Hình2a, 2b Về hình thức nghệ thuật của tranh khắc Nhật Bản cũng không nằm ngoài quan điểm nghệ thuật Đông phương, chủ yếu sử dụng đường nét và mảng màu đơn sắc và phẳng , nó không có kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Nghiên cứu áp dụng hình thức biểu hiện không gian đồng hiện trong tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ vào sáng tác tranh khắc gỗ hiện đại
Mã số đề tài : V2018-09
Chủ nhiệm đề tài : Ths Vương Quốc Chính
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Nghiên cứu áp dụng hình thức biểu hiện không gian đồng hiện trong tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ vào sáng tác tranh khắc gỗ hiện đại
Mã số đề tài : V2018-09
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Hà Nội, tháng năm 2018
Trang 3THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
STT Học hàm, học vị
Họ tên tác giả Vai trò Chức vụ, Cơ quan công tác
1 ThS Vương Quốc Chính
Chủ nhiệm đề tài
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
2 ThS Nguyễn Bích Liễu Thành
viên
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
3 ThS Phạm thị Hoài Nam
Chuyên viên tư vấn
Chuyên viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… 6
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 6
2 Tình hình nghiên cứu……… 6
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài……… 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 8
6 Phương pháp nghiên cứu………8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRANH KHẮC GỖ…10 1.1 Tổng quan nghiên cứu……… 10
1.1.1 Vài nét về tranh khắc gỗ trên Thế giới……… 10
1.1.2 Khái lược về tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam……… 13
1.1.3 Kĩ thuật, phương pháp, chất liệu trong tranh khắc gỗ………17
1.2 Cơ sở lý luận……….22
1.2.1.Một vài quan niệm về không gian trong nghệ thuật tạo hình 22
1.3 Tổng kết chương1……… ……….23
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN KHÔNG GIAN TRONG TRANH KHẮC GỖ DÂN GIAN ĐÔNG HỒ……….24
2.1 Giá trị nghệ thuật của tranh dân gian Đông Hồ……… 24
2.1.1 Nghệ thuật tạo hình ……… 26
2.1.2 Màu sắc………27
2.1.3 Mảng và nét……….28
2.2 Một số bố cục thường gặp và tư duy không gian trong tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ……….33
2.2.1 c c h nh tr n, h nh e-líp……….34
2.2.2 c c h nh tam giác, h nh thang……… 35
2.2.3 c c theo h nh vuông, h nh chữ nhật……….36
2.2.4 c c theo nhịp điệu h nh sin……….37
2.3 Tư duy không gian và một số biểu hiện không gian thường gặp trong tranh khắc gỗ dân gian VN……….……….39
2.3.1.Không gian đồng hiện 39
2.3.2.Hình và nền……… 40
2.3.3.Không gian tầng lớp……… 41
2.3.4.Không gian siêu thực 42
2.3.5.Không gia đa chiều 43
2.3.6.Không gian Nhịp điệu……… 43
2.3.7.Không gian Đường nét……… 44
2.3.8.Không gian chuyển động dọc……… 45
2.3.9.Không gian chuyển động ngang……… 46
2.4.Tổng kết chương II ……… ……….49
Trang 5CHƯƠNG III: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN KHÔNG GIAN TRONG
TRANH KHẮC GỖ HIỆN ĐẠI ……….……….51
3.1.Các xu hướng khắc gỗ hiện đại tính từ khi có trường Mỹ thuật Đông Dương (1925- đến nay)……….……… ….51
3.1.1 Về đề tài trong tranh……….………… … 51
3.1.2 Về vật liệu ……….………… 52
3.1.3.Các kỹ thuật khắc……….……….….53
3.1.4 Các kỹ thuật in ……… ….….…54
3.2 Mối liên hệ giữa nghệ thuật biểu hiện không gian trong mỹ thuật truyền thống với nghệ thuật tranh khắc gỗ hiện nay……… … 54
3.3 Không gian trong tranh khắc gỗ hiện đại……… ….….55
3.4.Tổng kết chương III……… ….56
CHƯƠNG IV: ỨNG DỤNG KHÔNG GIAN ĐỒNG HIỆN CỦA TRANH KHẮC GỖ DÂN GIAN ĐÔNG HỒ TRONG SÁNG TÁC TRANH KHẮC GỖ HIỆN ĐẠI……… 61
4.1 Giá trị nghệ thuật……….61
4.2 Ứng dụng trong sáng tác tranh khắc gỗ hiện đại……….………….63
4.2.1.Giải pháp 1: Hoài Niệm Hà Nội ( Không gian Đồng hiện) 4.2.2.Giải pháp 2: Em bé Hà Nội ( Không gian Đồng hiện) 4.2.3.Giải pháp 3: Tứ Trấn Thăng Long ( Không gian Đồng hiện) 4.3.Tổng kết chương IV……….…………69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….71
PHỤ LỤC ẢNH……….72
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Không gian luôn là mối quan tâm lớn của nghệ thuật trong suốt quá trình hình thành và phát triển mục đích cuối cùng của nghệ thuật là tái hiện lại không gian tự nhiên lên mặt phẳng “Không gian mà không bị ảnh hưởng bởi trang trí hoặc minh họa,trong không gian đó các đối tượng của bức tranh có thể sống" Frank Stella (1986) Nói đến nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật của không gian, trong một tác phẩm
dù là hội hoạ hay đồ hoạ nhất thiết phải có không gian Từ thuở xa xưa khi mới xuất hiện mỹ thuật trong đời sống, con người luôn có một khát khao tái hiện lại không gian lên mặt phẳng ta tạm gọi là 2 chiều qua hai trục tung và trục hoành Trước khi hội hoạ
ra đời người ta chủ yếu dùng ngôn ngữ của đồ hoạ đường nét, chấm vạch, mảng phảng, khi con người nguyên thuỷ biết vẽ đã biết tái hiện lại sự vật hiện tượng xung
quanh mình (Hình 1a,1b) Ngày nay, với con mắt của hoạ sỹ đương đại cùng với sự
tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật và với tư duy không gian đa chiều , những kiến thức cơ bản về luật xa gần phương tây, cùng với tư duy không gian cảm tính của phương Đông để phân tích về những biểu hiện của không gian trên mặt phẳng Ngoài
ra, Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hoá của cha ông, kết nối mạch nguồn dân tộc từ quá khứ đến hiện tại trong sáng tạo thiết kế, kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hoá nhân loại luôn là mối quan tâm lớn.Việc vận dụng chọn lọc yếu tố mỹ thuật truyền thống vào thiết kế đồ hoạ hiện nay một cách hợp lý, thích ứng với tiêu chí, nhiệm vụ của thiết kế, cũng như với các giá trị văn hoá, thẩm mỹ đương đại chính là góp phần thúc đẩy những giá trị truyền thống
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới có rất nhiều nền văn hoá lớn , phong phú và đa dạng , trong khuôn khổ
đề tài người viết chỉ nêu ra một vài nét đặc trưng trong một số tác phẩm của những quốc gia có nền văn hoá lâu và có sức ảnh hưởng mạnh đến thế giới Nghệ thuật tranh khắc Trung Quốc ra đời khá muộn so với phương Tây dù có một nền văn hóa nghệ thuật lâu đời và phát triển rực rỡ Năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa, chào đón những ý tưởng mới và các công nghệ mới nhất trong nghệ thuật và thiết
kế Những năm gần đây, xuất hiện hàng loạt bài viết và công trình nghiên cứu liên
Trang 7quan đến vấn đề giữ gìn bản sắc trong thiết kế đồ họa hiện đại Do đó, sẽ không ngạc nhiên khi bắt gặp rất nhiều yếu tố của nghệ thuật truyền thống trong các TKĐH hiện đại Trung Quốc với một sự nhuần nhuyễn cả về nội dung lẫn hình thức Điển hình cho
sự áp dụng thành công yếu tố văn hóa, nghệ thuật truyền thống vào thiết kế đồ họa
hiện đại là lễ khai mạc Thế vận hội mùa hè tại Bắc Kinh - 2008.( Hình2a, 2b)
Về hình thức nghệ thuật của tranh khắc Nhật Bản cũng không nằm ngoài quan điểm nghệ thuật Đông phương, chủ yếu sử dụng đường nét và mảng màu đơn sắc và phẳng , nó không có khối , sáng tối như tranh Châu Âu , chính vì vậy nghệ thuật khắc
gỗ Nhật Bản từ cuối thế kỷ XIX đầu XX được thế giới biết đến như một sự độc đáo về cách tư duy, sáng tạo trong một không gian mới lạ những nghệ sĩ phương Tây đón trào nghệ thuật khắc gỗ mầu của Nhật Bản như một tuyệt phẩm á Đông Nghệ thuật khắc gỗ Nhật Bản phát triển phản ánh phần nào sự chuyển đổi kinh tế của xã hội Nhật Bản, sự gia tăng trong ngành công nghiệp và lĩnh vực công nghệ, thậm chí là cả một
sự thay đổi trong tư duy chính trị và nhận thức xã hội Nghệ thuật đồ hoạ Nhật bản hiện đại phải kể đến một số tên tuổi như: Kazumasa Nagai (sinh năm 1929 - Osaka )
(Hình 3a)là người đoạt nhiều giải thưởng cho những áp phích tưởng tượng của ông,
tác phẩm được trưng bày tại nhiều viện bảo tàng nghệ thuật hiện đại, trong số đó là: MoMa ở New York và Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Quốc gia ở Tokyo Phong cách Kazumasa phát triển từ trừu tượng thành các dạng hữu cơ, với động vật và thực vật đã trở thành một chủ đề thường xuyên Ông đã kết hợp nhuần nhuyễn các kỹ thuật đồ họa truyền thống trình bày trên áp phích thường có ý nghĩa biểu tượng và tham khảo các truyền thống của nghệ thuật Nhật Bản Kasumasa Nagai sử dụng một ngữ pháp hình ảnh đơn giản và thẳng thắn về phía trước, làm cho động vật của mình với các hình thức nguyên thủy với màu sắc rực rỡ và một số tên tuổi lớn như: Keiichi Tanaami, 1936, Shujiro Shimomura, Ikko Tanaka(1930 – 2002) v.v…( Hình3b, 3c, 3d)
Ở Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu viết về tranh dân gian như Nguyễn Thái Lai – Làng tranh Đông Hồ, NXB Mỹ thuật – 2002 Viết về làng tranh Đông Hồ tác giả có đề cấp đến lịch sử tranh Đông Hồ, các thể loại tranh và phân tích nội dung tranh Còn tác giải: Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh, Nguyễn Thái Lai Lược sử mỹ thuật học, NXB Giáo Dục – 1998 lại viết về tranh dân gian một cách khái lược, tổng hợp và có so sánh những đặc điểm cơ bản của từng dòng tranh Còn nhiều tác giả nữa
Trang 8nghiên cứu về tranh dân gian Việt Nam Tất cả những nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tư liệu quý cho tôi thực hiện nghiên cứu về không gian trong tranh khắc gỗ Đông Hồ
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Làm rõ một số vấn đề về tư duy, quan niệm không gian trong nghệ thuật dân gian qua một giai đoạn lịch sử của dân tộc ( thế kỷ XIII – XIX), khẳng định thêm những giá trị nghệ thuật cũng như giá trị lịch sử trong các tác phẩm mỹ thuật được hình thành từ dân gian, tiếp thu những thành tựu nghệ thuật của cha ông, kết hợp với hệ thống kiến thức xã hội đương đại, đúc rút thành những quan niệm sáng tác cho bản thân
Gợi ý một số giải pháp vận dụng sáng tạo yếu tố mỹ thuật truyền thống vào sáng tác tranh khắc gỗ hiện đại
Chọn lọc một số hình thức biểu hiện không gian ứng dụng vào sáng tác tranh khắc hiện nay Đáp ứng với tiêu chí, nhiệm vụ của giảng dạy,cũng trong sáng tác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Không gian trong tranh dân gian Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tranh dân gian Việt Nam : Tranh dân gian Đông Hồ, tranh dân gian Hàng Trống
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhận diện và phân tích thực trang việc dạy học một số môn Đồ án chuyên ngành tại Khoa Tạo dáng công nghiệp – Đại học Mở Hà Nội
Định hướng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học Tranh khắc gỗ
6 Phương pháp nghiên cứu
Sưu tầm , phân tích, đánh giá một số tác phẩm tiêu biểu bao gồm cả nghệ thuật đồ hoạ giá vẽ, đồ hoạ ứng dụng tiêu biểu trong một số trào lưu, xu hướng sáng tác của Thế giới và Việt Nam Dựa vào một số những nhận định tổng kết từ một số nhà nghiên cứu mỹ thuật, các hệ thống kiến thức liên ngành như lịch sử, triết học, mỹ học làm cơ sở lý luận và tư tưởng thiết kế , Từ đó rút ra hệ thống lý luận ứng dụng vào giảng dạy tại và làm kim chỉ nam cho sáng tác của bản thân Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành TKĐH
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRANH KHẮC GỖ
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Vài nét về tranh khắc gỗ trên Thế giới
Cho đến thời kỳ phục hưng của phương Tây lấy khoa học tự nhiên để chỉnh lí mỹ thuật mà sản sinh ra phép thấu thị đồng thời cộng với việc phát minh ra phương tiện thể hiện hội hoạ mới là sơn dầu nó đã đóng góp rất lớn cho nền mỹ thuật phương Tây Quan niệm tái hiện không gian tự nhiên bằng phương pháp thấu thị với tuyên ngôn là phục chế thiên nhiên lên mặt tranh được lấy làm thước đo đánh giá tác phẩm, thiên
nhiên ấy hiển thị trong tranh phải giống hay gần giống
Không gian thấu thị do Leonardo da Vince phát hiện ra , Nó là tiền đề và kim chỉ nam cho nghệ thuật biểu hiện không gian trong nghệ thuật Châu Âu kể từ nghệ thuật phục hưng, hình thức không gian này dựa trên những ảo giác gây ra về mắt trong không gian như ánh sáng bóng tối và biểu hiện ở hình thể như gần to xa nhỏ điểm tụ
đường chân trời v, v Trong bức tranh “ Bữa ăn tối cuối cùng” (Hình 4) có thể được xem như đỉnh cao về khoa học của nghệ thuật, trong tranh ánh sáng và các đường thấu thị đã diễn tả hết sức tài tình không khí của một bữa tiệc dự cảm về một tương lai xấu của Chúa mọi luồng ánh sáng, điểm tụ đều hút mắt người xem vào vị trí của chúa ở giữa tranh, một dẫn trứng khác về sự biểu hiên chiều sâu trong tranh của ông la bức
“Nàng Mona lisa” phần phía sau hậu cảnh được tác giả thể hiện theo chủ quan của mình tôn thêm vẻ đẹp huyền bí nhưng cũng rất chân thực vẻ đẹp của bức chân dung là mmột vẻ đẹp vĩnh cửu, nó biểu hiện cho chuẩn mực cái đẹp trông hội hoạ phương Tây
cổ điển
Sau thời kì Phục Hưng ở Châu Âu nhu cầu tinh thần của con người, cùng với những thay đổi về nhân sinh quan, thế giới quan, thúc đẩy người hoạ sĩ đương đại tìm kiếm nhiều hình thái biểu đạt không gian mới Có thể nói các hình thức biểu đạt không gian đã được làm giàu thêm với sự phong phú và đa dạng đã làm nức lòng công chúng thưởng ngoạn, và nhận được nhiều sự đồng cảm Gian đoạn hiện đại và hậu hiện đại hình thức biểu đạt không gian trong tranh đã có những chuyển biến rõ rệt
từ tư duy không gian thấu thị 3 chiều nó đã biến chuyên sang dạng không gian được cấu trúc bằng các ngôn ngữ tạo hình cơ bản hình, nét, màu sắc Cùng với sự tiến bộ về
Trang 10khoa học trong hội hoạ các nghệ sĩ hiện đại phương Tây đã đưa được yếu tố ánh sáng vào tranh, ánh sáng giúp ta phân biệt được vật này với vật kia, phân biệt giữa hình với nền Bên cạnh đó những nghiên cứu về quy luật về ánh sáng , màu sắc và sự phong phú của các chất liệu màu dầu, trường phái Ấn tượng ra đời đã mang đến cho nền hội hoạ phương Tây một dạng không gian gọi là không gian màu sắc theo nguyên tắc gần nóng xa lạnh, gần rực rỡ xa lạnh mờ v.v
Quá trình hình thành và phát triển của mỗi dòng tranh luôn tồn tại bản chất đặc trưng văn hoá, tâm linh của cộng đồng người Tính triết lí, tư duy sáng tạo trong tranh thể hiện âm hưởng của cuộc sống và ý thức hệ của từng cộng đồng người cụ thể Đời sống tự nhiên luôn là mạch nguồn định hình tư duy sáng tạo của người dân
trong quá trình lao động bởi lẽ “con người có sức mạnh tư duy, sáng tạo trên mọi lĩnh
vực cuộc s ng của con người và mọi hoạt động của con người” Để khẳng định quan
điểm này, cần lướt qua hai nền nghệ thuật chủ chốt, Trung Hoa và Nhật Bản Chúng cũng mang những đặc thù phương Đông nhưng đang ở trên hai chặng đường rất khác nhau Nghệ thuật Nhật Bản có sự gắn bó mật thiết với nghệ thuật phương Tây và cùng đang chia sẻ một số điểm dừng bi kịch Trong khi đó, nghệ thuật Trung Hoa cựng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ phương Tây, cũng gặp phải những bế tắc thời cuộc to lớn, nhưng lại rất có thể sẽ bứt phá để mở ra một cánh cửa hoàn toàn mới
- Nhật Bản
Nhật Bản có một nền nghệ thuật chưa phải lâu đời nhưng nó đã có những đóng góp đáng kể cho nền mỹ thuật thế giới Ngoại trừ trong văn học ra, khái niệm nghệ thuật hàn lâm chỉ mới được du nhập vào đất nước này từ người phương Tây vài thế kỷ gần đây,xã hội phong kiến Nhật Bản đã thực hiện chính sách bế quan quả cảng suốt một thời gian dài cơ hội giao lưu về kinh tế, văn hoá gần như không có chỉ đến khoảng thế kỷ XVII chính sách này mới được gỡ bỏ vì thế mà mỹ thuật Nhật Bản trước thời kỳ trào lưu Ukyoe ( hay gọi là Kiếp phù sinh) chủ yếu là trang trí thuần tuý chưa hề có dấu ấn của hội hoạ đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật khắc gỗ Nhật Bản nhờ có sự thông thương, giao lưu với bên ngoài và đặc biệt là các tàu buôn phương Tây ra vào đã mang đến nước Nhật các tác phẩm của nghệ thuật phương Tây lối nhìn không gian theo kiểu thấu thị đã gây sửng sốt cho các nghệ sỹ Nhật họ nhanh chóng học tập nhưng Người Nhật đã biến những kiến thức du nhập từ bên ngoài đó vào thành một kiểu biểu đạt không gian rất đặc trưng Nhật Bản Từ đó,
Trang 11nó sinh sôi phát triển trên nền tảng một nền tạp kỹ khéo léo với những người thợ thủ công lành nghề, một mặt họ học tập nghiêm túc những kiến thức từ nền hội hoạ phương Tây, làm chủ hoàn toàn chất liệu, mặt khác họ lại sáng tạo đơn thuần dựa trên bản năng vốn có, với tư duy hoàn toàn tự do cởi mở, những điều ấy đóng góp tích cực vào sự phát triển của nghệ thuật Nhật Bản Trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, như chúng ta biết, tranh khắc gỗ Nhật từng gây ảnh hưởng sâu sắc tới các nghệ sĩ Ấn Tượng Châu Âu
Trong khuôn khổ nghiên cứu chỉ xin được dẫn chứng một vài tác giả , tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật biểu hiện không gian trong tranh khắc gỗ màu Nhật Bản đỉnh cao của nó là thời kì Ukioye mà các nhà hoạ sĩ cung đình coi nó là trường thô tục, trong nhà của các quý tộc Nhật không bao giờ treo tranh của các hoạ sĩ trường phái này Đề tài trong tranh khắc gỗ màu Nhật chủ yếu là miêu tả cuộc sống của người lao động Nhật Bản, nhật vật chính trong tranh chủ yếu là những tầng lớp người bị cho là thấp kém trong xã hội, như những cô kỹ nữ lầu xanh trong tranh của Utamaro, hay những người lao động nghèo khổ trong tranh của Hiroshighe, Hokusai tuy bị tẩy chay trong một nhóm người có địa vị trong xã hội phong kiến, nhưng sức sống của tranh khắc gỗ mầu Nhật vô cùng mãnh liệt càng sống, nó càng đi sâu vào đời sống thẩm mỹ xã hội Nhật , và trở thành biểu tượng văn hoá Nhật , thậm trí nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến con đường phát triển của nghệ thuật thế giới trong tranh của các hoạ sỹ thời kỳ hiện đại và hậu hiên đại Châu âu như Vincent Vagoh, Henri Matise, Gustave Klim, v.v ta đều thấy vết tích , dấu ấn của nghệ thuật Nhật bản Khi nói đến tranh khắc Nhật bản không thể không nhắc đến bộ 36 kiểu núi Phú Sĩ của Hokusai cansuxica Trong những tác phẩm của ông , hình ảnh ngọn núi Phú Sĩ luôn hiện ra hùng vĩ và hoành tráng, những tác phẩm của ông khiến người ta không khỏi kinh ngạc về sự khai thác rất nhiều cái nhìn khác nhau về một đối tượng sự vật lối bố cục sâu sắc phong phú trong cảm thụ nghệ thuật Tác phẩm của ông là những bài ngợi ca vẻ đẹp tự nhiên , tinh thần của con người đất nước Nhật Bản Không gian trong tranh ông không sử dụng triệt để không gian thấu thị mà chỉ biểu hiện biến thể của quy luật đó Ở đây , cảnh vật được thể hiện một cách kỹ lưỡng, còn nhân vật lại được thể hiện theo lối chấm phá tạo nên hình thế tương phản mạnh mẽ Trong lối vẽ phong cảnh của phương Đông người ta thường đặt tầm mắt cao hơn để nhìn xa thấy rộng thì trái lại ông đặt tầm mắt dưới thấp để thấy núi Phú Sĩ hùng vĩ, uy nghiêm kết hợp với sóng nước, mây trời ,
Trang 12hoạt động của con người đã làm nên một hình tượng đậm chất Nhật Bản, có thể coi các tác phẩm khắc gỗ mầu Nhật là bài ca thiêng liêng ngợi ca tinh thần của con người Nhật Trong thập kỷ sau khi Hiroshige mất (1858), nghệ thuật của thời kì Ukiyoe trải qua một sự chuyển biến mạnh mẽ khi đất nước Nhật Bản đã bước vào con đường hiện đại hoá theo chủ nghĩa phương Tây, cũng giống như nhiều yếu tố khác của văn hoá
Nhật, Ukiyoe cũng bị ảnh hưởng nhiều báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới.( Hình
Về mặt không gian cần phải “ở gần nhìn như thế, ở xa vài dặm thấy như thế, ở xa vài chục dặm thấy như thế, mỗi xa mỗi khác, đó là hình núi từng bước di chuyển vậy Thông qua nhiều góc độ, nhìn ngắm nhiều phương vị mới có thể toàn diện nắm vững tinh thần và hình trạng của đối tượng Về mặt thời gian: xuân, hạ, thu, đông; sáng, chiều, u ám, tạnh trong cũng cần ở nhiều góc độ, nhiều phương vị quan sát, nhìn ngắm và từ trong quan sát dung nhập vào tình cảm của họa gia, làm cho vật và ta đạt đến hòa đồng làm một1
Về phương pháp sáng tác cụ thể, Quách Hi đưa ra luận chứng tường tận trong mối quan hệ hữu cơ giữa núi, sông, cây cối Đặc biệt, ông cũng đã đề cập đến yếu tố bố cục trong tranh, với quan điểm “Tam viễn” Đó là: Từ dưới núi nhìn lên đỉnh núi gọi
là Cao viễn Từ trước núi nhìn ra sau núi gọi là Thâm viễn Từ núi gần nhìn đến núi
xa gọi là Bình viễn Trong đó, màu sắc cao viễn trong sáng rõ ràng, màu sắc thâm viễn tối mờ ảo, màu sắc bình viễn có sáng có tối Thế của cao viễn đột ngột, ý của thâm viễn trùng điệp, ý của bình viễn thấp thoáng mờ mờ
1.1.2 Khái lược về tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam
1 Nguyễn Tôn Nhan (2002), Bách khoa thư Văn hóa cổ điển Trung Quốc, Nxb Văn hóa – Thông tin, tr 1032 -
Trang 13Tranh khắc gỗ Việt Nam đến nay chưa có một tài liệu chính xác và rõ ràng về thời gian tranh in khắc gỗ xuất hiện ở Việt Nam Nhưng thông qua nhiều tài liệu có thể thấy kỹ thuật in khắc gỗ thời kỳ đầu xuất hiện vẫn không nằm ngoài phục vụ tôn giáo Phật giáo phát triển cực thịnh vào thời Lý và tiếp theo là thời Trần vì vậy có rất nhiều sách kinh được ấn loát
Sử sách từng cho biết vào thời Lý (1009 – 1225) dân ta đã có nghề khắc ván in kinh Phật, rất có thể người ta còn khắc cả các hình minh họa kèm theo trên ván nữa… Năm 1396, Hồ Quý Ly cho phát hành loại tiền giấy Thông bảo hội sao mà chắc chắn phải dùng các ván gỗ để khắc và in cả chữ lẫn hình trang trí (chỉ tiếc ngày nay ta không thể biết hình ảnh của loại tiền giấy này ra sao) Cuộc xâm lược của giặc Minh (1407- 1427) đã tàn phá đất nước ta, một số ngành nghề bị tuyệt diệt, sau đó dân ta lại phải tìm cách học lại Sang các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, khi nghệ thuật dân gian Việt Nam vươn tới đỉnh cao thì cũng là lúc các dòng tranh khắc gỗ dân gian ra đời như Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng… Dù chưa tìm được bằng chứng về văn bản hay ván khắc nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng có thể dòng tranh Đông Hồ ra đời sớm nhất, khoảng thế kỷ XVI- XVII
Sau đó 2 dòng tranh Hàng Trống và Kim Hoàng có khả năng ra đời khoảng thế kỷ XVIII Ở Huế có dòng tranh Làng Sình được đoán định ra đời khoảng đầu thế kỷ XIX Dòng tranh khắc in Đồ thế ở Nam Bộ có lẽ ra đời muộn hơn, khoảng cuối thế kỷ XIX Ít được nghiên cứu nhất là dòng Tranh thờ miền núi Việt Bắc của thày cúng các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Giáy, Sán Dìu… với các tranh vẽ tay xen lẫn tranh khắc in nhưng đại thể dòng tranh này cũng phải xuất hiện chậm nhất vào thời Lê-Trịnh (thế kỷ XVII- XVIII) Dù không được coi như một dòng tranh dân gian nhưng loại tranh khắc in gọi là Thập vật trong kho của các chùa Việt cũng rất hấp dẫn, có khả năng ra đời từ thời Lê- Trịnh (thế kỷ XVII- XVIII) Ngành in ở Việt Nam hình thành và phát triển khá muộn hơn so với thế giới Thời nhà Lý, nhà sư Tín Học là người đã in các loại sách cho các chùa chiền bằng nghề in khắc gỗ” Không có một tài liệu chính xác và rõ ràng về thời gian tranh in khắc gỗ xuất hiện ở Việt Nam Nhưng thông qua nhiều tài liệu có thể thấy kỹ thuật in khắc gỗ thời kỳ đầu xuất hiện vẫn không nằm ngoài phục vụ tôn giáo Phật giáo phát triển cực thịnh vào thời Lý và tiếp theo là thời Trần vì vậy có rất nhiều sách kinh được ấn loát Trong khi khắc kinh Đại Tạng, các tác phẩm Thiền lâm “Thuyết Chủy ngữ lục”, “Trúc lâm hậu lục”, Đại
Trang 14hương hải ấn thi tập”, “Thạch thất mị ngữ”, và “Tăng Già toái sự” của Trần Nhân Tông, và có thể “Khóa hư lục”, “Thiền tông chỉ nam”, “Kim cương Tam muội kinh”,
“Lục thì sám hối khóa nghi” của Trần Thái Tông, “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ lục” của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng được san khắc… Năm 1332 thì Pháp Loa cho in khắc
bộ giới “Tứ phần luật” 5.000 cuốn phát cho tăng chúng và trong khoảng thời gian nào
đó là cuốn “Tam tổ thực lục” Như vậy sự thịnh đạt của Phật giáo, nghề in khắc thời Trần được hình dung rất phát đạt… Năm 1396 Hồ Quý Ly cải cách tiền tệ cho phát hành tiền giấy, loại tiền này có tên “thông bảo hội sao” Tiền in hình rồng, lân, rùa, chim, phượng, sóng nước, rong, cho thấy kỹ thuật in ấn đã đạt trình độ cao Khi nhà
Hồ sụp đổ, dưới sự thống trị của nhà Minh văn hóa của người Việt hầu như bị hủy diệt Năm Thái Hòa thứ nhất (1443), đời vua Lê Nhân Tông có ông Lương Như Học (Bách khoa toàn thư Việt Nam gọi là Lương Nhữ Hộc) khi đang là Ngự tiền học sinh cục trưởng ông được cử đi sứ sang nhà Minh lần đầu tiên Năm Thiên Hưng thứ nhất (1459) ông được cử sang nhà Minh lần hai Nhờ hai lần đi sứ sang Trung Quốc, ông học được nghề in mộc bản ở đây Khi về nước, ông đã truyền nghề cho hai làng Liễu Chàng, Hồng Lục ở Hải Dương Từ đầu thế kỷ thứ XV đến thế kỷ XIX Liễu Chàng là nghề khắc ván duy nhất và là trung tâm in sách, in tranh đồ họa cho cả nước Vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) dưới triều Lê, thợ Hồng Lục, Liễu Chàng đã khắc ván in bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bộ lịch sử quan trọng bậc nhất nước ta Các nghệ nhân ở đây không chỉ khắc chữ mà còn khắc tranh, trong đó có Bộ Đại bách khoa toàn thư bằng tranh do Henri Oger tổ chức thực hiện vào đầu thế kỷ thứ XX Nghề in mộc bản chuyển dần sang khắc dấu đồng, dấu gỗ Nhưng lịch sử đất nước ghi nhận công lao to lớn của những người thợ khắc ván in Liễu Chàng, Hồng Lục trong sự nghiệp phát triển văn hóa của dân tộc Việt Nam với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nhân hoá các hiện tượng thiên nhiên thành các vị thần nên dòng tranh thờ, tranh Tết ra đời phục vụ đời sống tinh thần cho người dân thời bấy giờ Bia đình làng Đông Hồ có tên là
“Đông Hồ tự bi” năm 1680, với hình khắc đôi chuột giã gạo, rất giống hình trong tranh “Đám cưới chuột”, gia phả dòng họ Nguyên Đăng ở Đông Hồ đã ghi được chừng 300 năm, phần nào khẳng định cái nguồn gốc trước thế kỷ XVII của Đông Hồ Tranh dân gian phát triển hưng thịnh, kéo dài từ thế kỷ XVII đến nửa thế kỷ XIX trải dài khắp cả nước Dựa theo phong cách nghệ thuật, kỹ thuật in và nguyên vật liệu làm
Trang 15tranh, có thể quy về một số dòng tranh gọi theo tên những địa danh sản xuất Ở Việt Nam có thể chia ra mấy dòng tranh khắc gỗ như sau:
- Dòng in khắc Phật giáo, từ thế kỷ XI – XIX
- Dòng in khắc tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) phát triển từ thế kỷ XVI
- Dòng in khắc tranh dân gian Hàng Trống (Hà Nội) ra đời từ thế kỷ XVII Tranh minh họa kinh Phật đương nhiên có nội dung Phật giáo với những hình ảnh Phật, hoa sen hay các linh thú của tôn giáo này như sư tử, voi… chủ yếu in kèm kinh sách
Tranh Thập vật được sử dụng trong các hoạt động nghi lễ cộng đồng như: Lễ cấp sắc, phong sắc, lễ tang…
Tranh Thập vật thể hiện các linh vật với yên cương, bành hay mã phu, quản tượng để sẵn sàng cho người cưỡi dạo chơi ở thế giới bên kia Vì dùng để cầu khấn rồi đốt cho người cõi âm nên các hình ngựa, voi, sư tử, rồng, phượng, rùa, lân, hạc, xâu tiền, xe, kiệu, hành lý và tư trang, hình nhân thế mạng, lọng, phướn… được tạo hình cô đọng, chỉ khắc in bản nét đen Tranh Đồ thế Nam Bộ cũng dùng để đốt cho người cõi âm như tranh Thập vật…
Tranh thờ là sản phẩm của tất cả các dòng tranh dân gian như Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng, Vũ Di, Làng Sình, tranh thờ miền núi Việt Bắc… Loại tranh này mang dấu ấn của các tôn giáo Phật, Lão, Nho, đạo Mẫu… Trong tranh thờ có các hình tượng thần, thánh, Phật, tiên, Ngọc Hoàng, Thập điện Diêm vương, Mẫu, tổ sư, điện thờ, bài vị, hương án, ngũ hổ, tứ linh (long, ly, quy, phượng)…
Tranh chúc tụng thể hiện ước nguyện của dân gian nên có các nội dung Phúc- Lộc- Thọ- Khang- Ninh với các đại tự Hán- Nôm được nghệ thuật hóa hay hình tượng
3 vị Tam đa, 2 vị Tiến tài- Tiến lộc Đó cũng là các hình tượng thể hiện sự An lành (tranh Gà đại cát, Trâu- sen), No đủ (các tranh gà- lợn có xoáy âm dương), Vinh hoa- Phú quý (tranh Bé ôm gà- ôm vịt), sinh sôi nảy nở Gia đình hạnh phúc (tranh Gà đàn, Lợn đàn, Thất đồng, Tử tôn vạn đại)…Tranh cảnh vật thường là tranh bộ 4 tấm Tứ quý mô tả cô đọng 4 mùa xuân, hạ, thu, đông với hoa đào, mai, sen, cúc, các loại cây trúc, thông, các loại chim- thú như công, phượng, gà, trĩ, vịt, ngựa, hươu,tranh sinh hoạt xã hội có lẽ là loại tranh phong phú nhất với các trò vui và đề cao công việc thường ngày: Đấu vật, Chọi gà, Chọi trâu, Kéo co, Đánh đu, Bắt trạch trong chum,
Trang 16Hứng dừa, Bịt mắt bắt dê, Múa sư tử, Rước rồng, Rước trống, Chợ quê, Bản đồ canh nông.v.v…
Tranh truyện thường có khổ lớn, ở dạng tứ bình, thể hiện tóm tắt và chọn lọc các tích truyện cổ như Kiều, Thạch Sanh, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Bích Câu kỳ ngộ, Trê Cóc, Tam Quốc, Nhị thập tứ hiếu… đề cao đạo lý con người và thuyết nhân quả Tranh châm biếm đả kích nhằm vào các hủ tục xã hội hay những cảnh chớ trêu về thuần phong như Đánh ghen, Thầy đồ cóc, Đám cưới chuột, các bộ đôi tranh “Văn minh tiến bộ- toa tăng xương – Phong tục cải lương- moa tăng phú” và “Cóc Tây múa
kỳ lân – Chuột Tàu rước rồng vàng”…
Đặc biệt các Tranh lịch sử đề cao các anh hùng dân tộc và chắc chắn thuần Việt như Phù Đổng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…
Tranh dân gian hiện đại (kể từ 1945 đến nay) mang các nội dung tuyên truyền cổ động thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca ngợi hòa bình, cổ vũ lao động sản xuất tập thể… bắt đầu có tác giả (dù vẫn là nghệ nhân dân gian)
Tranh khắc gỗ hiện đại có cách nhìn khoa học ảnh hưởng phương Tây và thường thể hiện trực tiếp nội dung thời sự nửa cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI về chiến tranh, hòa bình, lao động sản xuất, hội họp, vui chơi… Đồng thời, do ảnh hưởng phương Tây và hiện thực hóa mà tranh khắc gỗ hiện đại còn thể hiện cả phong cảnh, tĩnh vật, tình yêu nam nữ… Đáng chú ý là dù hiện đại hóa và ảnh hưởng phương Tây nhiều nhưng tranh khắc gỗ hiện đại Việt Nam vẫn rất rõ tính dân tộc từ nội dung đến hình thức Các tác giả đều thể hiện cá tính rõ nét
Ngoài 3 loại tranh Lịch sử, Dân gian hiện đại, Khắc gỗ hiện đại cơ bản thuần Việt, còn có thể kể thêm các tranh: Hứng dừa, Đánh ghen, Chọi trâu, Bắt trạch trong chum, Chợ quê, Bản đồ canh nông…
1.1.3 Kĩ thuật, phương pháp, chất liệu trong tranh khắc gỗ
Chất liệu trong tranh
Gỗ khắc thường là các loại gỗ mực, thị, mít, vàng tâm, mỡ, giổi Gỗ thị cứng
mà dẻo, thường để khắc bản nét cho tinh vi, bền, lâu mòn Có bản khắc gỗ thị dùng được 150 năm, truyền từ đời ông đến đời cháu, chắt Gỗ mực (thừng mực, lòng mức) nhẹ, coi như không rõ thớ, mềm, dễ khắc nhưng cũng chóng mòn, dễ mục nên thường
để khắc bản mảng Gỗ mít cũng dễ khắc nhưng hay có mắt gỗ, khó mềm đều nên
Trang 17thường khắc bản mảng Gỗ vàng tâm có độ chắc trung gian giữa thị và mực, mít, thường làm hoành phi, câu đối nên có thể để khắc cả bản mảng lẫn bản nét
Khuôn in và bản in lên giấy
Sang thế kỷ XX xuất hiện một số vật liệu mới có thể thay cho gỗ khắc như: thạch cao, cao su tấm, bìa ép MDF, thậm chí có người còn khắc lên đất sét Riêng bìa
ép MDF ngày càng phổ biến vì rộng bản tối đa mà không phải ghép (1m22 x 2m44), mặt siêu phẳng (vì là sản phẩm công nghiệp), không có thớ, lại mềm nên rất dễ khắc, nếu khắc hỏng thì dễ dán, vá lại Hiện giờ, khoảng 80% họa sĩ tranh khắc VN đã khắc lên ván MDF Thạch cao dễ khắc nhưng cũng dễ sứt, vỡ Cao su tấm khắc được nhưng khó kiếm Khắc đất sét là sở thích riêng của họa sĩ Tấn Cứ, làm khi đất ướt nên nét và mảng rất uyển chuyển…
Giấy để in tranh phổ biến nhất là giấy dó, giấy bản do các làng nghề truyền thống như Bưởi, Đống Cao… sản xuất Giấy dó làm từ vỏ cây dó nên dai mà dịu Sang đầu
TK XXI nguồn cây dó sa sút và hiếm dần nên đang có xu hướng thay bằng bột vỏ cây dướng hoặc cây tre (trúc chỉ) Riêng làng tranh Đông Hồ còn phát minh ra loại giấy điệp bằng cách quét bột nghiền từ vỏ sò điệp trộn hồ nếp lên giấy dó, tạo ra nền tranh
có thớ lấp lánh và nếu được quét màu (đỏ, vàng, cam, cánh sen, xanh …) thì rất rực
rỡ Trước kia có lúc các dòng tranh Hàng Trống, Kim Hoàng nhập giấy từ TQ nay các loại giấy này ta sản xuất được Với loại tranh khắc bỏ nét, để lại mảng thì người ta in lên giấy mã quét màu đen Với cách in màu sơn dầu (ở tp HCM hiện nay) thì người ta dùng giấy croquis dày và xốp Đôi khi có người in tranh lên giấy báo, giấy Việt Trì nhưng khó đẹp bằng giấy dó
Các loại đ c làm khuôn in khắc gỗ
Đục dùng khắc tranh dân gian xưa là các mũi thép (không có cán) gọi là ve, có
4 kiểu chính: Móng có lưỡi cong lòng máng rõ rệt, Thoảng có lưỡi chỉ hơi cong lòng máng, Thẳng có lưỡi phẳng, Dãy nền có lưỡi lòng máng nhưng thân ve cong để dễ đào, dũi sâu xuống gỗ Để cho nét khắc tinh vi, người ta dùng thêm dao trổ có đầu vát nhọn và mài sắc Thời hiện đại có bộ dao đục có cán với 4 kiểu chính: Chữ V để khắc các nét nhỏ, mảnh, nét, Lòng máng gần giống đục móng nhưng nhỏ hơn và nhiều cỡ hơn, Lòng máng chữ U để khi khắc có thể lượn dễ hơn, Dao trổ có cán để tỉa cho sắc nét, màu và mực in, Hàng Trống, Làng Sình in nét đen mực nho rồi dùng phẩm để tô tay vờn màu (tiếng chuyên môn gọi là cản màu).Đông Hồ dùng màu dân gian tự chế
Trang 18gọi là thuốc cái, gồm: Đen từ than rơm nếp hay than lá tre, ngâm nước ủ kỹ cho đen quánh Trắng điệp do làng Đạo Tú (sát làng Hồ) sản xuất bằng cách nghiền từ các cồn
sò điệp cổ đại nên trắng lấp lánh Vàng từ hoa hòe hay hạt dành dành, sao và sắc kiểu thuốc Bắc Đỏ vang nấu từ gỗ cây vang trên rừng Đỏ son lấy từ đá ong non, lọc và giã, nghiền mịn Xanh chàm từ lá chàm miền núi Tím lấy từ mực tím Xanh cổ vịt lấy
Đục Khuôn Tranh: Với tranh khắc gỗ hiện đại, người ta xúc trực tiếp bằng tay phải cầm cán đục, xúc, xỉa, lượn, lắc… để vừa có thể đục bỏ vừa tạo chất hay để lại cảm xúc qua vết khắc “Đao pháp” kiểu hiện đại này có thể tạo ra bản khắc đầy cảm hứng phóng khoáng
Các kỹ thuật in: Tranh Đông Hồ in tất cả các bản màu và nét (tối đa đến 5 bản phải in vì mỗi màu 1 bản khắc để không lẫn các màu với nhau) Dòng tranh này in ván sấp: lắp quai kiểu quai va li (gọi là tay cò) vào sau ván khắc rồi cầm dập xuống cái bìa (gồm một khung gỗ bọc vải, độn bòng bong, lá chuối khô) đã quét đẫm màu Sau khi mặt có nét khắc đã thấm đủ màu thì ấn ván khắc xuống tập giấy in như kiểu in con dấu rồi lật ngửa ván có dính theo tờ giấy lên Xoa đều xơ mướp vào mặt sau tờ giấy cho màu in rõ lên giấy Cuối cùng bóc tờ điệp ra, phơi khô Để lấy may, bao giờ
Trang 19người Đông Hồ cũng in màu đỏ trước tiên và nét sau cùng Mỗi lần in chỉ được 1 màu
và cả nhà có thể in theo dây chuyền cho đến khi ra thành phẩm Để khớp các bản màu
và nét, người ta căn các điểm cữ với dấu đầu tăm ở tất cả các lần in sao cho khỏi chệch Nền điệp của Đông Hồ là thuần Việt bởi các dòng tranh dân gian TQ không có nền này
Tranh Hàng Trống và Làng Sình chỉ khắc và in mỗi tranh 1 bản nét đen, khi in ngửa ván, phết mực rồi trải tờ giấy lên trên, sau đó bóc giấy ra, tô tay (cản màu) bằng phẩm màu (đun nóng để màu bền, khỏi bay) Tranh thờ miền núi cũng in như vậy, chỉ
có khác là màu tô có khi dùng các màu lấy từ thiên nhiên
Tranh Kim Hoàng cũng chỉ có 1 bản khắc in nét đen nên in làm 2 lần: lần đầu in nhá để lấy cữ tô màu bằng bút, tạo các mảng màu khá ngẫu hứng, sau đó mới in lại bản nét cho thật rõ lên trên Nền tranh Kim Hoàng bao giờ cũng phết sẵn màu đỏ nên gọi là dòng tranh Đỏ
Sự khác nhau giữa tranh khắc gỗ Việt Nam và tranh khắc gỗ trong khu vực và
trên thế giới :
Nghệ thuật là một hiện tượng lịch sử cụ thể tác phẩm nghệ thuật phải quan tâm đến những vấn đề đang xảy ra trong xã hội đó Việc quan tâm đến tính dân tộc không phải chỉ là hình thức mà toàn bộ cuộc sống của một dân tộc nhất định được quan niệm
là nội dung
Không gian trong tranh phương Đông thường biến hóa cách điệu có khi vượt ra ngoài cái hữu hình cụ thể để vươn tới cái không cụ thể siêu việt Bằng những ý niệm, tâm lý, tư duy sáng tạo hình tượng nghệ thuật nhằm giải quyết, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa các mặt đối lập âm dương – trời đất, núi sông, hư – thực, nóng - lạnh Trong bố cục các không gian tạo hình, các họa sỹ Trung Quốc tạo nên sự độc đáo nổi bật ở nền nghệ thuật của mình „nét‟ vẽ phụ thuộc vào từng đối tượng diễn tả từng cảm xúc nghệ thuật do đó nét biến hóa khôn cùng, mỗi nét vẽ là một sự vận động của tâm hồn và bàn tay họa sĩ Thiên nhiên hùng vĩ hay con người trầm tư được thể hiện trên mặt tranh bằng những đường nét mang phong cách khác bộc lộ một cách nhìn một quan niệm khác nhau, điều đó trong „Lục pháp luận‟ của Tạ Hách đời Tần gọi là „Cốt pháp dụng bút‟ Họa gia Trung Quốc gọi „nét‟ được vẽ là „Công bút‟ hay „Thần bút‟
- Công bút được vẽ một cách thận trọng, tốc độ đưa bút chậm, cố định của mực hình được diễn tả bằng nét rắn, đanh, tĩnh mang tính khẳng định
Trang 20- Thần bút với tốc độ nhanh diễn biến của nét phụ thuộc vào tâm trạng, cảm xúc nghệ thuật cảu người họa sĩ ở loại nét này có độ đậm nhạt của mực thay đổi diễn tả hành động, chất xốp hoen nhòe đầu nét thì nhấn đậm, đanh sắc cuối nét buông và nhạt dần
- Nghệ thuật Trung Quốc coi trọng và đề cao sức truyền cảm của nét Tranh vẽ cảu Lương Khải Chi bằng nét chấm phá mà nói lên được vẻ đẹp cảu thiện nhiên và con người bộc lộ được cảm xúc day dứt của tác giả qua nét bút đưa trên tranh bằng cả khí lực nhấn hay buông, ngắt, nghỉ hay vuốt dài, tinh hay thô… Đó là biểu hiện của hơi thở trong tâm hồn và nhận thức, thẩm mĩ của người vẽ Có nhà phê bình mỹ thuật
ở Châu Âu đã từng nói : „người Trung Quốc vẽ được cả mùi hương của hoa hay tiếng vang của khe núi „
Tranh khắc gỗ Nhật Bản cho „nét‟ có một khả năng diễn tả khái quát và giản lược, cô đúc, nét vẽ, chọn lọc tinh vi, dịu dàng, sáng sủa, sâu sắc và chính xác, màu sắc chau chuốt, nội dung phong phú về nhiều mặt như nhân vật, phong cảnh, sinh hoạt… Tranh khắc gỗ Nhật Bản quan niệm tạo hình khá chính xác các họa sĩ Nhật cũng chỉ sử dụng những nét viền song nét viền rất nhỏ và điêu luyện các hình dáng và uyển chuyển Xem tranh „thiếu nữ‟ của U-ta-ma-rô cũng đã chuyển được tình cảm của mình vào „cái thần‟ của đường nét để diễn tả vẻ đẹp cảu cô gái Nhật Bản : đó là nét gợi cảm chau chuốt đến điêu luyện, thật là nhẹ nhàng, trữ tình – duyên dáng hiện lên khuôn mặt, thân hình và nếp áo kimono của họ Sự chăm chú của Hô Ku Sai cũng là một trong bộ tranh khắc gỗ màu cảu ông, bố cục đường nét chọn lọc tinh tế, diễn tả được không gian trong tranh và kết hợp được nối với tranh bằng hình thể với những nét vẽ trang trí đã tạo ra những tác phẩm độc đáo…
Tranh khắc gỗ Việt Nam có truyền thống lâu đời mang đậm bản chất con người Việt Nam tranh khắc gỗ Việt Nam khác tranh khắc gỗ Nhật Bản, Trung Quốc hay các nước Châu Âu.Trong tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam, nét đã được sử dụng với một khả năng phong phú nhằm diễn hình, tả khối, tạo các đường chu vi giới hạn các mảng
có tính khái quát cao và nòng cốt trong cấu trúc hình thể Những nét đen to, khỏe còn
có khả năng đóng vai trò trung gian để cho màu sắc hài hòa mà vẫn rất mềm mại, gợi cảm Đồng thời có những nét mảnh dẻ, bay bướm cũng có khả năng diễn tả từng chi tiết Đường nét trong tranh dân gian còn là những nhịp điệu phản ảnh được sự vật một
Trang 21cách trung thực mà vẫn bốc lên cao, làm cho người xem thấy như tâm hồn mình cũng thanh thoát, bay bổng
Tranh dân gian bắt nguồn từ nhân dân lao động mà ra, phục vụ cho đời sống tinh thần cảu nhân dân, tranh vẽ có nét, màu sắc dáng điệu người, cảnh vật, hoa lá chim muông… Không hoàn toàn là thể cách điệu hay trang trí, sao chép tự nhiên nguyên vẹn Mọi thứ được nhìn nhận và phản ánh theo phong tục tập quán và nền văn minh lúa nước Việt Nam những nét to, khỏe, chắc nịch, dứt khoát không cầu kỳ, chau chuốt, thướt tha như nét khắc gỗ Nhật Bản, bút pháp như rồng bay phượng múa như quốc họa Trung Quốc cổ điển Tranh dân gian Việt Nam mộc mạc hiền lành như chính con người nông dân có nét thô sơ, to khỏe, vững chắc, màu sắc sử dụng độc đáo, trong sáng, rực rỡ, sử dụng màu nguyên chất, hoa hòe, hiên, chàm, lục…màu trắng của điệp…
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1.Một vài quan niệm về không gian trong nghệ thuật tạo hình
Không gian là một khuôn khổ ba chiều mà chúng ta có thể cảm nhận về hướng
và khoảng cách giữa các đối tượng , các điểm Định nghĩa hoàn chỉnh về không gian
ba chiều theo triết học là bất kỳ một đối tượng vật chất nào cũng chiếm một vị trí, một kích thước nhất định trong tương quan đối với những đối tượng khác , hình thức tồn tại này gọi là không gian bên cạnh đó đối tượng vật chất lâu hay nhanh, vào một thời điểm nhất định của sự phát triển thì được gọi là thời gian Thời gian và không gian là tương hữu bổ sung cho nhau
Không gian còn là khái niệm trong toán học và vật lý học, chỉ tập hợp những điều kiện để các sự vật và hiện tượng diễn ra, không gian ba chiều được biểu diễn bằng ba trục toạ độ vuông góc trong hệ toạ độ Descartes Trong một khái niệm hiện đại , người ta còn xét không gian trong mối liên hệ giữa ba chiều đó với chiều thứ tư, chiều thời gian và hình thành nên không gian thời gian
Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm
nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính
bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan Ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng Do vậy không gian nghệ thuật có tính độc lập tương
Trang 22đối, không quy được vào không gian địa lí Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới – dùng để mô hình hóa các phạm trù thời gian Không gian nghệ thuật có thể mang tính cản trở, để mô hình hóa các kiểu tính cách con người Không gian nghệ thuật có thể là không có tính cản trở, như trong cổ tích, làm cho ước
mơ, công lí được thực hiện dễ dàng Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất da dạng
và phong phú
Nghệ thuật Đồ hoạ là nghệ thuật mặt phẳng được hiểu là mặt phẳng hai chiều, nhìn lại quá trình phát triển của lịch sử hội hoạ, các trường phái ra đời cũng chỉ khao khát mở rộng phạm vi chiều sâu của một tác phẩm, mọi đối tượng đều được thể hiện trên mặt phẳng hai chiều đó là lí do vì sao mà con người từ thuở biết đặt những hình
vẽ đầu tiên trên vách hang động của mình đã để lại những tín hiệu đầu tiên về tư duy chiều sâu của không gian, nhân tố gợi cho chúng ta về chiều thứ 3 đó chính là những mảng hình tách bạch giữa vật này với vật kia , cái trước cái sau, bên trong bên ngoài
ta có thể hiểu thuần tuý là biểu hiên không gian Trong hội hoạ dù dùng bất cứ hình thức thể hiện nào cũng phá vỡ hình thế hai chiều của mặt phẳng để gợi ra một không gian nó là một không gian ảo gợi cho chúng ta về chiều thứ ba về mặt thị giác bên cạnh đó là một chiều sâu khác vượt ra khỏi khuôn khổ bức tranh đã cho, đó là những quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan mà ta chỉ có thể cảm thấy nó theo trực giác của mỗi người
1.3.Tổng kết chương I
Tranh khắc gỗ Việt Nam như cây cầu bắc từ quá khứ đến hiện tại, đồng thời đang được nối nhịp để vươn tới tương lai Thông thường người ta chia vấn đề này ra làm hai phần: tranh dân gian thời phong kiến và tranh khắc gỗ hiện đại Tuy nhiên điều quan trọng ở đây là suốt từ 1925 đến nay, từ Trường Mỹ thuật Đông Dương cho đến Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam bây giờ đều luôn coi trọng việc kết hợp phương pháp học tập khoa học, hiện đại của thế giới với tinh thần khai thác và sáng tạo từ vốn nghệ thuật truyền thống Chủ trương sáng suốt và xuyên suốt trên đây đã cho phép tất
cả các sinh viên mỹ thuật - các họa sỹ tương lai được thấm nhuần và phát huy những
di sản mỹ thuật Việt cổ như sơn ta, điêu khắc đình chùa, đồ gốm và tranh dân gian
Trang 23CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN KHÔNG GIAN TRONG
TRANH KHẮC GỖ DÂN GIAN ĐÔNG HỒ 2.1 Giá trị nghệ thuật của tranh dân gian Đông Hồ
Sáng tạo chứa đựng hai giá trị: bên trong là những giá trị cảm nhận bằng cảm tính, trừu tượng và bên ngoài là cảm quan Mỗi một loại hình tranh đều mang lại giá trị
riêng biệt Riêng với khắc gỗ là nghệ thuật của tạo hình “không gian” và “nét”
Người phương Đông thiên về tư duy trực giác coi trọng cái hư vô, hư ảo, vô hình, nhận thức đi từ trong ra ngoài Quan niệm của người phương Đông cho rằng các phạm trù đối lập không chỉ mâu thuẫn nhau mà còn tương giao nhau Có và không sinh lẫn nhau, ngắn và dài làm rõ nhau, cao và thấp dựa vào nhau, trước và sau theo nhau, tinh thần và vật chất có cùng một lúc, thời gian và không gian là hợp nhất Các quan niệm đó nhìn bao quát ra cả vũ trụ và con người Nó đi từ ý đến tượng ( khái quát) rồi mới đến thành cụ thể từ quan niệm mà sinh ra cách nghĩ, cách nhìn, cách cảm, cách biểu đạt Người phương Đông thường vẽ cái bên ngoài để biểu đạt cái bên trong Bởi vậy, các họa sĩ coi trọng những vấn đề thuộc quy luật phát triển, quan hệ hội họa với thực tế khách quan cũng những quan niệm và thái độ lao động nghệ thuật sáng tạo Với lối nhìn trực quan, người phương Đông tạo ta không gian cảm giác, ước
lệ, tương đối phù hợp với quan niệm không gian vô cùng, thời gian bất tận Khi chủ thể chuyển thì khách thể cũng chuyển, không gian chỉ còn ước lệ
Trong hội họa truyền thống phương Đông họa sĩ vẽ tranh có thể nhìn cảnh vật từ trên cao xuống theo kiểu “Thấu thị phi điểu” hoặc là nhìn cảnh vật mà đi ngựa vằn
ngắm, gọi là “ Thấu thị phi mã” Ở tác phẩm “Thanh minh thượng hà đồ” ( Hình
6)của Trương Trạch Đoan, họa sĩ thời lục triều Trung Quốc, ông đã mềm dẻo vận
dụng cả hai quy luật trên Không gian trong tranh mở rộng, trải dài, thời gian tiếp nối
Đa số các họa sĩ phương Đông vẽ tranh sử dụng nghệ thuật sắp xếp bố cục để tạo không gian “ước lệ” mang tính gợi tả trong tranh Phần tả thì ít mà phần gợi thì nhiều
Có khi người vẽ và đối tượng được vẽ sẽ đều di động, người vẽ quan sát đối tượng dưới các góc nhìn khác nhau từ các hướng khác nhau, đối tượng dưới các góc nhìn khác nhau, đối tượng được vẽ cứ vận động theo bản năng tự nhiên vốn có, không
Trang 24gian cũng như dáng di động Điều này thể hiện rõ ở tranh dân gian, đặc biệt là tranh thờ Trong tranh dân gian, thần thánh luôn được vẽ to và ở phía trên còn người thường thì nhỏ sàn sàn nhau, các con vật, hoa cảnh tùy tương quan mà để to hay nhỏ để toàn cảnh gây ấn tượng sâu sắc
Lối vẽ tranh phương Đông thường bỏ lại nhiều khoảng tiếp trên tranh kết hợp cùng đậm nhạt từ đó gợi ra không gian, chiều sâu cho tranh Khoảng trông trong bức
vẽ lúc này không còn là phần trông của nền tranh mà phút chốc đã là nước, mây, trời
và là không gian, là thời gian Do đó không gian trong hội họa truyền thống phương Đông là không gian ước lệ có được từ sự “gợi” chứ không phải từ “tả”, đó là đặc thù riêng biệt mà cũng rất đặc sắc cảu phong cách phương Đông
2.1.1 Nghệ thuật tạo hình
Một phần do không gian trong tranh Đông Hồ là ước lệ, nên các nhân vật cũng ước lệ, cấu trúc hình không cần đúng giải phẫu mà chú trọng tới khả năng nắm bắt linh hoạt Các nhân vật đều được xuất phát từ thực tiễn, óc quan sát tinh tế của nghệ nhân Họ cảm nhận và quan niệm theo truyền thống phương Đông và họ tạo hình theo cách nhìn và cách nghĩ của họ, do đó không không lệ thuộc vào bất cứ vấn đề gì khi sáng tác, họ vẽ những gì họ thấy và vẽ những gì họ thích Vì vậy tranh dân gian Đông
Hồ có những yếu tố tạo nên tính chất hồn nhiên, đằm thắm, một mạch
Ta có thể thấy, trong tranh Đánh ghen, nghệ nhân sử dụng phối cảnh ước lệ
"đơn tuyến bình đồ" tạo ra bố cục không gian tượng trưng và khái quát, cách tạo hình nhân vật mang yếu tố biếm họa, thể hiện ở sự cường điệu hóa các hình thể và đường nét trong tranh, tạo nên sự sôi động, nhưng không kém phần hài hước, vui nhộn trước một tình huống bi kịch gia đình Các hình ảnh được khắc họa một cách chắt lọc về đường nét, tỉ lệ hình ước lệ theo một sự hợp lý của bản năng nghệ thuật và cảm thức trong sáng, hồn hậu, dí dỏm Trong tranh là hình ảnh người vợ cả dữ tợn, cầm kéo xông vào cô vợ trẻ đang thách thức chìa tóc ra, vênh váo, còn anh chồng lấy thân hình của mình che chắn cho người vợ bé trước đường tiến của vợ cả, tay trái ôm lấy bờ vai trần, lòng bàn tay vẫn không rời khỏi "bầu ngọc" của nàng, tay phải đưa ra phía trước nửa như chống đỡ, nửa như phân trần, vừa như van nài được thể hiện rõ ý qua 2 câu thơ đề phía trên: “Thôi thôi bớt giận làm lành - Chi đừng sinh sự, hại mình nhục ta” Bên cạnh hình tượng các nhân vật và không gian ước lệ được hình tượng hóa gia cảnh của các nhân vật bằng các mảng tường hoa, bình phong khiến người xem cảm nhận
Trang 25được cái dư vị bi hài muôn thuở của đời sống "chồng chung vợ chạ” thường xảy ra trong các gia đình giàu, có của ăn của để
2.1.2 Màu sắc
Màu in cũng là một nét độc đáo trong quá trình sáng tạo, khám phá, tìm tòi và ứng dụng các nguyên vật liệu gần gũi từ tự nhiên vào hoạt động nghệ thuật (Màu đen lấy từ than xoan hay than lá tre; Màu vàng lấy từ hoa hòe; Màu đỏ lấy từ sỏi non, gỗ vang; Màu xanh từ lá chàm, gỉ đồng …) điều này phản ánh cuộc sống và tâm hồn gần gũi với thiên nhiên của con người Việt Nam Cách pha chế màu cũng tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, chất giấy… Đây là kinh nghiệm, sự sáng tạo, thậm chí còn là bí quyết gia truyền của mỗi nghệ nhân Chính nhờ sự cầu kỳ, cẩn thận trong cách chế màu mà tranh Đông Hồ luôn tươi sáng, rực rỡ và không bị bay màu
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Với ba màu nền; trắng điệp, vàng hòe và đỏ vang hòa quyện với bảng màu, tranh dân gian Đông Hồ được bổ sung thêm các màu đen than lá tre, nâu sỏi, xanh chàm, cộng với màu rỉ đồng, đỏ gấc, vàng thỏ tía… kết hợp cùng kỹ thuật pha trộn, đặc hay loãng; kỹ thuật in chồng màu, những màu đó được chắt lọc, khi đưa vào tranh tạo các hòa sắc rất đẹp Màu khoáng tự nhiên làm cho các hạt màu tạo nên sắc tố có tính thuận mắt, phù hợp với đời sống nông nghiệp của người nông dân Việt Nam Chính
sự tương phản của các sắc tố, sự độc đáo trong sử dụng chất liệu làm cho tranh đạt một giá trị thẩm mỹ độc đáo và khác biệt với các dòng tranh khác Cách sử dụng màu sắc của tranh dân gian Đông Hồ còn chứa đựng giá trị biểu trưng mang tính triết lý của học thuyết ngũ hành: như màu trắng ứng với hành kim, màu xanh ứng với hành mộc, màu đen ứng với hành thủy, màu đỏ ứng với hành hỏa, màu vàng ứng với hành thổ Theo quan niệm của nghệ nhân Đông Hồ, tiếp thu quan niệm triết học phương Đông: “màu xanh tượng trưng cho sự sống, sinh sôi; là màu của mùa xuân, màu hợp với ánh mắt nhìn”; “màu đỏ tượng trưng cho lửa, nhiệt nóng, màu của mùa hạ” Màu vàng thuộc hành thổ, là màu của đất, tượng trưng cho mẹ của thiên nhiên… Cho nên, trong các tranh Đông Hồ thường thấy xử lý màu vàng làm nền cho mặt tranh, có ý nghĩa quan trọng trong tổng hòa quan hệ của bức tranh Ví dụ, trong tranh Ngũ hổ, hình tượng năm chú hổ bố trí bốn con bốn góc, còn chú hổ còn lại được bố trí ngay
Trang 26chính giữa tranh, được xử lý bằng gam màu vàng, tượng trưng cho mẹ của muôn loài Bốn chú hổ xung quanh bố trí bốn màu tượng trưng cho bốn hành theo chiều tương khắc ngược kim đồng hồ Màu trắng trong tranh Đông Hồ thường được các nghệ nhân khai thác từ độ lấp lánh của vỏ sò trộn với bột hồ tạo nên trên mặt tranh, tạo hiệu quả đặc biệt, mang tính đặc trưng của dòng tranh
Tranh dân gian Việt Nam khác với tranh của Nhật Bản bởi lối dùng mảng màu nguyên mang tính đối lập in trên thớ điệp, giấy in tranh đồng thời là màu nền của tranh, với những màu tươi vui rực rỡ làm làm nên bảng màu trong tranh dân gian Đông Hồ vừa đằm thắm vừa có được cái hồn của dân tộc, một nhà văn đã miêu tả như sau “tranh gà, tranh lợn đỏ như xôi gấu, vàng như màu lúa chín xanh như lá mạ hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc thân mến từ bao đời rồi, những màu sắc ấy đã in vào tâm trí người nông dân, từ thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc”
2.1.3 Mảng và nét
Mảng là gì?
Mảng trong hội họa được hiểu là các yếu tố trong tiết diện chiếm một khoảng bề mặt nhất định trong tranh, lớn hay nhỏ , đậm hay nhạt , tự tách ra với xung quanh bằng một đường biên khép khín Đồng thời biến xung quanh thành nền của chúng , vì vậy mảng nào cũng nó hình thù nhất định.có khi rất đa dạng ,tưởng là những hình thể của người,vật,cây, cỏ ,cũng có khi là một nhóm hình kết hợp lại được gọi là : vết , diện , hình , nhóm hình … Tùy theo cấu tạo hoặc tính chất của mỗi mảng Qua đó cho thấy mảng là một hình cụ thể , có ý nghĩa toàn bộ hay cục bộ như một nhóm hình, một hình riêng rẽ,một bộ phận của hình hay một chi tiết của bộ phận Ví dụ : người đứng trong một không gian thì người được coi là một mảng và nền là không gian xung quanh ,và xét chi tiết hơn nữa thì trong mỗi người mỗi vật là các mảng trong các nền khác nhau ngoài ra còn có những mảng vô thể có hình nhưng không thấy rõ là hình của vật gì Tạm gọi là vô thể hay mảng hư toàn bộ các mảng thực hư đó kết hợp với nhau tạo thành một bố cục tranh Cấu trúc của mảng không nhất thiết phải dày đặc hay thưa thoáng một tranh mà chặt chẽ , phong phú ,được coi là đẹp,tranh đơn giản
và thanh thoát cũng đẹp không kém , rất nhiều con đường dẫn đến cái đẹp vì vậy ,lối
vẽ nào cũng phải đầu tư sức suy nghĩ và sáng tạo, cấu chúc hình mảng dầy hay thưa, lớn hay nhỏ,đạm hay nhạt,nạng hay nhẹ đều có thể mang lại hiệu quả kỳ diệu tùy theo
Trang 27chất liệu biểu đạt trên cơ sở phát huy tính năng của chất liệu người nghệ sĩ có thể biến hóa theo nhiều cách khác nhau
Nét là gì?
Nét là tập hợp của các yếu tố cho thấy chiều hướng chuyển động của hình thể, tạo nên sự tách biệt và liên kết giữa các điệu, các lớp, các hình, làm hiện lên bóng dáng của sự vật, bao gồm tổ chức nét thực và hư, đan xen và hòa quện với nhau Nét là kết hợp của các điểm thành các đường hay các quỹ đạo của một điểm di động trong không gian Bằng nhìn nhận của mình, con người đã thể hiện cách nhìn nhận lên mặt phẳng, bằng nét vừa có tính phân tích, vừa có tính khái quát Nét là một quy ước, một dạng ghi ký hiệu của con người để phân định ranh giới giữa các hình thể, khối của sự vật và không gian xung quanh trên mặt phẳng Nét có khả năng biểu đạt rất cao Chỉ bằng nét có thể biểu đạt hết sức phong phú các tính chất của sự vật Ví dụ: tạo hình khối, không gian, tạo chất, sự vận động hay tĩnh tại của sự vật Hình thể của sự vật trên mặt phẳng là hình chiếu của sự vật trong không gian Một hình vẽ được diễn đạt chỉ bằng một nét viền xung quanh đã gây ra cho ta một sự liên tưởng tới một hình thể trong không gian mà chưa cần một sự gia công nào thêm cho hình cũng đã gợi cho ta
sự liên tưởng về khối Hai hình giống nhau, có kích thước to nhỏ khác nhau, đặt cạnh nhau gợi cho ta khoảng cách không gian Nét gồm những tổ chức nét thực và nét hư đan xen và hòa quện lẫn nhau Nét thực là những đường nét nhìn thấy được, hay những đường phân chia ranh giới giữa các diện, đường bao quanh các hình, tạo nên sự khác biệt giữa các yếu tố trong tranh Nét hư là nét không hiện rõ như nét thực, nhưng
ta có thể cảm nhận qua sự tiếp nối uyển chuyển giữa các chi tiết nổi bật như dáng của nhân vật, kích thước và cấu tạo của những vật thể trong tranh, có thể là sự gợi hướng
từ gần tới xa, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, tùy việc sắp xếp trong phạm vi bố cục Dù là thực hay hư, cấu trúc đường nét chỉ có ý nghĩa nếu nó gợi được hướng và
sự chuyển động nhẹ nhàng, được xem như khung xương của bức vẽ, mà các công việc tiếp theo của họa sỹ như diễn màu, tả chất, tả ánh sáng, tạo khối… không thể phá vỡ được nó trừ khi tác giả muốn tạo nên sự thay đổi toàn cục Quan hệ giữa mảng và nét Mảng và nét có quan hệ gắn bó với nhau, sự cân bằng có những yếu tố trong mảng, có mảng thực nét hư, khái niệm về mảng và nét luôn gắn với tương quan màu sắc, chất cảm, đậm nhạt Mảng có tính khái quát cao, có khả năng diễn tả không gian, phản ánh hình thể, xây dựng bố cục, nhịp điệu… tạo ra bố cục cho bức tranh (Mảng rỗng, đặc)
Trang 28Tính biểu hiện của nét vô cùng phong phú Đó là sự mô tả hình dáng, cấu trúc, trạng thái, khối của sự vật trong không gian Sự vật vận động trong không gian thì vô cùng
đa dạng, còn khả năng mô tả của nét thì khôn cùng
Phối hợp mảng và nét
Trong tranh dân gian Đông Hồ, nét là một phần cực kỳ quan trọng, quyết định đến vẻ đẹp cũng như nội dung của tranh, đó là nét thực, nét tạo nên hình mảng trong tranh Nét khoanh lấy các mảng màu giữ cho màu đằm trên giấy, nét tạo nên sự nhất quán giữa hình và mảng, diễn tả được tình cảm, tính cách nhân vật bằng những nét viền to nhỏ đậm đà, dứt khoát Nét trong tranh dân gian Đông Hồ khỏe khoắn nhưng không thô cứng, chắc chắn nhưng mềm mại, uyển chuyển, thanh thoát, tạo nên vẻ đẹp riêng của mình Dưới bàn tay của các nghệ nhân, nét rất được chú trọng Nét và mảng trong tranh rất phong phú, không những nêu bật được nội dung, chủ đề, tư tưởng của
tác phẩm, mà còn gợi khối, tả chất rất giỏi
Mảng và nét là hai yếu tố vô cùng quan trọng, không thể thiếu được khi xây dựng tranh Mỗi người họa sỹ có thể chọn lọc cho mình một cách biểu đạt riêng bằng màu sắc, hình khối, chất cảm hay đó là sự cân bằng tổng thể của các yếu tố Nhưng sự tồn tại của nét cùng với sự phối hợp với mảng luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong xây dựng bố cục Khi người họa sỹ sắp xếp một tác phẩm về nét thì không thể bỏ qua
ý đồ bố cục về mảng cho dù đó chỉ là một khoảng trống để có thể biểu đạt được giá trị cao của nghệ thuật Mảng nét trong tranh dân gian Đông Hồ Nét định hình cho mảng Nếu như nét trong tranh Hàng Trống ưa sự mảnh mai, chau chuốt, tinh tế, thì ngược lại, trong tranh dân gian Đông Hồ là nét thực, nét tạo nên hình mảng trong tranh Nét khoanh lấy các mảng màu giữ cho màu đằm trên giấy Nét đã tạo nên sự nhất quán giữa hình và mảng, diễn tả được tình cảm, tính cách nhân vật bằng những nét viền to nhỏ đậm đà, dứt khoát Nét trong tranh dân gian Đông Hồ khỏe khoắn nhưng không thô cứng, chắc chắn nhưng mềm mại, uyển chuyển, thanh thoát, tạo nên vẻ riêng của tranh dân gian Họa sỹ Tạ Thúc Bình đã nói: “nét trong tranh dân gian Đông Hồ như tiếng trống chèo trong đêm hội diễn” Dưới bàn tay của các nghệ nhân, nét rất được chú trọng Nét và mảng trong tranh rất phong phú, không những nêu bật được nội dung, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, mà còn gợi khối, tả chất rất giỏi Trong tranh
“đám cưới chuột” nét vẽ ở con chuột là nét ổn định.định hình tạo mảng sáng tối, đậm
Trang 29nhạt, nét lẫn vào mảng ở hình tượng con mèo Các nghệ nhân đã sử dụng hệ thống nét cong, ngắn, đứt đoạn, tả chất nhiều hơn là định hình, tạo mảng Đúng như thế, đường nét trong tranh dân gian chẳng những tạo ra hình dáng, mà còn đặc tả được tính cách của nhân vật Nét trong tranh dân gian Đông Hồ có tính chất phóng khoáng của người dân thuần hậu, nét to, chắc, khỏe, dứt khoát khiến cho người xem có những tình cảm gần gũi với cuộc sống ruộng đồng và đầy màu sắc quê hương
Nét và mảng có vị trí quan trọng tạo hình đồ họa, có thể sử dụng nét – mảng – chấm, sự kết hợp của 3 yếu tố đó đặc điểm tâm sinh lý thị giác của con người có quan
hệ với đường nét qua ảo giác của mắt trước đường nét hay tổ hợp đường nét gây cho
ta liên tưởng: nét hướng ngang chỉ sự bình lặng , trầm hơi buồn, tĩnh lặng Hướng chéo chỉ sự giao động: cho cảm giác vui khỏe, có sự phát triển… hay cũng mang lại cảm giác buồn, xuống dốc phối hợp nét cong và nét thẳng theo tiết diện nhất định tạo cảm giác niềm vui được nhân lên, cho ta sự thỏa mãn thị giác mắt nhìn Nét dài, nét ngắn kết hợp với nhau với tỷ lệ phù hợp nhất định tạo nên sự bền vững chặt chẽ và thỏa mãn tâm lú thị giác tốt nhất Nét to, nét nhỏ phối hợp với tỷ lệ tương ứng vừa phải cho cảm giác linh hoạt Nếu ta tách riêng và xét các nét ở trang thái độc lập của
nó thì thông thường nó có những đặc tính, tính chất tương đối rõ nét và ngược lại nếu xét khi kết hợp với những đối tượng thị giác khác biệt thì nét kết hợp với nét cong, nét thẳng; thẳng với thẳng; hoặc cong thẳng kết hợp với nhau cho ta cảm giác đặc tính khác nhau phụ thuộc vào tổng thể của chúng; sự kết hợp hình thức lỗi trùng điệp, lối xen kẽ với tổng hợp tạo hiệu quả bất ngờ Nét có khả năng làm trung hòa các mảng định hình hỗn thể trong tranh
Đường nét trong tranh dân gian còn là những nhịp điệu phản ảnh được sự vật một cách trung thực Đường nét trong tranh thiên về đơn giản, chắc khỏe, có xu hướng cách điệu và trang trí hơn tả chân Để diễn tả đường nét mà các nghệ nhân Đông Hồ tìm mọi cách để tinh giản hình vẽ và hạn chế dùng nhiều nét để thể hiện cái bản chất nhất mà người ta gọi là “cái thần” của sự vật Tranh “Lợn ăn cám” chỉ có một nét to, đâm dài, uốn lượn viền quanh hình con lơn béo tròn, để lại chỗ trống ở giữa cho màu
in mảng đặc làm hình con lơn nổi rõ hơn
2.1.4 Tỷ lệ và nhịp điệu
Nhịp điệu là biểu hiện của sự chuyển động, sự sống của một vật thể Nó thể hiện cái cốt lõi (hay cấu trúc) của một vật thể trong sự chuyển động theo một hướng nhất
Trang 30định Chẳng hạn như: những cây cột, hay những cái cây được xếp sắp theo một hướng, cũng tạo nên nhịp điệu Mỗi loài hoa, mỗi loài cây cỏ, sự vật đều có một cấu trúc đặc thù, do đó mỗi loài đều có một hình dạng và một nhịp điệu riêng biệt
Trong tranh khắc dân gian cũng vậy, nếu như tỉ lệ là một yếu tố của cái đẹp tĩnh, thì nhịp điệu là yếu tố của cái đẹp động, nó nói lên sự chuyển động, sự sinh động, hay
sự sống Phải đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khái niệm nhịp điệu mới thực sự
có điều kiện để nảy nở và để được áp dụng một cách rộng rãi trong tranh khắc hiện đại
Nhịp điệu có thể liên tưởng là những bước chân khi di chuyển, như cách giao hòa của những âm thanh lại cùng nhau để tạo thành một bản nhạc, như tiếng mưa rơi nhỏ giọt
Nhịp điệu có thể được thấy và cảm nhận trong mọi sự vật của tự nhiên, qua cuộc sống Nhịp điệu trong hội họa đó là sự lặp lại, sự luân phiên và tiến triển Sự lặp lại là cách nhắc đi nhắc lại một yếu tố tạo hình Nó thường tạo ra một dòng chảy êm đềm liên tục của tầm nhìn trong tranh, như là một đường dẫn mà từ đó ta có thể đọc được mạch cảm xúc cũng như ý đồ của người họa sĩ Sự luân phiên là nhịp điệu thay đổi về hình dáng của cùng một yếu tố từ lớn sang nhỏ hoặc ngược lại hay nhịp điệu tiến triển
là cách hướng mắt nhìn liên tục từ điểm này sang điểm khác bằng cách tạo ra sự chuyển đổi ổn định tăng dần hay giảm dần Người họa sĩ cũng có thể sử dụng tất cả các hình thức của nhịp điệu trong một bố cục để sáng tạo ra một không gian, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo
Nhịp điệu cũng có thể tạo ra bởi sự thay đổi về tỉ lệ giữa các mảng, về hướng, về nét vẽ cứng, mềm, về tính chất tĩnh, động Sự phân bố về đậm nhạt, về tổ chức sắp xếp đường nét, điểm trong các mảng một cách hợp lý sẽ tạo nên cấu trúc mảng vững chắc và có những nhịp điệu trong mặt phẳng tranh Tiếp đó là sự liên kết giữa các khối và khoảng trống, sự kết hợp giữa các hình với nền Cho nên việc sắp xếp, tổ chức các mảng nhỏ trong mảng chính cùng với bố trí đậm nhạt trong mảng chính và các mảng phụ với khoảng trống sẽ tạo nên tính nhịp điệu cho bức tranh
Màu sắc là một thành phần cốt yếu của hội họa góp phần tạo nên nhịp điệu, nó không chỉ là một phương tiện làm tôn giá trị cho hình nét mà là yếu tố chủ đạo tạo ra không gian, mảng khối, chuyển động để biểu thị các trạng thái tâm hồn Màu sắc
Trang 31trong tự nhiên được tạo ra từ các màu cơ bản, từ đó có thể tạo ra hàng triệu màu sắc khác nhau Khi các màu đặt cạnh nhau theo chiều chú ý nhất định sẽ tạo ra một nhịp điệu thị giác
Trong một bức tranh, màu sắc là do sự pha trộn của nhiều màu, chúng vô cùng phong phú và sinh động Tùy theo hòa sắc của hệ thống màu đặt cạnh nhau sẽ cho người xem một hiệu quả rõ ràng về nhịp điệu của tranh Những gam màu cùng tông tạo ra nhịp điệu yên ả, mềm mại và một cảm giác về nhịp điệu nhanh, mạnh nếu là những cặp màu bổ túc, tương phản đặt cạnh nhau
2.2 Một số bố cục thường gặp và tư duy không gian trong tranh khắc gỗ dân
gian Đông Hồ
Trong một tác phẩm nghệ thuật tạo hình, không gian luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng để đảm bảo tác phẩm ấy đẹp về hình thức, phản ánh được giá trị nội dung Những người sáng tạo nghệ thuật phải là những người làm chủ các phương tiện tạo hình, trong đó đặc biệt phải nắm chắc cách xây dựng bố cục Nếu hội họa phương Tây sử dụng phối cảnh không gian xa gần tạo ra bố cục theo quy luật thị giác của thì đối với tranh Đông Hồ thì lại rất khác, nó không có đường chân trời, không có tiền cảnh, hậu cảnh, không có chuyển sắc độ đậm nhạt v.v… mà chỉ có những mảng màu đơn sắc, được bao bằng đường viền thô, dứt khoát, các nhân vật được dàn lên hết mặt
tranh Bố cục của tranh thường được thể hiện đầy đủ, trọn vẹn theo lối vẽ “đơn tuyến
b nh đồ”, do đó xem tranh dân gian Đông Hồ ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét
ngây ngô, đơn giản nhưng hợp lý
Tranh dân gian Đông Hồ là dòng tranh đã được khẳng định giá trị nghệ thuật qua nhiều đánh giá của các nhà nghiên cứu Tranh đã đi vào đời sống tinh thần của nhiều thế hệ người yêu nghệ thuật trong và ngoài nước bởi nội dung sâu sắc, hình thức hấp dẫn, kỹ thuật thể hiện độc đáo Nội dung và hình thức luôn có tính thống nhất, yếu tố
bố cục đã được phân dạng và tổng hợp trong các đề tài theo các dạng thức có một giá trị nhất định, mỗi dạng thức bố cục có thế mạnh riêng để phản ánh hiệu quả nhất nội dung tương ứng
2.2.1 c c h nh tr n, h nh e-líp
Hình tròn thường tạo liên tưởng đến sự vận động tuần hoàn của vũ trụ, những yếu
tố động, xoay tròn, chuyển động… có trong quy luật tự nhiên Bố cục dạng tròn là dạng bố cục có trọng tâm, gây cảm giác tập trung, quy tụ tạo ra sự đồng nhất và
Trang 32thường gây cảm giác chặt chẽ, trọn vẹn Hình e-líp cũng có nhiều điểm chung với quy luật của hình tròn tuy nhiên nó gợi sức chuyển động theo chiều dài, ý nghĩa khái quát của hình cần hiểu thêm về sự biến thiên của quy luật đời sống
Dạng thức bố cục hình tròn được thể hiện rất rõ qua bức tranh ịt mắt bắt dê Toàn
bộ khung cảnh vui chơi của trò chơi dân gian bịt mắt bắt dê hiện lên ở trung tâm bức tranh quây thành một vòng tròn Đôi trai gái đang hào hứng đuổi bắt con dê, chàng trai bị bịt mắt đang rất chủ động và hăng hái, hứng khởi nhập cuộc được sắp đặt ở gần chính giữa như một điểm bắt đầu dẫn mắt người xem vào những tình tiết tiếp theo của trò chơi Cùng tham gia trực tiếp vào trò chơi là cô gái và con dê, cô gái như quên đi những bó buộc tâm lý đời thường, cô vung chân, tung váy rất thoải mái Phía dưới, góc phải tranh là hình ảnh con dê dược thể hiện ở tư thế đang chạy dưới sự đuổi bắt của người chơi và được chặn lại bởi tấm liếp như khóa chặt bố cục bức tranh Cả ba nhân vật chính trong trò chơi được thể hiện sinh động với các động tác hấp dẫn, mảng hình phong phú, nhịp điệu uyển chuyển Phía sau chàng trai và cô gái là khán giả, những người cổ vũ cho trò chơi với nét mặt rất chăm chú cho thấy trò chơi hấp dẫn đến mức nào Xét về mặt tình tiết câu chuyện ta thấy toàn bộ hình ảnh được dẫn dắt rất lôi cuốn, có trình tự Có thể bắt đầu từ hình ảnh chàng trai đuổi bắt dê, hình ảnh con dê, cô gái, khán giả phía sau và kết thúc ở hình ảnh đôi nam nữ bên góc tranh tạo thành một vòng tròn liên kết và điểm kết thúc lại như chuẩn bị cho một điểm khởi đầu mới của vòng tròn tiếp theo, trò chơi sẽ còn tiếp diễn như hòa với không khí tưng bừng của mùa xuân Màu trong tranh được khái quát bởi nâu, lục, trắng, nét đen và màu nền của giấy điệp nhưng vẫn đủ tạo ra sự hài hòa cần thiết Đường nét sinh động, phóng khoáng vừa khái quát được hình vừa hỗ trợ cho các mảng màu Các nét thẳng, cong, uốn lượn được sử dụng nhịp nhàng trong một tổng thể thống nhất Mảng hình lôi cuốn được kết hợp lúc đặc, lúc thoáng, mảng dài, mảng ngắn phong phú tạo ra các
khoảng trống sinh động gợi được không gian trong tranh mang tính chất ước lệ
Dạng bố cục tròn, e-líp còn được thể hiện trong rất nhiều bức tranh thuộc đề tài
chúc tụng như Vinh hoa, Phú quý, Bé ôm tôm, Bé ôm cá… Các nhân vật thường được
thể hiện đan xen thành một khối thống nhất cả về hình mảng, đường nét tạo thành một mảng lớn có xu hướng của hình e-líp trên nền giấy điệp Với bố cục trên rất thuận lợi cho việc liên tưởng đến các yếu tố về sự thống nhất, khăng khít hay tròn trịa, đầy đặn… làm toát lên tư tưởng ẩn sau đề tài
Trang 332.2 2 c c h nh tam giác, h nh thang
Bố cục dạng hình tam giác với đáy thường nằm song song hoặc hơi chếch so với đáy tranh tạo cảm giác vững chắc, khỏe khoắn, tin tưởng hoặc trường tồn Dạng bố cục này thường được sử dụng để phản ánh các nội dung thuộc đề tài sinh hoạt, lịch sử, tạo
ra kết cấu vững chãi, dễ quy mảng trong những tranh đông người để tránh sự hỗn loạn hay lộn xộn Với các tranh có nội dung cần nhấn mạnh yếu tố vững vàng hoặc có xu hướng liên quan đến sự phát triển lên trên thì dạng thức bố cục hình tam giác, hình thang là lựa chọn tối ưu để tác giả thể hiện Điều này được thấy rõ trong các tranh
Đông Hồ như: Hứng dừa, Hiếu học, Thượng võ, Đấu vật, à Triệu
Nằm trong mảng đề tài vẽ về lễ hội và mùa xuân được thể hiện nhiều trong tranh
dân gian Đông Hồ, bức tranh Đấu vật là một trong những bức tranh tiêu biểu diễn tả
hoạt động đấu vật trong các lễ hội của vùng Kinh Bắc xưa Toàn bộ không gian tranh được thể hiện theo lối ước lệ, hình ảnh chính hiện lên ở trung tâm là ba cặp đô vật được sắp xếp trong một hình tam giác lớn với các tư thế, động tác khác nhau Hai đô vật ngồi chờ ở hai bên và được hỗ trợ bởi hình ảnh của bánh pháo hết sức cô đọng nhưng cũng đủ nói lên toàn bộ không khí của lễ hội, gợi được không gian và thời gian khá cụ thể Đấu vật là một môn võ cổ truyền có từ thời dựng nước để luyện quân và được tổ chức thi đấu rất nhiều trong các lễ hội truyền thống của dân tộc Tính đối kháng giữa sức mạnh của các đô vật được các nghệ nhân Đông Hồ thể hiện một cách
cô đọng và mang tính tượng trưng cao Ba cặp đấu vật đóng khố theo phong tục truyền thống để lộ thân hình vạm vỡ, tráng kiện vừa cân tài vừa cân sức Yếu tố cân sức cân tài còn được thể hiện ở việc nghệ nhân sắp xếp thành các cặp đôi trong những hình học vững chãi Cặp đôi bên trái tạo thành một hình thang cân, cặp bên phải nằm trong hình bán nguyệt, cặp ở giữa nằm trong hình tam giác cân Cả ba hình đều có đáy lớn nằm phía dưới vững chãi cùng với cách diễn tả hình ảnh, động tác tạo ra cảm giác khó thiên lệch về sức mạnh Khi kết hợp cả ba đôi vật lại ta lại thấy toàn bộ hình ảnh nằm trong một hình tam giác cân Yếu tố cân bằng không phân thắng thua càng được tăng thêm khi tác giả bố trí hai nhân vật ngồi chờ hai bên cánh gà có vóc dáng tương đồng Hai bánh pháo thể hiện không khí của mùa xuân và lễ hội tưng bừng Chỉ bằng những thủ pháp nghệ thuật tượng trưng mà các nghệ nhân Đông Hồ đã diễn tả được những giá trị cốt lõi của bức tranh khiến người xem cảm thấy thú vị
2.2.3 c c theo h nh vuông, h nh chữ nhật
Trang 34Nếu như hình tròn là hình vô hướng, biểu hiện yếu tố vận động tuần hoàn của
vũ trụ thì hình vuông lại mang các đặc điểm biểu hiện sự định hướng của con người trong cái hữu hạn tương đối của không gian Hình vuông chứa đựng các yếu tố ngang bằng xổ thẳng, bốn phương tám hướng tạo cảm giác cân bằng, vuông vức và ổn định Bố cục dạng hình vuông, hình chữ nhật phù hợp với các đề tài thể hiện tính quy
củ, có tổ chức hoặc tạo sự cân bằng có trên dưới, có trật tự trước sau Tranh dân gian Đông Hồ có nhiều tác phẩm thể hiện theo lối bố cục dạng hình vuông, chữ nhật Các mảng hình trong tranh thường được kết hợp sinh động liên kết tạo thành một kết cấu chặt chẽ trong các khuôn hình chữ nhật lúc ngang, lúc dọc theo đặc điểm của khổ
tranh và theo từng nội dung cụ thể Điều này được thấy trong các tranh như: Hạnh
phúc, Lợn đàn, Gà đàn, é ôm phật thủ…
Trong bức tranh Lợn đàn một bức tranh rất nổi tiếng vẽ con vật trong mười hai
con giáp Hình ảnh đàn lợn nổi bật trên nền tranh đông đúc được sắp đặt tài tình Lợn
mẹ được thể hiện ở góc nhìn ngang đã phô diễn toàn bộ sự béo tốt và những đặc điểm
về hình dáng của con vật Ở tư thế này toàn bộ đường cong trên thân con vật được kết hợp hết sức hài hòa tạo cảm giác uyển chuyển mềm mại Trên thân lợn có hai xoáy
âm - dương vừa tạo ra vẻ đẹp hữu hình vừa ẩn chứa quan niệm về ngũ hành Bên cạnh
là đàn lợn con đang quây quần bên lợn mẹ, mỗi con mỗi dáng vẻ, con muốn trèo lên lưng, con muốn chui xuống bụng, con mải mê đùa nghịch rất sinh động Các hình ảnh giàu tính trang trí được kết hợp nhịp nhàng tạo thành một hình chữ nhật chặt chẽ mà không hề khô cứng làm toát lên vẻ đông đúc, đầm ấm phù hợp với mong ước về cuộc sống ấm no hạnh phúc, năm mới tăng gia sản xuất sung túc, đời sống đủ đầy
Dạng bố cục hình chữ nhật cũng được thấy trong hai bức tranh khổ dọc Bé ôm
phật thủ và é cầm trái đào Đây là hai trong số rất nhiều bức tranh của dòng tranh
dân gian Đông Hồ có bố cục tranh dọc cùng thể hiện nột đề tài chúc tụng Nhân vật chính thường là một cậu bé mũm mĩm, tươi tắn ngồi ôm những vật có ý nghĩa may
mắn, hạnh phúc để chuyển tải cho từng nội dung Trong bức tranh é ôm phật thủ cậu
bé ngồi ở tư thế như nửa quỳ, cẳng chân trái dựng đứng song song với cạnh dọc của bức tranh, chân phải co gập làm điểm ngồi và vuông góc với hướng của chân trái Một tay đỡ quả phật thủ, một tay cầm cuống giơ cao ngang mặt Khuôn mặt tròn phúc hậu được thể hiện với góc gần như chính diện và hơi hướng về phía quả Toàn bộ cơ thể cậu
bé, các bộ phận được sắp xếp theo các chiều hướng sinh động, lôi cuốn kết hợp với quả
Trang 35phật thủ tạo ra một kết cấu chặt chẽ trong khuôn hình chữ nhật đứng Cái hay là ở chỗ
sự đông đặc thường thấy trong khi sắp xếp theo hình chữ nhật đã được nghệ nhân giải quyết bằng tỉ lệ các mảng hình to nhỏ, khoảng trống tinh tế, chiều hướng phong phú, đậm nhạt hài hòa và nét vẽ mềm mại để tạo nên một không gian ước lệ đầy thú vị Bức
tranh é cầm trái đào (Hình 5) thường được treo theo cặp với bức é ôm phật thủ có
nhiều điểm tương đồng trong cách giải quyết bố cục Vẫn là cậu bé nhưng tư thế, động tác có nhiều thay đổi, nghệ nhân vẫn cho thấy sự khéo léo và tài tình đối với dạng bố cục này Khi ghép hai bức tranh ở gần nhau thành một cặp ta lại thấy chúng dường như đăng đối nhau về nhiều mặt nhưng lại giữ được sự ăn nhập hài hòa hỗ trợ lẫn nhau, tôn nhau lên trong một tổng thể vừa tương phản vừa tương đồng tránh được sự nhàm chán
2.2.4 c c theo nhịp điệu h nh sin
Nhịp điệu là một trong những nét đẹp điển hình của tự nhiên Trong quy luật của vũ trụ, cuộc sống đã bao hàm nhiều yếu tố mang tính nhịp điệu như sóng nước, mây trôi hay những vận động mang tính quy luật được lặp đi lặp lại như ngày, đêm, sáng, tối Đối với bố cục theo nhịp điệu hình sin, các họa sĩ đề cao yếu tố chuyển động, mềm mại và được lặp lại có tính toán để tạo ra hiệu quả thẩm mỹ Điều đó cũng
đã được các nghệ nhân Đông Hồ thể hiện rất thành công trong nhiều tác phẩm như Gà
thư hùng, Công, Trạng chuột vinh quy, Đám cưới chuột, Đánh đu, Đấu mộc, T nữ,
T nữ ngồi, T nữ đứng, Trê cóc kiện nhau, Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân… Trong tranh Gà thư hùng mô tả một gia đình nhà gà gồm gà trống, gà mái và
đàn con quấn quýt, một hình ảnh thường thấy trong các tranh vẽ về các con vật thuộc
12 con giáp hoặc những con vật gần gũi với con người có những đức tính tốt để thể hiện những ý nghĩa ẩn dụ và hàm ý chúc tụng cho những điều mong ước của con người trong cuộc sống, gợi không khí đầm ấm, hạnh phúc gia đình với dòng chữ:
“Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông” Hình ảnh uyển chuyển bắt đầu tính từ hình của mảng chữ nối sang đầu gà trống, lưng, đuôi, bụng, ngực nối sang hai chú gà con trên lưng vòng sang đuôi, cánh gà mái chạy xuống toàn bộ đàn con phía dưới đáy tranh từ phải sang trái tạo thành một đường lượn hoàn hảo có nhịp chuyển động lúc dài, lúc ngắn, quãng chuyển tiếp nhẹ nhàng, quãng lại đột ngột gấp khúc khiến ta khó
mà rời mắt Các mảng hình sinh động, phong phú về kích cỡ, màu sắc được nhắc lại nhịp nhàng có tính toán vừa tạo được sự cân bằng vừa dẫn dắt mắt người xem theo những trình tự của sự vật Hình ảnh gà trống tượng trưng cho nhân vật trụ cột gia đình
Trang 36với tư thế đầu ngẩng cao rất oai hùng, gà mái mẹ cúi đầu sát đất che chở đàn con với hình vẽ theo xu hướng xoay tròn có vẻ nũng nịu Đàn gà con mỗi chú mỗi vẻ đều như rất mãn nguyện hưởng thụ cuộc sống no đủ, hạnh phúc, bình an bên sự che chở của cha mẹ Tranh mang giá trị thẩm mỹ cao, được nhân dân ưa thích và thường treo trang trí trong nhà với mong ước một cuộc sống hạnh phúc viên mãn
Yếu tố nhịp điệu cũng được thể hiện rõ trong tranh Đấu mộc Toàn bộ các nhân
vật trong tranh hiện lên theo hình sin chuyển động từ trái sang phải như nhịp của sóng nước tạo nên yếu tố động để phản ánh một phần nội dung cần diễn giải Bức tranh vẽ
về hoạt động đấu mộc, một trong những môn võ để rèn sức khỏe cho trai tráng trong các hoạt động luyện quân và được duy trì trong các làng xóm xưa kia Hình ảnh các nhân vật, người ngồi nghỉ đợi đến lượt, người vung dao, người co chân… tạo ra một nhịp liên hoàn có tính thống nhất Màu sắc tối giản, đậm nhạt được xử lý cô đọng, hình ảnh các đấu sĩ với tay cầm mác, tay cầm lá chắn, cởi trần đóng khố được lặp lại trên mặt tranh mà chỉ thay đổi tư thế, động tác và một vài chi tiết càng làm cho tính nhịp điệu được tăng lên
Một tác phẩm tạo hình muốn chuyển tải được nội dung tư tưởng đến với người xem, trước tiên cần thông qua ngôn ngữ của hình mảng, đậm nhạt, đường nét, màu sắc Điều cốt lõi để các yếu tố thuộc ngôn ngữ của nghệ thuật trở nên có giá trị về thẩm mỹ thì việc tổ chức, sắp xếp các yếu tố tạo hình đó được gọi là nghệ thuật bố cục Bố cục đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong một tác phẩm nghệ thuật, nó
có thể được hình thành trong công đoạn người nghệ sĩ xây dựng tác phẩm nhằm thỏa mãn ý tưởng về nội dung, và được kiểm soát trong suốt quá trình sáng tạo và hoàn thiện tác phẩm Tranh dân gian Đông Hồ mang đầy đủ những yếu tố đặc trưng của một dòng tranh riêng biệt, chất liệu độc đáo, bố cục đa dạng tạo được ý vị thẩm mỹ riêng Bên cạnh giá trị nội dung, tranh dân gian Đông Hồ đã đạt đến giá trị nghệ thuật cao trong xử lý bố cục, cách điệu hình, màu sắc độc đáo hấp dẫn, nét vẽ sinh động
2.3 Tư duy không gian và một số biểu hiện không gian thường gặp trong
tranh khắc gỗ dân gian VN
2.3.1.Không gian đồng hiện
Đồng hiện nghĩa là cùng một lúc thể hiện một hiện tượng sự vật nào đó Đồng hiện là thủ pháp tạo hình cho phép người hoạ sĩ trên cùng một mặt phẳng có thể cùng một lúc tái hiện nhiều hoạt cảnh của đời sống với không gian, thời gian khác nhau