tôi đã áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau: -
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA – XÃ HỘI TRONG TÊN
NỮ GIỚI NGƯỜI VIỆT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP VIỆN NĂM 2018
Mã số: Chủ nhiệm đề tài: TS LÊ THỊ MINH THẢO
V2018-Hà Nội, 2018
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Phòng NCKH&HTQT, ViệnĐại học Mở Hà Nội
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Mô hình tên người Việt của Trần Ngọc Thêm 30
2 Bảng 2.2 Mô hình cấu trúc chính danh nữ giới người Việt 31
3 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên cá nhân nữ
giới người Việt theo mô hình cấu tạo
34
4 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên đệm nữ
giới người Việt theo mô hình cấu tạo
36
5 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên nữ giới
người Việt theo thành tố cấu tạo
49
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo tổ hợp định danh nữ giới
Trang 7MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu 2
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tên người trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tên người ở Việt Nam 7
1.2 Cơ sở lí thuyết 11
1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về tên riêng 11
1.2.2 Vấn đề giới trong ngôn ngữ học 19
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA TRONG TÊN NỮ GIỚI NGƯỜI VIỆT 27
2.1 Đặt vấn đề 27
2.2 Cơ sở phân tích đặc điểm cấu tạo tên nữ giới người Việt 28
2.2.1 Một số lí luận về hình vị 28
2.2.2 Cơ sở phân tích các thành phần cấu tạo trong tên nữ giới người Việt 29
2.3 Đặc điểm cấu tạo tên nữ giới người Việt 30
2.3.1 Mô hình chung tên nữ giới người Việt 30
2.3.2 Các thành phần cấu tạo tên nữ giới người Việt 31
2.3.3 Các mô hình cấu tạo tên nữ giới người Việt 41
Tiểu kết chương 2 49
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ VĂN HÓA - XÃ HỘI PHẢN ÁNH QUA TÊN NỮ GIỚI NGƯỜI VIỆT 51
3.1 Đặt vấn đề 51
3.2 Đặc điểm nghĩa của tên nữ giới người Việt 52
3.2.1 Đặc điểm nghĩa của tên cá nhân nữ giới người Việt 52
Trang 83.2.2 Đặc điểm nghĩa của tên đệm nữ giới người Việt 58 3.2.3 Đặc điểm nghĩa của tên họ nữ giới người Việt 62
3.3 Những đặc điểm về văn hóa - xã hội được phản ánh qua tên nữ giới người Việt 62
3.3.1 Những yếu tố về văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến tên nữ giới
người Việt 62 3.3.2 Phân tích những đặc điểm về văn hóa - xã hội được phản ánh qua tên nữ giới người Việt……….
………… 63
Tiểu kết chương 3 71KẾT LUẬN 73DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong mỗi cộng đồng, mỗi ngôn ngữ khác nhau, tên người (nhân danh)không chỉ đơn thuần là những kí hiệu dùng để định danh mà còn chứa đựngnhững dấu ấn về lịch sử, xã hội và truyền thống văn hoá đặc trưng cho mỗicộng đồng dân tộc đó Tên nữ giới người Việt vừa mang đặc trưng của ngônngữ, vừa là ánh xạ phản chiếu đặc điểm văn hoá - xã hội Do đó, thông quaviệc nghiên cứu tên nữ giới người Việt, chúng tôi có thể tìm hiểu được nhữngđặc trưng về ngôn ngữ và văn hóa – xã hội thể hiện qua tên nữ giới ở ViệtNam
1.2 Tên người nói chung và tên nữ giới nói riêng chiếm một vị trí rất quantrọng trong hệ thống tên riêng Trong mỗi ngôn ngữ, tên nữ giới có những đặcđiểm riêng Xét về số lượng, nữ giới là lực lượng chiếm phân nửa dân số nhânloại Điều đó cũng có nghĩa là số lượng tên nữ giới chiếm phân nửa số lượngtên người trên thế giới Với số lượng rất lớn như vậy, đây chính là một nguồnngữ liệu hết sức phong phú để tìm hiểu và phân tích Hơn nữa, việc nghiêncứu tên nữ giới góp phần làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu trongngôn ngữ học xã hội về giới cũng như trong ngôn ngữ và văn hoá - xã hội nóichung
1.3 Theo nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận được, hiện vẫn còn thiếuvắng những công trình nghiên cứu về tên nữ giới người Việt
Từ những lí do nêu trên, để giúp những người học và nghiên cứu ngôn ngữ
và văn hóa Việt Nam hiểu được những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá, xã hộihàm chứa trong tên nữ giới, chúng tôi chọn vấn đề “Nghiên cứu đặc điểmngôn ngữ và văn hóa-xã hội trong tên nữ giới người Việt” làm đề tài nghiêncứu khoa học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 102.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích như trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Xây dựng hệ thống cơ sở lí thuyết cho toàn bộ nghiên cứu thông quađiểm luận một số vấn đề lí thuyết quan trọng về danh xưng học, tên riêng, tênngười nói chung và tên nữ giới nói riêng và lí thuyết về ngôn ngữ học về giới
- Khảo sát tên nữ giới người Việt
- Phân tích đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa xã hội phản ánh qua tên nữ giớingười Việt
2 3 Đối tượng và phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tên chính danh của nữ giới người Việt,trong đó bao gồm cả phần tên họ, tên đệm và tên cá nhân
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở việc phân tích tên (chínhdanh) của nữ giới người Kinh tại Việt Nam
Cách tiếp cận vấn để nghiên cứu của đề tài cơ bản là miêu tả và phân tích
Do đó, dù nguồn ngữ liệu để phân tích của đề tài là nguồn ngữ liệu hiện đại (từnăm 1975 đến nay) nhưng, đề tài vẫn đưa ra các hiện tượng về tên riêng tronglịch sử để có cơ sở phân tích và đưa ra được cái nhìn tổng thể về tên nữ giớingười Việt Chúng tôi chọn phạm vi này bởi lẽ năm 1975 là một dấu mốc về sựphát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam
3.3 Ngữ liệu nghiên cứu
Nguồn ngữ liệu được sử dụng để phân tích trong đề tài được chúng tôithu thập từ danh sách 12.936 tên nữ học viên, sinh viên người Kinh của 3trường đại học ở Việt Nam là Viện đại học Mở Hà Nội, Đại học Tây Đô CầnThơ và Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Lí do chúng tôi chọn
3 trường đại học này vì các trường thuộc các khu vực Bắc, Trung, Nam củaViệt Nam Như vậy, ngữ liệu thu thập được mang tính toàn diện về vùng miềncủa Việt Nam Đây là những nguồn ngữ liệu đáng tin cậy do các trường cungcấp
Trang 113 4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài và thực hiện các nhiệm vụ
đã đặt ra, chúng tôi đã áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra để tổng hợp nguồn ngữ liệu tên nữ học viên, sinh
viên tại các trường đại học ở Việt Nam;
- Phương pháp miêu tả để miêu tả các đặc điểm về cấu tạo và đặc điểm
ngữ nghĩa của từng thành phần định danh (tên họ, tên đệm, tên cá nhân) trong
tổ hợp định danh nữ giới người Việt;
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được tận dụng để thấy được mối
liên hệ giữa đặc trưng ngôn ngữ với các thuộc tính văn hóa - xã hội được phảnánh
Ngoài ra, để thực hiện đề tài một cách khoa học và chính xác chúng tôicòn áp dụng thủ pháp thống kê định lượng, kết hợp với phân tích định tính,
mô hình hóa, lập bảng biểu để đưa ra kết quả phân tích nghiên cứu
4 5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Đề tài đã phân tích chi tiết các đặc điểm cấu tạo của tên nữ giới ngườiViệt, đồng thời cũng phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa trong từng bộ phận củacấu trúc tên riêng nữ giới người Việt: tên cá nhân, tên đệm và tên họ Trên cơ
sở đó, đề tài chỉ ra những đặc điểm trên cả phương diện ngôn ngữ và văn hóa– xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài dự kiến sẽ có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn như sau:
Về lý luận, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ
những đặc trưng của nhân danh học nữ giới cả về mặt ngôn ngữ lẫn văn hoá
-xã hội
Về thực tiễn, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có đóng góp nhất
định cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, công tác dạy và học ngôn ngữ và vănhoá Việt Nam của giảng viên, sinh viên, nghiên cứu viên của các viện nghiêncứu, các trường đại học và những người yêu thích ngôn ngữ văn hoá ViệtNam
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Ở chương này, đề tài tập trung vào việc tổng quan tình hình nghiên cứutên người trên thế giới, tên người Việt nói chung và tên nữ giới người Việt nóiriêng Chúng tôi cũng điểm luận một số vấn đề lí thuyết quan trọng về tênriêng, tên người, tên nữ để làm tiền đề cho toàn bộ đề tài
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tên người trên thế giới
Tại Châu Âu, vấn đề nghiên cứu tên riêng đã được nhắc tới rất sớmtrong các tác phẩm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại như Planton,Democrit, Heghen hay các công trình nghiên cứu liên quan đến sử học Ví dụnhư ở Pháp, cuốn “Đại từ điển lịch sử” (Grand dictionaire historique) hoặc
