Đặc biệt trong những năm gần đây, thay vì đến những nơi đô thị ồn ào, náo nhiệt với các tòa nhà che khuất tầm nhìn của con người thì du khách có xu hướng đến với các miền quê để được hòa
Trang 1ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA DU LỊCH _
Họ và tên: Đặng Phương Anh – K23HD
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
DI TÍCH CHÙA ĐẬU – THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH (DU LỊCH)
Trang 2Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Văn Bài, và TS Nguyễn Thị Thu Mai Dù thầy, cô rất bận nhưng vẫn luôn tận tình chỉ bảo em Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy cô
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy cô giáo trong Khoa Du lịch – Viện Đại học
Mở Hà Nội, những người đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu và tạo điều kiện cho em được thực hiện khóa luận này
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Sinh viên tốt nghiệp
Đặng Phương Anh
Trang 3KHOA DU LỊCH
-*** -
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-
NHIỆM VỤ THIẾT KẾ KHOÁ LUẬNTỐT NGHIỆP
Họ và tên : Đặng Phương Anh ĐT : 0397556570
Lớp - Khoá : A4 – K23 Ngành học : Quản trị kinh doanh (Du lịch)
1 Tên đề tài : Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch
di tích chùa Đậu – Huyện Thường Tín, Hà Nội
2 Các số liệu ban đầu (Lý thuyết đã học và tư liệu thu thập tại cơ sở nơi thực hiện Khoá luận)
Giáo trình, sách, tạp chí, báo, và thông tin thu thập tại cơ sở thực tập
3 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán :
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và di tích
Chương 2: Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch di tích chùa Đậu
Chương 3: Một số khuyến nghị về khai thác tiềm năng du lịch của di tích
5 Ngày giao nhiệm vụ Khoá luận tốt nghiệp : 30/10/2018
6 Ngày nộp Khoá luận cho VP Khoa (hạn chót) : 24/01/2019
Trưởng Khoa
Hà Nội, ngày / / năm 201
Giáo viên Hướng dẫn
PGS.TS Đặng Văn Bài
Trang 41.1 Sản phẩm du lịch 05
1.1.1 Khái niệm sản phẩm du lịch 05
1.1.2 Đặc điểm sản phẩm du lịch 05
1.1.3 Loại hình du lịch 06
1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 12
1.2.1 Khái niệm và các đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn 12
1.2.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn 12
1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn 18
1.3 Một số vấn đề lý luận về di tích lịch sử - văn hóa 19
1.3.1 Khái niệm về di tích lịch sử - văn hóa 19
1.3.2 Phân loại di tích lịch sử - văn hóa 20
1.4 Mô hình phân tích SWOT 22
1.4.1 Khái niệm 22
1.4.2 Cách thực hiện mô hình SWOT 23
1.4.3 Cách vận dụng mô hình SWOt trong việc đánh giá thực trạng 25
1.5 Kết luận chương I 25
2.1 Điểm mạnh của di tích 25
2.1.1 Vị trí 25
2.1.2 Giá trị lịch sử và văn hóa 30
2.1.3 Giá trị kiến trúc nghệ thuật 34
2.1.4 Giá trị tâm linh 39
2.2 Điểm yếu của di tích 44
2.2.1 Cơ sở vật chất hạ tầng 44
2.2.2 Dịch vụ du lịch 45
2.2.3 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 46
2.2.4 Sản phẩm du lịch 46
Trang 52.4 Thách thức đối với di tích 47
2.5 Kết luận chương II 48
3.1 Định hướng bảo tồn và khai thác giá trị của di tích 49
3.2 Một số khuyến nghị về giải pháp khai thác tiềm năng du lịch của di tích 51
3.2.1 Nhóm giải pháp đầu tư xây dựng các công trình và dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịch 51
3.2.2 Nhóm giải pháp về sản phẩm, xúc tiến, quảng bá thu hút khách du lịch52 3.3 Kết luận chương 3 54
Kết luận và khuyến nghị của khóa luận 55
Tài liệu tham khảo 57 Phụ lục
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa-xã hội của con người Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia vùng miền Chính vì vậy, du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền kinh tế quan trọng, có đóng góp lớn trong sự phát triển chung của nhiều quốc gia
Ở Việt Nam, du lịch được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động du lịch được tiến hành dựa trên việc khai thác các tiềm năng của các hệ địa – sinh thái khác nhau trên khắp đất nước Quá trình phát triển của các loại hình du lịch đã tạo ra khả năng khai thác nhiều tiềm năng to lớn của các tài nguyên tự nhiên, nhân văn Đặc biệt trong những năm gần đây, thay vì đến những nơi đô thị ồn ào, náo nhiệt với các tòa nhà che khuất tầm nhìn của con người thì du khách có xu hướng đến với các miền quê để được hòa mình vào cuộc sống của người dân, trải nghiệm những phong tục tập quán mang tính bản địa, tham gia những lễ hội truyền thống, hiểu biết thêm những giá trị lịch sử, văn hóa của những di tích lâu đời Do vậy việc khai thác các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc ở mỗi miền quê là đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa cho việc phát triển du lịch, làm cho du lịch ngày càng trở nên đa dạng hơn
Từ trung tâm thành phố Hà Nội, đi theo quốc lộ 1A về phía nam khoảng 24km, chùa Đậu thuộc làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, là một trong 12 di tích của tỉnh Hà Tây được Bộ Văn hóa Thông tin xếp loại đặc biệt quan trọng Đây là một ngôi chùa nổi tiếng về lịch sử lâu đời, kiến trúc độc đáo, theo đó nghệ thuật dân gian, kiến trúc dân gian đều rất biến hóa Lễ hội chùa Đậu cũng là một lễ hội đáng chú
ý, thu hút được đông đảo dân cư quanh khu vực đến xem và tham gia Đặc biệt hơn cả, chùa còn là nơi lưu giữ nhục thân của hai thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường Đây được coi là hai toàn thân xá lợi duy nhất tại Việt Nam cho đến thời điểm này, là quốc bảo thiêng liêng và nhận được sự cung kính như đức Phật sống của các chư tăng phật tử Chùa Đậu là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam ta, là minh chứng cho nhân cách, đạo lý và trí tuệ của cha ông mà không phải bất kỳ dân tộc nào cũng có được
Trang 7Tuy nhiên, cho đến nay, giá trị và ý nghĩa của chùa Đậu vẫn chưa được đánh giá một cách đầy đủ, đặc biệt là trên phương diện phát triển du lịch Là một người con của Huyện Thường Tín, em đã chọn đề tài “Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của Di tích chùa Đậu” cho khóa luận tốt nghiệp với mong muốn được mang đến cái nhìn toàn diện hơn về giá trị du lịch của di tích, và đề xuất một số khuyến nghị ban đầu về việc khai thác giá trị này sao cho xứng đáng
2 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở những lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và di tích, mục đích của
đề tài là đánh giá tiềm năng phát triển du lịch và đưa ra một số khuyến nghị về việc khai thác tiềm năng du lịch của di tích chùa Đậu, huyện Thường Tín, Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ của đề tài:
- Hệ thống một số vấn đề lý luận về du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn, di tích và một số nội dung liên quan;
- Xác định giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, tâm linh… của di tích có thể khai thác cho du lịch;
- Đưa ra một số khuyến nghị về việc khai thác tiềm năng du lịch của di tích
2.3 Giới hạn của đề tài:
- Về thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện trong thời gian 2 tháng, từ tháng 11/2018 đến tháng 1/2019
- Về không gian: Chùa Đậu, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín
- Về nội dung: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn của di tích chùa Đậu
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng du lịch nhân văn của di tích Chùa Đậu
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn Trụ chì chùa Đậu Đại Đức Thích Thanh Nhung, Hội người cao tuổi giúp việc cho chùa về lễ hội chùa Đậu, thực trạng số lượng khách đến thăm chùa
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài từ nhiều nguồn khác nhau để có cơ sở phân tích và đánh giá
Trang 8- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tổng hợp, phân tích và rút ra những kết luận trong việc đánh giá tiềm năng
4 Những vấn đề đề xuất hoặc giải pháp của Khóa luận
Khóa luận này nhằm mục đích đánh giá tiềm năng phát triển du lịch và đưa ra một
số khuyến nghị về khai thác tiềm năng du lịch của di tích chùa Đậu
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và di tích
Chương II: Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của di tích chùa Đậu
Chương III: Một số khuyến nghị về khai thác tiềm năng du lịch di tích chùa Đậu
