1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa tại trường đại học mở hà nội mã số v2018 15

84 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐTTC: Đào tạo tín chỉ HCTC: Học chế tín chỉ CVHT: Cố vấn học tập ĐTTX: Đào tạo Từ xa SV: Sinh viên SVTX: Sinh viên từ xa GV: Giảng viên QL: Quản lý CB: Cán bộ N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Mã số: V2018 - 15

Chủ nhiệm đề tài: TS.Trần Thị Mai Hanh

Hà Nội, tháng 5/2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Mã số:

Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài

TS Trần Thị Mai Hanh

Hà Nội, tháng 5/2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 2

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Đối tượng nghiên cứu 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Cấu trúc của đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TỪ XA 5

1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 10

1.1.3 Đánh giá chung 11

1.2 Các khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Chương trình đào tạo 12

1.2.2 Chất lượng chương trình đào tạo 14

1.3 Cơ sở lý luận về đào tạo từ xa và chương trình đào tạo từ xa 16

1.3.1 Đào tạo từ xa 16

1.3.2 Đặc điểm của đào tạo từ xa 19

1.3.3 Chương trình đào tạo từ xa 20

1.3.4 Phát triển chương trình đào tạo từ xa 21

1.4 Nội dung đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa 22

1.4.1 Các hoạt động nâng cao chất lượng chương trình đào tạo 22

1.4.2 Tổ chức và quản lý chương trình đào tạo 22

Trang 4

1.4.3 Mục tiêu và chuẩn đầu ra chương trình đào tạo 25

1.4.4 Nội dung chương trình đào tạo 25

1.4.5 Quản lý triển khai chương trình đào tạo từ xa 26

1.4.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học 27

1.4.7 Đội ngũ giảng viên 29

1.4.8 Đội ngũ cán bộ hỗ trợ đào tạo 30

1.4.9 Người học và hoạt động hỗ trợ người học 30

1.4.10 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ đào tạo và học liệu 31

1.4.11 Nâng cao chất lượng chương trình đào tạo 32

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa 32

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA Ở ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 35

2.1 Khái quát đào tạo từ xa trình độ đại học ở Việt Nam 35

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển đào tạo từ xa ở Việt Nam 35

2.1.2 Tình hình đào tạo từ xa ở Việt Nam 37

2.1.3 Tình hình đào tạo đại học từ xa ở Trường Đại học Mở Hà Nội 41

2.1.4 Xu thế phát triển đào tạo từ xa ở Việt Nam 42

2.2 Thực trạng việc đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa ở Trường Đại học Mở Hà Nội 45

2.2.1 Nội dung chương trình đào tạo 45

2.3.2 Phương thức tổ chức triển khai chương trình 46

2.3.3 Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 49

2.3.4 Đội ngũ giảng viên 50

2.3.5 Đội ngũ cán bộ hỗ trợ đào tạo 50

2.3.6 Người học và hoạt động hỗ trợ người học 51

2.3.7 Cơ sở hạ tầng công nghệ đào tạo và học liệu 51

2.3.8 Quản lý chương trình đào tạo từ xa 54

2.3 Đánh giá chung 55

2.3.1 Điểm mạnh 55

Trang 5

2.3.2 Điểm yếu 55

2.5.3 Nguyên nhân 57

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 59

3.1 Các nguyên tắc 59

3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 59

3.1.2 Đảm bảo tính chính xác 59

3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 59

3.1.4 Đảm bảo tính toàn diện 60

3.2 Các biện pháp đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa ở Việt Nam 60

3.2.1 Xây dựng chương trình đào tạo 60

3.2.2 Xây dựng hoạt động hỗ trợ đào tạo 61

3.2.3 Xây dựng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học 62

3.2.4 Xây dựng đội ngũ giảng viên 66

3.2.5 Xây dựng đội ngũ hỗ trợ đào tạo và hoạt động hỗ trợ người học 67

3.2.6 Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và dung lượng hệ thống đảm bảo lưu trữ tài nguyên và kết quả học tập theo quy định 70

3.2.7 Nâng cao chất lượng chương trình đào tạo từ xa 72

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

1 Kết luận 74

2 Khuyến nghị 75

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 75

2.2 Đối với các cơ sở đào tạo từ xa 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTTC: Đào tạo tín chỉ HCTC: Học chế tín chỉ CVHT: Cố vấn học tập ĐTTX: Đào tạo Từ xa SV: Sinh viên

SVTX: Sinh viên từ xa GV: Giảng viên

QL: Quản lý CB: Cán bộ NV: Nhân viên XH: Xã hội

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ

Bảng 1: Các hoạt động học tập của người học trong phương thức đào tạo kết hợp Bảng 2: Thống kê số lượng tuyển sinh đại học hệ Từ xa ở Trường Đại học Mở Hà Nội Hình 2.1.1 Tỷ lệ quy mô sinh viên ĐTTX phân theo nhóm ngành

Hình 2.1.2 Số lượng ngành ĐTTX phân theo nhóm ngành

Hình 2.1.3 Quy mô của đào tạo e-Learning trên thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mở và từ xa ra đời khá muộn so với giáo dục truyền thống, nhưng giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực cho xã hội Giáo dục Mở

và Từ xa qua các thế hệ phát triển: giáo dục bằng phương thức gửi thư, bằng truyền thông

đa phương tiện, trực tuyến đang từng bước được khẳng định Ngày nay, nhiều cơ sở giáo dục truyền thống có uy tín (ví dụ Đại học Melbourne ở Australia), cũng bắt đầu sử dụng các phương thức ĐTTX để cung cấp các hoạt động giáo dục chính quy qua mạng, qua đó đòi hỏi người học phải có khả năng làm việc độc lập, biết làm chủ thời gian Theo Salmi (2007) đến năm 2020 thì hầu hết các SV trong các trường Đại học sẽ học qua mạng bằng các máy tính nối mạng, thời lượng đến trường rất ít, nhờ đó các trường Đại học có thể mở rộng quy mô mà không sợ bị quá tải Tuy nhiên vấn đề chất lượng giáo dục mở và từ xa vẫn còn là vấn đề tranh cãi, được xã hội quan tâm Điều đó đã thúc đẩy nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu các vấn đề bảo đảm và quản lý chất lượng giáo dục mở và từ

ú t c tr t c v d c từ a” Triển khai cụ thể Nghị

quyết, đề án “Phát triển ĐTTX giai đoạn 2015 - 2020” đã được phê duyệt tại Quyết định

số 1559/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2015, trong đó yêu cầu phải triển khai kiểm định đối với tất cả các chương trình ĐTTX cấp văn bằng đã được cấp phép

Thực tiễn triển khai loại hình ĐTTX cũng có một số vấn đề bất cập về quản lý chất lượng chương trình đào tạo của một số cơ sở đào tạo dẫn đến sự hoài nghi của xã hội về chất lượng đầu ra Để hoạt động ĐTTX thực sự có chất lượng, tạo niềm tin cho người học

Trang 8

và các nhà sử dụng lao động nhất thiết phải có đánh giá và kiểm định dựa trên những tiêu chuẩn và hệ thống đảm bảo chất lượng

Bên cạnh đó, ĐTTX của Việt Nam được đặt trong bối cảnh ĐTTX của các trường đại học mở trong khu vực và thế giới, vì vậy khung kiểm định chất lượng chương trình đào tạo này cần được nghiên cứu, tham khảo các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX của khu vực để vận dụng vào điều kiện đào tạo thực tế cũng như yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và hội nhập quốc tế

Do đó, việc nghiên cứu “N c u đả bả c ất ợ c tr đ t từ

a t tr Đ c M Nộ ” có tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học

và phân tích thực tiễn triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học tại Trường Đại học Mở Hà Nội và kinh nghiệm triển khai trên thế giới; Từ đó nghiên cứu các biện pháp để đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học ở Trường Đại học

Mở Hà Nội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo; phân tích thực tiễn triển khai và đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học của Đại học Mở Hà Nội; nghiên cứu các biện pháp để xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học của Đại học Mở Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

- Phân tích tài liệu là một hình thức nghiên cứu định tính trong đó các nhà nghiên cứu giải thích các tài liệu để đưa ra quan điểm và ý nghĩa liên quan đến đề tài Đây là một phương pháp nghiên cứu xã hội học được sử dụng như một công cụ để thu thập các bằng chứng tài liệu có liên quan để làm rõ và xác nhận các dữ kiện được nêu trong một nghiên cứu, đặc biệt là trong chương của tổng quan tài liệu

Trang 9

- Nghiên cứu phân tích tài liệu bao gồm đọc phân tích và xem xét nhiều nguồn tài liệu viết khác nhau Trong nghiên cứu này nguồn tài liệu được thu thập lại qua sách, chương sách, bài báo khoa học, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước,… để tiến hành phân tích, tổng hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là kỹ thuật thông tin liên lạc có cấu trúc, có nguồn gốc từ phương pháp dự đoán đối xứng và dự báo tương tác dựa trên bảng trả lời câu hỏi của các chuyên gia Phương pháp này nhằm thu thập các thông tin, ý kiến đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu về đối tượng dữ liệu, xác lập các tiêu chí, các ngưỡng đánh giá mức độ, cấp độ Ngoài thu thập thông tin, phương pháp này còn cho phép xác minh, kiểm tra độ tin cậy của các tài liệu - sự kiện được thu thập qua các phương pháp khác

- Phương pháp quan sát:

Đây được xem là một quá trình mà nhà nghiên cứu thiết lập và duy trì một mối quan hệ nhiều mặt phù hợp với một nhóm người trong bối cảnh tự nhiên của họ, nhằm mục đích phát triển một cách hiểu khoa học xã hội về nhóm đó Nói cách khác, quan sát định tính là việc nhà nghiên cứu đi vào một môi trường cụ thể, tiếp xúc với một hay một

số người là đối tượng nghiên cứu, xây dựng, phát triển và duy trì mối quan hệ với họ để cùng trải nghiệm cái họ đang trải qua, nhằm tìm hiểu và lý giải được sâu sắc vấn đề nghiên cứu

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hệ thống đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học của Trường Đại học Mở Hà Nội

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong việc phân tích lý luận và thực tiễn vấn để đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học ở Trường Đại học Mở Hà Nội hiện nay; nghiên cứu kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới và khu vực đã thực hiện việc

Trang 10

đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo đại học từ xa Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp để xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học của Trường Đại học Mở Hà Nội

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo đại học từ xa

Chương 2: Nghiên cứu thực tiễn hoạt động đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình

độ đại học ở Trường Đại học Mở Hà Nội

Chương 3: Nghiên cứu các biện pháp để xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX trình độ đại học ở Trường Đại học Mở Hà Nội

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC TỪ XA 1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Đào tạo từ xa được hình thành từ cuối thế kỷ XIX ở các nước Tây u và Bắc Mỹ Phương tiện chuyển tải thông tin lúc đó chủ yếu là qua tài liệu in ấn và hệ thống bưu điện Đến đầu thế kỷ XX, với khoa học kỹ thuật tiên tiến, ĐTTX đã phát triển mạnh mẽ hơn Năm 1927, Đài BBC (British Broadcasting Corporation) của Anh lần đầu phát sóng các chương trìnhĐTTX cho những người có nhu cầu học tập mà không có điều kiện đến trường lớp Đến thế kỷ XX, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, ĐTTX đã có bước tiến nhảy vọt cả về lý luận và công nghệ đào tạo Nhiều nước còn thành lập các trường đại học chuyên ĐTTX như: Đại học Mở ở Anh Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Singapore, Malaysia, Indonexia… Để tổ chức, hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm về ĐTTX, hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều tổ chức liên kết như Hội đồng quốc tế về ĐTTX (International Council for Distance Education), Hội đồng quốc tế các trường đại học không khoảng cách (Universities Without Walls International Council), Hiệp hội các trường Đại học Mở châu Á (Asian Association of the Open Universities - AAOU)…

Theo thống kê, hầu hết các trường đại học có quy mô lớn nhất thế giới đều là những trường đại học phát triển mạnh về ĐTTX Số SV hệ từ xa chiếm đa số như: trường Đại học Indira Gandhi (Ấn độ) với 3.500.000 SV không chỉ trong phạm vi Ấn Độ mà còn mở rộng quy mô đào tạo tới 36 quốc gia; trường Đại học Anadolu (Thổ Nhĩ Kỳ) với 1.950.000 SV với 03 khoa tổ chức ĐTTX; trường Đại học Mở Allama Iqbal Islamabad (Pakistan) là trường đại học được thành lập với mục đích phổ cập giáo dục đại học cho người dân thông qua hình thức ĐTTX với 1.800.000 SV; trường Đại học Mở Banglades: 600.000 SV, trường Đại học New York, trường Đại học California (Mỹ): 450.000 SV; trường Đại học Mở Indonesia: 500.000 SV; trường Đại học Mở Quốc gia Hàn Quốc (KNOU): 200.000 SV, trường Đại học Mở Shukhothai (Thái Lan) gần 200.000 SV, Hiệp hội giáo dục Mở Bắc

Trang 12

Kinh gồm 22 trường đại học phía Bắc thực hiện đào tạo cho hơn 2,5 triệu SV theo hình thức ĐTTX Tại Mỹ, theo báo cáo của Trung tâm Thống kê dữ liệu Giáo dục, năm 2014 có 5.750.417 SV tham gia các khóa học ĐTTX (Allen, Seaman, Poulin & Straut, 2016)

Có thể khẳng định rằng, trong khu vực và thế giới những thập kỷ gần đây, ĐTTX đang phát triển, bùng nổ mạnh mẽ và có thể bổ trợ, chuyển tiếp, thay thế giáo dục truyền thống nhờ những tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông

Đối với các nước phát triển, ĐTTX chủ yếu dựa vào công nghệ thông tin, hệ thống mạng Internet, tiến hành đào tạo trực tuyến (E-Learning) Đối với các nước đang phát triển, ĐTTX vẫn tận dụng các thế hệ công nghệ truyền thống như: tài liệu in ấn, đĩa CD, VCD và học liệu đa phương tiện (rich media CD-ROM) để tiếp cận với đa số đối tượng người học, bên cạnh đó, phát triển đào tạo trực tuyến có sự đan xen và hỗ trợ giữa công nghệ truyền thống và công nghệ cao

Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonexia, Malaysia có hệ thống ĐTTX rất phát triển, góp phần tích cực trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân

Tại một số quốc gia trên thế giới, ĐTTX còn được áp dụng hoàn toàn trong các chương trình đại học và trên đại học, ứng dụng mềm dẻo và linh hoạt các thế hệ công nghệ (truyền thống và E-Learning), tạo cho người học có nhiều sự lựa chọn, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động luôn đòi hỏi trình độ chuyên môn trong xã hội

Tuyển sinh ĐTTX của các nước trên thế giới được thực hiện theo nhu cầu của xã hội, không nhất thiết ghi loại hình đào tạo trên văn bằng tốt nghiệp Thậm chí, tại Hàn Quốc còn có đạo luật nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với loại hình ĐTTX nhằm tạo ra sự bình đẳng trong giáo dục Hiện tại, ở các nước phát triển (Mỹ, Canada, châu u, Úc…) và

đa phần các nước trong khu vực đều cấp chung một văn bằng đại học cho tất cả các loại hình đạo tạo Như vậy, từ phương pháp luận đến ứng dụng công nghệ ĐTTX, các nước này đã thể hiện sự nhất quán trong chính sách đầu tư hạ tầng, tổ chức đào tạo cùng với sự kiểm tra đánh giá nghiêm ngặt các học phần và môn học, cũng như ứng xử xã hội với

Trang 13

ĐTTX đã chứng minh chất lượng của ĐTTX tương xứng, ngang bằng với đào tạo tập trung chính quy

Tại các quốc gia khác nhau, chính sách và quy chế về đánh giá chất lượng đào tạo được quy định khác nhau Có nhiều quan điểm cho rằng đảm bảo chất lượng trong đào tạo

mở và từ xa nên được kiểm soát, quản lý bởi một tổ chức bên ngoài (Latchem & Jung, 2012) Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng việc đảm bảo chất lượng nên tự nguyện, được thực hiện nội bộ và quan tâm đến việc phát triển văn hóa chất lượng nội bộ của cơ sở đào tạo Hoạt động đánh giá chất lượng ở một số nước được thực hiện bởi đơn vị kiểm định của Bộ Giáo dục, nhưng đối với một số quốc gia việc này được thực hiện bởi một tổ chức kiểm định độc lập có uy tín, có đăng ký và cũng có trường hợp sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế Ví dụ như, ở Hồng Kông, Ấn Độ, Hàn Quốc hay Nhật Bản, kiểm định chất lượng ĐTTX là bắt buộc và được thực hiện bởi hội đồng kiểm định quốc gia Tại khu vực Đông Nam Á, các nước như Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan hay Việt Nam, kiểm định cũng bắt buộc nhưng ở Indonesia lại là hoạt động tự nguyện Tuy nhiên không phải quốc gia nào trong số vừa nêu đều có bộ công cụ dành riêng cho đào tạo mở và từ xa Theo bảng thống kê của Jung (2012, tr 38-42), các nước có bộ công cụ kiểm định riêng gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc, Ấn Độ Trong đó Việt Nam xếp vào nhóm chưa có bộ công cụ dành riêng kiểm định chất lượng đào tạo mở và từ xa

Hiệp hội các trường đại học mở Châu Á (AAOU) đã ban hành khung đảm bảo chất lượng Vào năm 2007, trường đại học Terbuka, Indonesia đã sử dụng khung này là nền tảng tham khảo để xây dựng nên một chương trìnhkiểm định riêng (Belawati & Zuhairi, 2007) Quá trình thực hiện đòi hỏi sự cam kết và tham gia của toàn thể các nhân viên có liên quan tại trường đại học Terbuka Belawati và Zuhairi (2007) kết luận rằng đảm bảo chất lượng cần được phát triển như chính sách nội bộ và chiến lược cho sự cải tiến không ngừng cho ĐTTX của nhà trường

Hội đồng quốc tế về giáo dục mở và từ xa (ICDE) tin rằng việc xem xét lại các khung luật giáo dục từ xa cần phải kịp thời để khuyến khích và thông tin về những thay đổi luật lệ và phát triển chính sách ở cấp độ quốc tế (Latchem & Ali, 2012) Trong kế

Trang 14

hoạch chiến lược giai đoạn 2017-2020, ICDE xác định đẩy mạnh chất lượng chương trình đào tạo linh hoạt và mở trong kỷ nguyên số là mục tiêu hàng đầu đối với các trường thuộc

tổ chức

Hiện nay các hệ thống đảm bảo chất lượng châu Á về đào tạo mở và từ xa đều có

xu hướng áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng trên thế giới, yêu cầu các trường và các chương trìnhphải tự đánh giá và cung cấp minh chứng đáp ứng với các tiêu chuẩn cho các

tổ chức kiểm định ngoài (Insung Jung and Colin Latchem, 2012)

Một số tài liệu nghiên cứu bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục nói chung và chương trình đào tạo nói riêng đã được sử dụng trên thế giới bao gồm:

- Asean University Network-Quality Assurance (2005) là Bộ tiêu chuẩn đánh giá

chất lượng giáo dục đại học trong khối ASEAN Với mục đích phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục đại học trong khu vực ASEAN, năm 1995, mạng lưới các trường đại học khu vực ASEAN đã thành lập (Asean University Network- viết tắt là AUN) Tính đến nay có 27 trường đại học đến từ 10 quốc gia trong khu vực trở thành thành viên của tổ chức này Năm 2005, nhằm đánh giá các chương trình đào tạo, đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng bên trong các Học viện đại học trong khu vực, AUN đã đưa ra sáng kiến đánh giá chất lượng giáo dục đại học theo những tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng chung của khu vực ASEAN (Asean University Network-Quality Assurance, viết tắt: AUN-QA) Đây cũng là cách mà AUN nâng cao sự tin tưởng lẫn nhau về chất lượng đào tạo giữa các trường trong khu vực cũng như với các trường đối tác trên thế giới, từng bước góp phần thúc đẩy sự công nhận thành quả học tập và phát triển hợp tác giữa các trường đại học trong khu vực ASEAN Bộ tiêu chuẩn của AUN-QA ban đầu có 18 tiêu chuẩn, 74 tiêu chí Tháng 10/2011, bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo của AUN được điều chỉnh lại gồm 15 tiêu chuẩn với 68 tiêu chí Đến năm 2016, bộ tiêu chuẩn AUN-QA đã xây dựng phiên bản 3 gồm 11 tiêu chuẩn và 50 tiêu chí

- Quality Assurance Toolkit for Distance Higher Education Institutions and Programmes (2009) do tổ chức Commonwealth of Learning hợp tác với Bộ Giáo dục Đại

Trang 15

học Sri Lanka và UNESCO sản xuất Bộ công cụ Đảm bảo Chất lượng cho các Chương trình Giáo dục Đại học từ xa Bộ công cụ đã được chuẩn bị với ba tính năng

- Framework of quality assurance for distance education in Asia (2012) do Hiệp

hội các trường đại học Mở châu Á (Asian Association of Open Universities-AAOU) đã

họp và thống nhất ban hành khung đảm bảo chất lượng ĐTTX với 10 tiêu chuẩn cơ bản sau: (1) Chính sách và lập kế hoạch; (2) Học viên và hồ sơ học viên; (3) Nghiên cứu và dịch vụ cộng đồng; (4) Thiết kế và phát triển khóa học; (5) Cơ sở hạ tầng, truyền thông và tài nguyên học tập; (6) Thiết kế chương trìnhvà Phát triển chương trìnhgiảng dạy; (7) Quản lý nhà trường; (8) Kiểm tra - đánh giá; (9) Nguồn nhân lực; (10) Hỗ trợ học viên Trên nền tảng đó, trường đại học Terbuka, Indonesia đã sử dụng khung này để xây dựng nên một chương trìnhkiểm định riêng với 09 tiêu chuẩn, cụ thể: (1) Chính sách và lập kế hoạch (với 7 tiêu chí đánh giá); (2) Nguồn nhân lực tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực (với 9 tiêu chí đánh giá); (3) Quản lý và quản trị nhà trường (với 21 tiêu chí đánh giá); (4) Người học (với 10 tiêu chí đánh giá); (5) Thiết kế và phát triển chương trình đào tạo (với 6 tiêu chí đánh giá); (6) Thiết kế và phát triển các khóa học (với 14 tiêu chí đánh giá), (7) Hỗ trợ người học (với 18 tiêu chí đánh giá); (8) Đánh giá người học (với 15 tiêu chí đánh giá) và (9) Công cụ truyền thông cho người học (với 7 tiêu chí đánh giá)

- Quality Assurance in Distance Education and E-learning (2013) của 3 tác giả

Insung Jung, Tat Meng Wong và Tian Belawati đã nêu ra hệ thống đảm bảo chất lượng của một số nước ở Đông Nam Á

- Guidlines of Good Prachương trìnhice in Quality Assurance (2016) được xuất

bản đầu tiên năm 2003 và được bổ sung, sửa đổi vào năm 2016 bởi INQAAHE (The International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education) Mạng lưới quốc tế các Tổ chức Bảo đảm Chất lượng giáo dục Đại học (INQAAHE) là một hiệp hội trên toàn thế giới gồm gần 300 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực lý thuyết và thực tiễn về đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học Tổ chức này đã đưa ra các hướng dẫn nhằm mục đích thúc đẩy kiểm định chất lượng đào tạo cả bên trong và bên ngoài cơ sở

Trang 16

- Quality Assurance of online learning (2017) là tài liệu do Hội đồng Australia về

đào tạo mở, từ xa và trực tuyến chuẩn bị để khuyến khích các cuộc thảo luận mới về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trực tuyến trong các nền kinh tế APEC Khi đào tạo trực tuyến ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong việc cung cấp các dịch vụ giáo dục, cần phải đảm bảo rằng đào tạo trực tuyến đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng như các phương thức đào tạo khác

- Các trường tại Bắc Mỹ, châu u, châu Úc hay châu Phi có những khung đánh giá chất lượng chương trình đào tạo riêng phù hợp với bối cảnh của từng khu vực, từng quốc gia Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của các nước này cũng được nghiên cứu trong nhiều tài liệu về đảm bảo chất lượng

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, Trường Đại học Mở Hà Nội và Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập từ năm 1993, với sứ mạng phát triển giáo dục mở và từ xa Qua

20 năm phát triển ĐTTX ở Việt Nam, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn không những trong việc đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, mà còn hình thành và phát triển mạng lưới các cơ sở ĐTTX trong cả nước Theo thống kê của Bộ GD&ĐT đến nay nước ta đã có 22 trường đại học được phép tổ chức ĐTTX và có trên 161.000 SV đang theo học 97 chương trình cử nhân

Tuy nhiên, từ thực tiễn tổ chức ĐTTX còn nhiều bất cập ở nước ta mà các phương tiện truyền thông đăng tải và các đơn vị quản lý giáo dục các cấp đề cập trong báo cáo tổng kết làm cho xã hội có cái nhìn thiếu thiện cảm, dẫn đến tình trạng nhiều người còn hòai nghi về chất lượng ĐTTX vì những lý do như chất lượng đầu vào (không qua thi tuyển), quy trình kiểm tra dễ dãi, và ý thức học tập của SV chưa cao Thời gian qua một số trường chạy theo số lượng, phát triển qui mô quá nhanh so với khả năng đảm bảo chất lượng đào tạo, so với các điều kiện về đội ngũ giảng viên và trợ giảng, phương tiện, thiết

bị, học liệu

Xét về vai trò của hình thức ĐTTX trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong việc nâng cao dân trí thông qua việc xây dựng xã hội học tập, xét về quy mô và tác động xã hội

Trang 17

của ĐTTX và xét tình hình thực tế xã hội lo ngại về chất lượng như đã nêu trên thì việc đánh giá một cách toàn diện về chất lượng đào tạo hệ ĐTTX trong nước làm cơ sở để đề xuất những giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng trở nên rất cần thiết và cấp bách

Nghiên cứu của Lê Thị Thu Thủy, 2017 trong khuôn khổ 01 đề tài cấp Bộ: “Giải pháp đảm bảo chất lượng hệ ĐTTX tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu xã hội”, mã số B.2014.32.01 đã rà soát, đánh giá hoạt động của 14 tổ chức ĐTTX và

916 SVTX từ 9 cơ sở ĐTTX về chất lượng các chương trình đã đánh giá lạc quan và tin tưởng vào mức độ chất lượng ĐTTX mà các trường đang nỗ lực thực hiện Các trường không quá khác biệt trong thực hiện quản lý, điều hành và tổ chức ĐTTX và chỉ khác biệt

rõ nét ở hạ tầng cơ sở phục vụ đào tạo

Kết quả nghiên cứu của Phạm Phương Tâm (2016) về quản lý ĐTTX ở các trường

ĐH vùng Đồng bằng Sông Cửu Long cũng kết luận khá tương đồng Việc tổ chức ĐTTX các ngành như hiện nay là phù hợp với nhu cầu của địa phương và điều kiện của người học Các trường đã hình thành bộ máy quản lí đào tạo tương đối chặt chẽ, định hình được mục tiêu và chiến lược phát triển ĐTTX trong tổng thể định hướng phát triển trường; cung cấp được khá đầy đủ các loại học liệu phù hợp cho SV hệ từ xa theo hướng ngày càng chú trọng đến học liệu đa phương tiện, trực tuyến Các trường đều tổ chức hướng dẫn môn học hay ôn tập tập trung, thi tập trung tại các trạm từ xa địa phương và hầu hết đã và đang có nhiều cải tiến trong hoạt động giảng dạy dựa trên các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Hệ thống hỗ trợ SV học tập bước đầu được hình thành

Nếu có hệ thống tiêu chuẩn chất lượng để kiểm định, sự đầu tư đúng mức vào công nghệ đào tạo, học liệu; xây dựng sự nhận thức đúng đắn từ phía người học, người dạy, cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và điều hành thì hiệu quả của giáo dục từ xa sẽ không thua kém so với giáo dục chính quy

1.1.3 Đánh giá chung

Nhìn chung, kết quả các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước ta thấy rằng có rất nhiều nhà khoa học, cơ sở giáo dục đã nghiên cứu về ĐTTX Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về ĐTTX thường chủ yếu tập trung trên phương diện kỹ thuật cụ thể; trên

Trang 18

phương diện QL hành chính; trên phương diện áp dụng cho một ngành học, cơ sở đào tạo

cụ thể trong đó nhấn mạnh đến các hướng tiếp cận đánh giá khác nhau như nêu trên, khẳng định rõ sự cần thiết của việc gắn kết giữa giảng dạy- học tập và đánh giá theo mục tiêu của môn học hay chương trình đào tạo Những vấn đề mà các tác giả quan tâm là:

- Một số công cụ, phương pháp và cách tiếp cận trong ĐG GD

- Xu hướng ĐG hiện đại đang thịnh hành

- Chiến lược để nâng cao chất lượng ĐG trong GDTX

- Cách tiếp cận mới trong ĐTCN hệ TX và E-Learning

Tuy nhiên, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để xây dựng khung đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX thì hầu hết các cơ sở đào tạo đại học, đặc biệt ở các trường đại học có ĐTTX ở nước ta chưa có một cải cách đáng kể hay nghiên cứu cụ thể về vấn đề này Mặt khác, mỗi cơ sở đào tạo, CBQL, GV tiếp cận theo một khía cạnh khác nhau nên chưa đề xuất được những giải pháp để xây dựng khung kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX một cách đồng bộ và có hệ thống

Từ kết quả nghiên cứu tổng quan, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:

- Nghiên cứu giải quyết những vấn đề lý luận về đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX, đặc biệt làm rõ đặc điểm của ĐTTX, các nội dung về đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX

- Làm rõ cơ sở thực tiễn và nghiên cứu, đề xuất các biện pháp để xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng chương trình trong ĐTTX

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Chương trình đào tạo

CTĐT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc ĐBCL đào tạo ở mọi cấp học và ngành học Bất kỳ một CTĐT nào cũng phải đảm bảo thực hiện được mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế xã hội

Theo các chuyên gia GD, việc nghiên cứu chương trình là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khó khăn và phức tạp của GD Chương trình thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như người học, người dạy, người tuyển

Trang 19

dụng lao động, các tổ chức tôn giáo, chính trị v.v nên có nhiều quan niệm khác nhau và làm cho khái niệm này trở nên phức tạp Tuỳ thuộc vào cách lý giải người ta có thể hiểu

và định nghĩa chương trình khác nhau

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, chương trình được hiểu khá hẹp, chẳng hạn Phenix (1962) cho rằng đó là “toàn bộ những kiến thức được cung cấp bởi các môn học” hoặc Oliva (1988) cho rằng đó là “một hệ thống các khóa học hay môn học cần phải có để được tốt nghiệp hoặc được cấp chứng nhận đã học xong một ngành học” Hiện nay, khái niệm chương trình nhìn chung được thừa nhận ở quy mô lớn hơn nhiều, đặc biệt nhấn mạnh đến các hình thái khác nhau của nó, quan tâm nhiều đến sự phát triển của kỹ năng và các giá trị khác, chẳng hạn Doll (1992) cho rằng đó là toàn bộ nội dung giáo dục chính thức và không chính thức cùng cách tiến hành của một nhà trường, thông qua đó người học có thể thu nhận kiến thức và sự hiểu biết; phát triển kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức

Tuy nhiên định nghĩa mang tính học thuật cao và được nhiều chuyên gia GD trên thế giới sử dụng nhất là định nghĩa của Tim Wentling, 1993 "chương trình là một bản thiết

kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở SV sau khoá học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu

Mặc dù thuật ngữ chương trình được dùng khá lâu trong tiếng Việt, khái niệm này vẫn còn đang được hiểu theo nghĩa hẹp Trong từ điển GD học, Chương trình trong phạm

vi GD được định nghĩa là: “toàn bộ những kiến thức phải học trong một bộ môn, 1 lớp, 1 khoá mà thí sinh phải biết khi dự kỳ thi” hoặc “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết với thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo” [12, tr 54]

Trang 20

Theo Điều 41 của Luật Giáo dục: “Chương trình thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình khác.” [15, tr 30-34]

Những quan điểm về chương trình trong nghĩa rộng, hẹp có khác nhau song đều có

sự thống nhất cơ bản: chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo bao gồm các thành phần chính là mục tiêu, nội dung, thời lượng đào tạo, các yêu cầu của chương trình, hướng dẫn thực hiện chương trình và các đề cương môn học, v.v…

Chương trình đào tạo của một ngành học (Program) ở một trình độ cụ thể bao gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học cần đạt được sau khi tốt nghiệp; nội dung, phương pháp và hoạt động đào tạo; điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của đơn vị được giao nhiệm vụ triển khai đào tạo ngành học đó

1.2.2 Chất lượng chương trình đào tạo

Theo từ điển Tiếng Việt “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc, cải tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [14, tr 331]

Sallis cho rằng “Chất lượng là sự tuyệt hảo, hoàn mỹ, chuẩn mực cao” [11, tr 9-11] Nguyễn Đức Chính cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hay sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, rộng, đa chiều và với những người khác nhau có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó” [16, tr.32]

Có thể tổng kết như sau: Chất lượng là thuộc tính bản chất của sự vật, là mức độ thể hiện của sản phẩm ấy đối với những chuẩn mực đã đựợc quy định trước, là sự thoả mãn nhu cầu của người sử dụng

Từ các khái niệm về chất lượng, nhóm nghiên cứu đề tài xây dựng khái niệm về chất lượng chương trình như sau: Chất lượng chương trình là thuộc tính bản chất của chương trình, là mức độ thể hiện của chương trình ấy đối với những chuẩn mực đã được

Trang 21

quy định trước, là sự thoả mãn nhu cầu của người sử dụng chương trình (giảng viên, SV, cán bộ quản lý GD, v.v ) và nhu cầu của người sử dụng lao động

Chất lượng của chương trình đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể

và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo ở trình độ cụ thể, đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Luật giáo dục đại học và của Khung trình độ Quốc gia, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương, của ngành và xã hội

1.2.3 Đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo

Qua nghiên cứu các khái niệm về chất lượng giáo dục, đảm bảo chất lượng giáo dục, chương trình đào tạo và chất lượng chương trình đào tạo, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu cho rằng đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo ở trường đại học là hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được cơ sở giáo dục đại học xác định, xây dựng và triển khai nhằm đạt được mục tiêu, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng của các chương trình đào tạo trong nhà trường

1.2.4 Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

Đánh giá là sự giải thích có tính chất tổng kết các dữ liệu có được từ các bài kiểm tra hay các công cụ đánh giá khác Đánh giá là việc định ra giái trị của bản thân đối tượng được đánh giá trong mối tương quan với các đối tượng hay môi trương xung quanh Đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn đánh giá một chương trình, một nhà trường một chính sách có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của XH… Dựa vào sự đánh giá, người ta định giá trị kết quả đánh giá để phán đoán và đề xuất các quyết định giáo dục Mối quan hệ giữa đánh giá, đo lường và định giá trị rất chặt chẽ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau Đánh giá là quá trình phán đoán, muốn vậy, người ta phải đo lường sự vật và thuộc tính của nó dựa trên các quan điểm về giá trị Chính vì vậy khi nói đến đánh giá có nghĩa chúng ta nói đến việc đo đạc các giá trị của sự vật Quan điểm về giá trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá Quan điểm về giá trị của mọi người không giống nhau nên cách đánh giá về sự vật cũng khác nhau Giá trị luôn là nhân tố khách quan, ngược lại đánh giá mang tính chủ quan nhưng giá trị là một loại tính hữu dụng đặc thù cho biết quan hệ giữa khách thể và chủ thể Khi tính hữu dụng

Trang 22

cuả sự vật khách quan kết hợp với nguyện vọng nhu cầu chủ quan thì cho ra đời một giá trị, mức độ kết hợp càng chặt chẽ thì giá trị càng lớn.[19, tr14,15]

Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học là việc thu thập, xử lý thông tin, đưa ra những nhận định dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá đối với toàn bộ các hoạt động liên quan đến chương trình đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, bao gồm: Mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo; bản mô tả chương trình đào tạo; cấu trúc và nội dung chương trình dạy học; phương pháp tiếp cận trong dạy và học; đánh giá kết quả học tập của người học; đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên; đội ngũ nhân viên; người học và hoạt động hỗ trợngười học; cơ sở vật chất và trang thiết bị; nâng cao chất lượng và kết quả đầu ra (Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 3 năm

2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học

1.3 Cơ sở lý luận về đào tạo từ xa và chương trình đào tạo từ xa

1.3.1 Đào tạo từ xa

Khái niệm ĐTTX có thể xuất hiện lần đầu tiên trong Bản mục lục năm 1892 của trường đại học Wisconsin và thường được hiệu trưởng trường đại học Wisconsin – Extension sử dụng năm 1906 Sau đó khái niệm ĐTTX được nhà giáo dục người Đức Otto Peter phổ biến rộng rãi ở Đức vào những năm 1960 và 1970 và được sử dụng như là tựa

đề cho các cơ sở giảng dạy từ xa của Pháp Khái niệm ĐTTX được Bjorn Holmberg và Michael Morre sử dụng lại ở Mỹ trong cuộc họp của hội đồng quốc tế về giáo dục hàm thụ Có thể định nghĩa “ĐTTX” một cách ngắn gọn như sau: ĐTTX là một cách học chính thức mà trong đó việc dạy học xảy ra khi cả người dạy và người học không có điều kiện giáp mặt nhau, thường là do ở xa nhau

Trong quá trình phát triển giáo dục, có năm khái niệm được dùng để mô tả quá trình học tập phi học đường Đó là “dạy học từ xa” (distance learning), học tập phi truyền thống (no – traditional learning), tự học (indiphendent study), học ngoài nhà trường (out –

of - school learning), tự học bên ngoài (external studies) Trong năm khái niệm này khái niệm “dạy học từ xa” bao hàm được tất cả các cấu thành cần thiết để mô tả việc học trên