“Tạp lục tôn giáo và thế tục” (Mélange sacré et profane) của Morérí ra đờinăm 1674, hay cuốn “từ điển lịch sử và phê bình” (Dictionaire historique eteritique) của Bayle là một bộ sưu tập liệt kê các tên riêng theo bảng chữ cái(Từ điển tên riêng Thế giới) [1696] Đến cuối thế kỷ XIX ngành khoa họcnghiên cứu về tên người mới chính thức ra đời Nhưng trước đó, ở một sốnước Châu Âu đã hình thành khái niệm về “nhân danh học” thông qua nhiềucông trình nghiên cứu về tên người chủ yếu căn cứ vào tư liệu của ngành sửhọc, dân tộc học và gia phả học Các công trình nghiên cứu về tên người tạithời điểm đó thường chỉ bó hẹp ở những đặc điểm ngoài ngôn ngữ của lớp tênriêng chỉ người Sang thế kỷ XX, Châu Âu chứng kiến sự ra đời của hàng loạtcác công trình nghiên cứu về tên người có giá trị trên tất cả các bình diện.Tiêu biểu là tại Anh hằng trăm cuốn từ điển tên người, sách, bài báo, côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về tên người theo quan điểm ngôn ngữ học ra đời
và đặc biệt được hưởng ứng tại nhiều nước như Mĩ và Thuỵ Điển
Ở Anh, chuyên ngành khoa học nghiên cứu về tên người (nhân danhhọc) mới chính thức ra đời vào cuối thế kỷ XIX, là một nhánh thuộc ngànhkhoa học nghiên cứu về tên riêng (danh xưng học) Tuy nhiên, nhân danh họcAnh đã phát triển một cách nhanh chóng và rộng rãi trên nhiều phương diệnnhư lịch sử học, xã hội học, triết học, văn hóa học và ngôn ngữ học
Tuy các công trình nghiên cứu về tên người Anh nói chung có số lượngrất lớn và đa dạng, song các công trình nghiên cứu về tên riêng nữ giới thì còn
Trang 13hạn chế Trong danh mục 38 số tạp chí Nomina kể từ năm 1977 đến nay, chỉ
có 02 trong tổng số 266 công trình công bố về tên nữ giới người Anh như:
The Name-type Maid(en)well của Hough, C (2010) hay Naming Welsh Women của Margan, G
Trước đó phải kể đến Carter, với tư cách là một nhà văn, nhà thơ, bà đã
cho ra đời cuốn sách Lexicon of Ladies Names: With Their Floral Emblems
(1865) Cuốn sách này chủ yếu phân tích ý nghĩa của 162 tên nữ giới trong
mối quan hệ với tên của 141 loài hoa và những ý nghĩa biểu trưng cho sắcthái, tình cảm phản ánh qua cái tên đó Cuốn sách cung cấp thêm thông tin về
ngôn ngữ của hoa, từ vựng hoa và có cả những bài thơ xen lẫn trong nội dung
cuốn sách Tuy nhiên, công trình này mới chỉ nghiên cứu tên nữ trên bình diệnngữ nghĩa, đặc biệt là ý nghĩa liên quan đến các loài hoa mà chưa phải lànghiên cứu có tính tổng quát về tên riêng nữ giới người Anh
Cũng về chủ đề nghiên cứu tên nữ giới người Anh, Elisabeth Okasha
trong Women's Names in Old English (2011) đã nghiên cứu tên riêng nữ giới
trong tiếng Anh cổ [173] Đây là một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tênriêng nữ giới thông qua ngữ liệu là tên nữ trong các tài liệu tiếng Anh cổ vàcũng là công trình nghiên cứu đầu tiên đưa ra quan điểm hoàn toàn khác sovới những quan điểm đã được công nhận trước đây rằng giới tính của mỗi cáthể được xác định một cách chính xác bởi giới ngữ pháp (grammaticalgender) trong tên người đó Bà phủ nhận chức năng ngữ pháp về giới trongtên người ở tiếng Anh cổ Bà cho rằng rất khó phân biệt giới trong tên người ởtiếng Anh cổ Trong khi đó, các nhà nghiên cứu về nhân danh học đương đạicho rằng việc phân biệt giới tính nam và nữ qua tên người không mấy phứctạp Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu tên nữ giớingười Anh trong tiếng Anh cổ nên cũng chưa nói được đầy đủ về tên riêng nữgiới người Anh
Một bình diện nổi bật trong nghiên cứu tên nữ giới người Anh đó là bìnhdiện ngôn ngữ học xã hội với rất nhiều công trình nghiên cứu về tên nữ giới
và tình trạng hôn nhân Gốc rễ của vấn đề nằm ở phong tục đổi tên nữ sau khikết hôn ở Anh cũng như nhiều quốc gia châu Âu khác trên thế giới Có thể kể
đến một số công trình như The Distinction of Gender? Women’s Names in the
Thirteenth Century của Postles (1996), A Name of One’s Own: Identity, Choice and Performance in Marital Relationship của Wilson (2009) hay The
Trang 14Making of Selfhood: Naming Decisions on Marriage của Thwaites (2013).
Các công trình đều xoay quanh vấn đề đổi tên của phụ nữ sau khi thay đổitình trạng hôn nhân như đổi tên sau kết hôn, đổi tên sau li hôn, đổi tên sau khichồng mất,… Đây là các nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học, triết học, xãhội học, tâm lý học…Các nghiên cứu đã nhấn mạnh đến quyền bình đẳng củaphụ nữ đặc biệt là quyền được giữ lại tên sau kết hôn
Có thể khẳng định tên người Anh nói chung và tên nữ giới người Anhnói riêng là một vấn đề thú vị được các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy đã córất nhiều công trình nghiên cứu về tên người Anh nói chung nhưng nhữngcông trình nghiên cứu về tên nữ giới người Anh nói riêng từ góc độ đối chiếucòn rất hạn chế Đặc biệt, hiện nay vẫn còn đang thiếu vắng những nghiêncứu về tên nữ giới người Anh mang tính so sánh đối chiếu với các cộng đồngvăn hóa khác
Tại Châu Á, tiêu biểu như Trung Quốc đã có nghiên cứu về tên người
từ thời đại Xuân Thu, cách đây hơn 2000 năm Song việc nghiên cứu tênngười bắt đầu phát triển từ triều đại nhà Hán với cuốn sách ghi lại được 130dòng họ phổ biến nhất Trung Quốc Tới triều đại Tống là một thời đại quantrọng với sự phát triển của nhân danh học Trung Quốc Nó được đánh dấu bởi
sự ra đời của cuốn “Bách Gia Tính” khi vua Phục Hy ra lệnh bắt dân chúngphải có một “gia tính” hay “tộc tính” để dễ phân biệt các hệ phái gia đình vàqui định phép tắc hôn nhân Cuốn sách viết theo thể loại thơ bốn chữ, ghi lạikhoảng 504 dòng họ phổ biến nhất Trung Quốc lúc bấy giờ Theo “Thuyếtvăn giải tự”, đến thế kỷ V trước công nguyên ở Trung Quốc đã có hai loại
“gia tính” được dùng: chữ “tính” là họ gốc được cấu tạo theo nguyên tắc hội ýgồm “nữ” và “sinh” “Tính” do cha truyền con nối hoặc do vua ban và dànhcho nam giới; “thị” là họ cành, tức là tên mới đặt khi sinh giành cho cả nam
và nữ Giới quý tộc vừa có “tính” vừa có “thị”, dân thường chỉ có “tính” Đànông, con trai xưng “thị” để phân biệt sang hèn, đàn bà con gái xưng “tính” đểphân biệt hôn nhân Theo tài liệu “Văn hoá họ tên” [2001], “danh” xuất hiệnmuộn nhất ở Trung Quốc vào khoảng thời Hạ Thương Tiếp đến triều đại nhàMinh, Thanh sự nghiên cứu về tên người cũng không ngừng phát triển Tuynhiên việc nghiên cứu về nhân danh học ở Trung Quốc trước thế kỉ XIX chưathành hệ thống lý luận chính thức Phần lớn chỉ khảo sát cội nguồn dòng họ,chỉ chú trọng thu thập tài liệu mà chưa coi trọng lý luận và phương pháp
Trang 15nghiên cứu Đến thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu hình thành ngành nhân danhhọc chính thức và hoàn chỉnh với nhiều công trình nghiên cứu và các tác giảnổi tiếng như: Vương Tuyền Căn, Hà Hiểu Minh, Vương Đại Lương, DươngDương, Trương Thu Nham, Lý Văn Lượng
Tại Nhật Bản, chuyên ngành nghiên cứu về nhân danh học chỉ chínhthức ra đời vào cuối thế kỷ XIX song thực tế tiền đề cho ngành khoa học này
đã hình thành từ thời Edo (giữa thế kỷ XVII) do sự thâm nhập mạnh mẽ củavăn hoá chữ Hán Đến thế kỷ XIX, ngành nhân danh học ở Nhật bắt đầu pháttriển với những tác phẩm và công trình nghiên cứu của nhà văn, nhà nhândanh học Watanabe Mitsuo [1908] Ông đã cho ra đời hàng chục công trình cógiá trị và giành phần lớn cho các nghiên cứu về tên người Khi đã vào cương
vị thứ trưởng bộ máy chính quyền Nhật Bản, lòng say mê nghiên cứu về nhândanh học đã giúp ông tiếp tục cho ra đời những cuốn sách nổi tiếng trong lịch
sử nhân danh học Nhật Bản như “Tên họ của Nhật Bản”, “Danh nhân củaNhật Bản” Trong các nghiên cứu này của mình ông đã công phu sưu tầmhàng ngàn tên riêng kèm theo những bút danh, biệt danh của những con ngườilỗi lạc Các nghiên cứu cho thấy “văn hoá chữ Hán” đã thâm nhập mạnh mẽ
và ảnh hưởng sâu sắc đến nhân danh học Nhật Bản Phần tên người Nhật rấtphức tạp, phần lớn đọc theo nghĩa, tức là cùng nghĩa có thể viết các chữ Hánkhác nhau, khi nhìn vào chữ Hán có thể hiểu và suy ra cách đọc Chính từviệc suy ra cách đọc lại làm nảy sinh nhiều cách đọc khác nhau vì một chữHán trong tiếng Nhật lại có nhiều cách đọc
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tên người ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tên người (nhân danh) là chủ đề được quan tâm khá sớm
từ những năm 30 của thế kỷ XX với những công trình khảo cứu, biên soạn,tổng hợp về tên người trên bình diện dân tộc học hay xã hội học Theo PhạmTất Thắng, “những năm 60-70 của thế kỉ XX đến nay, tình hình nghiên cứutên riêng chỉ người trong Việt ngữ học xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau
đã phát triển rầm rộ…” [66]
Các công trình nghiên cứu chung về tên người Việt trong đó có đề cập
đến tên nữ giới tương đối phong phú, chẳng hạn, trong bài viết Tên người Việt
Nam (1954), Nguyễn Bạt Tụy đã liệt kê được 308 họ và khảo cứu về cách đặt
tên đệm và tên chính của người Việt Nam [83] Năm 1961, Trịnh Huy Tiến
viết bài Các loại danh nhân Việt Nam đã đề cập đến 15 loại danh hiệu và tên
Trang 16chính nhưng chưa nói đến tên họ và tên đệm [80] Nói chung, những nghiêncứu ở giai đoạn này mới chỉ là sự liệt kê danh sách tên hay là những ý kiến vềmột vài lĩnh vực liên quan đến tên người, ví dụ: sự hình thành của tên họ haycách đặt tên của người Việt mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu.