Trang 9Theo Michael M.Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành
phần không đồng nhất hữu hình” Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những sản
phẩm hữu hình (hàng hóa) và những sản phẩm vô hình (dịch vụ) để cung cấp du khách hay nó bao gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ du khách du lịch Sản phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ hoặc sản phẩm tổng hợp
Luật du lịch Việt Nam (2017) quy định: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ
trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách
1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Tính vô hình: Du lịch là ngành dịch vụ và sản phẩm tồn tại ở dạng vô hình Người tiêu dùng không thể nhìn thấy sản phẩm du lịch và sử dụng các chỉ số để mô tả hay đánh giá chất lượng của sản phẩm Sản phẩm du lịch về cơ bản không tồn tại dưới dạng vật chất Người mua không thể kiểm tra đánh giá chất lượng của sản phẩm tại thời điểm mua như các sản phẩm hữu hình
Tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng: Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm
du lịch diễn ra cùng không gian và thời gian Đối với sản phẩm du lịch không thể tiến hành sản xuất vào mùa nhu cầu thấp để lưu kho rồi mang ra tiêu thụ khi nhu cầu tăng cao Sản phẩm chỉ được sản xuất khi có sự hiện diện của người tiêu dùng
Tính không chuyển đổi quyền sở hữu: Đối với sản phẩm du lịch, du khách không
có quyền sở hữu sản phẩm mình mua, chỉ có quyền sử dụng sản phẩm trong những điều kiện cụ thể
Trang 10Tính không thể di chuyển: Không giống các sản phẩm tồn tại ở dạng vật chất, sản phẩm du lịch không có khả năng di chuyển đến nơi tiêu thụ Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch nên không thể di chuyển được Doanh nghiệp lữ hành không thể mang sản phẩm du lịch đến nơi khách có nhu cầu,
mà du khách phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn các nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp lữ hành trong việc tiêu thụ sản phẩm
Tính mùa: Sản phẩm du lịch mang tính mùa rõ rệt, nhu cầu về sản phẩm du lịch thường xuất hiện vào những thời điểm nhất định trong năm tùy thuộc vào một số điều kiện nhất định
Tính không đồng nhất: Sản phẩm du lịch không có tính đồng nhất vì đó không phải
là những sản phẩm giống nhau Sản phẩm du lịch được tạo ra trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch kết hợp với các dịch vụ Mà dịch vụ cung ứng không phải luôn đồng nhất
1.1.3 Loại hình du lịch
“Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó”
[1]
Sự phân loại loại hình du lịch giúp xác định được những đóng góp kinh tế và những hạn chế của từng loại hình du lịch Khi con người đi du lịch có nghĩa là họ đã mang một phần thu nhập của mình từ nơi này để chi tiêu ở một nơi khác Ngược lại nơi đến
du lịch sẽ nhận được thêm nguồn thu nhập mới từ bên ngoài đưa vào
Phân loại loại hình du lịch chính làm cơ sở cho hoạt động quảng bá của các điểm đến và các tổ chức kinh doanh du lịch Mỗi loại hình du lịch sẽ chứa đựng những nét đặc trưng của một nhóm du khách Qua việc phân tích các loại hình du lịch đang tồn tại có thể xác định được cơ cấu khách hàng, mục tiêu của điểm đến du lịch hay của cơ
sở kinh doanh du lịch
Trang 11Bản chất của du lịch là các chuyến đi để cảm nhận những giá trị tinh thần Chuyến
đi có thể có mục đích thuần túy là tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao nhận thức
về thế giới xung quanh Du lịch thuần túy có thể bao gồm các loại hình sau:
- Du lịch tham quan: Là hoạt động của con người để nâng cao nhận thức về mọi mặt Loại hình du lịch này có thể khai thác cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
- Du lịch khám phá: Là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Tùy thuộc vào mức độ có thể chia thành du lịch tìm hiểu và du lịch mạo hiểm
- Du lịch giải trí: Là loại hình du lịch nảy sinh do nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi Đời sống
xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vui chơi, giải trí của con người cũng ngày càng tăng Do vậy, trong chương trình du lịch, ngoài thời gian cho các hoạt động tham quan, cần có chương trình cho các hoạt động vui chơi, giải trí, thư giãn
- Du lịch nghỉ dưỡng: Là hoạt động du lịch nhằm khôi phục sức khỏe của con người sau những ngày lao động vất vả Khách tham gia hoạt động nghỉ dưỡng thường thích những nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ, phong cảnh đẹp như các bãi biển, vùng núi hoặc miền quê,…
- Du lịch thể thao: Bao gồm thể thao chủ động và thụ động Đây là loại hình du lịch nhằm đáp ứng đam mê thể thao của du khách Khách du lịch có thể lựa chọn các hình thức thể thao được ưa chuộng như câu cá, chơi golf, bơi thuyền, lướt ván, trượt tuyết, leo núi,…
Ngoài mục đích du lịch thuần túy cũng có nhiều chuyến đi với các lý do khác nhau như công tác, hội thảo, tôn giáo,… Về cơ bản, có các loại hình du lịch kết hợp như sau:
Trang 12- Du lịch văn hóa: Đối tượng khách chính của loại hình du lịch này là những người
có tri thức, có như cầu tìm hiểu về văn hóa của các vùng miền
- Du lịch tôn giáo: Là hình thức du lịch tâm linh Khách đến hành hương, chiêm bái những công trình có ý nghĩa tôn giáo Hoạt động du lịch tôn giáo thường được diễn
ra tại các địa bàn liên quan đến sự ra đời của tôn giáo, tín ngưỡng như đình, đền, chùa, thánh địa,…
- Du lịch thể thao kết hợp: Loại hình du lịch này khác với du lịch thể thao thuần túy
ở chỗ chuyến đi của các vận động viên có mục đích là luyện tập, tham dự các hoạt động thể thao Vì vậy, các hoạt động thể thao của các vận động viên, huấn luyện viên được coi như một nghề chuyên nghiệp, giống như nhiều nghề khác của xã hội Ngoài thời gian tập luyện thi đấu, họ có thể tìm hiểu các giá trị tự nhiên, văn hóa -
xã hội ở nơi đến Vì thế, có thể coi chuyến đi của họ là chuyến du lịch thể thao kết hợp
- Du lịch công vụ: Bao gồm những người đi dự hội nghị, hội thảo, hoặc tham gia các cuộc họp, đàm phán kinh doanh,… Bên cạnh mục đích chính của chuyến đi là thực hiện các công việc, họ có thể tranh thủ nghỉ dưỡng, tham quan, ngắm cảnh trong thời gian rảnh rỗi Ở loại hình du lịch này, du khách thường là những đối tượng có khả năng chi trả cao Do đó, cần đảm bảo đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao để phục vụ nhu cầu của du khách
- Du lịch chữa bệnh: Với mục đích chính của chuyến đi là để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho khách du lịch Địa điểm đến thường là những nơi có nguồn nước khoáng, có điều kiện thích hợp để chữa bệnh Đặc điểm của loại hình này là để đáp ứng yêu cầu chữa bệnh, khách thường lưu trú dài ngày nên cần đảm bảo cơ sở phục
vụ tốt
- Du lịch thăm thân nhân: Đây là loại hình du lịch kết hợp du lịch trong chuyến đi với mục đích thăm hỏi bà con, họ hàng, bạn bè,… Loại hình du lịch này có ý nghĩa đối với những quốc gia có nhiều kiều bào sống xa Tổ quốc
Trang 13Phân loại theo tài nguyên du lịch
Du lịch được phân chia thành hai hình thức cơ bản sau: Du lịch văn hóa và du lịch sinh thái
- Du lịch văn hóa: Là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Đây
là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến thức, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa ở nơi họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa - lịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật,
- Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về các hệ sinh thái tự nhiên
và văn hóa bản địa Địa điểm tổ chức loại hình này thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa được bảo tồn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các bản làng,…
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
- Du lịch nội địa là tất cả các hoạt động phục vụ cho nhu cầu của du khách ở trong nước đi nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong phạm vi đất nước mình
- Du lịch quốc tế là loại hình du lịch sử dụng nguồn tài nguyên du lịch bên ngoài lãnh thổ quốc gia nơi khách đang lưu trú Du lịch quốc tế được chia làm hai loại: + Du lịch quốc tế chủ động (du lịch đón khách): Là loại hình du lịch quốc tế đón khách nước ngoài đến tham quan, nghỉ ngơi, giải trí Là loại hình du lịch mang lại ngoại tệ cho quốc gia