Trang 23

một khoảng cách nhưng bỏ qua mất trường hợp cả thầy và trò ở cạnh nhau nhưng không

có điều kiện giáp mặt để tiến hành dạy và học Tuy nhiên vì tuyệt đại đa số các trường hợp thầy và trò không giáp mặt nhau là do khoảng cách không gian nên khái niệm “ dạy học từ xa” tỏ ra là thích hợp hơn cả nhưng phải nêu tiêu chuẩn rõ ràng Do vậy, năm 1986 Keegan đã đưa ra năm tiêu chuẩn của dạy học từ xa như sau:

1 Giáo viên và học sinh gần như không gặp mặt nhau trong suốt quá trình học tập Điều này giúp phân biệt dạy học từ xa với dạy học truyền thống mặt giáp mặt

2 Có ảnh hưởng của tổ chức giáo dục trong việc lập kế hoạch và chuẩn bị tài liệu học tập và trong hỗ trợ SV Điều này phân biệt dạy học từ xa và tự học

3 Phương tiện kỹ thuật, in ấn, đài, video hoặc máy vi tính để liên kết giáo viên với

SV và truyền đạt nội dung giảng dạy

4 Có nội dung liên hệ hai chiều để SV tiếp nhận được những điều bổ ích từ cuộc đàm thoại Điều này phân biệt dạy học từ xa với việc sử dụng công nghệ vào mục đích khác trong giáo dục

5 Sự phân tán thường xuyên của lớp học trong một quá trình học tập nhằm để cho mỗi cá nhân tự học

Theo nhiều học giả trên thế giới thì “ĐTTX là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy

và người học về mặt không gian hoặc/và thời gian”

Nhìn chung, để giáo dục - ĐTTX thực sự có hiệu quả đòi hỏi người học phải ở một mức độ tự nhận thức nhất định

Không có một định nghĩa chính xác về ĐTTX Tuy nhiên một cách tổng quát, ĐTTX là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo phương pháp dạy học từ xa ĐTTX được hiểu bao hàm các yếu tố dưới đây:

1 Giảng viên và SV ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)

Trang 24

2 Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho SV chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính

3 Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và SV (nếu có) trong quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian)

ĐTTX bao gồm dạy từ xa và học (hoạt động nhận thức của người học) từ xa, nghĩa

là trong quá trình đào tạo có sự tham gia của thầy và trò Những yếu tố chính xác định hình thức từ xa của đào tạo:

- Sự xa cách giữa thầy và trò, ít ra là trong phần lớn quá trình đào tạo:

- Việc sử dụng các phương tiện học tập có khả năng liên kết nỗ lực của giáo viên và học sinh, đảm bảo việc nắm vững nội dung khóa học

- Đảm bảo sự liên hệ thường xuyên, chặt chẽ giữa thầy và trò, giữa quản trị khóa học và người học;

- ĐTTX là hình thức đào tạo mà trong đó có tác động tương hỗ giữa thầy và trò và giữa trò với nhau được thực hiện ở khoảng cách xa và phản ánh đầy đủ các yếu tố đặc trưng của quá trình học tập (mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện) được thực hiện bởi những phương tiện của công nghệ Internet hoặc các phương tiện khác, bảo đảm sự tương tác có hệ thống giữa người dạy và người học với nhau (Trung tâm Nghiên cứu ĐTTX Viện Hàn lâm Giáo dục Liên bang Nga, 2004)

- ĐTTX là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian Người học theo hình thức ĐTTX chủ yếu tự học qua học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe - nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các

tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường (Bộ GD&ĐT, 2003)

Tựu trung lại, hình thức ĐTTX thuộc phương thức giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân ĐTTX là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián

Trang 25

cách giữa người dạy và người học về mặt thời gian và không gian Người học theo hình thức ĐTTX chủ yếu là tự học qua học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường GD từ xa lấy tự học là chính, đòi hỏi người học phải tự giác, kiên trì và quyết tâm cao để hoàn thành chương trìnhhọc tập của mình

1.3.2 Đặc điểm của đào tạo từ xa

T ất có k ả c c địa ý ữa t ầ v trò: Trong ĐTTX, người dạy và người

học ở cách xa nhau Khoảng cách địa lý ngăn cách người dạy và người học là đặc điểm đầu tiên để phân biệt giáo dục từ xa với các phương thức giáo dục truyền thống khác

T a tr ĐTTX c t c c ủ ếu Vắng mặt giáo viên ở nơi học

tập, cách biệt với các SV khác, ở xa cơ sở đào tạo, SV học từ xa thường chủ yếu là tự học Việc tự học tiến hành chủ yếu trên tài liệu học tập và tài liệu hướng dẫn Đó là các ấn phẩm và các phương tiện thông tin Để giúp SV tự học tốt, họ cần được khuyến khích động viên và được nhận thức rằng học có thể nâng cao vốn kiến thức của mình khi có ý chí và quyết tâm học tập, biết phát huy năng lực tự học của mình, đồng thời có nghị lực vượt qua mọi khó khăn trong học tập Giải pháp này dựa trên cơ sở tâm lí sư phạm, trong

đó điều quan trọng là chỉ ra cho người học cách tự học có hiệu quả để sự thành công trong học tập ngày càng củng cố và nâng cao lòng tự tin của người học

T ba sử d t kỹ t u t uồ c u v cô đ tr

đ t : Trong ĐTTX người ta thường phải sử dụng các phương tiện công nghiệp hoặc

cận công nghiệp Đây chính là các phương tiện làm cầu nối giữa giảng viên và SV trong khi giữa họ có khoảng cách Chính nhờ các phương tiện này mà bài học được truyền tải đến SV một cách gián tiếp, nó thể hiện mối liên hệ thầy trò trong dạy học từ xa

T t trong ĐTTX ỗ k óa c k ô đị số ợ c: Đặc tính này

không thể có trong dạy học truyền thống vì thông thường ở mỗi lớp học truyền thống số học sinh phụ thuộc vào chỗ ngồi trong lớp Khác với dạy học truyền thống, dạy học từ xa nhận học viên theo số lượng bất kỳ ở các trung tâm ĐTTX Có thể nói rằng không bao giờ

Trang 26

có sự quá tải đối với dạy học từ xa, vì không bị hạn chế ở không gian hạn hẹp của một lớp học thông thường mà hoàn toàn có thể tự học ở nhà một mình

T ă có tí t t c tr đ t : Sự tương tác này hình thành thông qua

học liệu, các phương tiện và môi trường công nghệ Sự giáp mặt giữa thầy và trò là cơ hội

để có sự tương tác nhanh nhất, hiệu quả nhất Tuy nhiên, sử dụng “ t cô

” để thông tin hai chiều mới là đặc tính cơ bản của ĐTTX Xã hội công nghệ thông

tin và truyền thông hiện đại cho phép sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa nhóm với thầy càng thuận lợi

T s u có tí cô tr ĐT: Ở đây người ta phải áp dụng những quy

trình giống như quy trình sản xuất công nghiệp từ tổ chức sản xuất các loại học liệu đến phát hành điều phối, quản lý quá trình đào tạo, công nghệ KTĐG tới số lượng SV từ xa lớn và đa dạng Bên cạnh việc tập hợp được đông đảo đội ngũ GV thì trong ĐTTX đòi hỏi tính logic, khoa học, nhịp nhàng ăn khớp từng khâu Cấu trúc bộ máy QL theo thứ bậc, kiếm soát quá trình ĐT theo nguyên tắc kiểm soát chất lượng tổng thể Sự ứng dụng những logic ấy bắt nguồn từ tính công nghiệp với chuyên môn hóa cao

T bẩ có tí c t ể tr ĐT: Cá thể hóa trong quá trình học tập là đặc điểm

cuối cùng của ĐTTX Do sự giãn cách về khoảng cách với thầy, do không tập trung thường xuyên học tập cùng với nhóm, mà người học thường học trong môi trường tương đối độc lập Điều này có thuận lợi cho người học

N v , với các đặc điểm thể hiện tính mở, tính thích ứng, thế mạnh dựa vào công

nghệ và học liệu, hiệu quả kinh tế do quy mô giáo dục lớn và hệ thống mang tính công nghiệp… trong ĐTTX đã tạo nên sự khác biệt trong tổ chức ĐT của hình thức ĐT này so với các hình thức ĐT khác

1.3.3 Chương trình đào tạo từ xa

Chương trình ĐTTX luôn được coi trọng trong công tác đào tạo Nghiên cứu cách thức tổ chức ĐTTX tại một số trường đại học của các nước có giáo dục từ xa phát triển cho thấy: về chương trình đào tạo, đa số các trường đều sử dụng chung một chương trình

Trang 27

đào tạo cho tất cả các hệ, đối với mỗi hệ, cách thức tổ chức thực hiện chương trình được điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng người học

Việc xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo cho hệ ĐTTX được quy định như đối với các hệ đào tạo khác theo Thông tư 07/2015/TT-BGDĐT Trên cơ sở quy định của Bộ GD&ĐT, các trường ĐH hiện nay khá linh hoạt và chủ động trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo dành cho hệ ĐTTX Đa số các trưởng triển khai chương trình ĐTTX dựa trên chương trình ĐT hệ chính quy

1.3.4 Phát triển chương trình đào tạo từ xa

Theo Tim Wentling, phát triển chương trình đào tạo chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực thi, giai đoạn đánh giá Trong đó giai đoạn chuẩn bị được chia nhỏ thành 9 bước như sau: xác định nhu cầu đào tạo, xác định mục tiêu đào tạo, sắp xếp nội dung đào tạo, lựa chọn phương pháp và kỹ thuật đào tạo, xác định nguồn lực cần cho quá trình đào tạo, sắp xếp và lên kế hoạch cho các bài giảng, lựa chọn và tạo ra các nguyên liệu hỗ trợ cho quá trình đào tạo, lựa chọn và xây dựng các hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập, thử nghiệm và chỉnh lý lại chương trình