Về vấn đề chính tả, các tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp viết hoa tênriêng cho hợp lí và tiện dùng Tuy nhiên, vấn đề chính tả và cách viết hoa tênriêng đến giờ vẫn còn tiếp tục được luận bàn Nổi bật ở giai đoạn này là cáctác giả Lê Anh Hiền (1972), Nguyễn Huy Minh (1973), Lê Xuân Thại (1973)[23] [47] Cũng trong giai đoạn này, ngoài vấn đề về chính tả, một số tác giảbắt đầu đi sâu vào nghiên cứu nghĩa của tên riêng chỉ người, cũng như khaithác những khía cạnh khác liên quan đến tên người Việt như lịch sử, văn hóa,
xã hội, chẳng hạn, năm 1975, Nguyễn Kim Thản đã viết bài Vài nét về tên
người Việt, và năm 1976 Trần Ngọc Thêm có bài Về lịch sử, hiện tại và tương lai của tên riêng người Việt [57] [68] Các nghiên cứu này đã nêu lên nguồn
gốc của một số tên họ, đặc điểm của lớp tên đệm, tên chính cũng như nêu lênchức năng của tên người và nguyên tắc đặt tên chính của người Việt Đáng
chú ý tác giả Lê Trung Hoa đã cho ra đời tác phẩm Họ và tên người Việt Nam năm 1992 [27] Tác phẩm được đánh giá là một công trình nghiên cứu chuyên
sâu và có tính hệ thống nhất từ trước tới nay về vấn đề tên gọi của người Việttrên bình diện dân tộc – ngôn ngữ học
Nói đến nhân danh học Việt Nam, phải kể đến Phạm Tất Thắng, mộttrong những nhà nghiên cứu có rất nhiều công trình đã công bố về tên người
(khoảng 50 công trình), tiêu biểu là luận án Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ
người (chính danh) trong tiếng Việt [59] Trong công trình này, tác giả đã
khảo sát và miêu tả một cách có hệ thống tên chính thức (chính danh) củangười Việt Gần đây, ông có rất nhiều công trình nghiên cứu về tên riêng, ví
dụ: Không gian tên riêng tiếng Việt [65] Mới gần đây ông công bố bài Tình
hình nghiên cứu tên riêng chỉ người trong Việt ngữ học trên tạp chí ngôn ngữ
năm 2015 và Tên riêng là một loại đơn vị từ vựng năm 2016 trong kỉ yếu hội
thảo quốc tế về ngôn ngữ học [66] [67]
Về đại thể, vấn đề nghiên cứu tên người Việt xuất phát từ các bình diệnchủ yếu như: sử học, dân tộc học, xã hội học, văn hoá học và ngôn ngữ học
Về lịch sử, tên người Việt cũng có nhiều ý kiến chưa thống nhất.Nguyễn Kim Thản, Hồ Hữu Tường cho rằng tên họ người Việt có gốc tích từ
Trang 17Trung Quốc, trong khi đó Diệp Đình Hoa lại phỏng đoán rằng tên họ củangười Việt có nguồn gốc bản địa, thuần Việt và được ghi lại trong tên làng xã[57][85][24] Trần Ngọc Thêm lại đưa ra giả thuyết tiền thân của tên ngườiViệt xuất phát từ tên các vật tổ truyền thống của các bộ lạc [68, tr.15] Một
phạm trù khác thuộc tên người là tên đệm, vấn đề nguồn gốc của tên đệm
cũng gây nhiều tranh cãi Nguyễn Kim Thản cho rằng “Tên đệm ra đời muộnhơn họ”, còn Trần Ngọc Thêm lại nhận định “Tên đệm xuất hiện cùng lúc vớihọ” [57, tr.69][68, tr.16] Tuy nhiên, các ý kiến đưa ra về nguồn gốc của tênngười Việt còn ở dạng giả thuyết hoặc võ đoán cần có những minh chứng lịch
sử thuyết phục để đưa ra quan điểm thống nhất Nổi bật nhất trong các công
trình khảo cứu về tên người trên bình diện lịch sử phải kể đến Từ điển nhân
vật lịch sử của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế (tái bản lần thứ 4 năm
1997), đây là một công trình đồ sộ, đòi hỏi nhiều công sức được soạn thảocông phu với 1769 tên nhân vật trong lịch sử từ thời vua Hùng dựng nước đếnnăm 1988 kèm theo những thông tin cá nhân và thông tin lịch sử kèm theo.Tuy nhiên, trong 1769 tên các nhân vật chỉ có 66 tên là tên của nhân vật nữ
Từ góc độ liên ngành ngôn ngữ - văn hóa học, Dương Kỳ Đức đã mởđầu hướng nghiên cứu về mạng danh với định nghĩa: “Mạng danh là nhândanh do mỗi thành viên (chủ tài khoản) của một mạng xã hội ảo tự đặt chomình bằng tổ hợp tùy thích các chữ cái, chữ số, từ, ngữ để sử dụng trong giaotiếp phi trực diện (ảo) trên mạng” [15, tr.20] Ông cũng tiến hành phân loạimạng danh, xác định vị trí của mạng danh trong hệ thống nhân danh và luậnchứng về cơ sở ngôn ngữ - văn hóa học của mạng danh tiếng Việt
Trên bình diện ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đếncác vấn đề: chức năng, chính tả, cấu tạo và ý nghĩa của tên người Việt Cáctác giả tiêu biểu trên bình diện này gồm: Lê Anh Hiền (1972), Trần NgọcThêm (1976), Nguyễn Văn Thạc (1979), Nguyễn Huy Minh (1993), Dương
Kỳ Đức (1998), Lê Trung Hoa (2002), Phạm Tất Thắng (1996, 2003, 2004,2011), Nguyễn Việt Khoa (2010), Nguyễn Văn Khang (2016) [59] [23] [47][68] [14] [27][59][62][63][64][170][39]
Về chức năng của tên người, Trần Ngọc Thêm (1976) cho rằng tênngười có 5 chức năng cơ bản như: chức năng phân biệt, chức năng biệt giới,chức năng thẩm mĩ, chức năng bảo vệ và cuối cùng là chức năng xã hội [68,tr.12-13]
Trang 18Về phương diện chính tả, các nghiên cứu tập trung vào thảo luận vềcách viết hoa tên người Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất viết hoatất cả các âm tiết trong tên người và giữa các âm tiết không dùng dấu gạch
nối, như trong Bản dự thảo về quy tắc viết hoa do Viện Ngôn ngữ học đề xuất
năm 1972 [93]
Về phương diện cấu tạo, theo Phạm Tất Thắng (1996), tên chính danhcủa người Việt (Kinh) là một đơn vị định danh có dạng một tổ hợp gọi là tổhợp định danh tên người Một tổ hợp định danh tên người đầy đủ gồm 3 danh
tố là họ, đệm và tên cá nhân Mỗi danh tố là một đơn vị có cấu trúc – chức
năng riêng Chúng là những kí hiệu định danh có giá trị định danh riêng biệt.Mỗi danh tố có thể được tạo thành từ các thành tố Một tổ hợp định danh tênngười trong tiếng Việt có bao nhiêu âm tiết (tiếng) thì có bấy nhiêu thành tố.Nếu dựa vào độ dài (số lượng âm tiết/tiếng) của tổ hợp định danh tên ngườithì trong tiếng Việt có 5 kiểu tên (2 thành tố, 3 thành tố, 4 thành tố, 5 thành tố
và 6 thành tố) Nếu dựa vào đặc trưng cấu tạo thì tên người trong tiếng Việt có
13 khuôn cấu trúc [59, tr.44]
1.2.3 Tình hình nghiên cứu tên nữ giới ở Việt Nam
Mặc dù, tình hình nghiên cứu về tên người ở Việt Nam ngày càng pháttriển nhưng những công trình chuyên nghiên cứu về tên nữ giới người Việt cònrất hạn chế Có thể kể đến Dương Xuân Đống, một trong số ít người đã có
những công trình công bố về tên nữ giới Trong bài Từ Thị trong họ tên người
phụ nữ Việt Nam tác giả đã luận giải về ý nghĩa của từ “Thị” và đưa ra các
quan điểm về nguồn gốc của từ “Thị” trong tên nữ giới người Việt cũng như
xu thế sử dụng từ “Thị” làm tên đệm trong việc đặt tên cho nữ giới [11,
tr.23-24] Xét cho cùng, đây vẫn chỉ là bài nghiên cứu từ một góc độ rất nhỏ nhưngmang tính đặc trưng về tên nữ giới trong nhân danh Việt
Như vậy có thể thấy, tình hình nghiên cứu tên người người Việt (nhândanh học Việt) trong hơn nửa thế kỉ qua đã đạt được những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên, những thành tựu đó phần lớn xuất phát chủ yếu từ bình diện dântộc học hay xã hội học Những công trình nghiên cứu về tên người trên bìnhdiện ngôn ngữ học vẫn còn khá khiêm tốn, hơn nữa những công trình chuyênnghiên cứu về tên nữ giới còn hạn chế Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi
đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa-xã hội trong
tên nữ giới người Việt”
Trang 191.2 Cơ sở lí thuyết
Tên riêng thuộc hệ thống từ vựng nhưng bản thân nó có thể tự hìnhthành một kiểu loại riêng biệt bao gồm tên người và tên các sự vật hiện tượngkhác Để có cơ sở lí luận nghiên cứu tên nữ giới (một bộ phận của tên người),
đề tài căn cứ trên một số lí luận liên quan đến tên riêng nữ giới, vấn đề giớitrong ngôn ngữ
1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về tên riêng
1.2.1.1 Danh xưng học
Trong hệ thống tên riêng, tên người (nhân danh) là một mảng quan trọng
so với các nhóm tên khác, trong đó bộ môn chuyên nghiên cứu về tên riêng làdanh xưng học (onomastics)
Có nhiều quan điểm khác nhau về danh xưng học Blackburn cho rằngdanh xưng học là một nhánh của ngữ nghĩa học, nghiên cứu về từ nguyên củadanh từ riêng [101] Trong khi đó, Colman thì miêu tả danh xưng học như mộtngành khoa học nghiên cứu về tên và cách đặt tên Ông cho rằng danh xưnghọc chia thành nhân danh học (anthroponomastics) nghiên cứu về tên người vàđịa danh học (toponomastics) nghiên cứu về tên đất nhưng danh xưng họcthiên về nghiên cứu tên người nhiều hơn [115] Trên quan điểm ngôn ngữ học,Matthews, Crystal và Bussmann đã đưa ra những định nghĩa đáng chú ý.Matthews đã định nghĩa danh xưng học là ngành khoa học nghiên cứu về cảtên người và tên địa danh [159] Crystal thì đưa ra định nghĩa rằng danh xưnghọc là một nhánh của ngữ nghĩa học nghiên cứu về từ nguyên trong danh từriêng bao gồm danh từ riêng chỉ người và danh từ riêng chỉ địa danh [118].Bussmann thì đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về danh xưng học Ông đưa ranhận định rằng danh xưng học là một ngành khoa học nghiên cứu về nguồngốc, ý nghĩa và sự phân vùng địa lý của tên riêng Ông chia danh xưng họcthành các nhóm nhỏ hơn đó là nhân danh học, thủy danh học và địa danh học[105]
Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về danh xưng học, chúng tôi chorằng danh xưng học là một ngành khoa học nhân văn, nghiên cứu về tên vàcách đặt tên người, tên nơi chốn và các sự vật, hiện tượng khác
Trang 201.2.1.2 Vấn đề tên riêng
i Các khái niệm về tên riêng
Cho đến nay, các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới đã đưanhiều quan điểm khác nhau về tên riêng (proper name)
Crystal hay Chalker và Weiner cho rằng “tên riêng (proper name) là têncủa từng cá thể riêng biệt, đó là tên người, tên địa điểm, sự vật, sự kiện, xuấtbản phẩm,… [118, tr.208][107, tr.96] hay nói cách khác, tên riêng là các danh
từ riêng chỉ các thực thể tồn tại duy nhất, ví dụ: London, Hà Nội, sông
Thames, sông Hồng,.