+ Du lịch quốc tế thụ động ( du lịch gửi khách): Là loại hình du lịch quốc tế đưa khách từ trong nước ra nước ngoài tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí ,…
Phân loại theo vị trí địa lí
- Du lịch biển: Là loại hình gắn với biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt đọng tắm biển, thể thao nước Loại hình này có tính mùa vụ cao
- Du lịch núi: Là loại hình du lịch gắn với các khu vực có địa hình cao Điều kiện khí hậu ở đây thuận lợi để nghỉ mát vào mùa hè và nghỉ dưỡng vào mùa đông
Trang 14Ngoài ra còn phù hợp với các hoạt động thể thao núi như trượt tuyết, trượt băng ,…
- Du lịch đô thị: Điểm đến là các thành phố, các trung tâm kinh tế với nhiều công trình kiến trúc lớn, khu thương mại, đầu mối giao thông, công viên giải trí ,…
- Du lịch đồng quê: Thường diễn ra ở những nơi có không khí trong lành, thoáng mát, thanh bình Đây là khu vực địa lí có sức hấp dẫn với khách là những người dân sống ở các đô thị, nhất là các khu đô thị lớn
Phân loại theo độ dài chuyến đi
- Du lịch ngắn ngày: Là loại hình du lịch thường kéo dài từ 1- 3 ngày ( hoặc dưới một tuần), tập trung chủ yếu vào ngày nghỉ cuối tuần Loại hình này thích hợp với các đối tượng du khách có qũy thời gian ít
- Du lịch dài ngày: Là loại hình du lịch thường gắn với các kì nghỉ dài ngày từ vài tuần đến hàng tháng ở các địa điểm cách xa nơi ở của khách
Phân loại theo phương tiện vận chuyển
- Du lịch xe đạp: Là loại hình sử dụng phương tiện chính là xe đạp Loại hình du lịch này phát triển ở các khu vực có địa hình bằng phẳng, con người thân thiện, thích gần gũi với thiên nhiên Đây là loại hình du lịch phổ biến ở các nước phát triển Ưu điểm của loại phương tiện này là du khách có thể thâm nhập dễ dàng vào đời sống dân cư bản địa Tuy nhiên, phương tiện này phù hợp với khoảng cách di chuyển ngắn Đây cũng là hình thức kết hợp với du lịch thể thao
- Du lịch ô tô: Là loại phương tiện phổ biến và có nhiều lợi thế so với các phương tiện vận chuyển khác Đặc điểm nổi bật của loại phương tiện này là chi phí thấp,
dễ tiếp cận với các địa điểm du lịch nhưng không phù hợp cho khoảng cách di chuyển quá dài
- Du lịch tàu hỏa: Là phương tiện phổ biến đối với nhiều du khách vì chi phí thấp,
có thể tận dụng thời gian cho việc di chuyển vào ban đêm Tuy nhiên, so với ô tô, tính linh hoạt của loại phương tiện này không cao, các tuyến đường sắt khó tiếp cận với các điểm du lịch nên thường phải kết hợp với các phương tiện vận chuyển khác để chuyên chở khách
- Du lịch máy bay: Là một trong những loại hình hiện đại, có thể di chuyển với khoảng cách địa lý xa trong thời gian ngắn Tuy nhiên, nhược điểm của loại hình
Trang 15này là chi phí cao nhưng hiện nay vẫn là phương tiện chủ yếu cho hoạt động du lịch của du khách để tận dụng thời gian cho việc tham quan hay vì di chuyển
- Du lịch tàu thủy: Là loại hình phát triển ở các nước có nền kinh tế phát triển Ưu điểm của loại hình này là phương tiện vận chuyển đồng thời là cơ sở lưu trú, ngoài
ra khách được tận hưởng không khí trong lành và được tham quan nhiều điểm đến trong một chuyến đi Tuy nhiên, đây là loại hình chỉ phù hợp với một nhóm nhỏ du khách vì chi phí cao và yêu cầu về sức khỏe
Hiện nay, trong thực tế khách du lịch có xu hướng kết hợp các loại hình du lịch trên vì như vậy có thể kết hợp những ưu điểm của các phương tiện vận chuyển và du khách có được những trải nghiệm đa dạng
Phân loại theo hình thức tổ chức
Phân loại theo hình thức tổ chức có các loại hình du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân
đi
- Du lịch gia đình: Là loại hình du lịch do các gia đình tự tổ chức hoặc sử dụng dịch
vụ của các công ty lữ hành Loại hình du lịch này thường tập trung vào mùa hè, hoặc những dịp nghỉ lễ trong năm
Ngoài các cách phân loại như trên, người ta còn sử dụng cách phân loại khác như theo lứa tuổi của đối tượng khách (du lịch dành cho thiếu nhi/học sinh, thanh niên, người lớn tuổi,…); hoặc theo phương thức hợp đồng (du lịch trọn gói và du lịch từng phần) [1]
Trang 161.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên
du lịch văn hóa.” (Khoản 4 Điều 3, Luật Du lịch 2017)
“Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.” (Khoản 2 Điều 15, Luật Du lịch 2017)
Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, có tác dụng nhận thức nhiều hơn, tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu
Thứ hai, việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn Thứ ba, số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn
Thứ tư, tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn
Thứ năm, ưu thế của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính mùa
vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác
Cuối cùng, sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và rất khác nhau…
1.2.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn
- Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm 4 loại:
- Các di sản văn hóa thế giới và các di tích lịch sử - văn hóa
- Các lễ hội
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
- Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác
Trang 171.2.2.1 Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá
Di sản văn hoá thế giới
“Di sản văn hóa là:
Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu
tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố
có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan
Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.” (Điều 1, Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới)
Di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc Di sản văn hóa có giá trị nổi bật và duy nhất toàn cầu Bất cứ một quốc gia nào nếu có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách
du lịch, đặc biệt là khách quốc tế
Để được ghi vào danh sách Di sản văn hóa Thế giới, một di sản phải đáp ứng được một hoặc nhiều tiêu chí về văn hoá theo Công ước này Có 6 tiêu chí đối với di sản văn hóa là:
(i) Là một kiệt tác cho thấy thiên tài sáng tạo của con người
(ii) Biểu hiện sự giao lưu các giá trị của con người, trong một thời gian dài hoặc trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những bước phát triển trong kiến trúc, nghệ thuật tượng đài hoặc quy hoạch thành phố và thiết kế cảnh quan
(iii) Là minh chứng độc đáo hoặc chí ít cũng là hiếm có cho truyền thống văn hóa hoặc cho một nền văn minh còn đang tồn tại hoặc đã mất
(iv) Là một mẫu hình nổi bật của một loại công trình xây dựng hoặc quần thể kiến trúc hay cảnh quan minh họa cho một (các) giai đoạn trong lịch sử loài người
Trang 18(v) Là một mẫu hình nổi bật về nơi sinh sống truyền thống hoặc sử dụng đất đai của con người đại diện cho một (hoặc nhiều) nền văn hóa, đặc biệt khi nó trở nên dễ
bị tổn thương do tác động của những biến đổi không cưỡng lại được
(vi) Liên quan trực tiếp hoặc đích thực tới các sự kiện hay truyền thống đang còn tồn tại, với những ý tưởng hoặc niềm tin, với các tác phẩm nghệ thuật hoặc văn học có
ý nghĩa toàn cầu nổi bật (tiêu chuẩn này chỉ được xem xét trong những hoàn cảnh đặc biệt hoặc liên quan đến các tiêu chí văn hóa hoặc thiên nhiên khác khi Ủy ban xem xét
có đưa vào danh sách Di sản Thế giới hay không)
“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể, và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm vật chất, tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng chữ viết, trí nhớ, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn hoặc lưu giữ bằng các hình thức lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn sướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ thông truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống, và những tri thức dân gian khác
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [15]
Bên cạnh đó, còn có di sản tư liệu, ký ức nhân loại Đây là các di sản văn hóa thuộc dạng tư liệu (như cuốn sách, bộ phim, bức ảnh, giọng nói (băng ghi âm), bút tích ) Năm 2017, thế giới có 1.073 di sản trên 167 quốc gia: 832 về văn hóa, 206 tự nhiên
và 35 di sản hỗn hợp (tự nhiên và văn hóa)
Nước ta đến hiện nay có 20 di sản thế giới, trong đó có 17 di sản văn hoá gồm cố