Theo Ralph W Tyler, phát triển chương trình được chia thành 6 bước: phân tích tình hình, xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, sắp xếp nội dung, thực hiện, đánh giá [Peter F Oliva (2006), Xây dựng chương trìnhhọc, Nguyễn Kim Dung dịch, NXB Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 203-209]

Theo Taba, phát triển chương trình được chia thành 5 bước: đưa ra các đơn vị thử nghiệm (bao gồm: xác định nhu cầu, xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, sắp xếp nội dung, lựa chọn các phương pháp dạy học, xác định những yếu tố cần đánh giá), kiểm tra các đơn vị thử nghiệm, sửa chữa và củng cố, phát triển trong khuôn khổ, áp dụng và phổ biến cho các đơn vị mới [19, tr 210-212]

Theo Saylor, Alexander và Lewis, phát triển chương trình được chia thành 4 bước: xác định mục đích và mục tiêu, thiết kế chương trình, thực hiện chương trình, đánh giá chương trình [19, tr 213-215]

Trang 28

Theo Oliva, phát triển chương trình được chia thành 12 bước: xác định nhu cầu của

SV, xác định nhu cầu của xã hội, xác định mục đích chương trình xác định mục tiêu chương trình, sắp xếp và thực hiện chương trình, xác định mục đích giảng dạy, xác định các mục tiêu giảng dạy, lựa chọn các chiến lược giảng dạy, thực hiện các chiến lược đánh giá, lựa chọn lại phương pháp kiểm tra - đánh giá, đánh giá giảng dạy, đánh giá chương

trình [13 , tr 218-222]

1.4 Nội dung đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa

1.4.1 Các hoạt động nâng cao chất lượng chương trình đào tạo

Các hoạt động nâng cao chất lượng trong giáo dục đại học thường gắn với việc nâng cao năng lực của người học sau khi đã hoàn thành chương trình đào tạo bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học Bên cạnh đó các hoạt động nâng cao chất lượng gắn với việc cải thiện chất lượng môi trường học tập và tạo ra nhiều cơ hội học tập cho người học Để có thể triển khai các hoạt động cải thiện và nâng cao chất lượng, một kênh thông tin hiệu quả thường được các trường sử dụng là thông tin phản hồi từ các bên liên quan của chương trình đào tạo như nhà sử dụng lao động, cựu sinh viên, giảng viên và người học, Các thông tin thu thập được giúp nhà trường nhận thấy được điểm mạnh, điểm tồn tại từ đó tổ chức theo dõi thường xuyên và định kỳ rà soát chương trình đào tạo, qua đó đảm bảo tính cập nhật và phù hợp của chương trình, nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy, học tập và đánh giá người học, cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị, dịch vụ

hỗ trợ; nâng cao hiệu quả hoặc tăng cường ứng dụng các thành quả nghiên cứu và cả cơ chế thu thập thông tin phản hồi từ các bên liên quan Các hoạt động được định kỳ rà soát

và cải thiện về nội dung, hình thức tổ chức nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, không ngừng nâng cao chất lượng theo chu trình P-D-C-A

1.4.2 Tổ chức và quản lý chương trình đào tạo

Để phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục đại học là giáo dục toàn diện cho người học, CTĐT cần trang bị cho người học những khả năng sau:

- Khả năng tự khám phá kiến thức

- Khả năng ghi nhớ kiến thức lâu dài

Trang 29

- Khả năng nhận thức các mối liên hệ giữa kiến thưc cũ và mới

- Khả năng tạo ra kiến thức mới

- Khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề

- Khả năng truyền đạt kiến thức cho người khác

Điều kiện cần thiết cho việc học tập chất lượng gồm:

- Có sự sẵn sàng trong nhận thức và cảm xúc để đáp ứng nhiệm vụ học tập

- Có lý do để học tập

- Kết nối được kiến thức cũ và mới

- Chủ động trong học tập

- Có được môi trường học tập thuận lợi

Trong thực tế không có phương pháp dạy học nào phù hợp với mọi cơ sở giáo dục Đặc biệt đối với loại hình ĐTTX, do đó nhà trường cần xem xét kỹ khi lựa chọn phương thức dạy và học cho từng đối tượng

Hiện nay với việc ứng dụng CNTT trong đào tạo, nhiều trường đại học nhất là các trường có loại hình ĐTTX đã chuyển sang ứng dụng kết hợp đào tạo theo phương thức truyền thống cùng với phương thức trực tuyến (blended learning) Tùy theo mức độ ứng dụng CNTT, Phương thức tổ chức triển khai chương trình (các hoạt động dạy và học) được thực hiện ở các mức độ khác nhau

Đối với mỗi lớp học, các hoạt động học tập của người học thông thường bao gồm:

- Tự học, tự nghiên cứu (self-studying): SV học với tài liệu hướng dẫn tự học, bài giảng đa phương tiện kết hợp âm thanh, hình ảnh, nội dung trình chiếu được biên soạn dành cho người tự học Bài giảng và các tài liệu này được đưa lên hệ thống quản lý đào tạo (LMS), hệ thống sẽ ghi nhận việc theo dõi bài giảng của SV để xác nhận phần đánh giá chuyên cần của SV

- Trao đổi, thảo luận, giải đáp (Interactive): Được coi là hoạt động tương tác có sự

hỗ trợ của hệ thống công nghệ Giảng viên có vai trò giải đáp, hướng dẫn các câu hỏi của

SV đưa lên diễn đàn Ở những diễn đàn có tổ chức nội dung tốt còn có các tình huống thảo luận, câu hỏi mở do giảng viên gợi ý đưa ra để định hướng cho SV thảo luận và trao đổi

Trang 30

nội dung chuyên môn của môn học Ngoài hệ thống diễn đàn, việc trao đổi, thảo luận, giải đáp còn được thực hiện trên lớp học trực tuyến (đồng thời)

- Luyện tập (Practice): SV được thực hiện các bài luyện tập về môn học thông dưới dạng trắc nghiệm, tự luận có giải thích,… để tự ôn tập hoặc kiểm tra lại phần kiến thức đã học Hệ thống quản lý học tập cung cấp các dạng bài tập này dựa trên ngân hàng câu hỏi/bài tập được đưa lên hệ thống, đồng thời ghi nhận kết quả làm bài của SV để đánh giá chuyên cần và quá trình học tập của SV

- Kiểm tra, đánh giá (Examination): Hệ thống kiểm tra đánh giá online được thực hiện trên hệ thống công nghệ thông qua các bài tập trắc nghiệm và tự luận/bài tập nhóm/bài tập kỹ năng theo yêu cầu của môn học Kết quả làm bài của SV được ghi nhận trên hệ thống và làm cơ sở xét điều kiện dự thi kết thúc học phần cho SV

Kết thúc học phần, các trường tổ chức thi kết thúc học phần tập trung tại địa điểm của nhà trường hoặc của trạm liên kết đào tạo tại các địa phương, thực hiện theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về mức độ tương tác và đáp ứng của hệ thống đào tạo trực tuyến (ĐTTT) đối với hoạt động học tập của người học, theo nhiều nghiên cứu hiện nay, ĐTTT có 2 hình thức tổ chức đào tạo dựa trên cách thức truyền tải kiến thức giữa người dạy và người học: không đồng bộ (asynchronize) và đồng bộ/thời gian thực (synchronize) Trong đó, hình thức không đồng bộ là quá trình học mà việc tương tác giữa người dạy và người học không được thực hiện cùng một lúc, người học sẽ học theo kế hoạch thời gian tách biệt với người dạy và về không gian và thời gian; hình thức đồng bộ là quá trình truyền và nhận kiến thức giữa người dạy và người học được diễn ra cùng một lúc thông qua hệ thống công nghệ trực tuyến Ứng dụng trong ĐTTT ở các trường đại học hiện nay có hai hướng tổ chức cơ bản đó là tự học

và học có hướng dẫn Theo hướng tự học là hình thức học độc lập, SV được cung cấp môi trường học tập trực tuyến với khoá học có đầy đủ nội dung học tập, tài liệu hướng dẫn, hệ thống bài tập để tự chủ động học tập, hệ thống nội dung kiến thức được thiết kế sẵn và đưa trên hệ thống quản lý học tập với nhiều dạng như dạng văn bản, dạng video, dạng audio, dạng đa phương tiện Theo hướng học có hướng dẫn là khoá học được thực hiện trên nền

Trang 31

tảng công nghệ website Các khoá học đều có giảng viên với vai trò giải đáp, hướng dẫn được thực hiện đồng thời (synchronize) hoặc không đồng thời (asynchronize) theo kế hoạch, lịch học tập nhất định Việc hướng dẫn được thực hiện thông qua diễn đàn thảo luận, giải đáp, qua email và các ứng dụng kết nối giao tiếp qua mạng

1.4.3 Mục tiêu và chuẩn đầu ra chương trình đào tạo

Giáo dục dựa trên đầu ra (Outcomes-based education-OBE) có thể được hiểu là phương thức tiếp cận, xây dựng và vận hành chương trình dựa trên những kiến thức, kỹ năng mà người học được kỳ vọng tiếp thu và thể hiện thành công khi tốt nghiệp OBE chú trọng vào các kết quả học tập, đảm bảo kiến thức, kỹ năng và thái độ (bao gồm cả kỹ năng

tư duy mà người học cần lĩnh hội) được xác định rõ ràng và thể hiện trong chuẩn đầu ra

Chuẩn đầu ra là khởi điểm của quy trình thiết kế chương trình và được xây dựng dựa trên nhu cầu của các bên liên quan Chuẩn đầu ra thể hiện qua những thành quả mà người học đạt được thay vì mong đợi của GV (thường được viết dưới dạng mục tiêu đào tạo của chương trình) Chuẩn đầu ra nên viết theo cách để có thể quan sát, đo lường và đánh giá được