Theo Huddleston, tên riêng là một phân lớp của danh từ về mặt ngữpháp và tên riêng là tên được cá thể hoá cho cá nhân, địa điểm hay tổ chức ,việc cá thể hoá này được thực hiện thông qua việc đặt tên [149, tr.27]
Trên quan điểm ngữ dụng, ngữ nghĩa, cú pháp, Van và Mark đã đưa rađịnh nghĩa về tên riêng như sau:
Về ngữ dụng học, tên riêng là một danh từ biểu thị cho những thực thểtồn tại duy nhất ở cấp độ qui ước hình thành ngôn ngữ, khiến cho thực thể
đó nổi bật về mặt tâm lí trong phạm vi phạm trù được đưa ra ở mức độ cơbản Về ngữ nghĩa học, ý nghĩa của tên riêng (nếu có) thì rất khó có thểxác định được Về cú pháp học, một sự phản ánh quan trọng của đặc điểmngữ nghĩa – cú pháp của tên riêng là khả năng xuất hiện của tên riêngtrong một cấu trúc đóng [188, tr.116]
Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cũng đưa ra các định nghĩa vàquan điểm khác nhau về tên riêng
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật.Tên riêng hoàn toàn không phải không có nghĩa biểu niệm” Ông cũng chỉ ra:
“Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù cá thểđược gọi tên bằng tên riêng đó ( ) Quan trọng hơn là tên riêng được dùngtrong chức năng xưng hô Tuy là phạm trù ngôn ngữ học phổ quát, nhưng tênriêng mang đậm bản sắc dân tộc cả về qui tắc đặt tên và qui tắc dùng” [5]
Theo quan niệm của Dương Kỳ Đức, tên riêng là “tên gọi cho một sựvật, hiện tượng duy nhất, độc nhất để phân biệt, cá thể hóa sự vật, hiện tượng
đó với sự vật, hiện tượng gần gũi trong một tập hợp nào đó” [16, tr.17] Theo
ông, tính chất duy nhất, độc nhất, cá thể hóa này được hiểu không phải theo
nghĩa tuyệt đối mà theo nghĩa tương đối, trong quan hệ với các sự vật, hiện
Trang 21tượng gần gũi trong một tập hợp nào đó Chẳng hạn, trong tập hợp “các xe
máy tay ga của Yamaha” thì Acruzo là một tên riêng, để phân biệt với các xe
Nozza, Grande, Janus, Sirius,…, mặc dù có hàng nghìn chiếc xe máy tay ga Acruzo đời 2016 giống nhau như đúc Tương tự trong tập hợp “các ngày tết
trong chu kì một năm”, thì Tết cơm mới là một tên riêng, để phân biệt, cá thể hóa với các tên gọi tết khác, như Tết hàn thực, Tết đoan ngọ, Tết trung thu,… Cũng vậy, trong tập hợp một “thập lục hoa giáp” (chu kì 60 năm) thì Đinh
Dậu là một tên riêng của năm, trong quan hệ với các năm khác như Nhâm, Bính, Quý,…[16, tr.18]
Như vậy, tên riêng được định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau Do đó,việc đưa ra một khái niệm chính xác nhất về tên riêng là rất khó vì mỗi tác giảđều có những lí luận riêng khi đưa ra quan điểm của mình Tuy nhiên, quanđiểm của chúng tôi là tên riêng là một loại đơn vị từ vựng dùng để gọi tên một
cá thể đơn nhất, để phân biệt giữa cá thể này với cá thể khác
Trong việc xác định kiểu loại của tên riêng, các nhà ngôn ngữ học trênthế giới và ở Việt Nam đều có những quan điểm khác nhau như sau:
Đại điện là Huddleston và nhiều tác giả khác thì cho rằng “trên quanđiểm cú pháp học, tên riêng phải là một danh từ mà danh từ đó có thể có chứcnăng của một cụm danh từ” [149, tr.96] Ở Việt Nam, Mai Ngọc Chừ chorằng “danh từ được phân chia bước đầu thành hai lớp nhỏ là danh từ riêng vàdanh từ chung” [6] Nói như vậy có nghĩa là tên riêng (danh từ riêng) thuộc từloại danh từ
Còn theo Nguyễn Tài Cẩn, “tên riêng đáng được tách ra thành một hệthống còn danh từ chung có thể với động từ và tính từ làm thành một hệ thốngkhác tên riêng [3] Nguyễn Văn Khang đưa ra quan điểm rất rõ ràng trong đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Viện về Từ Hán Việt với tên chính người Việt “có
nên xếp tên riêng vào từ loại danh từ hay không và tên riêng có nên coi làdanh từ riêng trong mối quan hệ với danh từ chung hay không? Câu trả lời làkhông” [39, tr 40] Trong một công bố mới gần đây của Phạm Tất Thắng vềtên người, ông cho rằng “Tên riêng được coi là một đơn vị từ vựng đặc biệt có
giá trị tương đương với từ, được gọi là Ngữ định danh tên riêng” [67] Theo
Phạm Tất Thắng, “…các tên riêng không thỏa mãn các đặc trưng chủ yếu của
từ loại danh từ Vì thế, chúng cần được tách khỏi danh từ làm thành một lớp
Trang 22riêng, có cấu trúc - chức năng đặc biệt, khác hẳn với danh từ chung và các lớp
từ loại khác trong hệ thống ngôn ngữ” [64]
Chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng nếu xếp tên riêng vào loạidanh từ và là danh từ riêng thì chưa thỏa đáng vì có nhiều điểm khác với danh
từ chung
Như vậy, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa
về tên riêng, song đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được coi là thoảmãn Theo Phạm Tất Thắng, nếu xét trên bình diện nghĩa biểu vật và đặc điểmngữ pháp thì có thể xếp tên riêng vào nhóm danh từ và được gọi là danh từriêng Nếu xét trên bình diện cấu trúc, thì tên riêng không đơn giản là từ màcòn là một tổ hợp từ hay ngữ Quan điểm của chúng tôi là cần tách tên riêng
ra thành một kiểu loại riêng mà không phải là thuộc danh từ hay cụm từ bởixét về ngữ nghĩa, cấu tạo, tên riêng mang những đặc thù khác hẳn với cácdanh từ hay cụm từ bình thường khác
Xác định tên người là một tổ hợp định danh nên chúng tôi thống nhất
sử dụng thuật ngữ “tổ hợp định danh nữ giới người Việt” cho đối tượngnghiên cứu là tên riêng nữ giới người Việt
Trong hệ thống tên người có nhiều loại tên khác nhau như pháp danh, nghệdanh, biệt danh, bút danh, tên chính danh… Trong phạm vi nghiên cứu của đềtài, chúng tôi chỉ tập thực hiện nghiên cứu tên chính danh của nữ giới ngườiViệt
Theo quan điểm của Phạm Tất Thắng (2005) có hai cách phân loại tênngười đó là cách phân loại dựa vào chức năng và dựa vào phạm vi sử dụng.Nếu xét về chức năng thì tên người phân biệt thành hai loại là tên chính thức
và tên không chính thức,…Nếu căn cứ vào phạm vi sử dụng thì có thể phânthành hai loại là tên thường dùng và tên không thường dùng Theo logic phânloại tên người của ông thì tên chính thức của người Việt thường gọi bằng tênthật, tên chính, tên chính danh, tên khai sinh, tên nguyên hoặc tên cái [63,tr.61,62] Như vậy, với giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là tên chínhdanh, chúng tôi đưa ra quan điểm về tên chính danh như sau:
Về định nghĩa, tên chính danh là tên chính thức của mỗi cá nhân, được sửdụng một cách thường xuyên trong cuộc đời mỗi con người, có vai trò quantrọng nhất trong các hình thức tên gọi của mỗi người, có giá trị về mặt pháp lítrong việc định danh cho mỗi cá nhân
Trang 23Về phạm vi sử dụng, tên chính danh được sử dụng trong phần lớn các hoạtđộng giao tiếp, trong các văn bản hành chính, pháp lí như giấy khai sinh,chứng minh thư, thẻ căn cước, hộ chiếu, sổ hộ tịch, hợp đồng, văn bằng, chứngchỉ,…
Về đặc trưng, tên chính danh có tính bền vững (tên được cha mẹ đặt cho từkhi sinh ra và gần như được sử dụng đến hết cuộc đời), tính pháp lí (tên đượcđăng kí chính thức trong các sổ hộ tịch của cơ quan quản lí ở địa phương vàđược sử dụng trong các văn bản hành chính của Nhà nước) và tính phổ biến(tên được sử dụng trong phạm vi rộng lớn, trong mọi hoàn cảnh gia tiếp)
1.2.1.3 Vấn đề nghĩa của tên riêng
Tên có nghĩa hay không có nghĩa, đó là chủ đề hấp dẫn thu hút đượccác ý kiến đa chiều của các nhà khoa học Có những ý kiến cho rằng tên cónghĩa, đối lập với quan điểm này lại có những ý kiến cho rằng tên không cónghĩa Vấn đề nghĩa của tên riêng gắn liền với bản chất của tên
Đi đầu trong quan điểm tên riêng không có nghĩa đó là Mill (1843) –một triết gia người Anh Ông cho rằng: tên riêng không có nghĩa hàm chỉ(connotative meaning) Theo ông, tên riêng chỉ ra những cá nhân mà được gọibằng chính cái tên đó, nhưng không bao hàm ý nghĩa biểu niệm của từ dùng
để đặt tên Ông chứng minh quan điểm của mình bằng ví dụ với cái tên
George của một người bình thường và King George III (Vua George III) Ông
chỉ ra rằng ở ví dụ này, tên George không đưa ra được ý nghĩa gì về thứ bậc cũng như thông tin giữa hai con người (một người được đặt tên là George và ông vua George III của Anh) [197, tr33-34] Cũng theo trường phái này có
Kripke, ông cho rằng tên riêng chỉ gọi tên một sự vật một cách cứng nhắc vàkhông có nghĩa hàm chỉ Nếu tên riêng có nghĩa thì dường như nghĩa biểu vậtcủa tên riêng sẽ thay đổi trong các thế giới khác nhau [152]
Đối lập với quan điểm này, Frege – nhà toán học, triết học nổi tiếng ởĐức lại cho rằng tên riêng có nghĩa Frege cho rằng “nếu thay đổi nội dungcủa những tên cùng tham chiếu thì sẽ thấy tên riêng có nghĩa Ông chứngminh cho quan điểm của mình bằng ví dụ nếu X (sao Mai) và Y (sao Hôm) làtên của cùng một loại sự vật S (ngôi sao), khi đó nếu coi khái niệm chung là S
= S (ngôi sao là ngôi sao) thì có nghĩa X = Y, tức là sao Mai (sao mọc vàobuổi sáng) và sao Hôm (sao mọc buổi tối) giống nhau là hoàn toàn sai [tríchtheo 188, tr.25-28] Như vậy, cùng giá trị tham chiếu là ngôi sao, nhưng mỗi
Trang 24sao lại có một cái tên riêng Ý nghĩa của tên riêng đó là để phân biệt ngôi saonày với ngôi sao khác.