đô Huế (công nhận năm 1993), Khu đền tháp Mỹ Sơn (1999), Đô thị cổ Hội An (1999), Hoàng thành Thăng Long (2010), Thành nhà Hồ (2011), Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Ninh (2009), Ca trù (2009), Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc (2010), Hát xoan (2011), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (2012), Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013), Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh (2014), Nghi lễ và trò chơi kéo co (2015), Tín
Trang 19ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (2016), Nghệ thuật bài chòi Nam Trung Bộ;
4 Di sản tư liệu gồm: Mộc bản triều Nguyễn (2009), Bia tiến sĩ Văn miếu Quốc Tử Giám (2010), Châu bản triều Nguyễn (2017), Cuốn sách cổ Hoàng hoa sứ trình đồ (2018); 2 di sản tự nhiên gồm vịnh Hạ Long (1994) và Phong Nha – Kẻ Bàng (2003);
và 1 di sản hỗn hợp là Quần thể danh thắng Tràng An (2014)
Các di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá
Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
1.2.2.2 Các lễ hội
Trong các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có giá trị rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phán ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí Nhìn chung, các lễ hội nổi tiếng có tính hấp dẫn rất lớn đối với du khách
Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ và phần hội Hai thành phần này gắn bó chặt chẽ và hòa quyện với nhau tạo nên một tổng thể không thể tách rời
Phần lễ (hay còn gọi là phần nghi lễ) diễn ra những nghi thức nghiêm túc, trọng thể
mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian Tuỳ theo tính chất của lễ hội mà nội dung của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng Phần lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Nghi thức tế lễ nhằm tỏ lòng tôn kính
vớ các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà Nghi
Trang 20lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hoá thiêng liêng, một giá trị thẩm
mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần hội
Phần hội là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn… mang bản sắc văn hoá dân gian Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hoá truyền thống, nhưng phạm
vi nội dung của nó thường không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hoá mới Tuy nhiên những nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì
lễ hội nơi đó có giá trị cao và có sức hấp dẫn du khách Thông thường phần hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ (hội Lim…).Cũng có những lễ hội ở đó cả phần lễ và phần hội hoà quyện vào nhau, trong đó trọng tâm là phần hội, nhưng bản thân phần hội mang tính tâm linh của phần lễ (hội chọi trâu ở Đồ Sơn…)
Bên cạnh những đặc điểm mang đậm bản sắc văn hóa, lễ hội cũng có những đặc điểm ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động du lịch cả mặt thuận lợi lẫn khó khăn Chẳng hạn, các lễ hội không diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong vòng 1-2 tháng Trong thời gian này, lễ hội sẽ thu hút đông đảo du khách Lễ hội còn thường được tổ chức tại những di tích lịch sử văn hóa, điều này cho phép khai thác điểm mạnh của cả
di tích và lễ hội vào mục đích du lịch Tuy nhiên, đây là cũng yếu tố tạo nên tính mùa
vụ của du lịch Khi kết thúc mùa lễ hội, số lượng du khách sẽ giảm đi đáng kể [6]
1.2.2.3 Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có những địa bàn
cư trú nhất định Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách
du lịch
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ
về cư trú, nét đặc biệt về trang phục, ca nhạc truyền thống, về tổ chức xã hội, những kiến trúc có bố cục theo thuyết phong thuỷ của triết học phương Đông, những kiến trúc tôn giáo (nhất là kiến trúc Chăm)…, các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ thuật cao
về chế biến và nấu nướng, những làng nghề truyền thống…
Nước ta có hàng trăm làng nghề với những sản phẩm nổi tiếng, độc đáo thể hiện tư duy triết học, tâm tư tình cảm của con người, đặc biệt là các nghề chạm khắc, đúc đồng, thêu, dệt, sành sứ…
Trang 21Theo tiến sĩ Phạm Công Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam” thì
làng nghề được định nghĩa như sau: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà
cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và các cá biệt của địa phương”
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng trình bày trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “ Bảo tồn
và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam” tháng 8/1996 thì làng nghề truyền
thống được hiểu như sau: “Làng nghề thuyền thống là một làng tuy vẫn còn trồng trọt
theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm
sứ, làm tương,… song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “ nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã
có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài”
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, làng nghề đã thực sự là đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng tích cực rất lớn tới đời sống kinh tế xã hội Theo Nghị định số 66/2016/NĐ-CP của Chính Phủ, các tiêu chí để công nhận làng nghề truyền thống bao gồm:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một mặt hàng ( từ 35% - 40% số
hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề )
- Thu nhập do sản xuất mang lại chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng (có thể sinh sống bằng thu nhập của nghề, thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập các hộ)
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ
- Kích thích phát triển cơ sở hạ tầng thông qua hoạt động du lịch
- Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống quý báu lâu đời ở các làng nghề
Trang 22- Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống đã bị mai một trong nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2.4 Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác
Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên cứu Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế… cũng
là đối tượng hấp dẫn khách du lịch
Thông thường những đối tượng văn hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn Vì vậy những thành phố lớn đương nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch
1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là một trong 2 bộ phận cấu thành nên tài nguyên du lịch, là hạt nhân cấu thành nên sản phẩm du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những cơ sở khoa học để quy hoạch du lịch Qua việc nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn, đánh giá, thẩm định các giá trị văn hóa, đề xuất phương hướng khai thác, v.v, các nhà nghiên cứu có thể xác định tiểu vùng, á vùng và các trung tâm du lịch Nếu không có các dữ liệu khoa học này, các nhà quy hoạch không thể quy hoạch được chính xác
Các luận chứng du lịch đều phải được bắt nguồn từ tài nguyên du lịch đặc biệt là tài nguyên nhân văn Đây là căn cứ quan trọng nhất để xây dựng dự án đầu tư Tài nguyên nhân văn đó là giá trị văn hóa, hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa, phong tục, tập quán, lễ hội, danh thắng Do đó, tài nguyên du lịch nhân văn đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng các luận chứng kinh tế du lịch, gọi vốn đầu tư Cũng như các ngành kinh tế khác, luận chứng kinh tế, kỹ thuật phát triển ngành du lịch xuất phát từ “trữ lượng” văn hóa và thông qua văn hóa để nắm chắc trữ lượng đó Ví dụ từ giá trị du lịch của phố cổ Hội An, kinh thành Huế để có luận chứng kinh tế xây dựng
cơ sở hạ tầng phù hợp để đón khách du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, từ đó tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị Đây là một trong những cơ sở quan trọng nhất của
Trang 23marketing du lịch, giới thiệu những giá trị hiện có của điểm du lịch, để thu hút khách
du lịch Qua những kết quả nghiên cứu du lịch nhân văn giúp các nhà tuyên truyền quảng cáo có cơ sở khoa học, có nội dung quản cáo đặc sắc, độc đáo nhằm thu hút khách du lịch Hầu như tất cả phương tiện quảng cáo hiện nay trên toàn cầu, các thông tin du lịch đều bắt đầu nguồn từ những nét đặc trưng văn hóa của điểm du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng để tạo tour du lịch Cốt lõi của một tour du lịch đó là điểm văn hóa, cảnh quan thiên nhiên Qua nhiên cứu văn hóa của một điểm du lịch, đề xuất các phương thức khai thác các giá trị để phục vụ kinh doanh du lịch Nội dung của bài thuyết minh tour du lịch có tính đến giá trị đặc trưng của tài nguyên du lịch Do vậy, ngay trong lĩnh vực tính toán giá thành, du lịch nhân văn cũng giúp các nhà làm giá tính đúng và đủ
