niêm yết tại Việt Nam, nhằm hiểu rõ hơn những quyết định của các doanh nghiệp chưa niêm yết tại Việt Nam khi chịu tác động của áp lực thể chế sẽ phản ứng như thế nào đến việc áp dụng chu
Trang 1HUỲNH VĂN TUẤN
ÁP LỰC THỂ CHẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ TỰ NGUYỆN ÁP DỤNG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ CỦA CÁC CÔNG TY CÓ VỐN
TƯ NHÂN CHƯA NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2HUỲNH VĂN TUẤN
ÁP LỰC THỂ CHẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ TỰ NGUYỆN ÁP DỤNG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ CỦA CÁC CÔNG TY CÓ VỐN
TƯ NHÂN CHƯA NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM.
Chuyên ngành: Kế toán (Hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 3chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế của các công ty có vốn tư nhân chưa niêm yết tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Các tài liệu và dữ liệu phân tích cũng như các kết quả nghiên cứu thể hiện trong luận văn là hoàn toàn trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng Tôi cam đoan chịu trách nhiệm hoàn toàn về đề tài nghiên cứu của mình
Người cam đoan
HUỲNH VĂN TUẤN
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU .1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU .6
1.1 Những nghiên cứu nước ngoài 6
1.2 Những nghiên cứu trong nước 11
1.3 Kết quả đạt được và những hạn chế từ những nghiên cứu trước 14
Trang 5TÓM TẮT CHƯƠNG 1 .17
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT .18
2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ chính 18
2.2 Tổng quan về IFRS 19
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển IFRS 19
2.2.2 Thực trạng áp dụng IFRS trên thế giới 21
2.2.3 Thực trạng áp dụng IFRS tại Viêt Nam 22
2.3 Các lý thuyết nền 24
2.3.1 Lý thuyết thông tin hữu ích 24
2.3.2 Lý thuyết hợp pháp 25
2.3.3 Lý thuyết thể chế 26
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 .29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Khung phân tích 30
3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 32
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 32
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 34
3.3 Quy trình nghiên cứu định lượng 41
3.3.1 Xác định thang đo 41
Trang 63.3.4 Phương pháp kiểm định mô hình 49
3.3.4.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 50
3.3.4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 50
3.3.4.3 Phân tích hồi quy Binary Logistic 51
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 .52
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 53
4.1 Kết quả nghiên cứu 53
4.1.1 Mô tả đặc điểm mẫu 53
4.1.2 Thống kê mô tả các biến quan sát 54
4.1.3 Kiểm định và đánh giá thang đo 61
4.1.3.1 Phân tích Cronbach’s Anpha 61
4.1.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 65
4.1.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy Binary Logistic 68
4.1.5 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 70
4.2 Bàn luận 73
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 .77
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Hàm ý chính sách 78
Trang 75.3 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai 80
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 80
5.3.2 Đề xuất cho các nghiên cứu trong tương lai 80
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 .82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Số thứ tự Viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
Trang 10niêm yết tại Việt Nam, nhằm hiểu rõ hơn những quyết định của các doanh nghiệp chưa niêm yết tại Việt Nam khi chịu tác động của áp lực thể chế sẽ phản ứng như thế nào đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá áp lực thể chế tác động đến sự tự nguyện áp dụng IFRS của các công ty có vốn tư nhân chưa niêm yết tại Việt Nam Bài luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích và định lượng Sử dụng phần mền SPSS 20.0 để xử lý dữ liệu thu thập được thông qua các phương pháp kiểm tra độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha, thống kê mô tả và phân tích hồi quy Mức độ ý nghĩa để khái quát cho toàn bô tổng thể trong bài nghiên cứu này là 5% dựa theo các nghiên cứu trước đây Kết quả nghiên cứu xác định có 10 yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nguyện áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế gồm: tính hợp pháp, sự phụ thuộc, tính nhất quán, thời gian áp dụng, tính linh hoạt, tính phổ biến , rủi ro kinh tế, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính và sự kết nối Từ những kết quả nghiên cứu này tác giả đưa ra những hàm ý chính sách cho các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp
Từ Khóa:
#Áp lực thể chế
#Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)
#Công ty có vốn tư nhân chưa niêm yết
Trang 11to better understand decisions of unlisted businesses in Vietnam, under the influence
of institutional pressure, will react to the application of international financial reporting standards The research objective of the thesis is to study the institutional pressure affecting the voluntary IFRS application of private unlisted companies in Vietnam This studies using integrated approach, analytical and quantitative research methods, using SPSS 20.0 software to process data collected through methods of Cronbach’s Alpha reliability testing, descriptive statistics and regression analysis The level of significance for the overall population as a whole is 5% based on previous studies The results of the study identify 10 factors affecting the voluntary application of international financial reporting standards: legality, dependency, consistency, duration, flexibility, calculation dissemination, economic risk, operational risk , financial risk and connectivity From the results of this study, the author offers policy for implications for Government agencies and businesses Keywords:
#Institutional pressures
#International Financial Reporting Standards (IFRS)
#Unlisted private companies
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) là một bộ chuẩn mực các quy tắc về kế toán được thừa nhận trên thế giới, được soạn thảo và phát triển bởi hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), IFRS cung cấp các thông tin kế toán có chất lượng cao và
đề xuất các quy tắc kế toán chặt chẽ Trên thế giới, cho đến nay đã có 131 quốc gia và vùng lãnh thổ bắt buộc áp dụng hoặc cho phép áp dụng một phần hoặc toàn bộ chuẩn mực này cho các báo cáo tài chính (BCTC) – kế toán của quốc gia mình IFRS không chỉ yêu cầu các quy tắc kế toán chặt chẽ, cung cấp các thông tin kế toán có chất lượng cao mà còn là sự minh bạch, hoàn chỉnh của báo cáo tài chính Đến nay, áp dụng IFRS đang là một xu thế kế toán quốc tế, nó giúp cho các nội dung kế toán được chuẩn hóa
và xuyên suốt tại các quốc gia khác nhau, điều này giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và đơn giản quy trình chuyển đổi các BCTC của mình Khi mà IFRS được
áp dụng phổ biến và có được sự công nhận trên phạm vi quốc tế, việc trình bày BCTC dựa trên các tiêu chuẩn của IFRS sẽ giúp cho các BCTC gia tăng sự minh bạch và tăng cường tính so sánh, việc này giúp doanh nghiệp tiếp cận và tham gia được thị trường vốn trên thế giới dễ dàng hơn
Bộ Tài chính đã có đề án và có lộ trình cụ thể để áp dụng IFRS vào thực tiễn Việt Nam cho các doanh nghiệp có nhu cầu, đủ khả năng và nguồn lực áp dụng IFRS Để có thể vận dụng chuẩn mực mới vào thực tế thì việc xem xét các ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn áp dụng bộ chuẩn mực mới cũng là một phần quan trọng
Trên thực tế, các nhà khoa học trên thế giới đã công bố nhiều công trình nghiên cứu
có liên quan đến đến việc áp dụng IFRS, trên cơ sở đánh giá các yếu tố có tác động đến
áp dụng IFRS thì Archambault & Archambault (2009) có bài “An analysis of social factors influencing the adoption of International Financial Reporting Standards” Một tác giả khác là Zehri & Chouaibi (2013) đã công bố “Adoption determinants of the International Accounting Standards IAS/IFRS by the deverloping countries”, hay như
Trang 13Bassemir (2018) nghiên cứu “Why do private firms adopt IFRS?” Và ở quy mô ở từng nền kinh tế quốc nội cũng có những công trình khoa học về sử dụng IFRS như: Odia (2016) có bài “The Determinants and Financial Statement Effects of IFRS Adoption in Nigeria” Paknejad (2017) “Analysis of Affecting Factors on IFRS Adoption:Case Study in Iran”
Ở tại Việt Nam, có nhiều công trình đã được công bố về việc áp dụng IFRS tại Việt Nam như: Hà Xuân Thạch (2011) “Vận dụng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế vào công tác lập báo cáo tài chính ở các công ty cổ phần Việt Nam chuẩn bị niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế” Nguyễn Hữu Cường (2011) phân tích về
“khả năng áp dụng chuẩn mục kế toán quốc tế / chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế” Phan Thị Hồng Đức (2014) “Kiểm tra các yếu tố quyết định áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam trên quan điểm thể chế” Lê Hoàng Phúc (2014) nghiên cứu “Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp trong điều kiện ở Việt Nam” Trần Thị Cẩm Thanh và cộng sự (2019) công bố nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nguyện áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các doanh nghiệp Việt Nam”
Tuy nhiên các công trình khoa học vẫn còn ít bàn về tác động của áp lực thể chế có tác động đến sự lựa chọn áp dụng IFRS tự nguyện Do đó, luận văn này sẽ nghiên cứu
áp lực thể chế tác động đến sự tự nguyện áp dụng IFRS của các công ty có vốn tư nhân chưa niêm yết Qua đó để hiểu rõ hơn những phản ứng của các công ty có vốn tư nhân chưa thực hiện niêm yết chứng khoán tại Việt Nam khi chịu sự ảnh hưởng của các ràng buộc thể chế sẽ phản ứng như thế nào đến sự lựa chọn áp dụng IFRS Từ những kết quả
có được, luận văn đóng góp thêm những bằng chứng nhằm giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố của áp lực thể chế và việc áp dụng IFRS
2 Mục tiêu nghiên cứu
Để tìm hiểu sự tự nguyện áp dụng IFRS ở tại các công ty có vốn tư nhân chưa thực hiện niêm yết chứng khoán tại Việt Nam Luận văn đề ra các mục tiêu nghiên cứu:
Trang 143 Câu hỏi nghiên cứu:
Từ những mục tiêu nghiên cứu đã trình bày như trên, câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong bài luận văn như sau:
1 Các nhân tố của áp lực thể chế có tác động đến lựa chọn của các doanh nghiệp có vốn tư nhân trong việc tự nguyện áp dụng IFRS như thế nào?
2 Mức độ tác động của các nhân tố của áp lực thể chế trong việc ra quyết định
tự nguyện áp dụng IFRS của các doanh nghiệp tư nhân ra sao?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các nhân tố của áp lực thể chế tác động đến các doanh nghiệp có vốn tư nhân (không có yếu tố nhà nước) chưa thực hiện niêm yết chứng khoán trên thị trường quốc
tế cũng như tại Việt Nam
4.2 Thời gian nghiên cứu:
Bài luận văn được tiến hành từ tháng 06 năm 2019
Bảng khảo sát được phát và thu thập từ tháng 10 đến giữa tháng 11 năm 2019 4.3 Phạm vi nghiên cứu:
Các công ty có vốn tư nhân (không có yếu tố nhà nước), bao gồm tất các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam theo luật doanh nghiệp 68/2014/QH13, nhưng chưa thực hiện niêm yết cổ phiếu
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu.
Từ mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu (PPNC) cụ thể sau:
- Đối với câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, luận văn sử dụng phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích để xác định các nhân tố của áp lực thể chế tác động đến quyết định áp dụng IFRS tự nguyện của các doanh nghiệp có vốn tư nhân chưa thực hiện niêm yết
- Với câu hỏi nghiên cứu thứ hai, PPNC định lượng được sử dụng gồm tiến hành thu thập và phân tích dữ liệu thông qua các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo và phân tích hồi quy Mức độ ý nghĩa để khái quát cho toàn bộ tổng thể trong bài luận văn này là 5% dựa theo các nghiên cứu đã được công
bố nhằm xác định tác động của từng nhân tố trong việc ra quyết định tự nguyện áp dụng IFRS thông qua công cụ SPSS 20.0
6 Kết cấu luận văn
Luận văn có kết cấu gồm 5 chương và được trình bày cụ thể như sau:
Phần mở đầu
Nêu lên tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phần này cũng trình bày PPNC được sử dụng trong luận văn cũng như kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan những công trình nghiên cứu
Trong chương này trình bày các nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến việc áp dụng IFRS trên thế giới và tại Việt Nam
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Tác giả trình bày các tổng quan về IFRS như lịch sử hình thành và phát triển của IFRS, thực trạng áp dụng IFRS trên thế giới và tại Việt Nam Các khái niệm và thuật ngữ chính được sử dụng trong luận văn cũng như các lý thuyết nền cũng được trình bày trong chương này
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 16Tác trình bày khung phân tích, các giả thuyết nghiên cứu dựa trên các công trình khoa học có trước và kế thừa nghiên cứu của (Guerreiro et al, 2012), quy trình nghiên cứu định lượng: bao gồm xác định thang đo, thu thập dữ liệu, xác định cỡ mẫu, thiết kế nghiên cứu và phương pháp kiểm định mô hình
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trong chương 4, tác giả trình bày các bước và kết quả phân tích dựa trên số dữ liệu thu thập được và tiến hành phân tích trên phần mềm SPSS 20.0, sau đó tác giả tiến hành bàn luận dựa trên kết quả nghiên cứu có được
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả nêu kết luận và hàm ý chính sách Đồng thời cũng nêu ra những hạn chế của luận văn và đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU.
1.1 Những nghiên cứu nước ngoài
Guerreiro et al, (2012) trong nghiên cứu “Voluntary adoption of International Financial Reporting Standards by large unlisted companies in Portugal - Institutional logics and strategic responses” cho rằng vận dụng lý thuyết thể chế học để có thể tìm hiểu đầy đủ hơn và tốt hơn trong nghiên cứu việc áp dụng tự nguyện IFRS, trong đó nhấn mạnh lợi ích, bản sắc, giá trị và nhận thức chủ quan của cá nhân và tổ chức Tác giả đã kiểm định lý luận thể chế học có quan hệ đến việc lựa chọn IFRS là như thế nào, ảnh hưởng của các giả thuyết dự đoán các hành vi và các phản ứng của tổ chức như thế nào dưới áp lực thể chế trong lựa chọn IFRS Đầu tiên, Guerreiro và cộng sự sử dụng
mô hình của (Oliver, 1991) để xem xét sự chấp nhận hay không chấp nhận của các công ty, tổ chức đối với áp lực thể chế Thứ hai, tác giả kiểm tra trong phạm vi của lý thuyết thể chế thì các doanh nghiệp sẵn sàng phản hồi lại các áp lực thể chế như thế nào Thứ ba, tác giả mở rộng thêm các nghiên cứu trước dựa theo kinh nghiệm để xem xét các yếu tố thể chế thúc đẩy việc áp dụng IFRS tự nguyện Bằng cách khảo sát 500 doanh nghiệp lớn tại Bồ Đào Nha và tiến hành các phân tích The Komolgorov–Smirnov z test, Mann–Whitney U test và Chi-square test để kiểm tra những giả thuyết
về sự tự nguyện áp dụng IFRS Kết quả cho thấy rằng tính hợp pháp là một yếu tố mạnh mẽ tác động đến việc áp dụng IFRS tự nguyện Những công ty là công ty con hoặc bị phụ thuộc tài chính cũng dễ dàng chấp nhận IFRS, do các doanh nghiệp này dễ
bị phụ thuộc từ nguồn vốn từ bên ngoài Khi môi trường kinh doanh có nhiều sự rủi ro cũng là yếu tố khuyến khích việc áp dụng IFRS tự nguyện, điều này sẽ làm gia tăng niềm tin từ các chủ thể bên ngoài vào BCTC của doanh nghiệp Nếu có sự kết nối cao giữa các công ty cùng ngành, cùng lĩnh vực hoạt động thì cũng có ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sử dụng hoặc tuân theo IFRS Theo kết quả, tác giả phát hiện ra rằng để tìm hiểu sự khuếch tán và tuân thủ thể chế thì lý thuyết thể chế cung cấp một khung lý
Trang 18thuyết rõ ràng Tuy nhiên, mặt hạn chế là chưa đánh giá được việc áp dụng IFRS tự nguyện có lợi như thế nào và chưa đánh giá tầm quan trọng của từng nhân tố trong việc tạo động lực để áp dụng IFRS một cách tự nguyện
Ở một khía cạnh tổng quan hơn trên cấp độ của quốc gia, Zehri and Chouaibi (2013) công bố công trình “Adoption determinants of the international accounting standards IAS/IFRS by the developing countries” Tác giả đã dựa theo nghiên cứu của (Zeghal and Mhedhbi, 2006) và phát triển thêm Mục đích của tác giả nhằm xác định các yếu tố mang tính quyết định đến việc sử dụng IFRS tự nguyện dựa trên dữ liệu từ
74 quốc gia đang phát triển, mà cụ thể hơn chính là để hiểu các nguyên nhân cơ bản phía sau của các quyết định áp dụng IFRS của những nước đang phát triển Trong đây, tác giả tiến hành kiểm tra, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sử dụng IFRS thông qua bảy nhân tố: hệ thống chính trị hiện hành, nền văn hóa của quốc gia, thị trường vốn của nền kinh tế, sự phát triển của kinh tế, hệ thống giáo dục, sự mở cửa nền kinh tế và hệ thống pháp luật của quốc gia PPNC định lượng – phân tích hồi quy logictis được sử dụng Kết quả chỉ ra có 4 yếu tố là sự mở cửa của nền kinh tế, sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống giáo dục quốc gia tiên tiến và hệ thống luật pháp hiện hành là tác động đến lựa chọn sử dụng IFRS Từ kết quả đạt được, tác giả cho rằng quyết định chấp nhận các chuẩn mực quốc tế có liên quan chặt chẽ với các yếu tố thể chế đó là sự tiến bộ của nền kinh tế và quy định pháp luật hiện hành của các quốc gia đang phát triển Trong nghiên cứu này khả năng chứng minh của mô hình còn hạn chế, tác giả còn bỏ sót nhiều nhân tố chưa đưa được hết vào mô hình Tác giả chưa đánh giá ảnh hưởng của IFRS đối với công tác kế toán là như thế nào, các nội dung của IFRS có ảnh hưởng đến các nền kinh tế của các nước đang phát triển này hay không
André et al, (2014) công bố công trình khoa học về sự chọn lựa áp dụng IFRS
tự nguyện với đề tài “Voluntary adoption of IFRS: A study of determinants for UK unlisted firms” Tác giả muốn kiểm định các đặc điểm của những doanh nghiệp tự nguyện áp dụng IFRS và những lợi ích mang lại khi những doanh nghiệp này sử dụng IFRS Tác giả nhận thấy ý nghĩa tiềm năng cho các cơ quan quản lý về việc tìm hiểu
Trang 19thực hành kế toán tại các công ty chưa niêm yết vì phần lớn những công ty ở Mỹ và châu Âu là những công ty chưa thực hiện niêm yết, theo kết quả nghiên cứu của (Bassemir, 2011) thì hơn 99% các công ty tại Mỹ và Châu Âu là chưa niêm yết Tác giả cũng đóng góp thêm các lý thuyết về quyết định lựa chọn sử dụng IFRS tự nguyện
mà cụ thể là các công ty chưa niêm yết Công trình nghiên cứu này cũng đưa ra các khám phá về các vấn đề về chi phí phải bỏ ra và những xung đột lợi ích quanh việc quyết định lựa chọn sử dụng một bộ tiêu chuẩn cụ thể Kết luận cho rằng, quá trình chọn lựa một chuẩn mực kế toán là một quyết định của việc xem xét giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra Bài viết khảo sát các yếu tố là tác nhân của việc tự nguyện sử dụng IFRS ở các doanh nghiệp chưa thực hiện niêm yết có quy mô vừa và lớn tại Anh (bao gồm 287 công ty đã sử dụng IFRS và 8.130 công ty chưa sử dụng), nghiên cứu sử dụng các PPNC đơn biến và hồi quy để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ của những đặc điểm doanh nghiệp và áp dụng IFRS tự nguyện Tác giả cho thấy các yếu tố như: tính quốc tế, khả năng sử dụng đòn bẩy tài chính, quy mô của doanh nghệp và danh tiếng của công ty kiểm toán giải thích được sự tự nguyện lựa chọn IFRS của các công
ty chưa niêm yết tại Anh, ngoài ra phần kết luận cũng chỉ ra các doanh nghiệp mới thành lập có nhiều khả năng chọn áp dụng IFRS hơn Thông qua đây, bài viết cũng góp thêm các bằng chứng về lợi ích từ việc áp IFRS là lớn hơn chi phí bỏ ra Việc tìm kiếm BCTC của các doanh nghiệp chưa thực hiện niêm yết còn bị giới hạn, chưa tiếp cận được các doanh nghiệp có quy mô nhỏ chính là những hạn chế của nghiên cứu này
Tại châu Á, Lee et al, (2015), có bài nghiên cứu “The effect of voluntary IFRS adoption by unlisted firms on earnings quality and the cost of debt: empirical evidence from Korea” Công trình này nghiên cứu về áp dụng IFRS tự nguyện có tác động đến chất lượng thu nhập và chi phí nợ của các công ty chưa niêm yết tại Hàn Quốc như thế nào trong bối cảnh bộ chuẩn mực này đã được áp bắt buộc đối với các doanh nghiệp đã niêm yết Bằng việc thu thập mẫu là các doanh nghiệp chưa niêm yết (các công ty tài chính không bao gồm trong mẫu) trong khoản thời gian trước và sau khi áp dụng IFRS, tác giả đặt ra câu hỏi rằng liệu những doanh nghiệp áp dụng IFRS thì những khoản ước
Trang 20tính và chi phí nợ có thấp hơn những công ty không áp dụng hay không và các chi phí
nợ, khoản ước tính kế toán có giảm sau khi những doanh nghiệp này sử dụng IFRS hay không? Thông qua PPCN định lượng như tương quan và hồi quy, thống kê mô tả Bài viết sử dụng các biến độc lập gồm: tỷ lệ nợ, quy mô công ty, tỷ lệ tài sản cố định và lợi nhuận trên tổng tài sản để đánh giá mức độ ảnh hưởng của những nhân tố này này đến biến phụ thuộc là việc chấp nhận áp dụng IFRS Tác giả chỉ ra ở những doanh nghiệp
áp dụng IFRS có chất lượng thu nhập cao hơn và chi phí nợ thấp hơn những doanh nghiệp không áp dụng IFRS Công trình này cũng đóng góp thêm những hiểu biết về các nhân tố thúc đẩy đằng sau việc các công ty chưa niêm yết sử dụng IFRS tự nguyện
và đánh giá được những ảnh hưởng của các yếu tố này Trong bài viết này, tác giả cũng cho rằng các công ty chưa niêm yết chưa sử dụng IFRS là do chi phí phát sinh khi áp dụng sẽ cao hơn so với các quy chuẩn kế toán quốc nội Kết quả cũng chỉ ra nếu các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng IFRS sẽ được lợi ích như là chi phí nợ sẽ thấp hơn Hạn chế có thể thấy là tác giả chưa đánh giá được giá trị của các công ty chưa niêm yết, bên cạnh đó cũng thiếu sự so sánh giữa các doanh nghiệp đã niêm yết và chưa niêm yết
Năm 2015, có bài nghiên cứu “Choice of accounting framework from a stakeholder and disclosure perspective” của Aleksander Saga (2015) Mục đích là tìm hiểu về quy định công bố thông tin, cụ thể là sự khác biệt trong cách công khai các dữ liệu tài chính – một phần quan trọng của quy trình kế toán Việc áp dụng IFRS là thể hiện cam kết công bố nhiều hơn mức cần thiết so với các quy định kế toán quốc nội Mục đích của bài nghiên cứu là từ gốc độ của các chủ thể có liên quan để mô tả và phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn khung kế toán cho các doanh nghiệp lớn chưa niêm yết Tác giả đánh giá các doanh nghiệp lớn chưa thực hiện niêm yết của Thụy Điển về lựa chọn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia hoặc IAS/IFRS dưới sự tác động của chủ sở hữu và cách thức về công bố thông tin PPNC trong bài này dựa trên PPNC định lượng và suy diễn, dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê, kiểm định tương quan Pearson và hồi quy Logistic Nghiên cứu tập trung vào
Trang 21các lý thuyết lựa chọn kế toán để tìm hiểu lý do vì sao các công ty đưa ra lựa chọn một khuôn mẫu kế toán và làm thế nào môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến các lựa chọn này, sau đó dựa trên các lý thyết nền, bài viết đưa ra những giả thuyết có sự tham khảo
và phát triển thêm từ những nghiên cứu đã có Phân tích dữ liệu dựa trên 957 mẫu là các công ty chưa niêm yết tại Thụy Điển và tiến hành khảo sát thông qua email Kết quả nghiên cứu cho rằng mong muốn có được dữ liệu tài chính của chủ doanh nghiệp trong các trình bày và công bố thông tin có ảnh hưởng đến chọn lựa khuôn mẫu kế toán, đặc biệt là các chủ sở hữu có yếu tố nước ngoài có tác động đến sự chọn lựa sử dụng khuôn mẫu kế toán có chất lượng cao hơn, đó là khuôn mẫu kế toán quốc tế Công trình này cũng đóng góp thêm những phát hiện cho rằng mong muốn có được dữ liệu tài chính của chủ sỡ hữu là một nhân tố có tác động lớn trong quá trình chọn lựa khung kế toán Tác giả chỉ mới dừng lại ở việc xem xét yếu tố tác động của chủ sỡ hữu, chưa đánh giá được tác động của các bên liên quan khác như là các tác động từ xã hội… đến việc lựa chọn chuẩn mực kế toán cho các doanh nghiệp
Gần đây nhất, tiếp nối theo các nghiên cứu tìm hiểu về quá trình áp dụng IFRS, Bassemir (2018) thực hiện bài viết “ Why do private firms adopt IFRS?” Tác giả nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến quyết định áp dụng IFRS tại các công ty có vốn
tư nhân Trong bối cảnh tại Đức, dựa trên các BCTC của các doanh nghiệp không có yếu tố sở hữu nhà nước được công bố, và bằng phương pháp hồi quy logit về sự lựa chọn giữa IFRS và chuẩn mực kế toán quốc gia của 3.000 công ty tư nhân ở Đức với hơn 14.000 BCTC trong giai đoạn 1998 đến 2010, trong quá trình thu thập dữ liệu tác giả bỏ qua các tổ chức tài chính, tín dụng Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp có vốn tư nhân lớn, có nhiều công ty con và có nhiều giao thương với quốc tế thì có nhiều
xu hướng áp dụng IFRS, bởi vì họ có nhu cầu sử dụng thông tin mang tính sự phức tạp cao hơn và các chuẩn mực của IFRS đáp ứng được nhu cầu này Hơn nữa, bài viết cũng chỉ ra lãi ròng dự kiến khi sử dụng IAS thay đổi đáng kể trên các nhóm công ty tư nhân, tùy thuộc vào nhu quản lý và cầu tài chính của họ Cụ thể, các công ty tư nhân sử dụng IFRS có nhiều cơ hội tăng trưởng hơn, nhiều hoạt động quốc tế, được tận dụng
Trang 22nhiều hơn các yếu tố bên ngoài như kêu gọi vốn, đăng ký lên sàn chứng khoán Tác giả chưa xem kết quả của việc áp dụng IFRS trong điều kiện các công ty được tác động thúc đẩy để áp dụng IFRS
1.2 Những nghiên cứu trong nước
Để làm rõ hơn và đi sâu và chi tiết hơn về việc áp dụng IFRS thì Phan Thị Hồng Đức (2014) đã công bố bài “Kiểm định các yếu tố chính quyết định đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Một quan điểm thế chế” Mục tiêu của tác giả là giải đáp cho câu hỏi nghiên cứu: những yếu tố chính nào quyết định đến việc áp dụng IFRS tại các nước mới nổi và nền kinh tế quá độ mà Việt Nam là một
ví dụ Bài viết dùng bảng câu hỏi và các phương pháp định lượng kết hợp định tính để kiểm định nhận thức của những nhà chuyên môn trong lĩnh vực kế toán về các yếu tố chính quyết định đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tại Việt Nam Kết quả, tác giả xác nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố thể chế như: bắt buộc, quy chuẩn, mô phỏng và tính chính thống liên quan đến chọn lựa tự nguyện hoặc ép buộc
áp dụng IFRS tại Việt Nam Nghiên cứu chưa xác định được các yếu tố lợi ích có thực
sự hiệu quả khi IFRS được áp dụng, các mẫu dữ liệu thu thập còn hạn chế cũng như các nhân tố kiểm định trong mô hình còn chưa đầy đủ, chưa có các nhân tố mới phát sinh theo thực tế hiện hành Các ý kiến đánh giá chỉ mới giới hạn trong giới kế toán tài chính, thiếu những đánh giá từ những đối tượng sử dụng khác
Tiếp nối chủ đề nghiên cứu về lựa chọn sử dụng IFRS, Phan Thị Hồng Đức và BrunoMascitelli (2014) có bài “Phương pháp và mốc thời gian tối ưu cho việc áp dụng IFRS tại Việt Nam: Nhận thức từ các chuyên gia kế toán” Bài viết này giới thiệu những phát hiện dựa trên các quan điểm từ các học giả và những chủ thể tham gia công tác kế toán liên quan đến phương pháp và thời gian tối ưu cho việc áp dụng IFRS tại Việt Nam Mục tiêu của tác giả là làm rõ ràng hơn về các phương pháp và thời gian tối
ưu để vận dụng IFRS tại Việt Nam Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích các dữ liệu khảo sát có được để giải quyết mục tiêu nghiên cứu Tiến hành gửi 3.000 phiếu khảo sát đến các học giả và kế toán viên để khảo sát quan điểm về IFRS và
Trang 23sự phù hợp của nó đối với Việt Nam Bài viết chỉ ra rằng phương pháp để vận dụng IFRS tại Việt Nam phải là tự nguyện và cần có khoản thời gian chuyển tiếp 5 năm để chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS Hạn chế của nghiên cứu này là kết quả có được từ 1 bảng câu hỏi khảo sát đơn điệu, các đối tượng khảo sát có thể không đại diện hết toàn
bộ những người tham gia công tác kế toán, các đối tượng còn chưa bao gồm các cơ quan chính phủ cũng như các tổ chức nghề nghiệp
Cũng liên quan đến việc áp dụng IFRS, nhóm tác giả Trần Thị Cẩm Thanh và cộng sự (2019) Có bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại các công ty niêm yết: Bằng chứng tại Việt Nam” Bài viết đã đề cập đến các lợi ích khi
áp dụng IFRS như là: cải thiện thông tin trên báo cáo tài chính, tăng cường khả năng hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh và nâng cao chất lượng nguồn nhân sự kế toán kiểm toán… Mục đích của bài nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại các công ty niêm yết của Việt Nam như là: Quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, chất lượng của kiểm toán, sự niêm yết trên thị trường quốc tế Bài nghiên cứu áp dụng các PPNC tổng hợp với mô hình hồi quy logistic Dữ liệu nghiên cứu gồm 154 BCTC của năm 2018 đã được kiểm toán Kết quả chỉ ra có 3 yếu tố trong số 5 yếu tố được kiểm định là có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp đã niêm yết tại Việt Nam đó là lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu, quy mô doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán Nghiên cứu này bị giới hạn bởi mẫu còn hạn chế, việc sử dụng BCTC có thể chưa được chính xác khi được công bố Bên cạnh đó nghiên cứu này chỉ mới kiểm định 5 yếu tố gồm: chất lượng kiểm toán, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường quốc tế, mà chưa bỏ qua các yếu tố khác của doanh nghiệp
Gần đây nhất, các tác giả Đoàn Thị Dung và cộng sự (2020) có bài nghiên cứu
“Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng IFRS thông qua nhận thức của các nhà quản trị kinh doanh và kiểm toán viên tại Việt Nam” Mục tiêu của tác giả là đánh giá tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS thông qua nhận thức của các
Trang 24nhà quản trị và kiểm toán viên tại Việt Nam Nghiên cứu áp dụng các PPNC định lượng và định tính dựa trên phân tích toàn diện và tổng hợp các thông tin từ nguồn dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn 500 nhà quản trị và kiểm toán viên đang làm việc tại Việt Nam Từ việc kiểm định 6 yếu tố như: cơ sở pháp lý của hoạt động kế toán, trình độ và năng lực của kế toán viên, đặc điểm của doanh nghiệp, quản lý nhà nước về hành nghề
kế toán, quản trị doanh nghiệp và nền kinh tế, văn hóa, xã hội Nghiên cứu chỉ ra kết quả các yếu tố cơ sở pháp lý của hoạt động kế toán, trình độ và năng lực của kế toán viên, đặc điểm của doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp là có ảnh hưởng đến khả năng áp dụng IFRS tại Việt Nam, trong đó 2 yếu tố quản trị doanh nghiệp và trình độ
và năng lực của kế toán viên là có tác động mạnh mẽ nhất.Về nhận thức của các nhà quản trị và kiểm toán viên về khả năng áp dụng IFRS không có tác dụng đáng kể Tuy nhiên nghiên cứu cũng còn tồn tại mặt hạn chế là: tác giả thực hiện lấy mẫu thuận tiện
và thực hiện trong một giai đoạn ngắn, vì vậy kết quả làm giảm tính khách quan và khái quát, những kiến nghị chỉ mang tính ngắn hạn
Cũng trong năm này, Bùi Thị Ngọc và cộng sự (2020) công bố nghiên cứu “Lộ trình áp dụng IFRS của Việt Nam: lợi ích và thách thức” Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm kiểm định những lợi ích và khó khăn khi áp dụng IFRS tại Việt Nam, xác định sự khác biệt về lợi ích và khó khăn của từng loại doanh nghiệp, người lao động Tác giả
sử dụng PPNC định lượng qua việc khảo sát 119 giám đốc và kế toán trưởng, kế toán viên có trách nhiệm lập BCTC tại các doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc sở hữu tư nhân đang hoạt động tại khu vực phía Bắc và khu vực phía Nam, sử dụng thang đo 5 bậc Kết quả nghiên cứu cho thấy khi áp dụng IFRS thì chất lượng của các thông tin tài chính tăng lên, các rủi ro đầu tư giảm đi, tăng trưởng
về thị trường và thu hút được nhiều nhà đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tuy nhiên các doanh nghiệp cũng gặp các khó khăn như các vấn đề về chi phí, nguồn nhân sự và cơ
sở pháp lý Mặt hạn chế của nghiên cứu này là mẫu khảo sát còn ít, và giới hạn tại các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân Việc xác định các nhân tố lợi ích và thách thức được lấy từ các công trình khoa học đã có trước đó, chưa phát triển thêm các nhân tố
Trang 25mới Do đó, kết quả nghiên cứu chưa đại diện được hết cho tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam
1.3 Kết quả đạt được và những hạn chế từ những nghiên cứu trước:
1.3.1 Những kết quả nghiên cứu có được
Thông qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu được trình bày như trên, có thể rút ra được những kết quả mà các nghiên cứu có được như sau:
Các nghiên cứu đã được công bố chỉ ra một khung lý thuyết cho sự chấp nhận những yêu cầu của thể chế đặt ra như là phải đáp ứng tính chính thống, mô phỏng theo
số đông…, phân tích được các phản ứng của doanh nghiệp trong việc lựa chọn sử dụng IFRS là kết quả của (Guerreiro et al., 2012), (Phan Thị Hồng Đức, 2014)
Ngoài các yếu tố thể chế thì nghiên cứu về các yếu tố xã hội cũng chỉ ra việc áp dụng IFRS tự nguyện tại các nước phát triển kinh tế và trình độ dân trí cao là cao hơn
so với các nước khác là kết quả có được từ nghiên cứu của (Zehri & Chouaibi, 2013)
Tiếp đó các nghiên cứu về những lợi ích khi áp dụng IFRS cũng đóng góp thêm những bằng chứng cho thấy ích lợi khi áp dụng IFRS, qua đó củng cố thêm cho kết quả của những công trình đã được công bố về việc áp dụng IFRS mang đến những lợi ích thế nào và cũng là tác nhân thúc đẩy mạnh trong việc áp dụng IFRS tự nguyện tại các doanh nghiệp Các kết quả này được được các tác giả (André et al., 2014), (Lee, Y H., Kang, S A., & Cho, S M, 2015), (Aleksander Saga, 2015), (Bùi Thị Ngọc và cộng sự, 2020) cung cấp
Hơn nữa những công trình nghiên cứu cũng đã đánh giá được các nhân tố có ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IAS/IFRS dựa trên những quan điểm khác nhau của những đối tượng khác nhau về yêu cầu công bố thông tin tài chính là những nhân
tố có tính quyết định cho việc áp dụng IFRS Kết quả này có được từ nghiên cứu của (Aleksander Saga, 2015), (Bassemir, 2018), (Đặng Đức Sơn, 2011), (Phan Thị Hồng Đức, 2014), (Trần Thị Cẩm Thanh và cộng sự, 2019)
Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đã đưa ra thêm thông tin để có cơ sở nhận xét việc áp dụng IFRS phải trên cơ sở tự nguyện và cần có thời gian chuyển đổi trước khi
Trang 26áp dụng hoàn toàn bộ chuẩn mực mới và việc sẵn sàng từ phía doanh nghiệp là quan trọng (Phan Thị Hồng Đức và BrunoMascitelli, 2014) Chỉ ra những việc cần phải chuẩn bị trong nội bộ doanh nghiệp trước khi chuyển đổi sử dụng chuẩn mực kế toán mới (Phan Thị Hồng Đức và BrunoMascitelli, 2014)
1.3.2 Hạn chế của các nghiên cứu trước
Bên cạnh những thành tựu mà các nghiên cứu đạt được thì cũng có mặt hạn chế mà các nghiên cứu chưa hoàn thiện được như:
Các nghiên cứu chưa nêu được tầm quan trọng về mức độ tác động của từng nhân tố trong việc tác động đến sự tự nguyện áp dụng IFRS mà chỉ mới chỉ ra các nhân
tố có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS như trong nghiên cứu của (Guerreiro et al., 2012), (Đặng Đức Sơn, 2011)
Ở khía cạnh phát hiện ra nhân tố mới còn hạn chế, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng còn mang tính chủ quan, bị giới hạn Các nhân tố được lựa chọn chưa bao hàm hết sự tác động từ thực tế đến sự áp dụng IFRS tự nguyện là do các nguồn lực và thời gian còn bị hạn chế, do đó các nghiên cứu chủ yếu tập trung đóng góp những quan điểm mới cho các yếu tố đã có trước Mặt khác các đối tượng khảo sát chỉ mới tập trung vào những người làm kế toán và nhà quản trị nên tính tổng quát chưa được rõ nét Những hạn chế này có thể thấy từ các nghiên cứu của (Aleksander Saga, 2015), (Đặng Đức Son, 2011), (Phan Thị Hồng Đức và BrunoMascitelli, 2014), (Trần Thị Cẩm Thanh và cộng sự, 2019)
Bên cạnh đó, các nghiên cứu chưa đánh giá được nếu áp dụng IFRS sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào Và nếu các doanh nghiệp bị tác động phải áp dụng IFRS thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với bản thân doanh nghiệp (Zehri & Chouaibi, 2013), (Lee, Y H., Kang, S A., & Cho, S M, 2015), (Bassemir, 2018)
Hơn nữa, các nghiên cứu đã được công bố chưa có nghiên cứu sâu về khác biệt yêu cầu công bố thông tin giữa trước và sau khi áp dụng IFRS mà chỉ mới so sánh giữa các doanh nghiệp có áp dụng IFRS và không áp dụng IFRS như (Lee, Y H., Kang, S A., & Cho, S M, 2015)
Trang 27Từ những đánh giá tổng quan và những mặt hạn chế cũng như các đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo, tác giả nhận thấy vẫn còn có những khoản trống nghiên cứu
về việc áp dụng IFRS trên cơ sở tự nguyện dưới gốc nhìn từ quan điểm thể chế tại Việt Nam Luận văn này dựa theo đề xuất của (Phan Thị Hồng Đức, 2014) kiểm định thêm các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS trên quan điểm thể chế và kế thừa nghiên cứu của (Guerreiro et al., 2012) để xác định các nhân tố của áp lực thể chế có tác động đến áp dụng IFRS tự nguyện tại Việt Nam
Trang 28TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Ở chương 1, tác giả giới thiệu tổng quan về những nghiên cứu có liên quan đến việc áp dụng IFRS trên thế giới cũng như tại Việt Nam Đồng thời cũng chỉ ra những PPNC và các kết quả nghiên cứu mà các công trình nghiên cứu trước đạt đươc Tác giả đã xác định được khoản trống nghiên cứu làm tiền đề để bài luận văn này tiếp tục kế thừa và tiếp nối đề tài về việc áp dụng IFRS tự nguyện
Trang 29CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ chính
Doanh nghiệp có vốn tư nhân
Doanh nghiệp có vốn tư nhân: là tất cả loại hình doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp 68/2014/QH13 ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước (do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ),
Những doanh nghiệp có vốn của Nhà nước hoặc do Nhà nước điều hành và quản lý không bao gồm trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn này
Khái niệm thể chế
Thể chế còn được hiểu là những nhu cầu khách quan của con người do các lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau quy định, thể chế còn là những khuôn mẫu, khuôn phép chung mà các thành viên trong xã hội có thể dựa vào để hành động cho phù hợp Khái niệm thể chế là một khái niệm phức tạp và cần được xem xét dưới nhiều góc độ (Fichter, J H., 1954)
Thể chế là một loại cấu trúc quan trọng của xã hội (Hodgson, G M., 1988) Nó tạo nên những quy tắc trong xã hội, các hoạt động và sự tương tác của con người đều tuân theo các quy tắc công khai hoặc ngầm định này Thể chế còn là một hệ thống để định hình và phổ biến các quy tắc, cấu trúc của xã hội Các loại hình thể chế gồm: ngôn ngữ, tiền tệ, hệ thống do lường, pháp luật, cách ứng xử và loại hình tổ chức…
Theo (Douglas North, 1990) thì thể chế là những quy định cụ thể trong xã hội, là những ràng buộc do con người tạo ra để điều chỉnh các hoạt động của mình, là những giới hạn được đưa ra trong sự hiểu biết và khả năng của con người Vai trò của thể chế
là cung cấp một cấu trúc cho các hoạt động đời sống hàng ngày, hướng dẫn sự tương tác giữa con người với nhau
Trong nghiên cứu của (Schotter, A, 2008) cho rằng thể chế được xem như là các quy tắc trong hành vi của các tác nhân xã hội, các quy tắc này đã ngầm tạo ra những biện pháp để giải quyết vấn đề phát sinh trong xã hội Bản chất của quy tắc này làm
Trang 30cho nó được mô tả như một công cụ mà các đối tượng trong xã hội sử dụng như một kênh thông tin để so sánh
Theo quan điểm của các chuyên gia kinh tế thì thể chế kinh tế là những quy định pháp luật, luật lệ, quy định, quy tắc…nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi
và các quan hệ kinh tế (Lê Hồng Hiệp, 2016) Cũng theo tác giả thì thể chế có 2 cách hiểu Thứ nhất, thể chế là khái niệm gồm những quy tắc, quy định được thừa nhận chính thức hoặc không chính thức hay những quan điểm mà nó có tác dụng chi phối đến sự tương tác của các chủ thể với nhau trong những lĩnh vực nhất định Các thể chế thể hiện vai trò ở chỗ tạo nên những khuôn khổ và những quy tắc mà ở đó có thể dự đoán được các hành động của chủ thể Thứ hai, thể chế là một cơ quan Nhà nước hoặc
tổ chức công lập với các chức năng được quy định cụ thể nhằm điều chỉnh các lĩnh vực
có liên quan cho toàn bộ dân cư Theo như cách hiểu này thì tại một quốc gia các thể chế chính trị bao gồm chính phủ, quốc hội… Trong phạm vi quốc tế thì thể chế quốc tế
là các tổ chức liên chính phủ
Từ những khái niệm của các nhà xã hội học và nhà kinh tế học đã nêu như trên, tác giả nhận định rằng thể chế là tập hợp các vai trò và vị thế có chủ đích nhằm để thỏa mãn các nhu cầu quan trọng của xã hội, là những quy định luật lệ mà mọi người bắt buộc phải tuân thủ trong một chế độ xã hội
Trong phạm vi bài luận văn, tác giả dựa trên quan điểm khái niệm thể chế là những quy tắc, quy định được thừa nhận chính thức hoặc không chính thức hoặc là những quan điểm chung, những yếu tố môi trường có tác động định hướng và chi phối các chủ thể
2.2 Tổng quan về IFRS
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển IFRS
IFRS là bộ chuẩn mực kế toán quốc tế được soạn thảo bởi hội đồng chuẩn mực
kế toán quốc tế (IASB) Bộ chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đã được phát triển từ những năm 70 của thế kỷ 20 cho đến năm 2000 Từ năm 2001 nhằm xây dựng 1 bộ chuẩn mực có tiêu chuẩn cao và có thể được sử dụng trên toàn thế giới, các thông tin
Trang 31được trình bày trên BCTC phải có thể so sánh được và rõ ràng, từ các thị trường vốn khác nhau, giúp những đối tượng tham gia thị trường vốn khác nhau đến từ những quốc gia khác nhau có thể sử dụng thông tin trên BCTC để ra các quyết định kinh tế IASB
đã xây dựng bộ IFRS với mục đích là thay thế các chuẩn mực kế toán quốc tế đã ban hành trước đó, và thay đổi để theo bắt kịp với hoàn cảnh mới của nền kinh tế trên thế giới IFRS vẫn đang được hoàn thiện dần cho đến nay Hiện tại IFRS gồm có: 41 IAS
và 17 IFRS đã được ban hành, nhưng trong đó đã có 20 IAS đã được thay thế bằng bằng những IAS hoặc IFRS được ban hành sau đó Lịch sử hình thành của IFRS/IAS
có thể thể chia thành 2 giai đoạn, từ thập niên 70 của thế kỷ trước cho đến năm 2000,
và giai đoạn tiếp theo từ năm 2001 cho đến nay
Giai đoạn mở đầu (1973-2000): là giai đoạn ủy ban các chuẩn mực kế toán (IASC) được thành lập với sự cố gắng của các công ty, hội nghề nghiệp kế toán trên thế giới Đây là giai đoạn tiền đề cho sự hội tụ kế toán quốc tế bằng việc ra đời và phát triển của các tổ chức về kế toán quốc tế và cũng xây dựng được các tiêu chuẩn quốc tế
Từ năm 1973 đến năm 1987 là giai đoạn đầu thành lập, IASC đã ban hành tới 26 chuẩn mực kế toán nhưng không có tác động đáng kể đến các tiêu chuẩn kế toán của từng quốc gia vào thời điểm đó cũng như chưa mang tính ứng dụng cao, theo (Zeff, 2012)
Từ năm 1987, IASC đã thay đổi các tiêu chuẩn của mình để nhận sự trợ giúp của ủy ban chứng khoán quốc tế (IOOSC) Trong 10 năm tiếp theo giai đoạn năm
1988 đến năm 1997 vai trò của IASC ngày càng nâng cao theo sự lớn mạnh của thị trường tài chính Liên minh châu Âu vào năm 1995 đã xem sự phát triển của bộ chuẩn mực kế toán quốc tế như một hướng đi cho sự phát triển và hội nhập của kế toán quốc
tế IASC đã thành lập 1 nhóm chuyên gia để đề ra các kế hoạch đổi mới vào năm 1997 Đến năm 1999, nhóm này đã cho ra tuyên bố nhằm để biên soạn các chuẩn mực quốc
tế về đẩy nhanh sự hội tụ kế toán quốc tế giữa các chuẩn mực kế toán quốc nội và quốc ngoại cũng như trên thị trường vốn Sau đó IASC tiến hành cải cách và Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế được thành lập vào năm 2001
Trang 32Cho đến cuối năm 2000, sau gần 30 năm IASC đã có được 156 thành viên là các
tổ chức chuyên nghiệp từ 114 quốc gia, IASC đã ban hành được 41 IFRS
Giai đoạn hội tụ kế toán quốc tế (Từ năm 2001 đến nay): Sau khi IASB được thành lập để thay thế cho IASC, ủy ban tổ chức các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC Foundation) cũng được thành lập để cung cấp kinh phí và giám sát hoạt động của IASB Sứ mệnh của IASB là biên soạn một tập hợp các chuẩn mực BCTC trên thế giới với chất lượng cao cho các nhà đầu tư cũng như các đối tượng có liên quan đến việc lựa chọn các quyết định kinh tế trên thế giới, đẩy nhanh quá trình hội tụ các chuẩn mực
kế toán quốc nội và quốc tế Từ giai đoạn này khái niệm “hội tụ” được sử dụng chính thức để thay thế cho khái niệm “hài hòa” IASB ban hành các IFRS mới, nhưng vẫn giữ lại các chuẩn mực kế toán quốc tế còn hiệu lực Các IAS đang được áp dụng cũng được xem xét sửa đổi và ban hành dưới tên của IFRS
Mốc quan trọng trong giai đoạn hội tụ kế toán là các thỏa thuận với ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB) vào năm 2002, hai tổ chức cùng hợp tác ban hành các chuẩn mực kế toán, đây là dự án hội tụ các tiêu chuẩn có tác động lớn nhất trên thế giới Cũng trong giai đoạn hội tụ kế toán, IAS/IFRS đã được nhiều quốc gia chấp nhận trên thế giới
2.2.2 Thực trạng áp dụng IFRS trên thế giới
Cho đến nay đã có 132 quốc gia và vùng lãnh thổ bắt buộc hoặc cho phép áp dụng 1 phần hoặc toàn bộ IFRS để lập BCTC đối với các doanh nghiệp thực hiện niêm yết và
115 quốc gia và vùng lãnh thổ cho phép áp dụng 1 phần hoặc toàn bộ IFRS để lập BCTC đối với các công ty chưa thực hiện niêm yết Trên thế giới có thể chia thành 4 nhóm trong việc áp dụng IAS/IFRS như sau:
- Áp dụng toàn bộ IAS/IFRS
- Áp dụng toàn bộ IAS/IFRS, nhưng có thể thêm phần phục lục
- Áp dụng một phần, có chọn lọc nội dung của IAS/IFRS hoặc sửa đổi, bổ sung cho thích hợp với các tiêu chuẩn kế toán quốc gia
- Không áp dụng IAS/IFRS
Trang 33Từ năm 2005, tất cả các công ty niêm yết tại Liên minh châu Âu bắt buộc phải trình bày BCTC hợp nhất theo IFRS Sau đó, yêu cầu này cũng trở nên bắt buộc tại Úc, Hàn Quốc, Brazil, Canada và nhiều nước khác trên thế giới, tại Nhật Bản và Trung Quốc các công ty niêm yết cũng được khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn của chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế để lập và trình bày báo cáo tài chính của mình (PWC, 2015) Theo (SEC, 2008) và (SEC, 2010) thì ủy ban chứng khóan và sàn giao dịch Hoa Kỳ (SEC) cũng đã phối hợp ban hành các chuẩn mực quốc tế trong nhiều năm SEC cũng đồng ý cho các doanh nghiệp bên ngoài nước Mỹ sử dụng BCTC được trình bày dựa trên IFRS để giao dịch với SEC mà không cần chuyển đổi lại với chuẩn mực kế toán
Mỹ từ năm 2007
Từ năm 2010, tại Nhật bản, IFRS đã được áp dụng Đã có hơn 100 công ty đã lựa chọn sử dụng IFRS và gần 200 doanh nghiệp khác đang xem xét áp dụng bộ chuẩn mực này Bộ chuẩn mực kế toán quốc gia của Ấn Độ được ban hành trên cơ sở hội tụ với IFRS, dù vẫn còn 1 vài khác biệt nhưng không lớn Việc sử dụng các tiêu chuẩn mới giúp cho người sử dụng có nhiều thông tin hơn trong việc ra các quyết định kinh tế của mình Năm 2005, Trung Quốc cũng đã có quyết định hội tụ với IFRS, năm 2015 nước này một lần nữa khẳng định lại quyết định chuẩn bị áp dụng hội tụ đầy đủ các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và đã có nhiều doanh nghiệp tại Trung Quốc đã trình bày BCTC của mình theo tiêu chuẩn của IFRS để niêm yết trên thị trường Hồng Kông (PWC, 2015) Tại Đông Nam Á, từ năm tài chính 2018 Singapore đã áp dụng IFRS cho các công ty thực hiện niêm yết, cùng với đó bộ chuẩn mực BCTC Singapore được xây dựng gần giống IFRS cũng được áp dụng vào năm này
2.2.3 Thực trạng áp dụng IFRS tại Việt Nam
Tại Việt Nam thì vẫn đang áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia (VAS), bộ chuẩn mực này đã ban hành cách đây hơn 10 năm, đến này đã bộc lộ nhiều hạn chế Do đó, đến ngày 18/03/2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược kế toán kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Đến ngày 23/05/2017 Bộ Tài chính đã thành lập Ban chỉ đạo và Ban soạn thảo “Đề án áp dụng IFRS vào Việt Nam” Vào đầu năm 2020 Bộ Tài
Trang 34chính đã chính thức ban hành đề án áp dụng chuẩn mực BCTC tại Việt Nam, đề án này
đã đưa ra các lộ trình cụ thể để áp dụng IFRS tại Việt Nam
Qua tổng quan các nhận định của các tác giả (Nguyễn Ngọc Lan và Nguyễn Thị Cúc, 2016), (Nguyễn Thị Kim Chung, 2016), (Lê Văn Tân, 2017) và đề án của Bộ Tài chính, luận văn cho thấy thực trạng áp dụng IFRS tại Việt Nam có những lợi ích và khó khăn sau:
Lợi ích:
- Áp dụng IFRS để lập BCTC giúp doanh nghiệp Việt Nam tiết kiệm được các chi phí chuyển đổi, hạn chế được những mâu thuẫn trong BCTC do những chuẩn mực riêng của Việt Nam
- Khi lựa chọn sử dụng IFRS, các doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ có một bộ BCTC đáng tin cậy, cung cấp các thông tin tài chính minh bạch Các chủ thể sử dụng BCTC
từ các quốc gia khác nhau có thể so sách được các kết quả tài chính và dễ hiểu hơn
- Các doanh nghiệp tại Việt Nam khi áp dụng IFRS để trình bày BCTC của mình sẽ
dễ dàng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, giúp gia tăng khả năng huy động vốn và cạnh tranh với các đối tác quốc tế
- Việc áp dụng các tiêu chuẩn của IFRS để lập BCTC giúp cho các chuyên gia tài chính hoạt động tại Việt Nam hiệu quả hơn, tạo cơ hội cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong kế toán và kiểm toán
Khó khăn:
- Nền kinh tế của Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, trình độ phát triển của nền kinh tế cũng như thị trường vốn còn nhỏ bé Do đó, thị trường còn chưa đủ cơ sở
dữ liệu để có thể đáp ứng được các yêu cầu của IFRS
- Việc trình bày BCTC dựa trên IFRS đòi hỏi yêu cầu chuyên môn cao, trong khi đó đội ngũ kế toán còn chưa đáp ứng được trình độ cần thiết Hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm là rào cản lớn khi áo dụng IFRS
Trang 35- Hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện để có thể áp dụng IFRS Các nhà đầu tư trong nước cũng chưa chuẩn bị đầy đủ được kiến thức để có thể sử dụng BCTC được thể hiện theo tiêu chuẩn của IFRS để cho ra các quyết định kinh tế của mình
2.3 Các lý thuyết nền
2.3.1 Lý thuyết thông tin hữu ích:
Để soạn thảo hoặc phát triển một tiêu chuẩn kế toán của chuẩn mực kế toán thì
lý thuyết thông tin hữu ích (decision usefulness theory) được áp dụng như một cơ sở nền (Staubus, 2000) đã phát phát triển lý thuyết thông tin hữu ít cho kế toán tài chính,
lý thuyết này xuất phát từ bản chất của kế toán là cung cấp những thông tin cho các đối tượng có liên quan để quyết định các nghiệp vụ kinh tế, có nghĩa là các thông tin được trình bày trên BCTC có thể hỗ trợ cho đối tượng sử dụng xem xét được quá khứ và đánh giá dự đoán tương lai của doanh nghiệp, các dữ liệu này cần phải được thể hiện trung thực, đúng bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh Lý thuyết khẳng định bản chất chính của BCTC là công bố các thông tin có giá trị cho các chủ thể sử dụng để đưa
ra lựa chọn kinh tế của mình Theo (Godfrey, 2003), lý thuyết thông tin hữu ích đưa ra
và nhấn mạnh đến khái niệm cân bằng lợi ích và chi phí Việc cân nhắc về lợi ích có được và chi phí phải trả cũng là 1 quá trình ảnh hưởng đến việc ra quyết định để áp dụng các chuẩn mực mới
Áp dụng lý thuyết thông tin hữu ích:
Những kết quả từ những nghiên cứu có liên quan đến việc sử dụng IFRS cho thấy, khi quyết định áp dụng 1 chuẩn mực mới thì các doanh nghiệp bị chi phối bởi những người dùng BCTC để yêu cầu cung cấp các thông tin tài chính có chất lượng Bên cạnh đó, về phía doanh nghiệp thì cũng cân nhắc về lợi ích được thụ hưởng khi áp dụng các tiêu chuẩn mới Quyết định áp dụng IFRS chính là sự lựa chọn sử dụng các chuẩn mực được quốc tế thừa nhận, và nó giúp cho các thông tin được trình bày trên BCTC của doanh nghiệp Việt Nam được thống nhất với các yêu cầu trình bày thông tin tài chính của quốc tế, từ đó doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được các khoản chi phí chuyển đổi và chất lượng thông tin tài chính cũng được đánh giá cao Vì vậy, vận dụng lý thuyết thông tin
Trang 36hữu ích giúp củng cố và giải thích cho quyết định lựa chọn áp dụng IFRS của doanh nghiệp và cũng là cơ sở để tìm hiểu các yếu tố như: sự phụ thuộc vào công ty, thống nhất các mục tiêu chung trong nội bộ công ty và thời gian áp dụng có tác động đến quyết định của doanh nghiệp Các yếu tố này đòi hỏi sự đáp ứng về các thông tin kế toán phải chính xác và cung cấp được các dữ liệu có ích để hỗ trợ cho việc ra quyết định ở cấp cao hơn
2.3.2 Lý thuyết hợp pháp
Trong những tiêu chí của doanh nghiệp khi chọn lựa sử dụng các chuẩn mực kế toán mới cũng là nhằm đáp ứng yêu cầu hợp pháp Khởi nguồn của lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory) là từ nghiên cứu của (Weber, 1922) và sau đó được phát triển bởi (Dowling & Pfeffer, 1997) Theo đó lý thuyết hợp pháp nêu ra các doanh nghiệp đang hoạt động trong xã hội phải tuân thủ các yêu cầu hoặc các ràng buộc của xã hội mà các doanh nghiệp này đang hoạt động Nếu không tuân thủ các yêu cầu này sẽ có những rào cản cho trong quá trình hoạt động Các mong muốn và kỳ vọng của của xã hội đối với doanh nghiệp được xem như 1 loại hợp đồng – hợp đồng xã hội, nó có thể là sự thể hiện rõ ràng hoặc ngầm thiết lập những kỳ vọng của xã hội đối với doanh nghiệp Việc tuân thủ hợp đồng này giúp doanh nghiệp có được hình ảnh chính thống trong hoạt động, vì thế doanh nghiệp sẽ được sự công nhận của xã hội và cộng đồng và ngược lại Nhưng những mong muốn và sự kỳ vọng của xã hội luôn thay đổi, do đó đòi hỏi tổ chức cũng phải thường xuyên thay đổi để theo kịp kỳ vọng của xã hội Theo (Elkington, 1997) doanh nghiệp không chỉ có một mục tiêu nhất là mở rộng kinh doanh
mà còn phải có các mục tiêu khác như là phải xây dựng mở rộng các giá trị của xã hội
và bảo vệ nó Do đó, nó buộc các doanh nghiệp phải tuân theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực của xã hội mà doanh nghiệp đang hoạt động nhằm đạt được sự thừa nhận và ủng
hộ của cộng đồng trong hoạt động của tổ chức
Áp dụng lý thuyết hợp pháp
Các doanh nghiệp hoạt động đều bị chi phối bởi các quy định của pháp luật và các quy tắc xã hội Theo lý thuyết hợp pháp các doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh ngoài
Trang 37việc bắt buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, còn phải đáp ứng được những kỳ vọng, quy tắc của xã hội – được xem như là 1 loại hợp đồng xã hội nhằm nâng cao giá trị và hình ảnh của doanh nghiệp Thông qua lý thuyết hợp pháp có thể nhận thấy rõ ràng hơn động cơ thúc đẩy sự ra quyết định sử dụng các chuẩn mực tiến bộ hơn, từ đó có thể tìm hiểu các yếu tố như: tính chính thống và mức độ phổ biến của chuẩn mực mới trên thế giới có ảnh hưởng đến các quyết định này của doanh nghiệp
2.3.3 Lý thuyết thể chế (Institutional theory)
Có 2 trường phái về lý thuyết thể chế, đó là lý thuyết thể chế cổ điển và lý thuyết thể chế mới
Lý thuyết thể chế cổ điển mà đại diện là Thorstein Veblen cho rằng hành vì có chủ đích của các cá nhân là để phản ứng lại các áp lực từ môi trường bên ngoài bằng cách chấp nhận và tuân thủ các quy định của các tổ chức xã hội Các thể chế này không chỉ quy định các hành vi của cá nhân mà còn chi phối sự nhận thức, tư duy của cá nhân
đó
Lý thuyết thể chế mới mà nổi bật là của Douglas North, tác giả cho rằng thể chế
là những chuẩn mực do con người tạo ra để xây dựng nên khuôn khổ cho các mối quan
hệ tương tác giữa con người, các quy định này có thể bao gồm các ràng buộc chính thức hoặc không chính thức Thể chế còn góp phần tạo nên cấu trúc của xã hội và nền kinh tế
Nói về vai trò của các chính thể gồm các cơ quan chính phủ, các tổ chức nghề nghiệp và xã hội đối với việc hình thành cơ cấu của doanh nghiệp và định hướng hành
vi của các doanh nghiệp, một số học giả cho rằng các doanh nghiệp không có nhiều chọn lựa ngoài việc tuân thủ những yêu cầu của các chính thể bên ngoài (Scott, 2004),
nó như là một sự bắt buộc Có rất nhiều công trình khoa học nhằm vào sự ảnh hưởng của áp lực thể chế lên những cơ cấu doanh nghiệp có tính chất giống nhau, kết quả của những nghiên cứu này đã giải thích rằng các áp lực thể chế được thực hiện thông qua các quy tắc xã hội, sự giáo dục và các quy định của Nhà nước điển hình như nghiên
Trang 38cứu của (Fields, Dimaggio, Powell, & Powell, 2012); (Meyer, J W., & Rowan, B (1977)
Theo Thornton & Ocasio (1999) lý luận thể chế học là “cấu trúc xã hội, lịch sử,
sự tạo ra của cải vật chất, giả định, giá trị niềm tin và các quy tắc mà các cá nhân sản xuất hoặc tái sản xuất của cải, sử dụng thời gian và không gian và cung cấp các giá trị cho xã hội của họ” Lý luận thể chế hình thành nhận thức định hướng tạo ra quyết định,
nó giúp cho các cá nhân và tổ chức tập trung vào một vấn đề giới hạn và các giải pháp phù hợp với logic phổ biến (Di- et al., 1990)
Theo Phan Thị Hồng Đức (2014): “Lý thuyết thể chế đã được sử dụng cả trong
và ngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán để giải thích các lực ảnh hưởng đến các chủ thể trong tổ chức xã hội Lý thuyết về thể chế cho phép các nhà nghiên cứu nhìn xa hơn lực lượng kinh tế để hiểu đầy đủ hơn sự phát triển của chuẩn mực kế toán toàn cầu”
Lý thuyết thể chế cho rằng những thay đổi trong hệ thống pháp luật sẽ gây ra áp lực dẫn đến sự chuyển đổi trong các quy tắc cũng như trong việc quản lý của các tổ chức (Fields et al., 2012) đã bổ sung lý thuyết này với quan điểm mới đó là sự cấu thành của
3 yếu tố quy phạm (normative pressures), quy định (coercive isomorphism) và sự lan tỏa (mimetic processes)
Tuy nhiên, mỗi yếu tố của môi trường thể chế tạo ra những áp lực khác nhau dẫn đến các phản ứng khác nhau của tổ chức (Oliver, 1991) đã phát triển một khuôn mẫu khái niệm để dự đoán các phản ứng của tổ chức dưới áp lực thể chế, khuôn mẫu của Oliver nhấn mạnh vai trò lợi ích của tổ chức và Oliver cho rằng các tổ chức không thụ động như những kết quả của các nghiên cứu khoa học đã kết luận về lý thuyết thể chế trước đó mà các tổ chức này phản ứng một cách tích cực dưới sự tác động của các yếu tố thể chế như: chấp nhận, thỏa thuận, né tránh, thách thức và tuân thủ Sau khi xác định được các phản ứng đa dạng của tổ chức, (Oliver, 1991) đã phát triển 10 giả thuyết tương ứng với 5 tiền đề thể chế (nguyên nhân, thành phần, nội dung, kiểm soát và bối cảnh) Những giả thuyết đó giải thích các đặc điểm của áp lực thể chế mà nó được cho
là định hướng để tổ chức đưa ra phản ứng của mình Áp dụng những giả thuyết này
Trang 39trong lĩnh vực kế toán thì trong các nghiên cứu về việc sớm sử dụng IFRS, phản ứng tránh né cũng đã tìm thấy thông qua sự không tuân hoặc tuân thủ có chọn lọc của các tổ chức bị buộc phải áp dụng IFRS (Magiera, 2006) (Street & Gray, 2002) Các tổ chức
áp dụng IFRS chỉ nhằm tìm kiếm quyền lợi là sự đầu tư từ quốc tế mà không muốn tuân thủ tất cả các quy định và nghĩa vụ liên quan, (L.Street, Gray, & Bryant, 2002)
Đó là một trong những ví dụng về áp dụng mô hình của (Oliver, 1991) trong lĩnh vực
kế toán
Trước các hành vi phản ánh sự sẵn sàng và có khả năng áp dụng IFRS dưới áp lực của thể chế Thì những giả thuyết trong mô hình của (Oliver, 1991) có thể giải thích được những hành vi này Theo đó việc tuân thủ các áp lực thể chế đối với việc áp dụng tự nguyện IFRS là khi các tổ chức nhận có thấy khả năng cải thiện tích hợp pháp
và lợi ích kinh tế từ việc áp dụng IFRS, và các tổ chức này tin rằng họ có thể đạt được mục tiêu bằng cách sử dụng IFRS khi hệ thống này ít ràng buộc hơn các tiêu chuẩn hiện tại; bộ IFRS còn được thừa nhận rộng rải trên môi trường kinh doanh quốc tế; hoạt động trong môi trường kết nối cao và có tiềm năng được hưởng lợi từ một bộ chuẩn mực kế toán có chất lượng cao
Áp dụng lý thuyết thể chế
Thể chế kinh tế là những quy định pháp luật, luật lệ… mà các chủ thể trong xã hội cần phải tuân thủ (Lê Hồng Hiệp, 2016), ngoài ra thể chế còn là các ràng buộc mà con người tạo ra để chi phối các hoạt động của mình Từ đó, có thể thấy các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh cũng phải chịu sự tác động theo một cách nhất định nào đó
Lý thuyết thể chế cho thấy nguyên nhân và động cơ của các ứng xử mà doanh nghiệp phải lựa chọn khi quyết định 1 vấn đề nào đó, và hành vi lựa chọn áp dụng các quy tắc chuẩn mực mới như IFRS cũng bị chi phối bởi các động cơ này Vận dụng lý thuyết thể chế nhằm giải thích và tìm hiểu được các tác động của các yếu tố như là sự linh hoạt của chuẩn mực mới, sự kết nối của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác cùng ngành và các yếu tố bất ổn trong kinh doanh có tác động đến việc áp dụng tự nguyện IFRS
Trang 40TÓM TẮT CHƯƠNG 2Chương này nhằm khái quát các lý thuyết nền cũng như các công trình nghiên cứu khoa học đã có trước đó liên quan đến chủ đề tự nguyện áp dụng IFRS Qua các tổng quan về lý thuyết nền cũng như tổng quan về sự phát triển của IFRS, tác giả cho thấy rằng trong điều kiện tại Việt Nam, bộ IFRS thích hợp cho các doanh nghiệp áp dụng để lập và trình bày BCTC của mình
Phần tổng quan về các nghiên cứu đã được công bố cũng là một nguồn lý thuyết
hỗ trợ cho tác giả thực hiện tìm hiểu về sự lựa chọn áp dụng IFRS một cách tự nguyện tại Việt Nam trong nhóm các doanh nghiệp có vốn tư nhân chưa tiến hành niêm yết trên sàn chứng khoán