Việt ngữ học cũng tồn tại hai trường phái khác nhau về vấn đề nghĩacủa tên riêng Hoàng Phê theo trường phái tên riêng không có nghĩa Ông chorằng tên riêng là những kí hiệu thuần túy không có nghĩa Có những tên riêngvốn có nghĩa thì cái nghĩa đó thường cũng không ai nghĩ đến, nó trở thành vônghĩa [50] Trái ngược với trường phái này có Hoàng Tuệ, ông cho rằng tênriêng không phải là một con số, một cái nhãn chỉ có tác dụng để phân biệt, mà
là một biểu trưng [82] Cùng lập trường quan điểm tên riêng có nghĩa, BìnhLong cho rằng “ngoài các mặt cấu tạo, chính tả, phát âm và cách dùng khixưng hô, tên riêng của các nước, các dân tộc còn đáng được tìm hiểu về mặtnghĩa” [46]
Để đưa ra quan điểm về vấn đề này, chúng tôi xem xét tên riêng trongtrường hợp cụ thể - đó là tên người Tên người dùng để gọi tên cho từng cáthể riêng biệt và là phương tiện quan trọng trong giao tiếp để phân biệt giữa
cá nhân này với cá nhân khác Như vậy, tên người có nghĩa hay không?
Về ý nghĩa của tên người (tên chính danh), Phạm Tất Thắng (1996) chorằng tên người là một đơn vị có nghĩa, nó mang chức năng biểu đạt (giúp tanhận biết được đối tượng) và là loại nghĩa hàm chỉ [59, tr.79] Dựa theo đặcđiểm từ vựng – ngữ nghĩa của từ, tên riêng người Việt có các loại (các trường)nghĩa hàm chỉ sau: sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội, con người, trạng tháitâm sinh lí của con người
Dương Kỳ Đức quan niệm nghĩa của tên riêng chỉ người (nhân danh) làmột loại nghĩa văn hàm, phản ánh văn hóa của một cộng đồng người Cụ thể,theo ông, tên riêng có nghĩa, nhưng đấy không phải là nghĩa khái niệm như ởthực từ, mà là nghĩa văn hàm Khác với nghĩa ngữ hiệu là cái biểu đạt kháiniệm, cái phản ánh các đặc trưng chung của đối tượng được con người nhậnthức qua thực tiễn xã hội, nghĩa hàm văn là một hàm tố văn hóa của từ, chứađựng động hình văn hóa, tức là chứa đựng cái cách riêng trong việc tạo ra đốitượng hoặc thao tác với nó hay trong cảm nhận của nó bởi một cộng đồngngôn ngữ Với quan niệm đó, nghĩa của tên riêng không phải chỉ là sự hàmchỉ, mà được hiểu rộng hơn, nó là cái hàm tích động hình văn hóa, hàm tíchcái cách cảm nhận đầy bản sắc của một cộng đồng người Chẳng hạn, tên
người Việt hàm tích tín ngưỡng phồn thực (Bòi, Hĩm,…), tín ngưỡng sùng bái
Trang 25tự nhiên (Mây, Nguyệt, Tuyết, Thu, Xuân,…), đề cao nông nghiệp (Lúa, Bưởi,
Chanh, Lụa, Lượt,…), sùng bái người đã chết (kiêng đặt tên trùng với tên tổ
tiên), tâm lí dung hợp, hòa điệu (Thảo, Thủy, Ngọc, Nôen, Lêna,…) [4].
Sau khi phân tích quan điểm về nghĩa trong tên người của các nhà khoa
học trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng tên người có nghĩa Nghĩa ở đây
không phải hiểu theo cách là tổng hợp các đặc trưng ngữ nghĩa khái quát hóa
và phản ánh một cách có chọn lọc một tập hợp các sự vật đồng nhất (nhưthường thấy ở các thực từ), mà là thông tin có tính chất lịch sử - văn hóa hoặc
có tính chất xã hội, thường gắn liền với một thời đại nhất định, một cộng đồng
xã hội nhất định (họ tộc, tầng lớp, cư dân địa phương,…) và phản ánh thị hiếucũng như tập tục, thói quen và các sắc thái tình cảm, cảm xúc Từ một khíacạnh khác, nếu quan niệm nghĩa của từ là một hình thức tồn tại của ý thức xãhội, phản ánh sự tri nhận theo cách riêng của mỗi cộng đồng người là chủ thểcủa ngôn ngữ, thì nghĩa của tên người không phải là nghĩa ngữ hiệu (biểu đạtkhái niệm, phản ánh các đặc trưng chung của loạt đối tượng giống nhau đượccộng đồng người tri nhận) mà là nghĩa văn hàm (chứa đựng các cách riêngtrong việc tri nhận một con người riêng biệt, như một cá nhân biệt lập, cụthể)
Như vậy, nghĩa của tên nữ giới được phân tích trong đề tài không phải
là nghĩa của thực từ mà là nghĩa biểu trưng theo cách phân tầng nghĩa của
Lê Quang Thiêm Ông cho rằng “Khởi nguyên nội dung tên riêng không nói
gì về cái được gọi tên Một bộ phận tên riêng thể hiện ước muốn, hi vọng cótính văn hóa – xã hội được gửi gắm của chủ đặt tên trở thành nội dung nghĩa”[76, tr.125] Ý nghĩa này do người đặt tên lựa chọn và mang trong đó một ước
vọng của người đặt tên Khi một người có tên là Rosy (tên nữ giới người Anh) hay Hồng (tên nữ giới người Việt) không có nghĩa người được đặt tên đó là
một bông hồng mà cái tên đó gợi lên ý nghĩa về một loài hoa đẹp, có thểmang trong tên đó là ước vọng, mong muốn của ông bà, cha mẹ về một ngườicon gái đẹp tựa như hoa Quan điểm này có nhiều nét tương đồng với NguyễnVăn Khang “Nghĩa của tên riêng không hoàn toàn độc lập với nghĩa từ vựngcủa những từ ngữ dùng làm tên riêng mà nghĩa của tên riêng được xây dựngtrên cơ sở nghĩa hay là được gợi ra từ nghĩa của từ” [39, tr.40]
Cũng về vấn đề này nhưng dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận,Trần Văn Cơ cho rằng nghĩa biểu trưng là kết quả của quá trình con người sử
Trang 26dụng ngôn ngữ để biểu tượng hóa Trong quá trình tri nhận thế giới kháchquan, ngoài khái niệm là trung tâm của bức tranh khoa học về thế giới, conngười còn tạo ra một thế giới nữa, nằm giữa thế giới khách quan và conngười, đó là thế giới trung chuyển Thế giới này bao gồm những cảm nhận vàtưởng tượng của con người Để tạo ra thế giới trung chuyển này, con ngườiphải thực hiện việc biểu trưng hóa, làm cho khách thể trong thế giới kháchquan có được những thuộc tính của chủ thể, còn chủ thể có được những thuộctính của khách thể [7, tr 112-119] Chẳng hạn các vị thần thánh như NgọcHoàng, Bồ Tát, ông Địa, cô tiên, mụ phù thủy,… đều có hình hài như conngười và họ cũng vui buồn, nổi giận,…như con người Còn những người congái thì cũng mảnh mai, yếu đuối như cây liễu, cây đào (phận liễu yếu đào tơ)
và họ cười tươi tắn như bông hoa nở, ăn nói nhỏ nhẹ như tiếng ngọc va nhau(hoa cười ngọc thốt đoan trang) Trong lĩnh vực tên riêng ở Việt Nam, để biểutrưng hóa cho ước vọng về con cái mình, muốn chúng sau này có đức tính tốt,
họ đặt tên con là Hạnh, Thảo,…, muốn con mang vẻ cao quý, cao sang, họ đặt tên Châu, Ngọc,…, muốn chúng có dung nhan khả ái, họ đặt tên Lệ, Mỹ,
Diễm,…
1.2.2 Vấn đề giới trong ngôn ngữ học
Tên nữ giới là đối tượng của ngôn ngữ học và được nghiên cứu trong mộtchuyên ngành riêng biệt đó là môn tên riêng hay Nhân danh học(Anthroponomastics) Tên nữ giới chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệthống tên riêng, chính vì thế trong “Từ loại danh từ trong Tiếng Việt hiện đại”,Nguyễn Tài Cẩn (1975) đã xem tên người (trong đó có tên nữ giới) là “…mảngquan trọng nhất” trong tên riêng Việt Nam [2] Như vậy, về tổng thể, tên nữgiới là một bộ phận của Nhân danh học Tên nữ giới trong hệ thống tên riêngcủa mỗi ngôn ngữ không chỉ thể hiện đặc trưng của ngôn ngữ đó mà còn thểhiện những khía cạnh văn hoá xã hội được phản ánh thông qua nó
Tên nữ giới thuộc loại tên riêng, là một bộ phận rất quan trọng trong hệthống từ vựng của ngôn ngữ học Tên nữ giới thuộc hệ thống tên người, do đó
tên nữ giới cũng gồm các bộ phận như âm, hình, nghĩa mà các bộ phận này
đều có liên quan tới ngữ âm học, từ vựng học, ngữ nghĩa học, phương ngônhọc, tu từ học thuộc phạm vi của ngành ngôn ngữ học Khi nghiên cứu nhândanh học, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu được những vấn đề liên quannhư lịch sử, kết cấu, quá trình phát triển hay diễn biến của ngôn ngữ, thực tiễn
Trang 27của ngôn ngữ những vấn đề được nêu trên đều là những vấn đề đang đượcnghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ học.