Đứng trên góc độ khách du lịch, văn hóa, đặc trưng văn hóa là những yếu tố có sức hút mạnh mẽ, lôi kéo khách du lịch Các sản phẩm văn hóa như tranh vẽ, tượng nặn, điêu khắc, v.v, đều là những sản phẩm có sức sống mãnh liệt thu hút khách du lịch Trình diễn dân ca và các loại hình văn hóa truyền thống cũng như hiện đại đều là một biểu hiện của văn hóa Khách sạn, khu nghỉ mát là những nơi có thể tổ chức cho khách thưởng thức ca nhạc dân tộc một cách tốt nhất Những điệu nhảy dân tộc tạo ra một sức hút hết sức lôi cuốn, sôi động đối với du khách [18]
Tóm lại, đối tượng văn hóa được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn, có sức thu hút khách bởi sự phong phú, đa dạng, độc đáo, tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó Du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tài nguyên và trong tài nguyên du lịch nhân văn thì các di sản văn hóa là một tài nguyên quan trọng, là nguồn để phát triển mở rộng các hoạt động kinh doanh du lịch
1.3 Một số vấn đề lý luận về di tích lịch sử - văn hóa
1.3.1 Khái niệm về di tích lịch sử - văn hóa
Theo Luật di sản văn hoá 12/7/2001, di tích lịch sử - văn hoá là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể, là các công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
Từ những quy định về di tích lịch sử – văn hoá các nước trên thế giới và ở nước ta
có thể rút ra những quy định chung có ý nghĩa khoa học và hệ thống như sau:
- Di tích lịch sử – văn hoá là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá khảo cổ
Trang 24- Những điểm khung cảnh ghi dấu về một dân tộc học
- Những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nước, lịch sử địa phương phát triển
- Những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, áp bức
- Những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, khoa học
- Những công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực
- Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên bài trí sẵn và có bàn tay con người tạo dựng thêm vào, được xếp vào một loại hình trong các loại hình di tích lịch sử – văn hoá
- Di tích lịch sử – văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa dựng những giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc do cá nhân con người hoạt động sáng tạo trong lịch sử để lại
1.3.2 Phân loại di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử – văn hoá chứa dựng nhiều mặt giá trị lịch sử và văn hóa khác nhau
vô cùng đa dạng, phong phú Mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hoá, lượng thông tin riêng biệt Cần phải phân biệt các loại di tích để xác định tên gọi đúng với nội dung của nó và khai thác, sử dụng và bảo vệ di tích một cách có hiệu quả
Căn cứ vào đặc điểm nội dung và hình thức di tích lịch sử văn hóa được chia thành
4 loại: di tích văn hóa khảo cổ; di tích lịch sử; di tích kiến trúc – nghệ thuật; các danh lam thắng cảnh
Loại hình di tích văn hoá khảo cổ
Đây là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá, thuộc về một thời kỳ lịch sử – xã hội loài người nào đó trong lịch sử cổ đại Đại đa số các di tích văn hoá khảo cổ nằm trong lòng đất, cũng có trường hợp tồn tại trên mặt đất (các bức chạm khắc trên vách đá)
Di tích văn hoá khảo cổ còn được gọi là di chỉ khảo cổ, nó được phân thành di chỉ
cư trú và di chỉ mộ táng, ngoài ra còn có cả những công trình kiến trúc cổ, những thành phố cổ, tàu thuyền cổ bị chìm đắm
Trang 25 Loại di tích lịch sử
Đây là những di tích ghi nhận các sự kiện lịch sử hoặc các đặc điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình Lịch sử của mỗi quốc gia là một quá trình lâu dài với nhiều sự kiện được ghi dấu, do vậy những di tích nào gắn với các sự kiện tiêu biểu mới được coi là di tích lịch sử
Loại hình di tích lịch sử bao gồm:
- Di tích ghi dấu về dân tộc học: Sự ăn ở, sinh hoạt của các tộc người;
- Di tích ghi dấu những sự kiện lịch sử chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng của đất nước, của địa phương;
- Di tích ghi dấu chiến công xâm lược;
- Di tích ghi dấu những kỷ niệm;
- Di tích ghi dấu sự vinh quang lao động;
- Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc, phong kiến
Loại di tích kiến trúc – nghệ thuật
Di tích kiến trúc – nghệ thuật bao gồm các công trình kiến trúc có giá trị hoặc các tác phẩm nghệ thuật khác như tượng đài, các bích hoạ…
Trên thế giới cũng như ở nước ta có rất nhiều di tích kiến trúc – nghệ thuật nổi tiếng như tháp Effel, Khải hoàn môn, văn miếu Quốc tử giám, toà thánh Tây Ninh… Việc phân biệt loại di tích lịch sử với các di tích văn hoá – nghệ thuật rất khó, bởi
vì bản thân mỗi di tích văn hoá đều mang trong mình những giá trị lịch sử và cũng như vậy, mỗi di tích lịch sử đều mang trong mình chất văn hoá, hay nói cách khác cũng là những sản phẩm văn hoá Chính vì vậy nhiều khi người ta gọi chung loại hình này là loại hình di tích lịch sử – văn hoá – nghệ thuật
Các danh lam thắng cảnh
Thực tế loại hình này là sự hợp thể giữa thiên nhiên và văn hóa, giữa loại hình di tích: di tích nhân tạo và di tích thiên tạo Đây là nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp, có chứa đựng những công trình do con người tạo ra, thường là những ngôi chùa, ngôi đền hay một công trình văn hoá nào đó… Phần lớn những danh lam thắng cảnh ở Việt Nam đều có chùa thờ Phật Điển hình là danh lam thắng cảnh chùa Hương, Tam Thanh, Yên Tử…
Trang 26Hiện nay, cả nước có hơn 4 vạn di tích các loại Số di tích trên được phân theo các loại như sau:
- Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương;
- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia;
- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia
1.4 Mô hình phân tích SWOT
mà còn những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp
Mô hình phân tích SWOT được cho rằng do Albert Humphrey phát triển vào những năm 1960- 1970 Đây là kết quả của một dự án nghiên cứu do đại học Standford, Mỹ thực hiện Dự án này sử dụng dữ liệu từ 500 công ty có doanh thu lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500 ) nhằm tìm ra nguyên nhân thất bại trong việc lập kế hoạch của các doanh nghiệp này Albert cùng các cộng sự của mình ban đầu đã cho ra mô hình phân tích
có tên gọi SOFT: Thỏa mãn (Satisfactory) - Điều tốt trong hiện tại, Cơ hội (Opportunity) – Điều tốt trong tương lai, Lỗi (Fault) – Điều xấu trong hiện tại; Nguy
cơ (Threat) – Điều xấu trong tương lai Tuy nhiên, cho đến năm 1964, sau khi mô hình này được giới thiệu cho Urick vàd Orr tại Zurich Thuỵ Sĩ, họ đã đổi F (Fault) thành W
Trang 27(Weakness) và SWOT ra đời từ đó Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và giới thiệu đến công chúng vào năm 1966 dựa trên công trình nghiên cứu tại tập đoàn Erie Technological Năm 1973, SWOT được sử dụng tại J W French Ltd và thực sự phát triển từ đây Đầu năm 2004, SWOT đã được hoàn thiện và cho thấy khả năng hữu hiệu trong việc đưa ra cũng như thống nhất các mục tiêu của tổ chức mà không cần phụ thuộc vào tư vấn hay các nguồn lực tốn kém khác [19]
SWOT là một công cụ hữu ích khi chúng được áp dụng nhằm giải quyết vấn đề trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau
1.4.2 Cách thực hiện mô hình SWOT
SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận gồm 2 hàng 2 cột và chia làm 4 phần Mỗi phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), và Nguy cơ (Threats)
Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục Nói cách khác, SWOT chỉ ra đâu là nơi để tấn công và đâu là nơi cần phòng thủ Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ra một Kế hoạch hành động thông minh
và hiệu quả
Strengths – Điểm mạnh
Điểm mạnh chính là lợi thế của riêng doanh nghiệp, dự án, sản phẩm… Đây phải
là những đặc điểm nổi trội, độc đáo khi so sánh với đối thủ cạnh tranh Hãy trả lời câu hỏi: Bạn làm điều gì tốt và tốt nhất? Những nguồn lực nội tại mà bạn có là gì? Bạn sở hữu lợi thế về con người, kiến thức, danh tiếng, kỹ năng, mối quan hệ, công nghệ… như thế nào?
- Nguồn lực, tài sản, con người
- Kinh nghiệm, kiến thức, dữ liệu
Trang 28 Weaknesses – Điểm yếu
Một cách dễ hiểu nhất, điểm yếu chính là những việc làm chưa tốt Ngoài ra có thể
tự hỏi bản thân những câu hỏi sau: Công việc nào mình làm kém, thậm chí tệ nhất? Việc gì mình đang né tránh? Lời nhận xét tiêu cực nào nhận được từ người tiêu dùng
và thị trường v v
Chỉ cần nhớ một điều: điểm yếu là những vấn đề đang tồn tại bên trong con người hoặc tổ chức cản trở con đường đạt được mục tiêu
Opportunities – Cơ hội
Những tác động từ môi trường bên ngoài nào sẽ hỗ trợ việc kinh doanh thuận lợi
hơn? Tác nhân này có thể là:
- Sự phát triển, nở rộ của thị trường
- Đối thủ đang tỏ ra chậm chạp, yếu kém, tiếng xấu
- Xu hướng công nghệ thay đổi
- Xu hướng toàn cầu
- Hợp đồng, đối tác, chủ đầu tư
- Mùa, thời tiết
- Chính sách, luật
Threats- Nguy cơ
Yếu tố bên ngoài nào đang gây khó khăn trên con đường đi đến thành công chính
là Nguy cơ
Sau khi tìm ra nguy cơ, điều cần làm là đề ra phương án giải quyết và phương án này thường là nâng cao kỹ năng quản trị để không bị những nguy cơ nhấn chìm hoàn toàn, vạch ra và triển khai những cách khả thi để giảm bớt độ nghiêm trọng, hoặc né tránh (nếu được) những nguy cơ
Cuối cùng, sau khi đã trả lời một cách chính xác 4 điều về tổ chức: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ, phải đưa ra những chiến lược phù hợp Có bốn chiến lược căn bản có thể tham khảo để đạt được mục tiêu của mình
- Chiến lược SO (Strengths - Opportunities): theo đuổi những cơ hội phù hợp với điểm mạnh của công ty
Trang 29- Chiến lược WO (Weaks - Opportunities): vượt qua điểm yếu để tận dụng tốt cơ hội
- Chiến lược ST (Strengths - Threats): xác định cách sử dụng lợi thế, điểm mạnh để giảm thiểu rủi ro do môi trường bên ngoài gây ra
- Chiến lược WT (Weaks - Threats): thiết lập kế hoạch “phòng thủ” để tránh cho những điểm yếu bị tác động nặng nề hơn từ môi trường bên ngoài [20]
1.4.3 Cách vận dụng mô hình SWOT trong việc đánh giá thực trạng
Mô hình SWOT không chỉ được ứng dụng trong việc lập kế hoạch Marketing, hay trong kinh doanh, nó còn là một phương pháp phổ biến được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá thực trạng, chất lượng của một sản phẩm hay một đối tượng
Chùa Đậu thuộc làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 24km, đi theo quốc lộ 1A về phía nam Vận dụng
mô hình SWOT là một cách hiệu quả để đánh giá tiềm năng du lịch của di tích này một cách toàn diện Cụ thể, mô hình này sẽ đánh giá dựa trên những yếu tố:
- Điểm mạnh về vị trí; giá trị lịch sử và văn hóa; giá trị kiến trúc, nghệ thuật, mỹ thuật, giá trị tâm linh
- Điểm yếu về cơ sở vật chất hạ tầng và dịch vụ; nguồn nhân lực phục vụ du lịch; sản phẩm du lịch
- Cơ hội và Thách thức đối với di tích
Việc đánh giá những yếu tố trên có thể xác định và phát huy những điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, từ đó nắm bắt cơ hội phát triển du lịch cho di tích, đồng thời giữ gìn, bảo tồn di tích khỏi những nguy cơ có thể xảy ra
1.5 Kết luận chương I
Chùa Đậu là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là minh chứng cho nhân cách, đạo
lý và trí tuệ của cha ông mà không phải bất kỳ dân tộc nào cũng có được, là một di tích giàu tiềm năng du lịch nhưng lại chưa được đánh giá một cách toàn diện Vì vậy, trong chương I của đề tài, em đã tập trung làm rõ những lí luận cơ bản về du lịch bao gồm tài nguyên du lịch nhân văn, di tích lịch sử - văn hóa, và mô hình phân tích SWOT Đây là những tiền đề lí luận hết sức quan trọng để em tiến hành phân tích và đánh giá tiềm năng du lịch của di tích ở chương II, và đưa ra khuyến nghị về khai thác và bảo tồn ở chương III
Trang 30CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH DI TÍCH CHÙA ĐẬU 2.1 Điểm mạnh của di tích
2.1.1 Vị trí
Tiếp cận dễ dàng
Thường Tín là một huyện nằm ở phía Nam của thành phố Hà Nội
Thường Tín có hệ thống đường giao thông thuận lợi với hai tuyến đường bộ chạy dọc huyện là quốc lộ 1A dài 17,2 km và đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ dài 17 km đến cầu Vạn Điểm đoạn giao cắt với đường 429 (73 cũ); chạy ngang huyện là tuyến đường tỉnh lộ 427 (đường 71 cũ) từ dốc Vân La (xã Hồng Vân) qua cầu vượt Khê Hồi trên tuyến đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ đến thị trấn Thường Tín cắt với tuyến đường sắt Bắc Nam sang phía tây huyện và kết thúc ở huyện Thanh Oai Tỉnh lộ 429 (73 cũ) từ thị trấn Phú Minh(huyện Phú Xuyên) qua gầm cầu vượt Vạn Điểm đến ngã
3 Đỗ Xá giao với quốc lộ 1A cũ; tiếp theo là đoạn đường 429 từ ngã ba Tía cắt tuyến đường sắt Bắc Nam chạy vào Đồng Quan
Trên Huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua với 3 nhà ga là ga Thường Tín, ga Chợ Tía và ga Vạn Điểm (tên khác là ga Đỗ Xá)
Đến nay, các tuyến đường giao thông nông thôn cũng được nhựa hóa, bê tông hóa đến 98%, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của Nhân dân cũng như phát triển kinh
tế - xã hội địa phương
Đường thủy có sông Hồng, với cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm Qua sông đi Tứ Dân, Khoái Châu, Phố Nối và thành phố Hưng Yên [28]
Chùa Đậu thuộc làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 24km, đi theo quốc lộ 1A về phía nam Với khoảng cách không quá xa Hà Nội như vậy, đây là điều kiện thuận lợi giúp chùa Đậu trở thành một địa điểm du lịch lý tưởng thu hút khách du lịch trong nước, ngoài nước đặc biệt là khách du lịch từ Hà Nội đến tham quan vào mỗi dịp ngày lễ hoặc các ngày cuối tuần Đồng thời cũng tạo điều kiện giúp các công ty du lịch có thể đưa khách đến với chùa
dễ dàng hơn, vừa tiết kiệm thời gian vừa tiết kiệm chi phí
Ngày nay đường dẫn vào chùa đã được mở rộng thuận tiện cho du khách di chuyển bằng ô tô vào tận bãi đậu xe bên trong chùa
Trang 31Ngoài cách di chuyển bằng các phương tiện cá nhân, du khách có thể di chuyển bằng xe bus Tuyến bus số 06, 62 có điểm dừng khá gần với vị trí của chùa Đậu Thường Tín
Cụ thể, đi theo quốc lộ 1A, qua bến xe Thường Tín khoảng 2km, rẽ phải theo biển chỉ dẫn hướng đi chùa Đậu, ta có thể đến với ngôi chùa nằm yên tĩnh cổ kính nhưng vẫn gần gũi và thu hút
Tận dụng được thế mạnh về khía cạnh lịch sử và văn hóa của xã Nguyễn Trãi,
huyện Thường Tín
Vùng đất Thường Tín có từ rất sớm, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của kinh thành Thăng Long Nơi đây có một quần thể di tích lịch sử văn hóa đồ sộ với hơn 450 di tích, trong đó 110 di tích đã được xếp hạng (59 di tích cấp quốc gia, 51 di tích cấp thành phố) [1] Ðây cũng là mảnh đất sản sinh nhiều tướng lĩnh, danh nhân và nhà văn hóa lớn Năm 40, vị tướng Hùng Nguyên vùng đất An Duyên, nay thuộc xã
Tô Hiệu, đã tham gia cuộc khởi nghĩa chống quân Nam Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo Quê hương các bậc danh nhân như Nguyễn Phi Khanh, Lý Tử Tấn, các bậc chí sĩ trong phong trào yêu nước như Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến [11]
Trong đó không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi, nhân vật đã được UNESCO ghi nhận là Danh nhân văn hóa thế giới năm 1980 Ông có rất nhiều công hiển đối với lịch
sử dân tộc Việt Nam trong quá trình giữ nước, và sự phát triển của các giá trị nhân văn
về văn chương, thơ phú, những tư tưởng và quan điểm tiến bộ Lịch sử giữ nước hiển hách của dân tộc ghi nhận tài thao lược, những kế sách đánh giặc khôn ngoan của ông trong cuộc chiến chống quân Minh, lòng nhân hậu của ông đối với chính kể thù sau khi quân ta đã đoàn thắng Đó là tư tưởng vẫn còn được cả dân tộc ghi nhớ và thực hành cho đến ngày nay, tư tưởng “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân để thay cường bạo” Đây là sự kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là nội dung cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học – chính trị của ông Tư tưởng ấy có phạm vi rộng lớn, vượt ra ngoài đường lối chính trị thông thường, đạt tới mức độ khái quát, trở thành nền tảng, cơ sở của đường lối và chuẩn mực của quan hệ chính trị, là nguyên tắc trong việc quản lý, lãnh đạo quốc gia Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với tư tưởng nhân dân, tinh thần yêu nước, tư tưởng hòa bình là một đường lối chính trị, một chính sách cứu nước và dựng nước
Trang 32Về ảnh hưởng của Nho giáo với tư tưởng Nguyễn Trãi, GS.TS.Trần Đình Hượu cho rằng:
“Về hệ thống, tư tưởng nhân sinh của Nguyễn Trãi vẫn thuộc Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoáng đạt, rộng rãi, không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn, cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó” [27]
Ngày nay ở làng Nhị Khê, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín cũng có dựng đền thờ Nguyễn Trãi để tưởng nhớ danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc này
Bên cạnh danh nhân Nguyễn Trãi, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín còn là quê hương của nhà cách mạng Lương Văn Can Sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, ông là một trong những người sáng lập nên phong trào Đông kinh nghĩa thục với mục đích khai trí cho dân, mở những lớp dạy học không lấy tiền và tổ chức những cuộc diễn thuyết để trao đổi tư tưởng cùng cổ động trong dân chúng, từ
đó khơi dậy lòng yêu nước chống lại kẻ thù ngoại xâm
Thường Tín còn là vùng đất khoa bảng, trong lịch sử khoa cử Việt Nam thời phong kiến, với gần 70 người đăng khoa
Nằm cạnh hai làng thêu tay truyền thống nổi tiếng: Làng thêu Đình Tổ và
Một số nghề mới phát triển mấy chục năm trở lại đây như: Thủ công mỹ nghệ sừng Thuỵ Ứng - xã Hoà Bình; bông len ở Trát Cầu - Tiền Phong; mộc cao cấp ở Vạn Điểm; nghề trồng cây cảnh ở Hông Vân, Vân Tảo, Tự Nhiên, Thư Phú
Trong 126 làng nghề đó, hiện nay đã có 46 làng được UBND thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề truyền thống cấp thành phố như các làng thêu ở Thắng Lợi, Quất Động, làng sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái), làng tiện Nhị Khê, làng mây tre đan Ninh Sở (xã Ninh Sở), làng đá Hiền Giang (xã Hiền Giang) [28]
Trang 33Người dân Thường Tín chăm chỉ, cần cù phát triển nghề truyền thống, đẩy mạnh kinh tế địa phương Trong 46 làng nghề được công nhận, có gần 13.000 cơ sở sản xuất
và hàng trăm doanh nghiệp tư nhân sản xuất trong lĩnh vực nghề truyền thống, tạo công việc ổn định cho hơn 30.000 lao động, chủ yếu là người địa phương Năm 2017, tổng giá trị công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt gần 10.000 tỷ đồng, tăng 14% so với năm trước Phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững, huyện Thường Tín
đã có những quyết sách mang tính chiến lược trong 5 năm (giai đoạn 2016 – 2020) Theo đó, UBND huyện đã triển khai hỗ trợ kinh phí đào tạo 124 lớp khuyến công cho khoảng trên 5.000 lao động Tính riêng năm 2017, huyện đã mở 17 lớp khuyến công đào tạo ngắn hạn trong thời gian 3 tháng cho gần 1.000 lao động
(Nguồn: Báo Kinh tế và Đô thị, ngày 08/01/2019)
Đặc biệt, có làng thêu tay Đình Tổ và làng thêu tay Quất Động, mà chùa Đậu nằm ngay cạnh, chỉ cách khoảng 2 – 3km
Nghề thêu xuất hiện ở Đình Tổ đã mấy chục năm Bà truyền bí quyết cho mẹ, mẹ truyền nghề cho con gái, sự tồn tại và phát triển của làng thêu nằm trong lòng bàn tay mềm mại của những người phụ nữ Trước đây, làng chuyên thêu áo Kimono theo đơn đặt hàng của Nga và Nhật, rồi thêu khăn trải bàn, cờ lễ hội…
Mới khoảng 5 năm trở lại đây, làng gắn bó với nghề sản xuất túi xách nữ Cũng coi như tìm được một “vùng thị trường” đa dạng về nhu cầu, làng dần có thêm nghề đính cườm, đính mảnh trai, sừng, xương… để tạo nên những chiếc túi đẹp kỳ lạ, bí ẩn và rất Á Đông Cườm được nhập về từ Trung Quốc, sừng, trai, xương được người làng Nhị Khê tiện và mài thành từng mảnh chuyển sang, những bàn tay khéo léo ở Đình Tổ chỉ việc ngồi thêu, đính lên vái, lụa, rồi tạo thành chiếc túi Nhưng công việc này cũng không đơn giản Chỉ riêng công đoạn đính mảnh sừng lên mỗi chiếc túi đã mất khoảng 5-6 tiếng, còn một chiếc túi thêu bình thường cũng phải mất từ 3-5 ngày Nhìn những người phụ nữ đang ngồi kiên nhẫn và chăm chú bên khung thêu, những sợi chỉ màu ngũ sắc đan trên những ngón tay và sự say mê lóng lánh ngời lên trong mắt, mới biết đôi khi sự tồn tại của một làng nghề lâu đời không phải chỉ nằm trong hai chữ mưu sinh
Đi bộ dao quanh làng, ghé vào mỗi ngôi nhà, ta sẽ thấy khung thêu hiện diện khắp mọi nơi Nhà nào cũng đặt một, hai khung thêu, nhà nào cũng có một hai người con
Trang 34gái miệt mài theo học nghề của mẹ Chỉ một mặt hàng túi xách nữ nhưng có tới hơn
300 mẫu mã khác nhau, những hạt cườm, sợi chỉ qua tay những cô gái Đình Tổ đã tỏa
đi mọi miền đất nước, vượt biên giới đến Nhật, Mỹ, Pháp… và ngày càng được nhiều người ưa chuộng [19]
Làng nghề thêu tay Quất Động có từ rất sớm cách đây khoảng 400 năm, với những sản phẩm mỹ nghệ được cả nước biết tới và ngày nay lan toả tới nhiều nước Châu Á, Châu Âu
Từ thế kỷ XVII, Quất Động đã phát triển nghề thêu tay với những nghệ nhân có bàn tay vô cùng khéo léo, tạo nên những sản phẩm thêu rực rỡ, sinh động, Người có công truyền dạy cho dân làng nghề thêu là Bùi Công Hành, đời Lê, được dân làng tôn vinh là ông tổ nghề thêu Cụ Lê Công Hành từng được cử đi sứ Trung Quốc, học được nghề thêu rồi trở về nước Ông không những truyền nghề cho người dân trong xã Quất Động mà còn truyền nghề cho các xã lân cận như xã Thắng Lợi, xã Đông Cứu Sau này đều dựng chung đền thờ ông ở thôn Hướng Xá, gọi là đền Ngũ Xã Ông tổ nghề thêu làng Quất Động trở thành ông tổ nghề thêu của cả Việt Nam
Từ cái nôi làng nghề này, nghề thêu đã phát triển và có mặt khắp nơi trong cả nước, sản phẩm được ứng dụng rất nhiều trong đời sống, trở thành một phần trong văn hóa của người Việt
Ở Quất Động từ đó tới nay, cùng nghề nông, nghề thêu thủ công vẫn là nghề trọng yếu, cung cấp công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương Người Quất Động rất yêu nghề Những lúc nghỉ ngơi hay nông nhàn đều ngồi thêu Nhà nào cũng có khung thêu Nhiều gia đình giữ nghề tới năm, bảy đời Từ nhỏ, các bé gái đã được cha mẹ cho giữ những chiếc khung thêu hình tròn xinh xắn, cùng mấy cái đê, kim khâu, vải vụn và kéo nhỏ để tỉ mẩn học thêu Lớn lên, ít cũng được hai chục năm tuổi nghề, nhiều người trở thành thợ thêu chuyên nghiệp, nghệ nhân tầm cỡ
Xưa kia, thợ thêu Quất Động dùng chỉ mầu tự nhiên nhuộm từ củ nâu, củ nghệ, lá móng, hoa hòe, lá chàm, vỏ sò… với năm mầu chỉ cơ bản vàng, đỏ, tím, xanh, lục Tới thế kỷ 20 đã có thêm chỉ trắng của Pháp và chỉ mầu nhân tạo Trung Quốc Các công đoạn thêu sẽ bắt đầu từ vẽ mẫu, căng nền, chấm kiểu, chọn chỉ mầu rồi mới tiến hành thêu Thợ thêu Quất Động tích cực tìm tòi, học hỏi và cho ra nhiều sản phẩm mới lạ, hấp dẫn, đa dạng từ tế tự, y môn, liễn trướng, tán, lọng, hoành phi, câu đối… bày biện
Trang 35đền chùa, cho đến áo mão, cân đai, khăn chầu, trang phục tuồng chèo, chăn, mền, khăn trải bàn, tấm lót đĩa, ga trải giường, mành, lô-gô, áo phông, áo dài, đồng phục học sinh… và đặc biệt là tranh thêu Các sản phẩm này được dùng trong nhiều lĩnh vực như trang trí nội thất, làm quà tặng, phần thưởng, vật tiến cúng trong các dịp hiếu hỷ, sinh nhật, cúng lễ và các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng khác…
Ngày nay, mặt hàng mỹ nghệ thêu phát triển phong phú Trên nền vải, người thợ thêu tạo nên chim muông, hoa lá, cỏ cây… với những đường nét và màu sắc sinh động trên các sản phẩm đa dạng như áo gối, khăn bàn, áo quần, bức tranh, chân dung và nhiều sản phẩm khác theo mẫu đặt hàng của khách Nhiều nghệ nhân say mê nghiên cứu, phục dựng những trang phục của triều đình phong kiến
Thêu là nghề thủ công đòi hỏi người thợ phải có đôi bàn tay khéo léo, tài hoa, đôi mắt tinh tường cộng với bộ óc tinh tế và đức tính cần mẫn, tỉ mỉ Nhìn những nghệ nhân Quất Động làm việc, nhiều người phải thán phục: thêu là một nghệ thuật tuyệt vời Chỉ với đôi bàn tay khéo léo, những người thợ đã biến những chất liệu đơn giản thành những sản phẩm độc đáo, đẹp mắt
Ngoài sinh cơ ở xã, những người thợ Quất Động còn tới các tỉnh, thành tạo dựng nghề nghiệp và truyền nghề cho các thế hệ kế tiếp Từ thế kỷ XVIII, XIX, những người thợ Quất Động từng lập nên nghề thêu ở kinh thành Thăng Long và ngày nay nhiều thế hệ con cháu tiếp tục duy trì, phát triển nghề thêu tại Hà Nội
Chỉ với cây kim, sợi chỉ, tấm vải, với trí thông minh và bàn tay tài hoa, những người thợ thêu Quất Động đã tạo nên những sản phẩm thêu, những tác phẩm nghệ thuật kỳ diệu Các sản phẩm thêu Quất Động đã có mặt tại hơn 20 nước, đặc biệt là thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Anh, Pháp, Mĩ… [4]
Như vậy, có thể thấy, vị trí của chùa Đậu là một điểm mạnh vô cùng lớn, dễ dàng tiếp cận, lại tận dụng được những thế mạnh của vùng, điều này hoàn toàn có thể thu
hút thêm nhiều du khách đến với di tích
2.1.2 Giá trị lịch sử và văn hóa