1.4.4 Nội dung chương trình đào tạo

Nội dung chương trình là tài liệu cung cấp thông tin về chương trình của nhà trường Chương trình dạy học cần được thiết kế sao cho các phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá người học góp phần hỗ trợ việc đạt được các chuẩn đầu ra Biggs (2003) gọi tiến trình này là ”sự tương thích có định hướng” (construchương trìnhive alignment)

”Có định hướng có nghĩa là người học chủ động tạo ra sự hiểu biết dựa trên các hoạt động dạy và học có liên quan ”Sự tương thích” là khái niệm để chỉ hoạt động dạy và học; hoạt động kiểm tra, đánh giá người học được xây dựng tương thích với nhau nhằm đạt được việc đạt được chuẩn đầu ra Sự tương thích có định hướng liên quan đến việc: xây dựng chuẩn đầu ra có thể đo được Lựa chọn các phương pháp dạy và học để đả bảo việc đạt được chuẩn đầu ra Đánh giá được mức độ đạt chuẩn đầu ra của người học

Bản mô tả chương trình thường bao gồm các nội dung sau đây:

- Tóm tắt mục tiêu đào tạo và kết quả học tập dự kiến

Trang 32

có thể đáp ứng chuẩn đầu ra, đông thời chứng minh khả năng đạt được chúng Bản mô tả chương trình là tài liệu tham khảo cho hoạt động rà soát nội bộ và giám sát các hoạt động của chương trình

- Là nguồn thông tin giúp các chuyên gia thẩm định/rà soát chương trìnhvà đánh giá viên bên ngoài hiểu được mục tiêu của chương trình và các kết quả học tập dự kiến

- Là cơ sở cho việc thu thập được thông tin phản hồi từ người học, người học mới tốt nghiệp để cải tiến chương trình nhằm nâng cao khả năng đạt được các kết quả học tập

dự kiến

1.4.5 Quản lý triển khai chương trình đào tạo từ xa

- Kế hoạch triển khai chương trình ĐTTX được xây dựng hàng năm phù hợp với

chiến lược phát triển của nhà trường

Trang 33

- Có quy định về tổ chức và quản lý triển khai thực hiện chương trình ĐTTX hiệu quả và được công bố công khai với các bên liên quan

- Đảm bảo nguồn tài chính và có kế hoạch đầu tư phát triển chương trình ĐTTX và các điều kiện triển khai

- Quy hoạch, bổ nhiệm và bồi dưỡng cán bộ quản lý triển khai chương trình ĐTTX đáp ứng yêu cầu của phương thức đào tạo

- Có hệ thống CNTT phục vụ quản lý triển khai thực hiện chương trình ĐTTX phù hợp với phương thức ĐTTX

1.4.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học

Đánh giá kết quả học tập của người học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của giáo dục đại học Kết quả đánh giá ảnh hưởng sâu sắc đến nghề nghiệp tương lai của người học Do đó, hoạt động đánh giá kết quả học tập cần được thực hiện một cách chuyên nghiệp và phải đưa các kiến thức cập nhật vào quá trình kiểm tra, thi cử Đánh giá cũng cung cấp thông tin có giá trị cho nhà trường về hiệu quả giảng dạy và hỗ trợ người học

Kiểm tra, đánh giá là một hoạt động rất quan trọng của quá trình GD và ĐT Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kiểm tra, đánh giá trong lĩnh vực GD, mỗi quan điểm lại nhấn mạnh đến một khía cạnh khác nhau cần đánh giá (đối tượng của đánh giá) Tất cả những người tham gia vào quá trình GD, tất cả các bộ phận cấu thành của quá trình GD đều là đối tượng để đánh giá Mỗi đối tượng được xem xét theo những tiêu chuẩn, tiêu chí riêng phù hợp Trong GD, người ta thường tiến hành nhiều đánh giá khác nhau như đánh giá hệ thống GD, đánh giá nhà trường, đánh giá hoạt động dạy học của người dạy, đánh giá hoạt động học tập của người học, đánh giá chương trình GD, đánh giá chất lượng GD, đánh giá mục tiêu GD, Một cách khái quát, đánh giá là quá trình tiến hành có hệ thống

để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu giáo dục nhất định

Theo quan điểm truyền thống, ĐG KQHT là một quá trình độc lập với quá trình dạy

- học, hoạt động ĐG KQHT được thực hiện sau khi quá trình dạy - học kết thúc Quan điểm mới cho rằng ĐG KQHT là một phần không thể tách rời quá trình dạy - học, được thực hiện liên tục và đan xen trong quá trình dạy - học, ĐG KQHT cũng là một hình thức

Trang 34

dạy - học và các phương pháp ĐG KQHT cũng là phương pháp dạy - học và thường rất hiệu quả Chính vì vậy, bản chất của quá trình dạy - học là một hệ thống các yếu tố có sự tác động qua lại với nhau, như: mục tiêu môn học, nội dung chương trình môn học, hình thức tổ chức dạy - học, phương pháp dạy của GV, phương pháp học tập của SV và phương pháp ĐG môn học

Thực tế ta thấy rằng ĐG không những là khâu cuối cùng mà là một bộ phận hợp thành quan trọng, không thể thiếu của quá trình dạy - học Tiếp sau quá trình dạy - học,

ĐG để xác định tình hình nhận thức, sự thành thạo các kỹ năng của người học đáp ứng mục tiêu môn học, mục tiêu học tập và kết quả ĐG sẽ là căn cứ để khởi đầu một chu trình tiếp theo với chất lượng cao hơn Trong quá trình dạy - học, ĐG sẽ cung cấp thông tin phản hồi có ý nghĩa quan trọng đối với cả người dạy và người học Người dạy và người học sẽ phát hiện ra thực trạng học tập của người học cũng như nguyên nhân dẫn đến kết quả đó Đây là cơ sở để người dạy điều chỉnh hoạt động dạy và người học điều chỉnh hoạt động học

Như vậy, có thể nói, ĐG KQHT theo quan điểm mới đã thay đổi trọng tâm từ kết quả học tập sang quá trình dạy - học So sánh hai quan điểm về ĐG, ĐG lấy kết quả học tập làm trọng tâm (quan điểm cũ) và ĐG lấy quá trình dạy - học làm trọng tâm (quan điểm mới), như ở hình 1.1 đã cho thấy rõ vị trí rất quan trọng của ĐG trong quá trình dạy - học

- ĐG KQHT là khâu then chốt không thể thiếu trong quy trình ĐT (quá trình dạy - học), có chức năng ĐT và thẩm định chất lượng ĐT

- ĐG KQHT là đầu tàu kéo cả quy trình ĐT đi lên tạo ra đổi mới về chất lượng đào tạo ĐG KQHT còn là nhân tố tích cực và hiệu quả để điều chỉnh chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập

Do đó, ĐG KQHT của SV cần phải được xem như một bộ phận nội tại của quá trình dạy - học, mục đích cuối cùng của nó là giúp người học học tập tốt ĐG không chỉ được sử dụng để ĐG KQHT của người học mà quan trọng hơn ĐG để cung cấp thông tin phản hồi tới người học, tới người dạy và tới nhà quản lý nhằm thúc đẩy tính tích cực của người học,

Trang 35

giúp người học điều chỉnh hoạt động học, giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy, giúp nhà trường đánh giá chất lượng GD và điều chỉnh công tác quản lý dạy và học của mình

ĐG KQHT của SV là một công tác quan trọng đối với tất cả các phương thức ĐT Hiện nay, với phương thức ĐT ĐH truyền thống, việc ĐG KQHT được tổng hợp từ ba yếu

tố là mức độ chuyên cần, kiểm tra giữa kỳ và kỳ thi kết thúc học phần ĐG không chỉ cung cấp thông tin về mặt tiến bộ của SV mà còn cung cấp về hiệu quả của các chương trình đào tạo: Như học liệu, phương tiện và phương pháp Đối với ĐTTX thì việc đánh giá SV đại học từ xa hơi khác với SV đại học truyền thống mặt - giáp - mặt do có sự khác nhau về tương tác giữa thầy và trò trong môi trường ĐTTX Trong đào tạo truyền thống thì giáo viên có nhiều chỉ số để đánh giá sự học tập của SV ngoài những bài kiểm tra trên giấy Sự chuyên cần nghe giảng và chất lượng các câu hỏi có thể quan sát được, cũng như ngôn ngữ cử chỉ khi thấy một cái nhìn lúng túng hoặc tạm dừng bút để ghi chép Trong ĐTCN

hệ TX các chỉ số để đánh giá sự học tập của SV ít hơn, cơ chế đánh giá chính thức thông qua các bài tập và bài kiểm tra bằng văn bản thường được áp dụng để đánh giá chất lượng

SV Đặc biệt trong ĐTCN hệ TX thì SV phải tự xác định được mục tiêu học tập của mình, đồng thời tự ĐG KQHT Đây chính là sự khác biệt cơ bản về ĐG trong ĐTCN hệ TX và

ĐG trong ĐT truyền thống

1.4.7 Đội ngũ giảng viên

Khi nói đến ĐNGV, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ thống

Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau,

bị ràng buộc bởi những cơ chế, qui ước nhất định nào đó Vì vậy, mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa toàn thể Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì ĐNGV chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực đặc biệt của GDĐH; và ĐNGV có những đặc điểm sau:

- Những thành viên trong đội ngũ đã được tuyển chọn tương ứng với một hệ thống các tiêu chí về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp;

- Các thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng mà Nhà nước đã giao phó đối với hoạt động đào tạo ở ĐH;