Trong hệ thống ngôn ngữ, tên nữ giới thuộc lớp từ vựng tên riêng Trongtên riêng chỉ người (thuộc bộ môn nhân danh học) có nhiều loại tên khác nhaunhư pháp danh, hiệu danh, nghệ danh, biệt danh, bút danh, bí danh, tên hiệu,tên tự, tên thụy, tên tục, tên chính…Những tên gọi khác nhau này không chỉmang theo nhiều ý nghĩa lịch sử, truyền thống, văn hóa của cả cộng đồng nóichung mà nó còn phản ánh đặc điểm tâm lý, tính thẩm mỹ của mỗi cá nhân.Các loại tên này giúp ta xác định tương đối rạch ròi các giai đoạn lịch sử khácnhau, thành phần xã hội khác nhau, tôn giáo khác nhau…
Nếu xét ngôn ngữ học là một chỉnh thể thì tên nữ giới là một bộ phận,nhưng bộ phận không hoàn toàn nằm trong chỉnh thể vì bộ phận đó còn bị ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố khác như lịch sử, truyền thống văn hóa, xã hội Do đó,khi nghiên cứu về tên nữ giới, không chỉ nghiên cứu về phương diện từ vựngnói chung mà cần phải đặt trong mối quan hệ với các ngành khoa học xã hộikhác Điều này có thể thấy khi nghiên cứu về cấu tạo của tên nữ giới, tuykhông phải là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngôn ngữ học xã hội hay sửhọc nhưng những thay đổi trong cấu tạo của tên nữ giới trong những giai đoạnlịch sử và xã hội khác nhau lại phản ánh những đặc trưng văn hóa, lịch sử, xãhội ở những giai đoạn đó Ví dụ, ở Việt Nam vào thế kỷ 18, 19 khi tiếng Hán
có những ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội, có nhiều văn tự chính thức viếtbằng chữ Hán nên đa phần tên nữ giới thời kỳ đó xuất phát là những từ Hán –Việt Đến cuối thể kỷ 19, chữ quốc ngữ xuất hiện, tên thuần Việt được sử dụngnhiều hơn Hay trước năm 1975, người Việt có xu thế đặt tên có phân biệt giới
tính rõ ràng qua cách đặt tên đệm cho nam là Văn và nữ là Thị Theo Dương
Xuân Đống (2002) hai chữ này được sử dụng rộng rãi trong việc làm tên đệm
trong tên người Việt Nam qua nhiều thế kỷ Văn nghĩa là người có học, nhà
nho Thị có nghĩa là đàn bà [11, tr.23] Tuy nhiên, cách phân biệt giới tính
thông qua tên gọi này không còn được người thời nay ưa chuộng lắm Do đó,người Việt nay có khuynh hướng chọn những tên đệm khác mang tính thẩm
mỹ cao hơn và có sự kết hợp ý nghĩa sâu sắc hơn với tên họ và tên cá nhân Như vậy, khi nghiên cứu về tên người không chỉ nghiên cứu về mặt ngônngữ học mà phải đặt đối tượng nghiên cứu trong tương quan với các ngànhkhoa học khác
Trang 281.2.2.1 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới
Tác giả Nguyễn Văn Khang (1996) đã phân biệt hai góc độ chính đểnhìn vấn đề giới trong giao tiếp ngôn ngữ, đó là: Ngôn ngữ nói về mỗi giới
và ngôn ngữ của mỗi giới Tuy nhiên, phần ngôn ngữ về mỗi giới, tác giảmới chỉ dừng lại ở một nhận xét duy nhất là những từ nhất định chỉ dùngcho giới này hoặc giới kia mà thôi Ở phần ngôn ngữ của mỗi giới thì tác giả
đã chỉ ra rằng: “sự diễn đạt, cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau của hai giới
để biểu thị cùng một vấn đề, cùng một nội dung giao tiếp” [34]
Tác giả Nguyễn Văn Khang cũng đã đề cập đến những vấn đề ngônngữ có liên quan đến giới, đặc biệt tác giả nhấn mạnh về “sự phân biệt đối
xử về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ” Theo tác giả thì 04 biểu hiện của
sự phân biệt đối xử về giới đó là:
- Sự biểu hiện ở mặt cấu tạo từ: hàng loạt từ được cấu tạo có yếu tố
“man/ đàn ông” đã phản ánh vị thế xã hội nam quyền trong tiếng Anh
- Dùng đại từ he/his để thay cho she/her trong tiếng Anh
- Sự phân biệt đối xử về giới thể hiện trong sự giao tiếp ngôn ngữ: nhưviệc sử dụng thiếu cân xứng các danh hiệu như Mr, Mrs, Miss, quanniệm không cân bằng về những tập hợp từ như unwed mother (mẹngoài giá thú) và unwed father (cha ngoài giá thú)…trong tiếng Anh
- Việc đánh giá về lời nói của từng giới: cách nhìn nhận khác nhau về lờinói của từng giới [35]
Như vậy, giữa ngôn ngữ và giới có sự quan hệ mật thiết với nhau Xãhội đã phân ra giới nam và giới nữ Ngôn ngữ cũng như vậy, cũng phân định
rõ ngôn ngữ dành cho nam giới và ngôn ngữ dành cho nữ giới Tên người làmột bộ phận của ngôn ngữ Dù không có những qui định nghiêm ngặt nhưngphần lớn rất dễ nhận biết đâu là tên của nam giới và đâu là tên của nữ giớitrừ một số trường hợp đặc biệt
1.2.2.2 Tên nữ giới trong ngôn ngữ học xã hội
Xã hội học là ngành khoa học đề cập tới các chủ thể xã hội, các quá trình
xã hội Trong đó, ngôn ngữ cũng là một hiện tượng xã hội Sự biến đổi củangôn ngữ chịu sự ảnh hưởng của các nguyên nhân về kinh tế, văn hóa, xã hộicũng như những ảnh hưởng của tôn giáo, phong tục, tập quán của xã hội đó
Trang 29So với tên chung thì tên riêng và đặc biệt là tên nữ giới có lẽ phản ánh mộtcách khá rõ nét những biến động của các yếu tố xã hội
Việc đặt tên người cũng giống các hiện tượng ngôn ngữ học khác đều
chịu những ảnh hưởng không nhỏ của đặc trưng giai cấp Trong cuốn Ngôn
ngữ học xã hội – Những vấn đề cơ bản, Nguyễn Văn Khang đã chỉ ra rằng:
“…bản thân ngôn ngữ không có tính giai cấp, nhưng những giai cấp và tầnglớp xã hội khác nhau có ảnh hưởng tới việc sử dụng ngôn ngữ và làm cho ngônngữ trong sử dụng vừa phản ánh vừa mang tính đặc thù giai cấp hoặc đặc thùcủa tầng lớp xã hội nào đó Đây chính là nguyên nhân nảy sinh ra sự phân tầng
xã hội trong sử dụng ngôn ngữ…”[35] Như vậy, tên người mà cụ thể ở đây làtên nữ giới đều chịu những ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như nghề nghiệp,trình độ văn hóa, kinh tế, môi trường sống Theo khảo sát của Vũ Thị Kim
Thoa (2005), tên đệm Thị trong cấu trúc tên của nữ nông dân chiếm 97,75 %,
trong đó tên đệm này chỉ chiếm 77% ở nữ công nhân và giảm xuống còn 53 %
ở tên của nữ trí thức Đối với tên cá nhân, số lượng tên đơn của nữ nông dânchiếm 99,6 %, nữ công nhân chiếm 89,2% và nữ trí thức chiếm 62,9 % [79,tr.66]
1.2.2.3 Tên nữ giới và vấn đề giới
Trong hệ thống tên riêng chính danh của các ngôn ngữ, tên riêng của nữgiới cũng đóng vai trò rất quan trọng Theo tác giả Nguyễn Văn Khang
“Phương ngữ giới tính là một biểu hiện của sự phân chia hai nửa đàn ông vàđàn bà trong xã hội Là công cụ quan trọng bậc nhất của con người, ngôn ngữkhông chỉ có chức năng phản ánh thực tại xã hội mà còn có chức năng củng cố
và duy trì tồn tại xã hội” [38, tr.245] Do đó, việc nghiên cứu tên nữ giới gópphần làm phong phú thêm khía cạnh nào đó trong ngôn ngữ học xã hội về giới.Trần Xuân Điệp đã cho rằng: “Ngoài chức năng đánh dấu giới, tên riêngcủa con trai và con gái thường phản ánh những đặc điểm rập khuôn về tínhnam và tính nữ phổ biến trong một nền văn hóa hay một xã hội nhất định.Chẳng hạn những em trai thường được đặt những tên có nghĩa liên tưởng tớinhững khái niệm như: sức mạnh, quyền lực, lòng can đảm… trong khi đó têncủa các em gái thường phản ánh sự uyển chuyển, sắc đẹp (đặc điểm cơ thể,loài hoa đẹp, đồ trang sức), tính kiên nhẫn, niềm hy vọng, sự phục tùng (đứctính)” [9, tr.91] Như vậy, tên của nam giới thường gắn với những từ có nghĩa
biểu trưng cho sự mạnh mẽ, thành công như: Hùng, Cường, Dũng, Thắng,
Trang 30Chiến…Trong khi đó, tên của nữ giới thường gắn với những từ có nghĩa biểu
trưng cho sắc đẹp, sự tao nhã như Hiền, Hoa, Hạnh, Dung, Lan, Tuyết Tuy
nhiên, ngoài những từ ngữ miêu tả vẻ đẹp để dùng đặt tên cho nữ thì cũng có
những từ ngữ biểu thị sự yếu ớt, kém cỏi như Mẹt, Thị Mẹt, Tẹt, Đĩ,…
Một nét tiêu biểu trong việc phân biệt giới tính trong tên người Việt Nam
đó là tên đệm Văn dùng cho nam giới và tên đệm Thị dùng cho nữ giới Theo Huard & Durand (1992), Thị vốn được dùng để đặt tên nữ giới vì đó là lời ước nguyện mong có đông con nhiều cháu, còn Văn được dùng cho nam giới diễn
tả mong ước đỗ đạt cao [148] Về vấn đề tên đệm cho từng giới, Trần Xuân
Điệp cho rằng: Văn và Thị có thể được xem là dấu hiệu về tính kì thị giới tính trong tên truyền thống của người Việt (…) Sở dĩ Văn và Thị có ý nghĩa kỳ thị
giới là do xã hội truyền thống của Việt Nam vốn mang nặng tính phụ hệ nênquan niệm phụ nữ chỉ có bổn phận sinh con đẻ cái, còn quyền được học hành
đỗ đạt cao phải thuộc về nam giới” [9, tr 95]
1.2.2.4 Chức năng của tên nữ giới
Cũng như tên riêng của nam giới, tên riêng của nữ giới cũng mang đầy
đủ những chức năng của tên riêng chỉ người
Tác giả Đỗ Hữu Châu (1981) cho rằng tên riêng có chức năng xưng hô[5] Tác giả Đào Tiến Thi thì cho rằng tên riêng có chức năng duy trì bản sắcvăn hóa [72, tr.21-23]
Còn theo Trần Ngọc Thêm, họ và tên người Việt Nam có 5 chức năng: (1) Chức năng phân biệt: đây là chức năng chính, chủ đạo Bởi vì têngọi nói chung xuất hiện là do nhu cầu phân biệt
(2) Chức năng phân biệt giới (phân biệt nam, nữ): Sự phân biệt nàymạnh hay yếu tùy thuộc vào những đặc trưng về ngôn ngữ, tập quán của mỗidân tộc
(3) Chức năng thẩm mỹ: là chức năng tồn tại trong tên gọi của mọi dântộc Việc đặt tên người cũng thể hiện những thị hiếu riêng
(4) Chức năng bảo vệ: chọn tên để tránh những tai họa hay để được thầnlinh phù hộ
(5) Chức năng xã hội: trong xã hội cũ giữa các tầng lớp vua quan vớidân thường có sự phân biệt rõ rệt [68, tr.12-13]
Trong khi đó, Lê Trung Hoa (2002) thì cho rằng tên riêng chỉ có 2 chứcnăng đó là: chức năng phân biệt và chức năng thẩm mỹ
Trang 31(1) Chức năng phân biệt để phân biệt người này với người khác Riêng tênchính và tên đệm có chức năng phân biệt giới tính.
(2) Chức năng thẩm mỹ: tên đệm, tên chính, bút danh, nghệ danh, phápdanh…có chức năng thẩm mỹ rất rõ vì thường được lựa chọn rất kỹ vềmặt ngữ âm và ngữ nghĩa [27, tr.19]
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng trong năm chức năng của tên người theocách phân tích của Trần Ngọc Thêm thì chức năng phân biệt (1) và chức năngphân biệt giới (2) có phần trùng lặp, không cần thiết phải tách riêng Xét ởkhía cạnh nào đó thì chức năng xã hội (5) đã bao hàm chức năng bảo vệ (4).Còn theo cách phân tích của Lê Trung Hoa chỉ có 2 chức năng, theo chúng tôiviệc phân tích hai chức năng như vậy chưa đủ khái quát hết các chức năng củatên riêng chỉ người nói chung và tên riêng nữ giới nói riêng
Do đó, chúng tôi cho rằng tên nữ giới có 3 chức năng như sau:
i Chức năng phân biệt: để phân biệt người nữ này với người nữ khác, ví
dụ: Sam, Louisa, Anne,… (trong tiếng Anh) hay Hà, Phương, Thu,… (trong
tiếng Việt); hay phân biệt giới tính nam và nữ ở tên đệm và tên cá nhân ở tên
người Việt là tên đệm Văn dành cho nam giới và tên đệm Thị dành cho nữ giới Ngoài tên đệm Thị, qua khảo sát, chúng tôi thấy còn những tên đệm khác cũng dành riêng cho nữ như Thùy, Thúy, Diễm…
ii Chức năng thẩm mỹ: khi đặt tên con gái, bố mẹ thường chọn những từ
hay, mang nghĩa biểu trưng thể hiện sự đẹp đẽ, tốt lành hay đức tính tốt đẹpvới mong ước con gái lớn lên có cái tên hay, tên đẹp gắn suốt cuộc đời như:
Lily, Rosy, Julie,…(trong tiếng Anh) và Hoa, Tuyết, Diễm,… (trong tiếng
Việt)
iii Chức năng xã hội: mỗi giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau có những
cách đặt tên khác nhau mang theo những định kiến xã hội khác nhau, ví dụ:trong xã hội phong kiến, tên nữ chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh
nữ nên có tên xấu như Hĩm, Đẹt, Mẹt…; Chức năng xã hội còn thể hiện ở tên
của những tầng lớp, giai cấp xã hội và vùng miền khác nhau như tên nữ ở vùngnông thôn, con của nông dân ít học thì thường dùng từ thuần Việt đặt tên như
Lúa, Dâu, Mì, Bưởi…, còn ở những gia đình có học ở thành thị thì thường
dùng những từ Hán Việt mang ý nghĩa tượng trưng cho cái đẹp như: Nguyễn
Xuân Lan, Phan Thu Thủy, Lê Bạch Tuyết…; Chức năng xã hội còn thể hiện ở
Trang 32xu hướng đặt tên, chọn tên cho hợp tuổi, hợp số mệnh với hi vọng cái tênmang lại những điều tốt đẹp cho tương lai.
cơ sở và khung lí thuyết cho việc nghiên cứu tên nữ giới người người Việt
1 Thông qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu tên người Việt chothấy: Vấn đề nghiên cứu về tên người phát triển một cách nhanh chóng vàrộng rãi trên thế giới với nhiều bình diện như lịch sử học, xã hội học, văn hóahọc và ngôn ngữ học,… Còn ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu về tênngười đã được quan tâm nhiều hơn song vẫn còn hạn chế Trên bình diệnngôn ngữ học, các nhà khoa học nghiên cứu về tên người Việt ở các khía cạnhnhư chính tả, ngữ nghĩa, cấu tạo, Tuy nhiên, những công trình nghiên cứumột cách chuyên sâu và toàn diện về tên nữ giới còn rất hạn chế
2 Trong việc tìm hiểu cơ sở lí luận chung về tên người, trước hết chúngtôi đã trình bày các quan điểm khác nhau về tên riêng của các nhà khoa học ởViệt Nam và trên thế giới và xác định quan điểm của chúng tôi về tên riêng làmột loại đơn vị từ vựng dùng để gọi tên một cá thể đơn nhất, để phân biệtgiữa cá thể này với cá thể khác
3 Về vấn đề nghĩa của tên người, chúng tôi xác định tên người có nghĩa.Nghĩa được nói đến ở đây không phải là nghĩa của thực từ mà là nghĩa biểutrưng
4 Một số vấn đề liên quan đến tên nữ giới được chúng tôi làm sáng tỏnhư vị trí, vai trò và chức năng của tên nữ giới Tên nữ giới có vai trò quantrọng và có mối quan hệ mật thiết với ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ học xãhội Tên nữ giới phản ánh đặc trưng của ngôn ngữ và cộng đồng xã hội sửdụng ngôn ngữ đó Tên người, cụ thể là tên nữ giới được đề tài xác định có 3chức năng là chức năng phân biệt, chức năng thẩm mĩ và chức năng xã hội
Trang 33Thành phần định danh
Tổ hợp định
danh
Tên cá nhân Tên đệm
Tên họ
5 CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA TRONG TÊN NỮ GIỚI
định là tổ hợp định danh, tổ hợp gồm ba thành phần định danh Trong tiếng
Việt, ba thành phần này được gọi bằng các tên khác nhau, ví dụ: tên họ được gọi bằng tên họ, họ; tên đệm được gọi bằng tên lót, chữ lót, tên đệm, đệm; tên
cá nhân được gọi bằng tên chính, tên cá nhân Đề tài thống nhất sử dụng tên
cá nhân, tên đệm và tên họ cho ba thành phần định danh của tổ hợp định
danh nữ giới người Việt
Hình 2.1: Sơ đồ cấu tạo tổ hợp định danh nữ giới người Việt
Ở chương 2, đề tài tiến hành miêu tả lần lượt đặc điểm cấu tạo của tổ hợpđịnh danh nữ giới người Việt thông qua việc mô hình hóa cấu tạo và phân tíchcấu trúc của tên nữ giới người Việt Để có căn cứ miêu tả và phân tích đặc
Trang 34điểm cấu tạo, chúng tôi tiến hành phân tích cơ sở cấu tạo của tổ hợp định danh
nữ giới người Việt
5.2 Cơ sở phân tích đặc điểm cấu tạo tên nữ giới người
Việt
5.2.1 Một số lí luận về hình vị
Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đưa ra quan điểm
về hình vị Nguyễn Tài Cẩn (1975) cho rằng “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất,
đơn giản nhất về mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp Đặc trưngđơn giản nhất về mặt tổ chức và đặc trưng có giá trị về mặt ngữ pháp phải điđôi với nhau” Để giải thích thêm về hai đặc trưng này ông chỉ ra rằng “Nếuchỉ chú ý đến mặt đầu (đơn giản nhất về tổ chức) thì có thể lầm lẫn hình vịvới những đơn vị ngôn ngữ hoàn toàn không có giá trị gì về mặt ngữ pháp,
ví dụ lầm lẫn với âm vị Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến mặt sau (có giá trị vềngữ pháp) thì lại có thể lầm lẫn hình vị với những đơn vị còn phức tạp về tổchức, ví dụ lầm lẫn với từ ghép, hay lầm lẫn với cả những bộ phận của từghép mà còn lớn hơn hình vị” [3, tr 11]
Còn theo Đỗ Hữu Châu (1981) “trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo
từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất – tức là những yếu tốkhông thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa –được dùng để cấu tạo ra các từ theo phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt.Chúng ta gọi các yếu tố có đặc điểm và chức năng như trên (chức năng cấutạo từ) bằng thuật ngữ có tính quốc tế: hình vị” Ông cũng cho rằng
“Phương thức tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho
ta các từ Tiếng Việt sử dụng ba phương thức tạo từ bao gồm: từ hóa hình
Trang 35càng không thể được coi là hình vị” và ông coi tổ hợp những tiếng vônghĩa được xếp thành một loại gọi là những từ ngữ phản qui tắc [19, tr.5].Chúng tôi ghi nhận các quan điểm của các nhà ngôn ngữ nêu trênnhưng chúng tôi nhận thấy quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp là hợp lí và
có những lập luận chặt chẽ nhất
5.2.2 Cơ sở phân tích các thành phần cấu tạo trong tên
nữ giới người Việt
Trong mô hình [Tên họ - Tên đệm – Tên cá nhân] của người Việt, việcphân định đâu là tên cá nhân, đâu là tên đệm, đâu là tên họ cũng có nhiềuquan điểm khác nhau Sự phân định giới hạn cho từng thành phần định danhtrong tên người dựa vào cấu tạo của từng thành phần định danh đó là đơn hayphức
Để đưa ra mô hình chính danh nữ giới người Việt trước hết, chúng tôiphân tích cấu tạo của từng thành phần trong tổ hợp định danh Có nhiều cáchphân loại thành phần của từng thành phần định danh trong tên người Về cấu
tạo từ vựng, Anderson đã phân tên riêng thành 2 loại là monothematic và
dithematic tương đương với tên đơn và tên ghép trong tiếng Việt [96].
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Khang (2016), “tên của ngườiViệt là tên đơn (đơn âm tiết) Trong mô hình họ tên người Việt thì tên củangười Việt luôn đứng cuối và dùng để gọi và xưng” và “thành tố đứng ở vị trí
trước tên, sau họ nên gọi là thành phần đệm (gọi tắt là đệm) Khi thành phần
đệm có hai thành tố thì có thể phân nhỏ hơn là thành tố đệm 1 (đệm 1) vàthành tố đệm 1 đệm 2, trong đệm 2 thường có quan hệ nghĩa với tên”, còn vấn
đề họ “họ của người Việt là họ đơn Các trường hợp như Phan Huy, Võ Chí,
Võ Văn, Nguyễn Lân,…vẫn chỉ là một họ (Phan, Võ, Nguyễn), trong đó Phan Huy là một nhánh của họ Phan, Võ Chí, Võ Văn có thể là các nhánh của họ
Võ, còn Lân trong Nguyễn Lân là tên cá nhân được chuyển làm thành phần
đệm cho tên con trai (mà không đệm cho con gái)” [39, tr.55-59] Như vậy,theo quan điểm của Nguyễn Văn Khang tên và họ đều ở dạng đơn (đơn âmtiết), còn đệm có cả dạng đơn và phức
Trang 36Còn tác giả Phạm Tất Thắng (2005) cho rằng các thành phần trong cấutrúc tên của người Việt lại có cấu tạo như sau: “tên họ của người Việt vốn tồntại chỉ dưới hình thức đơn âm tiết (gọi là tên họ đơn)”, “tên đệm của người Việt
có hai dạng cấu trúc: đệm zero và đệm đơn âm tiết (đệm đơn)”, “tên cá nhâncủa người Việt có hai dạng cấu trúc: đơn âm tiết (gọi tắt là tên đơn) và đa âmtiết (tên kép), trong đó hình thức tên đơn vẫn là chủ yếu” Tác giả cũng chorằng “Việc xác định cho được ranh giới rõ ràng giữa các hình thức tên đơn vàtên kép trong một tên gọi bất kỳ là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi phải có
sự hiểu biết rõ ràng về đối tượng được gọi tên” [63, tr.67-70]
Để phân tích cấu tạo tên nữ giới người Việt, quan điểm của chúng là chiacác thành phần định danh trong tổ hợp định danh nữ giới người Việt thành 2
loại là đơn và phức Cụ thể như sau:
- Tên cá nhân gồm tên cá nhân đơn và tên cá nhân phức;
- Tên họ gồm tên họ đơn và tên họ phức;
- Riêng đối với tên đệm, ngoài tên đệm đơn và tên đệm phức thì chúngtôi còn phân loại thứ 3 là tên đệm zero tức là hình thức tên đệm không xuấthiện trong cấu trúc tên (theo cách phân loại của Phạm Tất Thắng)
5.3 Đặc điểm cấu tạo tên nữ giới người Việt
Trên cơ sở phân tích các thành phần cấu tạo tên nữ giới thành 2 loại tên đơn và tên phức như đã nêu tại 2.2, trong phần này, chúng tôi đưa ra mô hình chung cho tên nữ giới người Việt và phân tích từng thành phần định danh để thấy được đặc điểm cấu tạo của tên nữ giới người Việt
5.3.1 Mô hình chung tên nữ giới người Việt
Nhiều tác giả nghiên cứu về Việt danh học đã đưa ra các mô hình kháiquát của tên riêng người Việt, trong đó chỉ có mô hình của Trần Ngọc Thêm cóphân biệt tên nam và nữ như sau [68, tr.19]:
Bảng 2.1 Mô hình tên người Việt của Trần Ngọc Thêm
Kiểu 1
(không có tên đệm)
Kiểu 2
(có tên đệm)Tên nam Tên họ + tên riêng Tên họ + tên đệm + tên riêng
Trang 37Mô hình tên người Việt mà Trần Ngọc Thêm đã đưa ra có phân biệt tên
nam và tên nữ nhưng mô hình tên nữ của ông là [Tên họ + Thị + tên riêng].
Mô hình này chưa khái quát hết toàn bộ tên nữ giới người Việt bởi vì không
phải tên nữ nào cũng có tên đệm Thị
Chúng tôi đưa ra mô hình khái quát các mô hình chính danh nữ giớingười Việt như sau:
Bảng 2.2 Mô hình cấu trúc chính danh nữ giới người Việt
Tổ hợp định danh nữ giới người Việt
Đơn (A1) Phức
(A2)
Zero(B1)
Đơn(B2)
Phức(B3)
Đơn(C1)
Phức(C2)
5.3.2 Các thành phần cấu tạo tên nữ giới người Việt
Để phân tích cấu tạo tên nữ giới người Việt, đề tài tiến hành phân tích lầnlượt từng thành phần trong cấu trúc định danh nữ giới người Việt là tên họ, tên
đệm và tên cá nhân
5.3.2.1 Tên cá nhân
Trong mô hình tên nữ giới người Việt, tên cá nhân đứng ở vị trí sau cùngnhưng lại có vai trò quan trọng đặc biệt trong giao tiếp Việc sử dụng độc lậptên cá nhân trong giao tiếp hay thói quen thay thế cho toàn bộ cấu trúc của tênngười bằng tên cá nhân đã càng nhấn mạnh vai trò đặc biệt này của tên cá
nhân Ví dụ: tên đầy đủ của chủ nhiệm đề tài là Lê Thị Minh Thảo thì trong giao tiếp thông thường chỉ dùng tên cá nhân là Thảo.
Có rất nhiều cách gọi tên cá nhân như tên, tên riêng hoặc tên chính Tuy
nhiên, các cách gọi này dễ bị nhầm lẫn với tên gọi của toàn bộ tên họ đầy đủ
Do đó, chúng tôi cũng hoàn toàn nhất trí với cách sử dụng thuật ngữ tên cá
nhân như đã nêu tại mục 2.1.
Về cấu tạo của tên cá nhân, có nhiều cách phân loại khác nhau như tênđơn, tên ghép, tên kép Nguyễn Huy Minh cho rằng “trong tên kép, mỗi âm tiết
là một thành tố định danh riêng biệt (tính độc lập tương đối) Do đó, vai trò
Trang 38của mỗi yếu tố là khác nhau trong một đơn vị thống nhất” Để minh họa cho
quan niệm trên, tác giả cho là: trong cấu trúc tên Nguyễn Thị Thu Lan thì Thu
Lan là tên gọi kép, trong đó Lan là tên, còn Thu chỉ có giá trị phân biệt với Hồng trong Hồng Lan, Ngọc trong Ngọc Lan [47].
Tuy nhiên, để phân định rõ ràng giữa hình thức tên cá nhân đơn, kép hayphức trong một tên gọi bất kì là công việc khá phức tạp Việc phân định nàyđòi hỏi phải có sự hiểu biết nhất định về người mang tên hoặc người đặt tên Như đã nêu tại mục 2.2, chúng tôi phân loại tên cá nhân thành tên cánhân đơn và tên cá nhân phức Đặc điểm của từng loại được miêu tả như sau:
i Tên cá nhân đơn (kí hiệu là C1): là tên cá nhân có cấu tạo gồm một
thành tố, ví dụ: Hoa, Lan, Mai, Đào, Thắm, …Khảo sát 12.936 tên nữ học
viên, sinh viên người Việt, kết quả cho thấy có 7.781 tên cá nhân đơn chiếm tỉ
lệ 60,15 % Trong đó, xuất hiện 2 loại sau: (1) tên cá nhân một thành tố đơn, ví
dụ: Lan, Thảo, Thanh, Tuyết,…(2) tên cá nhân một tổ hợp thành tố, ví dụ:
Tường Vi, Linh Chi, Như Ý,…
Về cấu tạo, so với tên gọi trong các ngôn ngữ biến hình, tên cá nhân đơntrong tiếng Việt ít có dấu hiệu phân biệt giới tính, có thể dùng được cả ở tênnam và tên nữ Tuy nhiên, về ý nghĩa, đa số tên cá nhân nữ giới người Việtthường sử dụng những hình thức tên gọi nhất định, được nêu tại mục 3.3.1
ii Tên cá nhân phức (kí hiệu là C2): là tên cá nhân có cấu tạo từ hai
thành tố trở lên Kết quả khảo sát ngữ liệu tên nữ giới người Việt cho thấy, tên
cá nhân phức của nữ giới người Việt tồn tại ở 2 dạng thức:
+ Dạng 1: tên cá nhân phức có thành phần cấu tạo là 2 thành tố, trong đó
1 thành tố chính và 1 thành tố là phụ gia, ví dụ: tên Ngô Thị Thanh Vân thì
Thanh Vân là tên cá nhân phức, trong đó: Thanh (xanh) là thành tố phụ gia và Vân (mây) là thành tố chính Mô hình cấu tạo như sau:
[Ngô] [Thị] [Thanh] [Vân]
Trang 39Kết quả khảo sát 12.936 tên nữ học viên, sinh viên người Việt cho thấy,kiểu tên cá nhân phức này có 5.155 lượt xuất hiện, chiếm tỉ lệ 38,85 %.
+ Dạng 2: là tên cá nhân phức do 2 thành tố chính hợp thành Tên cá
nhân phức dạng này có kết cấu lỏng lẻo Do đó, các thành tố có thể hoán đổi vị
trí cho nhau Ví dụ: trong tên Bùi Thị Xuân Thu, tên cá nhân gồm hai thành tố
Xuân và Thu hợp thành Mô hình cấu tạo như sau:
[Bùi] [Thị] [Xuân /Thu]
Kết quả khảo sát 12.936 tên nữ học viên, sinh viên người Việt cho thấy, tên
cá nhân phức này có 190 lượt xuất hiện, có tỉ lệ thấp nhất 1,47 %
Thực tế, đa số các tên cá nhân phức nói trên chỉ có giá trị khu biệt trongvăn bản, còn trong giao tiếp thường chỉ sử dụng thành tố cuối cùng trong cấu
trúc tên Ví dụ: trường hợp tên Nguyễn Thị Kim Ngân thì trong giao tiếp thông thường chỉ gọi là Ngân Tuy nhiên, có những tên cá nhân ít có khả năng sử
dụng độc lập trong giao tiếp mà phải dùng đầy đủ cả thành phần tên cá nhân
phức, thậm chí cả tổ hợp định danh Ví dụ: trường hợp tên Nguyễn Thị Vân
Anh, phần lớn trong giao tiếp sẽ sử dụng hình thức tên cá nhân đầy đủ là Vân Anh; trường hợp tên Lê Thị Anh, trong giao tiếp có thể sử dụng tên họ kết hợp
với tên cá nhân như Lê Anh cũng có thể sử dụng đầy đủ cả tổ hợp định danh là
Lê Thị Anh.
Từ cách phân loại như vậy và dựa vào số lượng thành tố cấu tạo, chúngtôi đã khảo sát và tổng hợp được các mô hình tên cá nhân phức của nữ giớingười Việt như sau:
- Mô hình 1: tên cá nhân phức có thành phần cấu tạo là 2 thành tố, trong
đó 1 thành tố chính và 1 thành tố là phụ gia, ví dụ: Thanh Lan, Minh Châu,
Phương Liên,…
Minh Châu
Trang 40T1 T2
T1 T2 T3
- Mô hình 2: tên cá nhân phức do 2 thành tố chính hợp thành, ví dụ:
Quỳnh Sen, Bích Diệp,…
Quỳnh Sen
- Mô hình 3: tên cá nhân phức do 1 thành tố chính và một thành tố phụ
gia hợp thành, trong đó thành tố phụ gia là 1 tổ hợp thành tố, ví dụ: Hoa
Hướng Dương
Hoa Hướng Dương
- Mô hình 4: tên cá nhân phức do 3 thành tố chính tạo thành, ví dụ: Thanh Thanh Hiền
Thanh Thanh Hiền
Sự phân bố các thành tố cấu tạo trong tên cá nhân nữ giới người Việtđược tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp phân bổ số lượng tên cá nhân nữ giới người Việt
theo mô hình cấu tạo