Trang 36

- Mỗi thành viên, mỗi bộ phận của đội ngũ thực hiện những chức trách và nhiệm vụ chuyên biệt tùy thuộc vào vị trí và đặc điểm của môi trường hoạt động, song đều chịu sự quản lí thống nhất về thể chế, về tổ chức, về chuyên môn theo qui định của Nhà nước;

- ĐNGV hoạt động trong môi trường đào tạo nhằm hình thành nhân cách nghề nghiệp cho đối tượng đào tạo (người học), vì thế nó mang đậm sắc thái văn hóa sư phạm trong các mối quan hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa nhà trường với xã hội

Như vậy, theo chúng tôi, ĐNGV là tập hợp những người làm nhà giáo, nhà khoa học, được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu đào tạo đã đề ra ở các trường ĐHCĐ Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế

xã hội

1.4.8 Đội ngũ cán bộ hỗ trợ đào tạo

Có triển khai công tác quy hoạch ngắn hạn và dài hạn đối với đội ngũ cán bộ hỗ trợ tại thư viện, phòng thí nghiệm, mảng công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ SV; đảm bảo đội ngũ cán bộ hỗ trợ đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng cả

về chất lượng và số lượng

Tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm và nâng bậc dành cho đội ngũ cán bộ hỗ trợ được xác định rõ và phổ biến rộng rãi Vai trò của cán bộ hỗ trợ được định rõ và nhiệm vụ được giao dựa trên thành tích, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm

Năng lực của cán bộ hỗ trợ được xác định và đánh giá nhằm đảm bảo năng lực phù hợp với vị trí công tác và đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan

1.4.9 Người học và hoạt động hỗ trợ người học

Nhà trường cần có hệ thống giám sát phù hợp về sự tiến bộ trong học tập và rèn luyện, kết quả học tập, khối lượng học tập của người học, sử dụng các chỉ số để giám sát tiến độ học tập và kết quả học tập của người học Khối lượng học tập có được phân bố phù hợp trong từng năm học và giữa các năm học Một người học học lực trung bình có thể hoàn thành chương trình đúng hạn Bên cạnh đó, nhà trường cần tổ chức các hoạt động tư vấn học tập một cách hiệu quả, tổ chức hoạt động ngoại khóa, hoạt động thi đua và các

Trang 37

dịch vụ hỗ trợ khác để giúp cải thiện việc học tập và khả năng có việc làm của người học Khoa cần có hệ thống giám sát để ghi nhận tiến độ học tập và liên lạc với người học đã tốt nghiệp Nâng cao vai trò của GV, nghiên cứu viên trong việc cung cấp thông tin, giảng dạy và giúp người học gắn kết với chương trình đào tạo Đảm bảo người học được thông tin về kế hoạch học tập Bên cạnh đó, nhà trường cần có hệ thống theo dõi, chú ý đặc biệt đến việc đào tạo người học ở năm thứ nhất và người học có kết quả học tập chưa đạt yêu cầu Cần có các hoạt động hỗ trợ đặc biệt về các kỹ năng học tập cho người học gặp khó khăn trong việc học, ngoài ra cần quan tâm đặc biệt trong việc hướng dẫn những người học xuất sắc

Chính sách tuyển sinh hệ ĐTTX được xác định rõ ràng, được công bố công khai và được cập nhật trên phương tiện thông tin đại chúng

Tiêu chí và phương pháp tuyển chọn SV phải được xác định rõ ràng và được đánh giá thường xuyên

Có hệ thống giám sát phù hợp về sự tiến bộ của SV trong học tập và rèn luyện, kết quả học tập, khối lượng và thời gian học tập của SV

Có các hoạt động tư vấn học tập, hoạt động ngoại khóa, hoạt động thi đua và các dịch vụ hỗ trợ khác để giúp cải thiện việc học tập và khả năng có việc làm của người học

Môi trường tâm lý, xã hội và cảnh quan tạo thuận lợi cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và sự thoải mái cho cá nhân người học

1.4.10 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ đào tạo và học liệu

Trang thiết bị và tài nguyên học tập cần phù hợp với các mục tiêu và mục đích của chương trình Trang thiết bị cũng liên quan đến chiến lược giảng dạy và học tập Ví dụ, nếu muốn dạy theo nhóm nhỏ thì chỉ cần sử dụng phòng học nhỏ Hoặc khi muốn giảng dạy bằng máy tính thì cần phải có đủ máy tính cho SV Các tài nguyên học tập chính bao gồm sách, sổ tay thông tin, tạp chí, báo chí, tranh ảnh, internet và intranet, CD-ROMs, bản

đồ, ảnh chụp từ không gian, và các tài nguyên học tập khác

Với loại hình ĐTTX và đặc biệt là với hệ thống tín chỉ được áp dụng nhưu hiện nay, một lần nữa vai trò của học liệu lại được khẳng định mạnh mẽ và nó có thể quyết

Trang 38

định đến sự thành bại của các loại hình đào tạo này Bởi học từ xa được hiểu là việc người học tự chủ, tự nghiên cứu kiến thức qua học liệu Nguồn học liệu càng phong phú, dồi dào,

dễ tiếp cận bao nhiêu thì càng giúp người học tiếp cận và lĩnh hội kiến thức thuận tiện và hiệu quả bấy nhiêu

1.4.11 Nâng cao chất lượng chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng của SV,

đo đó ta phải thường xuyên nâng cao chất lượng chương trình đào tạo Phải xây dựng được quy trình thiết kế và phát triển chương trình và quy trình này được định kỳ rà soát, đánh giá Nhà trường có triển khai các cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của hoạt động này Quá trình dạy và học; hoạt động kiểm tra, đánh giá SV được thường xuyên rà soát và đánh giá để đảm bảo sự tương thích với kết quả học tập mong đợi và tính phù hợp

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa

1 Nhận thức về vai trò của hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX của các đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động này:

Các đối tượng liên quan trực tiếp đó là CBQL, GV và SV; các đối tượng liên quan gián tiếp là xã hội, người sử dụng lao động

2 Nghiệp vụ của CB tham gia hoạt động đảm bảo chất lượng chương trình ĐTTX:

GV là người đảm nhiệm nhiều công việc trong hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX như KT thường xuyên, định kỳ, KT kết thúc môn học, trong đó công việc chủ yếu mà họ phải đảm nhiệm là ra đề và chấm bài Ra đề phải bám vào mục tiêu môn học để đảm bảo ĐG KQHT được chính xác và toàn diện năng lực của SV; chấm thi phải chính xác, khách quan, công bằng; ĐG KQHT trong ĐTCN hệ TX phải đảm bảo cung cấp thông tin phản hồi đầy đủ, kịp thời và hợp lý để tạo động cơ thúc đẩy SV học tập tốt hơn

CBQL cần có nghiệp vụ để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX, hơn nữa họ phải ĐG được hiệu quả công việc của GV, của quy trình kiểm định

3 Các chế độ, chính sách của Nhà nước và qui định của nhà trường:

Trang 39

Hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX được quy định chung bởi quy chế của Bộ GDĐT, các quy chế này cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để có sự thay đổi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX Cần có các qui định về chế độ tài chính, về cơ sở vật chất, về yêu cầu đối với đội ngũ tham gia hoạt động này; cần có các hình thức khen thưởng, kỷ luật thích hợp để khuyến khích

CB, GV

4 Công tác chỉ đạo thanh tra kiểm tra của các cấp quản lý:

Để đảm bảo ĐG chính xác và toàn diện năng lực trong kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX thì cần có sự thanh kiểm tra tất cả các nội dung trong quá trình tổ chức hoạt động, để đảm bảo các điều kiện cho hoạt động này; đảm bảo sự minh bạch, khách quan và công bằng

5 Tác động của xã hội:

Một đối tượng đông đảo không trực tiếp tham gia vào hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX nhưng có tác động mạnh mẽ đến hoạt động là người sử dụng lao động Các cơ sở sử dụng lao động quan tâm đến học lực, hệ ĐT ghi trên văn bằng mà

ít quan tâm đến năng lực thực sự, hiện tượng sính bằng cấp trong tuyển dụng và đề bạt cán

bộ sẽ gián tiếp dẫn đến tiêu cực trong hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX

6 Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế:

Nền kinh tế hiện nay đòi hỏi GDĐH phải cung cấp cho các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, các cơ quan QL, những cán bộ và người lao động có đạo đức nghề nghiệp, tay nghề cao, có kiến thức hiện đại cập nhật Các cơ sở đào tạo muốn đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao phải thông qua kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX một cách có hiệu quả Cơ sở GD nào đào tạo có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu xã hội sẽ đắt hàng, người học sẽ đến học nhiều, khi đó uy tín của cơ sở GD đó sẽ cao và cơ sở giáo dục đó sẽ có sự phát triển mạnh Giới hạn chất lượng đào tạo ở hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX đã và đang đặt ra cho ngành GD nói chung, các trường có ĐTTX nói riêng phải chú trọng lãnh đạo, tổ chức và quản lý tốt hoạt động kiểm định chất

Trang 40

lượng chương trình ĐTTX trong từng khâu, từng phần và toàn cục Đây chính là vấn đề xây dựng thương hiệu cho mỗi nhà trường

Công tác xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người được học tập, học tập suốt đời, học theo cách phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu cá nhân (học chính qui, vừa làm vừa học, liên thông, học từ xa, tự học); học mọi nơi, mọi lúc đòi hỏi sự QL có hiệu quả hoạt động kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX nhằm đảm bảo công bằng, tạo cơ hội cho mọi người tham gia vào GDĐH để những người được cấp bằng tốt nghiệp phải thực sự có đủ kiến thức, kỹ năng theo chuẩn đầu ra

Ngày đăng: 01/11/2020, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm