Vấn đề kiểm duyệt và phục hồi trạng thái lỗi trong hệ thống quản lý quy trình Trình bày tổng quan các khía cạnh của dòng công việc, mô hình tham chiếu dòng công việc. Mang petri và các thuộc tính. Chương trình phân tích luồng điều khiển dòng công việc WFANALYZER.
Trang 1Luận văn thạc sĩ khoa học
Vấn đề kiểm duyệt và phục hồi trạng thái lỗi
trong hệ thống quản lý qui trình
Ngành: Công nghệ thông tin
Lê Hiến Mai
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Huy Hoàng
Hà Nội 2007
Trang 2Chương 1 2
Tổng quan 2
1.1 Giới thiệu 2
1.2 Các khía cạnh của dòng công việc 4
1.2.1 Trừu tượng hoá các yếu tố của hệ thống quản lí luồng công việc 4 1.2.2 Sự cần thiết phảỉ có một cơ chế kiểm duyệt và phục hồi trạng thái lỗi ……… 8
1.3 Mô hình tham chiếu dòng công việc [5] 8
1.3.1 Tổng quan 8
1.3.2 Cấu trúc dòng công việc 9
1.3.3 Dịch vụ ban hành dòng công việc 10
1.3.4 Định nghĩa quá trình 22
1.3.5 Các chức năng dòng công việc khách 27
1.3.6 Các chức năng ứng dụng được cầu viện 32
1.3.7 Các thao tác dòng công việc 35
1.3.8 Các hệ thống điều khiển 42
Chương 2 45
Mạng Petri và các thuộc tính 45
2.1 Giới thiệu 45
2.2 Các mạng petri 45
2.3 Các mạng WF 49
2.4 Tính đúng đắn 51
2.5 Các đặc điểm mang tính cấu trúc của tính đúng đắn 54
2.5.1 Mạng WF lựa chọn tự do 54
2.5.2 Các mạng WF được cấu trúc tốt 57
2.5.3 Các mạng WF bao S 61
2.5.4 Tóm tắt lại một số thuộc tính 63
2.6 Tổ hợp của các mạng WF 64
Chương 3 70
Chương trình phân tích luồng điều khiển 70
dòng công việc WFAnalyzer 70
3.1 Giới thiệu 70
3.2 Kiến trúc và chức năng của chương trình 70
3.3 Đánh giá kết quả 73
Kết luận và đánh giá 76
Danh mục tài liệu tham khảo 77
Trang 3Mở đầu
Các hệ thống điều khiển dòng công việc hỗ trợ cho sự tổ chức hằng ngày của các quá trình công tác bằng cách quan tâm tới điều khiển hậu cần của công việc Trái ngược với các hệ thống thông tin truyền thống, chúng cố gắng
để đáp ứng những thay đổi thường xuyên của các dòng công việc sẽ xảy ra Bởi vậy, sự cần thiết của các công cụ phân tích để kiểm tra sự đúng đắn của
các dòng công việc đã trở nên rất cần thiết Luận văn với tên gọi: “Vấn đề
kiểm duyệt và phục hồi trạng thái lỗi trong hệ thống quản lý qui trình“ sẽ
giới thiệu một công cụ dựa trên các mạng petri Công cụ phân tích này khai thác cấu trúc của mạng petri để tìm kiếm các lỗi tiềm tàng trong cấu trúc của dòng công việc Hơn nữa, công cụ phân tích cho phép kiểm tra tổng hợp các dòng công việc
Cấu trúc của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo được chia làm ba chương
Chương 1: Tổng quan Chương 2: Mạng Petri và các thuộc tính Chương 3: Chương trình phân tích luồng điều khiển dòng công việc WFAnalyzer
Chương 1 trình bày tổng quan về hệ thống quản lí qui trình theo tiêu chuẩn của hiệp hội quản lí qui trình thế giới, từ đó đưa ra sự cần thiết phải có một cơ chế kiểm soát được quá trình thực hiện của một qui trình Chương 2 giới thiệu về mạng Petri và ứng dụng của mạng Petri vào việc kiểm duyệt tính
đúng đắn của một qui trình Chương 3 nói về chương trình WFAnalyzer, một công cụ cho phép đánh giá tính đúng đắn của một qui trình dựa trên nền tảng
lý thuyết mạng Petri Chương 4 đưa ra những đánh giá và nhận xét về những
điểm đã đạt được của luận văn cũng như những yếu tố cần bổ sung, phát triển
Trang 4cố là quá trình hướng trường hợp điển hình thường xuyên được hỗ trợ bởi WFMS Các quá trình hướng trường hợp này, cũng được gọi là các dòng công việc, được đánh dấu bằng 3 thứ nguyên: (1) thứ nguyên dòng điều khiển, (2)
thứ nguyên tài nguyên, (3) thứ nguyên trường hợp [xem hình 1.1] Thứ
nguyên dòng điều khiển được đề cập đến một phần bậc của các nhiệm vụ, ví
dụ, quá trình dòng công việc Các nhiệm vụ cần thiết để thực hiện được nhận dạng và việc định hướng các trường hợp thông thường theo các nhiệm vụ đó
được xác định Điều kiện, dãy, việc định hướng lặp và song song là cấu trúc danh nghĩa điển hình trong thứ nguyên dòng điều khiển Các nhiệm vụ được thực hiện bởi các tài nguyên Các tài nguyên là con người (ví dụ nhân công) và hoặc không phải con người (ví dụ thiết bị, phần mềm, phần cứng) Trong thứ nguyên tài nguyên, các tài nguyên đó được phân loại bằng cách đồng nhất các vai trò( các lớp tài nguyên dựa trên nền tảng các hàm số đặc trưng) và các đơn
vị tổ chức (nhóm, đội và các thành phần) Cả thứ nguyên dòng điều khiển và thứ nguyên tài nguyên đều có điểm chung, ví dụ chúng không hoàn toàn thích hợp với một trường hợp điển hình Thứ nguyên thứ 3 của một dòng công việc
được đề cập với các trường hợp riêng lẻ được thực hiện theo sự định nghĩa quá trình (thứ nguyên đầu tiên) bởi các tài nguyên thích hợp (thứ nguyên thứ 2)
Trang 5Hình 1.1 Chiều của qui trình[3]
Các dòng công việc điều khiển không phải là một ý tưởng mới Các kĩ thuật điều khiển dòng công việc được tồn tại qua các thập kỷ và rất nhiều khái niệm khởi nguồn từ sản xuất và hậu cần cũng có thể thích hợp trong một ngữ kịch bản dòng công việc Tuy nhiên, các hệ WFSM mang tính thương mại đã trở thành một thực tế Mặc dù những hệ thống này được ứng dụng thành công, WFMS hiện đại có ít nhất hai trở ngại quan trọng Thứ nhất, các hệ thống ngày nay không thể co giãn tốt, bị giới hạn bởi dung sai lỗi và tính linh động Thứ hai, lý thuyết nền tảng bị thiếu Hầu hết trong 250 WFSM thương mại
điển hình [1] có thể sử dụng một kỹ thuật mô hình hoá riêng biệt cho từng hãng để thiết kế các dòng công viêc Với nỗ lực của hiệp hội quản lí qui trình thế giới (WFMC), các tiêu chuẩn thực tế vẫn bị thiếu Sự thiếu các tiêu chuẩn hình thức cản trở sự phát triển của các kỹ thuật phân tích độc lập với các công
cụ Như là một hệ quả, WFMS hiện đại không làm cho dễ dàng các công cụ phân tích tiên tiến để xác định tính chính xác của một dòng công việc
Như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra [3], các mạng petri thiết lập một
điểm khởi đầu tốt với một sự thiết lập các lý thuyết nền tảng của việc điều khiển các dòng công việc Luận văn này tập trung vào thứ nguyên dòng điều khiển Sử dụng các mạng petri để chỉ rõ một thứ tự của các nhiệm vụ Dựa trên
sự biểu diễn mạng petri của dòng công việc, đưa vấn đề của sự kiểm duyệt Luận văn sẽ cung cấp các kỹ thuật để kiểm duyệt gọi là thuộc tính đúng đắn Một dòng công việc là đúng đắn khi và chỉ khi, trong mọi trường hợp, quá
Trang 6trình kết thúc một cách hợp thức, ví dụ sự kết thúc được bảo đảm, không có sự liên quan rời rạc nào, và không có khoá chết cũng như khoá sống
Luận văn sẽ chỉ ra rằng hầu hết các trường hợp gặp trong thực tế, thuộc tính đúng đắn có thể được kiểm tra bằng hàm thời gian đa thức Hơn nữa, có thể chỉ ra các cấu trúc đáng ngờ có thể gây nguy hiểm tới tính đúng đắn của một dòng công việc Luận văn cũng chỉ ra rằng cách tiếp cận được trình bày trong chương này cho phép kiểm tra kết hợp của các dòng công việc, nghĩa là tính đúng đắn của một quá trình có thể được quyết định bằng cách phân chia
nó thành các quá trình thứ cấp đúng đắn Để áp dụng các kết quả được trình bày trong luận văn này, người thực hiện đã phát triển một máy phân tích dòng công việc mạng petri cơ ở gọi là WFAnalyzer WFAnalyzer là một công cụ phân tích hệ thống điều khiển dòng công việc độc lập mà các giao diện với một vài sản phẩm dẫn đầu tại thị trường các sản phẩm quản lí dòng công việc
1.2 Các khía cạnh của dòng công việc
1.2.1 Trừu tượng hoá các yếu tố của hệ thống quản lí luồng công việc
Phần này sử dụng thuộc tính đúng đắn như tiêu chuẩn của sự chính xác
Có thể thấy rằng thuộc tính này không bắt được mọi lỗi có thể bởi vì nó chủ yếu tập trung vào dòng điều khiển Trước khi tập trung vào các phương pháp
để kiểm tra sự đúng đắn, xin nói về sự hữu ích của tiêu chuẩn cho tính đúng
đắn dòng điều khiển công việc
Tác vụ cơ bản của một hệ thống điều khiển dòng công việc là kích hoạt các quá trình công tác hướng trường hợp bằng cách kết hợp các yếu tố khác nhau Các yếu tố sau là liên quan với việc mô hình hoá dòng công việc và việc thực hiện dòng công việc: (1) yếu tố dòng điều khiển (hoặc quá trình); (2) yếu
tố nguồn tài nguyên (hoặc tổ chức); (3) yếu tố dữ liệu (hay thông tin); (4) yếu
tố nhiệm vụ (hay chức năng); (5) yếu tố hoạt động (hay sự ứng dụng) Thứ nguyên thứ 3 phản ánh sự thực rằng các dòng công việc là các hướng trường hợp
Trang 7Trong yếu tố dòng điều khiển, sự định nghĩa quá trình dòng công việc (giản đồ dòng công việc) được định nghĩa để chỉ rõ rằng các nhiệm vụ cần thiết nào cần được thực hiện và theo thứ tự nào (ví dụ việc định hướng hoặc dòng điều khiển) Một nhiệm vụ là một phần nguyên tử của công việc Sự định nghĩa quá trình dòng công việc được thể hiện cho các trường hợp đặc trưng (như thể hiện của dòng công việc) Do một trường hợp là một sự thể hiện của một định nghĩa quá trình, nó tương ứng với sự thực hiện của công việc theo việc định hướng riêng biệt Trong yếu tố tài nguyên, cấu trúc tổ chức và sự phân bố là riêng biệt Cấu trúc tổ chức mô tả mối quan hệ giữa vai trò (các lớp tài nguyên dựa trên yếu tố chức năng) và các nhóm (các lớp tài nguyên dựa trên yếu tố tổ chức) Các tài nguyên, trải rộng từ con người tới thiết bị, hình thành nên sự phân bố có tổ chức và được phân bổ theo các vai trò và các nhóm Yếu tố dữ liệu bao gồm dữ liệu điều khiển và dữ liệu sản phẩm Dữ liệu
điều khiển là dữ liệu được đưa ra một cách đơn lẻ vì mục đích điều khiển dòng công việc, ví dụ như các biến số được giới thiệu vì các mục đích định hướng Dữ liệu sản phẩm là các đối tượng thông tin (ví dụ các văn bản, các định dạng, các bảng) mà sự tồn tại không phụ thuộc vào sự điều khiển dòng công việc Yếu tố nhiệm vụ mô tả các thao tác cơ bản được thực thi bởi các tài nguyên trong khi đang thực hiện một nhiệm vụ cho một trường hợp nào đấy Trong yếu tố hoạt động, các hành động cơ bản được mô tả Những hành động đó thường xuyên được thực hiện sử dụng các ứng dụng như từ một biên tập văn bản đến ứng dụng xây dựng tuỳ biến để thực hiện các tính toán phức tạp Điển hình, những ứng dụng này tạo ra, đọc và sửa chữa dữ liệu điều khiển và sản phẩm trong yếu tố thông tin
Chương này đưa ra vấn đề của sự kiểm duyệt dòng công việc Mặc dù mỗi yếu tố đều phù hợp, nhưng luận văn tập trung vào yếu tố dòng điều khiển, thực ra là tập trung vào vòng sống của một trường hợp một cách độc lập
Trang 8Trong phần còn lại, sẽ hướng tới lý do tại sao phải trừu tượng hoá từ các khía cạnh khác nhau khi kiểm duyệt một dòng công việc
Lí do để trừu tượng hoá từ yếu tố tài nguyên bởi vì căn cứ vào kỹ thuật dòng điều khiển hiện thời, tại bất kỳ thời gian nào nó cũng chỉ là một tài nguyên đang làm việc trong một nhiệm vụ mà được thực hiện cho một trường hợp riêng biệt Trong hệ thống điều khiển dòng công việc hiện thời không thể chỉ ra rằng hàng loạt các tài nguyên đang cộng tác với nhau khi đang thực hiện một nhiệm vụ Thậm chí nếu nhiều người đang làm việc trong một nhiệm
vụ, ví dụ, đang viết báo cáo, chỉ một người được cho phép thực hiện nhiệm vụ
đó xét từ yếu tố của hệ thống điều khiển dòng công việc: nghĩa là người được lựa chọn công việc danh sách người sử dụng hệ thống (ví dụ như khay công việc điện tử – electronic worktray) Do một người đang làm một nhiệm vụ tại một thời điểm và mỗi nhiệm vụ rốt cuộc được thực hiện bởi một người (mặc
dù nó có thể phân tán cho một nhóm một người), việc kiểm tra rằng mọi lớp tài nguyên có ít nhất một tài nguyên cũng khá hiệu quả Trong sự tương phản với rất nhiều phạm vi ứng dụng khác chẳng hạn một hệ thống sản xuất linh
động, sự không bình thường như một kết quả khoá chết từ vấn đề khoá là không thể cho phép Hơn nữa, từ quan điểm của việc kiểm tra, là việc sự phân tích tính chính xác logic của một dòng công việc, trừu tượng hoá các tài nguyên là hợp lí Tuy nhiên, nếu trong tương lai tính năng cộng tác được hỗ trợ bởi hệ thống điều khiển dòng công việc (ví dụ một sự tích hợp sâu của phần mềm nhóm và kỹ thuật dòng công việc), thì yếu tố tài nguyên cần phải
được tính đến
Lý do trừu tượng hoá từ dữ liệu sản phẩm là chúng nằm ngoài phạm vi của hệ thống điều khiển dòng công việc Những dữ liệu này có thể bị thay đổi tại bất kỳ thời điểm nào mà không thông báo cho hệ thống điều khiển dòng công việc Sự thực là những tồn tại đó thậm chí không phụ thuộc vào ứng dụng dòng công việc và nó có thể chia sẻ giữa các dòng công việc khác nhau, ví dụ
Trang 9danh sách nguyên liệu trong sự tổ chức được chia sẻ bởi sản phẩm, sự thu mua, sự bán hàng và quá trình điều khiển chất lượng Dữ liệu điều khiển được
sử dụng bởi hệ thống điều khiển dòng công việc để gửi các trường hợp được
điều khiển bởi hệ thống điều khiển dòng công việc Tuy nhiên một vài dữ liệu này được cập nhật lại bằng con người hoặc các ứng dụng Ví dụ, một quyết
định được tạo ra bởi một nhà quản lý dựa trên trực giác hoặc một trường hợp
được phân loại dựa trên một sự tính toán phức tạp bao gồm dữ liệu sản phẩm
Rõ ràng, hành vi của một người hoặc một ứng dụng phức tạp không thể được mô hình hoá hoàn toàn Có nhiều lý do khác để trừu tượng hoá từ các thuộc tính dòng công việc Nếu có thể bảo đảm tính chính xác (ví dụ tiêu chuẩn tính chính xác được sử dụng trong chương này) cho mỗi trạng thái ngoài thuộc tính dòng công việc, nó cũng sẽ giữ vì trạng thái với thuộc tính dòng công việc (assuming…) Cuối cùng cần trừu tượng hoá từ sự khởi sự và thuộc tính dòng công việc bởi chúng cho phép sử dụng mạng petri cơ sở (ví dụ mạng P/T) hơn là các mạng petri cấp cao
Với các lý do tương tự, cũng cần trừu tượng hoá từ yếu tố nhiệm vụ và
tổ chức Mỗi nhiệm vụ thuộc là một nguyên tử và trừu tượng từ sự thực hiện của tổ chức bên trong các nhiệm vụ Hệ thống điều khiển dòng công việc có thể chỉ chạy các ứng dụng hoặc ghi nhớ người sử dụng và giám sát kết quả
Nó không thể điều khiển sự thực hiện tự động của nhiệm vụ Hơn nữa, từ quan
điểm của sự kiểm duyệt, việc tập trung vào hình thái dòng điều khiển là hợp lí Thực tế cần phải xác định chu kì sống của mỗi trường hợp tách biệt ra Chỉ có một cách mà các trường hợp ảnh hưởng lẫn nhau là sự cạnh tranh các tài nguyên và sự chia sẻ dữ liệu sản phẩm (Chú ý rằng dữ liệu điều khiển tách biệt hoàn toàn) Hơn nữa, nếu chúng ta trừu tượng hoá tài nguyên và dữ liệu, thì cũng phải cân nhắc vòng sống của một trường hợp một cách riêng biệt Sự cạnh tranh giữa các trường hợp vì các tài nguyên chỉ liên quan tới sự phân tích hiệu năng
Trang 101.2.2 Sự cần thiết phảỉ có một cơ chế kiểm duyệt và phục hồi trạng thái lỗi
Các định nghĩa qui trình có thể trở nên rất phức tạp, đặc biệt khi qui trình đó đã qua nhiều năm và được sửa đổi rất nhiều phiên bản Vì phức tạp như vậy nên người thiết kế qui trình rất dễ gây ra lỗi khi chạy qui trình trong
hệ thống quản lí Các nhà thiết kế qui trình khác nhau thuộc các tổ chức khác nhau đảm trách các phần khác nhau của một qui trình, để đảm bảo rằng qui trình công việc của mỗi người sẽ tương thích với đĩnh nghĩa qui trình của người khác, định nghĩa qui trình của anh ta phải đảm bảo được một số tiêu chuẩn Để có thể quản lí được các tình huống phức tạp như vậy, một công cụ kiểm duyệt phải kiểm tra được các tính chất sau:
-Một định nghĩa quá trình dòng công việc phải là độc lập và đúng đắn -Có sự thừa kế giữa các luông điều khiển công việc
1.3 Mô hình tham chiếu dòng công việc [5]
1.3.1 Tổng quan
Mô hình tham chiếu dòng công việc được phát triển từ các cấu trúc ứng dụng dòng công việc chung bằng cách xác định các giao diện trong cấu trúc này cái nào cho phép các sản phẩm được thao tác giữa các phần tại các mức
độ Tất cả hệ thống dòng công việc bao gồm một số các thành phần chung tương tác lẫn nhau theo một tập các cách được định nghĩa, các sản phẩm khác nhau sẽ được biểu lộ điển hình qua các mức độ khác nhau của khả năng trong mỗi thành phần chung đó Để hoàn thành thao tác giữa các phần giữa các sản phẩm dòng công việc một dạng được tiêu chuẩn hoá các giao diện và các định dạng dữ liệu trao đổi giữa các thành phần là cần thiết Một số chuỗi thao tác riêng biệt có thể được cấu trúc bằng cách tham chiếu tới chẳng hạn, các giao diện, biểu diễn các mức độ khác nhau của các hàm thích nghi khi thích hợp với vùng sản phẩm trong thị trường
Trang 11Giao diện xung quanh dịch vụ ban hành dòng công việc được chỉ rõ bởi WAPI – các dạng dòng công việc APIs và trao đổi, có thể được xem xét như
là một dạng cấu trúc mà dịch vụ của hệ thống dòng công việc có thể truy cập
và điều chỉnh lại các mối quan hệ giữa phần mềm điều khiển dòng công việc
và các thành phần hệ thống khác Rất nhiều chức năng trong 5 vùng giao diện
là phổ biến tới 2 hoặc nhiều hơn các giao diện dịch vụ kể do nó thích hợp hơn
để xem xét WAPI như là một giao diện dịch vụ được thống nhất sử dụng để chống đỡ các chức năng điều khiển dòng công việc qua 5 vùng chức năng, hơn
là 5 giao diện đơn lẻ
Hình 1.2 Các thành phần và giao diện chính trong thiết kế cấu trúc dòng
công việc
Trang 121.3.3 Dịch vụ ban hành dòng công việc
1.3.3.1 Thế nào là một dịch vụ ban hành dòng công việc?
Dịch vụ ban hành dòng công việc cung cấp môi trường lúc chạy (run time) mà trong đó sự khởi tạo và hoạt động của quá trình xuất hiện, sử dụng một hoặc nhiều các cỗ máy (engine) điều khiển dòng công việc, có trách nhiệm đối với phần công việc biên dịch và kích hoạt một phần hoặc tất cả, của quá trình định nghĩa và tương tác với các tài nguyên bên ngoài cần thiết để xử
lý hàng loạt các hành động khác nhau
Định nghĩa – Dịch vụ ban hành dòng công việc
Một dịch vụ phần mềm có thể bao gồm một hoặc nhiều hơn các cỗ máy dòng công việc để tạo ra, điều khiển và thực hiện các thể hiện dòng công việc Các ứng dụng có thể giao tiếp với dịch vụ này thông qua các giao diện chương trình ứng dụng dòng công việc (WAPI)
Trong cấu trúc đã được chấp nhận, có một sự chia cách logic giữa việc
xử lý này với hành động điều khiển logic, mà tạo thành dịch vụ ban hành dòng công việc, và các công cụ ứng dụng và các tác vụ người sử dụng cuối cùng tạo thành quá trình xử lí được kết hợp với mỗi hành động Sự chia cách này cung cấp các khả năng của một vùng rộng lớn các tiêu chuẩn công nghiệp hoặc các công cụ ứng dụng riên biệt người dùng được tích hợp trong một ứng dụng dòng công việc cụ thể
Sự tương tác với các nguồn bên ngoài có thể truy cập với một dịch vụ ban hành đặc biệt xảy ra thông qua một trong hai giao diện:
* Giao diện ứng dụng khách, mà qua đó một cỗ máy dòng công việc tương tác với bộ điều khiển dòng công việc, có trách nhiệm tổ chức công việc với tư cách là một người dùng nguồn Đó là khả năng có trách nhiệm của một
bộ điều khiển danh sách công việc để lựa chọn và xử lý các mục công việc
đơn lẻ trong danh sách công việc Sự hoạt động của các công cụ ứng dụng có
Trang 13thể dưới sự điều khiển của bộ điều khiển danh sách công việc hoặc người dùng cuối cùng
* Giao diện ứng dụng được cầu viện, cho phép cỗ máy dòng công việc tương tác trực tiếp với một công cụ đặc biệt để đảm nhận một hoạt động đặc thù Điều này có thể là một ứng dụng máy chủ nền tảng điển hình mà không
có giao diện ứng dụng, nơi một sự hoạt hoá đặc biệt sử dụng một công cụ đòi hỏi thao tác người dùng cuối cùng sẽ bình thường được cầu viện qua giao diện danh sách công việc để cung cấp nhiều hơn tính linh hoạt cho việc lập lịch nhiệm vụ ứng dụng Bằng cách sử dụng một giao diện chuẩn cho công cụ cầu viện, các công cụ ứng dụng tương lai có thể là dòng công việc được cho phép trong một kiểu được chuẩn hoá
Trong phần này, dịch vụ ban hành dòng công việc được thảo luận như một thực thể logic đơn lẻ, mặc dù về mặt vật lí nó có thể chịu sự kiểm soát tập trung hoặc phân tán theo chức năng
Trong một dịch vụ ban hành dòng công việc phân tán, hàng loạt các dòng công việc được lắp vào mỗi điều khiển một phần của sự ban hành xử lý và sự
ảnh hưởng mà tập hợp con của các công cụ sử dụng và ứng dụng có quan hệ với các hoạt hoá trong việc xử lý cho có trách nhiệm Như một dịch vụ ban hành được xem xét có danh nghĩa phổ biến và phạm vi hành chính, vì vậy xử
lý các định nghĩa và tên các ứng dụng/người dùng có thể được điều khiển trong một nền tảng phù hợp Các hệ thống dòng công việc được thiết kế tạo ra ứng dụng của các dạng giao thức và các dạng trao đổi giữa các cỗ máy dòng công việc để đồng bộ hoá các hoạt động của chúng và thay đổi các thông tin
điều khiển hoạt hoá và xử lý Dữ liệu dòng công việc thích hợp có thể cũng
được nhượng lại giữa các cỗ máy dòng công việc Trong một dịch vụ ban hành dòng công việc đơn lẻ đồng nhất, chẳng hạn sự tổ chức là các đại lý đặc biệt Nơi nào các sản phẩm không đồng nhất bị rắc rối, một sự trao đổi được tiêu chuẩn hoá là cần thiết giữa các cỗ máy dòng công việc Sử dụng giao diện
Trang 144, dịch vụ ban hành có thể đưa ra các hành động hoặc các xử lý thứ cáp cho một dịch vụ ban hành (không đồng nhất) khác cho mỗi sự thực hiện
1.3.3.2 Cỗ máy dòng công việc
Một cỗ máy dòng công việc có trách nhiệm với những phần hoặc toàn
bộ môi trường điều khiển thời gian chạy trong mỗi dịch vụ ban hành
Định nghĩa – cỗ máy dòng công việc
Một dịch vụ phần mềm hoặc “cỗ máy” cung cấp môi trường thực hiện thời gian chạy cho mỗi thể hiện dòng công việc
Một phần mềm điển hình như vậy cung cấp những điều kiện để quản lí:
Sự diễn dịch các định nghĩa quá trình
Điều khiển thể hiện của quá trình – sự tạo ra, sự hoạt động, sự tạm dừng, sự kết thúc
Sự điều hướng giữa xử lý các hành động có thể bao gồm các cấu trúc liên tục hoặc song song, danh sách chốt, sự giải thích của các dữ liệu thích đáng dòng công việc…
Một giao diện cầu viện các ứng dụng bên ngoài và kết nối bất kỳ dữ liệu dòng công việc thích hợp nào
Sự giám sát các hành động cho việc điều khiển, điều hành và các mục
đích kiểm tra
Một cỗ máy dòng công việc có thể điều khiển sự thực hiện của một dạng
xử lý hoặc phân cấp xử lý, ví dụ với một phạm vi được định nghĩa - đã được
Trang 15xác định rõ bằng vùng các dạng đối tượng, và các cấu trúc của chúng, nó có thể giải thích trong định nghĩa xử lý
Trong một dịch vụ ban hành gồm nhiều các cỗ máy dòng công việc phức tạp, có một sự phân chia quá trình xử lý thực hiện qua các cỗ máy hợp thành
Nó có thể là dạng xử lý, với một cỗ máy đặc biệt điều khiển một dạng xử lý
đặc biệt trong trạng thái toàn vẹn của nó, bằng các cấu trúc hàm, với một cỗ máy đặc biệt điều khiển các phần khác của một quá trình xử lý đòi hỏi của người dùng hoặc các nguồn phân bổ trong phạm vi điều khiển của chính nó, hoặc một vài kỹ thuật phân chia khác
1.3.3.3 Các cỗ máy ban hành dòng công việc đồng nhất và không đồng nhất
Một dịch vụ ban hành dòng công việc đồng nhất bao gồm một hoặc nhiều cỗ máy dòng công việc tương thích cung cấp môi trường thực hiện thời gian chạy cho mỗi quá trình xử lý dòng công việc với một dạng được định nghĩa (sản phẩm đặc biệt) của các cấu trúc định nghĩa quá trình xử lý Các kỹ thuật xử lý sự thực hiện được thiết lập qua nhiều dạng cỗ máy dòng công việc
và các giao thức và các dạng trao đổi được sử dụng để khuyến khích trở thành sản phẩm đặc biệt và không được tiêu chuẩn hoá
Một dịch vụ ban hành dòng công việc không đồng nhất bao gồm một hoặc nhiều dịch vụ đồng nhất, sinh ra các tiêu chuẩn chung cho sự thao tác tại một mức biểu diễn được định nghĩa Dự tính trước rằng một số mức trình diễn
sẽ được định nghĩa nhằm hỗ trợ việc tăng các mức của các chức năng chung Chúng được cho rằng bao gồm (giữa các thứ khác):
Một sự sắp xếp danh nghĩa chung qua vùng không đồng nhất
Hỗ trợ cho các đối tượng định nghĩa quá trình xử lý chung và các cấu trúc qua vùng
Hỗ trợ dữ liệu dòng công việc thích hợp nhượng lại qua vùng
Hỗ trợ quá trình xử lý, phân cấp xử lý và hoạt động nhượng lại giữ các cỗ máy dòng công việc không đồng nhất
Trang 16Hỗ trợ các chức năng quản lý và điều khiển chung trong vùng
Hỗ trợ các dữ liệu điều khiển dòng công việc chung và sự trao đổi của nó (ví dụ quá trình xử lý và dữ liệu trạng thái hoạt động được chia sẻ) sẽ cần thiết
để hỗ trợ mở hoàn toàn sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sản phẩm không đồng nhất; khi một sự đáp ứng được chuẩn hoá tốt được xem xét không thể đạt được trong tương lai dự báo trước, cho dù tầm quan trọng các mức của sự thao tác bị chi phối bởi vùng trình bày được định nghĩa
Sự chuyển dịch trạng thái hoạt động và xử lý
Dịch vụ ban hành dòng công việc có thể được xem xét như một thiết bị chuyển dịch trạng thái, nơi các quá trình xử lý hoặc hành động đơn lẻ bao gồm các trạng thái thay đổi trong sự trả lời các sự kiện bên ngoài (ví dụ sự hoàn thành của một hành động) hoặc các quyết định điều khiển đặc biệt đưa
ra bởi một cỗ máy dòng công việc (ví dụ sự điều hướng tới bước hành động tiếp theo trong quá trình xử lý)
Một sự sắp xếp chuyển dịch trạng thái cơ bản để minh hoạt cho ví dụ quá trình xử lý được biểu diễn dưới đây:
Hình 1.3 Một ví dụ về các dịch chuyển trạng thái cho một thể hiện của quá trình
Trong biểu đồ trên, chuyển dịch giữa các trạng thái (được biểu diễn bởi các mũi tên) xảy ra trong sự trả lời cho các lệnh WAPI đặc biệt được chỉ rõ; các chuyển dịch giữa các trạng thái tất nhiên cũng sẽ xảy ra như là kết quả của
Trang 17các điều kiện chuyển dịch trong sự xác định quá trình xử lý gặp nhau (ví dụ như là kết quả của một sự kiện bên ngoài, của điều kiện thời gian hoặc dữ liệu phụ thuộc…) Các trạng thái cơ sở đó là:
Bắt đầu (Initiated) – một quá trình được tạo ra, bao gồm bất kỳ dữ liệu trạng thái xử lý và các dữ liệu dòng công việc thích hợp được kết hợp nào, nhưng quá trình xử lý không thoả mãn các điều kiện là lý do để nó bắt đầu thực hiện
Đang chạy (Running) – quá trình xử lý trường hợp bắt đầu sự thực hiện
và bất kỳ hoạt động nào của nó cũng có thể được bắt đầu (một lần bất kỳ hoạt
động thích hợp nào bắt đầu các điều kiện được gặp gỡ)
Hoạt động (Active) – Một hoặc nhiều hơn các hoạt động của nó được bắt đầu (ví dụ một mục công việc được tạo ra và ấn định cho một trường hợp hoạt động thích hợp)
Tạm dừng (Suspended)– quá trình xử lý trường hợp thụ động và không
có hoạt động nào được bắt đầu cho đến khi quá trình xử lý quay lại trạng thái chạy (qua một lệnh bắt đầu lại)
Hoàn thành (Completed) – quá trình xử lý trường hợp thoả mãn các điều kiện cho sự hoàn thành; bất kỳ cấu trúc tiền hoàn thành bên trong nào chẳng hạn dữ liệu kiểm tra logging hoặc các số liệu thống kê sẽ được trình bày và quá trình xử lý trường hợp sẽ được phá bỏ
Kết thúc (Terminated) – sự thực hiện của quá trình xử lý trường hợp
được dừng lại trước sự hoàn thành thông thường của nó; bất kỳ cấu trúc bên trong nào chẳng hạn lỗi logging hoặc dữ liệu khôi phục logging có thể được trình bày và quá trình xử lý trường hợp bị phá huỷ
Các hoạt động có thể không bị phá vỡ, ví dụ một lần dịch vụ dòng công việc bắt đầu một hoạt động đặc biệt trong một quá trình xử lý trường hợp, nó không thể có khả năng để tạm hoãn hoặc kết thúc hoạt động đó Điều này nghĩa là các chức năng tạm dừng/ bắt đầu/ kết thúc không thể hoàn thành cho
Trang 18đến khi tất cả các hoạt động được hoàn thành và quá trình xử lý trường hợp quay lại một trạng thái chạy Thực tế, nó có thể yêu cầu đánh dấu một dạng các hoạt động như một đơn vị nguyên tử, đều được thực hiện trong trạng thái toàn vẹn hoặc quá trình xử lý trường hợp “quay lại” tới một điểm bắt đầu Không để ý đến những phức tạp thêm vào, một sự minh hoạ đơn giản của các trạng thái và chuyển dịch cơ bản cho một trường hợp hoạt động là:
Hình 1.4 Ví dụ về dịch chuyển trạng thái cho thể hiện của hành động
Các trạng thái cơ bản của một thể hiện hoạt động là:
Sự khởi tạo – Hoạt động trong quá trình xử lý trường hợp được tạo ra nhưng chưa được thực hiện (ví dụ bởi vì điều kiện vào hoạt động chưa xảy ra)
và không có mục công việc cho quá trình xử lý
Sự hoạt động – Một mục công việc được tạo ra và chỉ định cho một trường hợp hoạt động trong quá trình
Tạm dừng – Trường hợp hoạt động là thụ động (ví dụ như là một kết quả của lệnh thay đổi trạng thái của trường hợp hoạt động) và sẽ không được phân bổ cho một mục công việc cho đến khi quay lại trạng thái chạy (khởi tạo)
Hoàn thành – Sự thực hiện của trường hợp hoạt động hoàn thành (và bất
kỳ điều kiện trạng thái tiền hoạt động nào sẽ được thoản mãn)
Một sự bổ sung sản phẩm đặc biệt có thể, dĩ nhiên, hỗ trợ các dạng trạng thái thêm vào hoặc sử dụng một sự trình diễn khác của các trạng thái và các chuyển dịch cơ bản được mô tả ở trên Cấu trúc tham chiếu không được cố
Trang 19gắng để qui định hành vi chuẩn hoá bên trong của các hệ thống dòng công việc nhưng các chuyển dịch trạng thái minh hoạ cho các khái niệm phân cấp cơ bản là cần thiết để khoanh vùng sự ảnh hưởng của các lệnh API mà the Coalition đang phát triển
1.3.3.4 Giao diện và hoán đổi chương trình ứng dụng dòng công việc
WAPI có thể được lưu ý đến như là một dạng của các chức năng gọi và hoán đổi của API được hỗ trợ bởi một dịch vụ ban hành dòng công việc khi ranh giới của sự ảnh hưởng lẫn nhau với các nguồn và các ứng dụng khác Mặc dù cấu trúc này nói đến 5 hoán đổi trong WAPI, một số chức năng trong mỗi giao diện là phổ biến (ví dụ quá trình xử lý trạng thái gọi có thể được đưa
ra từ giao diện ứng dụng người dùng hoặc giao diện điều hành) WAPI cũng
được định nghĩa như là một dấu hiệu chung của các dạng gọi/hoán đổi API với những sự mở rộng nơi cần thiết để cung cấp riêng lẻ cho một trong 5 vùng chức năng
Chức năng chính của WAPI bao gồm các cuộc gọi APIs với các dạng thông số được định nghĩa/ các mã kết quả Nơi nào thích hợp nó cũng định nghĩa các dạng dữ liệu hoán đổi, ví dụ với sự thay đổi của các định nghĩa quá trình xử lý ứng dụng của WAPI trong mỗi vùng chức năng được mô tả trong phần tiếp theo
1.3.3.5 Dữ liệu dòng công việc điều khiển, dòng công việc thích hợp và dòng công việc ứng dụng
Dịch vụ ban hành dòng công việc bao gồm dữ liệu điều khiển bên trong
để mô tả trạng thái của quá trình xử lý riêng lẻ hoặc các trường hợp hoạt động
và có thể hỗ trợ các thông tin trạng thái bên trong khác Dữ liệu này không thể kết nối hoặc không thể hoán đổi, chẳng hạn quá các lệnh WAPI, nhưng một vài nội dung thông tin có thể được cung cấp trong sự trả lời cho các lệnh đặc biệt (ví dụ các trạng thái quá trình xử lý câu hỏi, đưa ra sự trình bày ngôn
điệu…) Dịch vụ ban hành dòng công việc đồng nhất có thể thay đổi chẳng
Trang 20hạn thông tin giữa các cỗ máy dòng công việc bởi các cuộc đối thoại riêng tư
đặc biệt
Định nghĩa – Dữ liệu dòng công việc điều khiển
Dữ liệu bên trong mà được điều khiển bởi hệ thống điều khiển dòng công việc và/ hoặc cỗ máy dòng công việc
Dữ liệu dòng công việc thích hợp được sử dụng bởi một hệ thống điều khiển dòng công việc để xác định các điều kiện chuyển dịch đặc biệt và có thể
ảnh hưởng tới sự lựa chọn các hành động được thực hiện tiếp theo Chẳng hạn dữ liệu có thể được kết nối đầu tiên tới các ứng dụng dòng công việc cho các cấu trúc trong dữ liệu và do đó có thể cần thiết để nhường lại giữa các hành
động bởi phần mềm ban hành dòng công việc Khi sự hoạt động trong một môi trường không đồng nhất, chẳng hạn dữ liệu có thể cần thiết để nhường lại giữa các cỗ máy dòng công việc, nơi mà dãy thực hiện quá trình xử lý nối hai hoặc nhiều hơn các cỗ máy dòng công việc, quá trình này có thể đòi hỏi đầu tiên tên biểu đồ hoặc quá trình chuyển đổi dữ liệu
Định nghĩa – Dữ liệu dòng công việc thích hợp
Dữ liệu được sử dụng bởi một hệ thống điều khiển dòng công việc để xác
định trạng thái chuyển dịch của một trường hợp xử lý dòng công việc
Sự thao tác của các dữ liệu ứng dụng có thể được yêu cầu trong mỗi hoạt động của một định nghĩa quá trình xử lý, ví dụ bởi một công cụ hay ứng dụng đặc biệt, cũng dưới sự điều khiển chính xác của ứng dụng và cùng với một vài dạng của sự ảnh hưởng người dùng Do đó, cấu trúc dòng công việc nên được đương đầu với bất kỳ sự hoán đổi cần thiết nào của dữ liệu trường hợp giữa các hoạt động đa dạng Trong một vài trường hợp, điều này có thể cũng đòi hỏi một vài dạng của sự chuyển đổi dữ liệu trường hợp giữa các các dạng dữ liệu công cụ khác nhau, ví dụ quá trình chuyển đổi của một văn bản hoặc bảng tính từ một dạng ứng dụng sang dạng khác (trong một vài hệ thống
điều này có thể là một hàm của dịch vụ ban hành dòng công việc, trong sự
Trang 21chuyển đổi dữ liệu khác có thể được định nghĩa như một hoạt động trong bản thân nó trong sự định nghĩa quá trình xử lý)
Định nghĩa – Dữ liệu dòng công việc ứng dụng
Dữ liệu là ứng dụng đặc biệt và không thể kết nối bởi hệ thống điều khiển dòng công việc
Dữ liệu dòng công việc ứng dụng không được sử dụng bởi phần mềm ban hành dòng công việc và thích hợp chỉ với các ứng dụng hoặc các nhiệm vụ người dùng được thực hiện trong suốt dòng công việc Khi với dữ liệu dònng công việc thích hợp, nó có thể cần để chuyển đổi (và hoặc được chuyển đổi) giữa các cỗ máy dòng công việc trong một dịch vụ ban hành khônng đồng nhất, vì thế có thể tạo ra giá trị phù hợp với các hành động được thực hiện trong các cỗ máy đơn lẻ
Mối quan hệ giữa một ứng dụng và bất kỳ dòng công việc thích hợp hoặc dữ liệu ứng dụng nào mà nó cần vận dụng thông thường sẽ được định nghĩa trong định nghĩa quá trình xử lý Trong một vài trường hợp, điều này có thể là một mối quan hệ ẩn (ví dụ trong các hệ thống khác nơi dữ liệu trường hợp
được chuyển đổi theo quy luật tự nhiên tới hành động tiếp theo như là một phần của sự điều hướng hoạt động trong quá trình xử lý), trong khi trong trường hợp khác (ví dụ kết nối với một bộ dự trữ đối tượng được chia sẻ) nó có thể là một mói quan hệ hiện định nghĩa tên một đối tượng đặc biệt và đường dẫn kết nối ứng dụng Trong cấu trúc tham chiếu, kịch bản trước đó sẽ được gọi chính xác sự hoán đổi dữ liệu và sự hoán đổi dữ liệu không chính xác trễ hơn
1.3.3.6 Hoán đổi dữ liệu
Sự hoán đổi của dữ liệu dòng công việc thích hợp và ứng dụng đầu tiên
có thể được đòi hỏi qua WAPI để hỗ trợ sự ảnh hưởng lẫn nhau trong ba chức năng chạy thực
Người điều khiển danh sách công việc (giao diện 2)
Trang 22ứng dụng được cầu viện (giao diện 3)
Sự hoán đổi cỗ máy dòng công việc (giao diện 4)
Phần này bao trùm các nguyên tắc chung của sự hoán đổi dữ liệu; vùng này sẽ đòi hỏi hơn sự chỉ rõ công việc Dạng lệnh API được đưa ra có thể bao gồm các cuộc gọi đặc biệt để chấp nhận hoặc quay lại dữ liệu dòng công việc thích hợp tư/ tới dịch vụ ban hành qua WAPI; các biến thể của chúng có thể
được định nghĩa cho cả hoán đổi dữ liệu trường hợp điều khiển hoặc không điều khiển
Sự hoán đổi điều khiển của dữ liệu ứng dụng được điển hình bởi các hệ thống dòng công việc điều khiển bằng email trong dữ liệu được chuyển đổi theo quy luật tự nhiên giữa các hành động; cả ứng dụng và điều khiển bởi người dùng Trong trường hợp này không cần thiết định nghĩa mối quan hệ hiện giữa các hành động và dữ liệu ứng dụng; dữ liệu được chuyển đổi như một phần của sự điều hướng hoạt động dòng công việc chuẩn và kết nối cục
bộ với ứng dụng trong sự cầu viện Nơi nào có một thủ tục để cung cấp quá trình chuyển đổi dạng dữ liệu giữa các hành động, cấu trúc thừa nhận rằng một ứng dụng đặc biệt có thể định nghĩa, như một thiết kế, dạng dữ liệu (hoặc các dạng) với thứ nó được kết hợp (cấu trúc thông tin này có thể được giữ cục
bộ cho một môi trường phần mềm đặc biệt hoặc toàn bộ dịch vụ dòng công việc nguyên chất, ví dụ trong một thư mục) Điều này cho phép các hệ thống
được cấu trúc để sử dụng các ứng dụng dòng công việc không đồng nhất nhằm cung cấp quá trình chuyển đổi dữ liệu (nơi cần thiết) trong các dạng thiết kế căn bản được định nghĩa cho các ứng dụng tương ứng Các quá trình chuyển
đổi sẽ cần thiết để được kế tục (hoặc phát triển) nhằm chuyển đổi và duy trì thông tin dạng dữ liệu, ví dụ với ứng dụng 400X sự chỉ rõ phần đối tượng cơ thể trong cỗ máy thư điện tử MIME
Một vài dạng của hệ thống dòng công việc (ví dụ, điều này được thực hiện qua bộ lưu trữ văn bản được chia sẻ) không được chuyển đổi tự nhiên dữ
Trang 23liệu ứng dụng giữa các hoạt động Trong các hệ thống này, dữ liệu được kết nối trong vị trí bởi ứng dụng sử dụng một đường dẫn kết nối thích hợp (có thể
được mạng lưới) Trong trường hợp này, sự sắp xếp tên đường dẫn kết nối có thể là toàn bộ các ứng dụng được cầu viện trong dịch vụ dòng công việc và sự cho phép kết nối thích hợp có thể có giá trị và được điều khiển cho mỗi hoạt
động xử lý trường hợp Quá trình chuyển đổi dạng dữ liệu trong phần này, nếu
có thể, có thể nên cấu trúc như là một hành động của chính nó, sử dụng một công cụ ứng dụng thích hợp (ví dụ một trình chuyển đổi văn bản)
Các hệ thống đồng nhất sử dụng các qui ước riêng cho tên các đối tượng
và các sự cho phép kết nối, nhưng các hệ thống không đồng nhất đòi hỏi một
sự sắp xếp chung Trong trường hợp này, cả định nghĩa xử lý (chung) cũng nên bao gồm đường dẫn kết nối tham chiếu tới bộ dự trữ đối tượng dữ liệu ứng dụng, hoặc sự điều hướng giữa các hoạt động có thể bao gồm việc chuyển đổi của các đường dẫn tham chiếu cần thiết của bất kỳ đối tượng dữ liệu nào được chuyển đổi giữa các hoạt động
Nơi mà sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sản phẩm dòng công việc không
đồng nhất được có kế hoạch, chúng có thể cũng tiếp theo phương pháp tương
tự tới sự hoán đổi dữ liệu ứng dụng hoặc sự ảnh hưởng qua một cỗ máy cổng
ra vào [phần 1.3.7], nơi có thể bản đồ hoá giữa hai phương pháp và/hoặc điều
khiển bất kỳ sự khác nhau nào trong tên đối tượng và qui ước dạng dữ liệu bởi quá trình chuyển đổi thích hợp Hơn nữa công việc được đòi hỏi chi tiết trong vùng này, nhưng có thể vùng trình diễn hoán đổi khác có thể được chỉ rõ để bao trùm hai trường hợp này
Cách trong sự hoán đổi dữ liệu ứng dụng hoặc dòng công việc thích hợp
được điều khiển qua 3 giao diện được chi tiết hơn; các điểm sau chỉ rõ một vài thông tin ban đầu:
Các ứng dụng khách hàng – dữ liệu dòng công việc thích hợp có thể
được gắn vào trong mục công việc và rút ra từ danh sách công việc để trình
Trang 24bày cho người dùng hoặc cho sự liên kết với một công cụ ứng dụng đặc biệt (ví dụ với người điều khiển danh sách công việc đang xác định nó trong một thư việc cục bộ đặc biệt) Như một sự lựa chọn, dữ liệu có thể không được
điều khiển qua một ứng dụng đặc biệt qua một vài dạng của bộ dự trữ đối tượng được chia sẻ (ví dụ với ứng dụng của một file phổ biến cho dữ liệu trong
sự đi qua giữa các ứng dụng, với việc đi qua một tham chiếu file đặc biệt được gắn vào như một phần của mục công việc)
Các ứng dụng được cầu viện – sự hoán đổi dữ liệu sẽ phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiện của giao diện ứng dụng cầu viện và có thể yêu cầu dịch vụ cầu viện gắn thêm dữ liệu vào một giao thức ứng dụng đặc biệt APIs cho việc
đọc/ viết dữ liệu dòng công việc thích hợp có thể khả thi cho các ứng dụng dòng công việc được cho phép đặc biệt hoặc để cấu tạo nên các tác nhân ứng dụng được khái quát hoá
Các cỗ máy thao tác dòng công việc – những sự xem xét này là tương tự nhau với giao diện ứng dụng khách hàng, mặc dù nơi mà các hệ thống khác nhau hỗ trợ các phương pháp hoán đổi dữ liệu ứng dụng khác nhau, việc sử dụng một chức năng cổng vào sẽ trở nên cần thiết để kết nối giữa hai sự sắp xếp và có thể điều khiển tên quyết định
1.3.4 Định nghĩa quá trình
1.3.4.1 Các công cụ định nghĩa quá trình
Một sự da dạng của các công cụ khác nhau có thể được sử dụng để phân tích, thiết kế, mô tả và dẫn chứng bằng tài liệu một quá trình xử lý thương mại; như các công cụ thể biến đổi từ sự trang trọng(“giấy và bút”) thành giả mạo và trang trọng hoá cao Cấu trúc dòng công việc không được kết nối với trạng thái tự nhiên đặc biệt của nhưng công cụ hoặc cách chúng ảnh hưởng trong suốt quá trình xử lý thời gian xây dựng Khi được đánh dấu sớm hơn, các công cụ có thể cung cấp như một phần của một sản phẩm dòng công việc hoặc như một sự tách rời nhau, ví dụ dạng công cụ sản phẩm BPR
Trang 25Nơi một sản phẩm dòng công việc cung cấp công cụ định nghĩa quá trình
xử lý của chính nó, kết quả các quá trình xử lý sẽ thường được giữ trong vùng sản phẩm dòng công việc và có thể hoặc không thể kết nối được qua một giao diện chương trình cho việc đọc và viết thông tin Nơi các sản phẩm tách rời
được sử dụng để định nghĩa và thự hiện quá trình xử lý, các định nghĩa quá trình xử lý có thể được chuyển đổi giữa các sản phẩm khi và khi được đòi hỏi hoặc có thể được lưu trữ trong một kho tách biệt, có thể kết nối với cả các sản phẩm (và có thể những công cụ phát triển khác)
Đầu ra cuối cùng từ việc mô hình hoá tiến trình và thao tác thiết kế là môt định nghĩa quá trình, nó sẽ được biên dịch lúc chạy bởi cỗ máy luồng công việc trong dịch vụ kích hoạt Với các sản phẩm dòng công việc hiện nay mỗi định nghĩa quá trình đơn lẻ là điển hình trong một dạng được chuyên môn hoá cho phần mềm điều khiển dòng công việc đặc biệt mà nó được thiết kế Giao diện hoán đổi định nghĩa dòng công việc sẽ cho phép nhiều hơn tính linh hoạt trong vùng
Các phân tích quá trình, các công cụ định nghĩa và cấu trúc có thể bao gồm khả năng tạo ra các quá trình trong đoạn của một cấu trúc tổ chức (mặc
dù đấy khônng là một vẻ bề ngoài có tính bắt buộc của cấu trúc tham chiếu dòng công việc) Nơi một cấu trúc tổ chức được kết hợp chặt chẽ trong các công cụ thì định nghĩa quá trình xử lý sẽ gồm các đối tượng tổ chức có liên quan chẳng hạn như các vai trò Chúng có liên quan với dữ liệu điều khiển hệ thống chẳng hạn vai trò: mối quan hệ hoạt động trong một thư viện tổ chức có thể được tham chiếu trong suốt quá trình thực hiện
1.3.4.2 Giao diện định nghĩa dòng công việc (giao diện 1)
Giao diện giữa các công cụ cấu trúc và định nghĩa và phần mềm điều khiển dòng công việc thời gian chạy được giới hạn bởi giao diện xuất/nhập xác định quá trình Sự tự nhiên của giao diện là một dạng hoán đổi và các cuộc gọi API, mà có thể hỗ trợ sự thay đổi thông tin xác định quá trình qua
Trang 26một loạt các cỗ máy hoán đổi điện từ hoặc tự nhiên Giao diện có thể hỗ trợ sự thay đổi của một sự xác định quá trình hoàn thành hoặc một dạng thứ cấp –
ví dụ một dạng của các thay đổi xác định quá trình hoặc các cấu trúc của một hành động đặc biệt trong xác định quá trình
Hình 1.5 Một dạng của các thay đổi xác định quá trình hoặc các cấu trúc của
một hành động đặc biệt trong xác định quá trình
Đầu tiên, nó định nghĩa một điểm của sự phân tách giữa môi trường thời gian xây dựng và môi trường thời gian chạy, cho phép một sự xác định quá trình được sinh ra bởi một công cụ cấu trúc sử dụng như đầu vào một số sản phẩm thời gian chạy dòng công việc khác nhau Điều này cho phép sự lựa chọn ứng dụng các công cụ cấu trúc và các sản phẩm dòng công việc thời gian chạy trở nên độc lập
Thứ hai, nó đưa ra tiềm năng để xuất khẩu một định nghĩa quá trình cho các sản phẩm dòng công việc khác nhau mà có thể tổ chức lại để cung cấp dịch vụ ban hành thời gian chạy được cấu trúc (Khả năng để thay đổi dữ liệu
định nghĩa quá trình chỉ là một vẻ bề ngoài của một dịch vụ được cấu trúc; có nhiều thủ tục khác nhau trong các hoán đổi thời gian chạy giữa cỗ máy WFM,
được xem xét trong phần 1.3.8
Trang 27Có hai yếu tố trong phần này:
1 Nguồn gốc của một siêu cấu trúc có thể được dùng để diễn giải các đối tượng, các mối quan hệ này và cấu trúc của nó trong một định nghĩa quá trình
và có thể định dạng cơ sở của một dạng cấu trúc hoán đổi nhằm thay đổi thông tin giữa các sản phẩm này
2 Các cuộc gọi API (trong WAPI) giữa các hệ thống dòng công việc và giữa một hệ thống dòng công việc với sản phẩm định nghĩa quá trình, cung cấp một cách chung để kết nối các định nghĩa quá trình dòng công việc Việt kết nối có thể được đọc, đọc/viết hoặc chỉ đọc và có thể thực hiện dạng của các đối tượng chuẩn được định nghĩa trong cấu trúc biến đổi hoặc một dạng sản phẩm đặc biệt (ví dụ định nghĩa trong một người đăng ký dạng sản phẩm)
Một siêu mô hình cơ bản
Hình 1.6 Siêu mô hình Định nghĩa quá trình cơ bản
Nó được dự tính trước các cấu trúc đặc biệt của các dạng tiếp theo sẽ
được định nghĩa:
Định nghĩa dạng dòng công việc:
- Tên quá trình dòng công việc
- Số đại lý
Trang 28- Các điều kiện bắt đầu và kết thúc quá trình
- Bảo mật, kiểm tra và dữ liệu điều khiển khác
Hoạt động
- Tên hoạt động
- Dạng hoạt động (dòng thứ cấp, dòng nguyên tử…)
- Các điều kiện trước và sau hoạt động
- Các hạn chế lập lịch trình khác
Các điều kiện chuyển dịch
- Các điều kiện thực hiện hoặc điều kiện dòng
ứng dụng được cầu viện
- Tên hoặc dạng có điểm chung
- Các thông số thực hiện
- Đường dẫn kết nối hoặc nội bộ
Trong trường hợp của các dịch vụ phân tán, tất cả sự phân bổ của các hành động cho các cỗ máy dòng công việc đơn lẻ có thể cũng cần được tạo ra trong định nghĩa quá trình, như một cấu trúc hoạt động thêm vào Các mặt của
định nghĩa quá trình ảnh hưởng tới các hành động trong quá trình, cũng đòi hỏi sự xem xét trong thời kỳ dài
Các API truy cập tới các định nghĩa quá trình
Một tập lệnh API trong WAPI chưa được phát triển để hỗ trợ việc kết nối với các dữ liệu định nghĩa quá trình Các lệnh được mong đợi sẽ được cung cấp để tổ chức thành một danh sách hoặc các đối tượng riêng lẻ hoặc các cấu trúc
Trang 29Thiết lập phiên làm việc
- Kết nối/ không kết nối các phiên giữa các hệ thống tham gia
Các thao tác định nghĩa dòng công việc
- Truy vấn danh sách các tên định nghĩa dòng công việc từ một kho hoặc danh sách nguồn khác
- Lựa chọn/ không lựa chọn một định nghĩa quá trình dòng công việc để cung cấp phiên điều khiển cho các cấu trúc cấp đối tượng cao hơn
- Đọc/ ghi đối tượng định nghĩa quá trình dòng công việc mức cao
Các cấu trúc đối tượng định nghĩa dòng công việc
- Sự tạo ra, sự sửa chữa và sự xoá bỏ các đối tượng trong một định nghĩa dòng công việc
- Sự sửa chữa, định dạng và xoá bỏ các cấu trúc đối tượng
1.3.5 Các chức năng dòng công việc khách
1.3.5.1 Các ứng dụng dòng công việc khách
Bộ điều khiển danh sách công việc là một phần mềm thực tế mà ảnh hưởng tới người dùng cuối cùng trong các hành động đòi hỏi cầu viện các nguồn nhân lực Người điều khiển danh sách công việc có thể được cung cấp như phần của một sản phẩm điều khiển dòng công việc hoặc có thể được viết bởi người dùng, ví dụ để cung cấp một kiểu nhà chung đặc biệt cho người dùng với một số ứng dụng dòng công việc khác nhau sử dụng các sản phẩm của các đại lý khác nhau Trong các trường hợp khác, dòng công việc có thể
được hoà nhập vào một môi trường màn hình nền chung bên cạnh các dịch vụ văn phòng khác chẳng hạn thư điện tử và các thư mục làm việc hiện đại để cung cấp một hệ thống điều khiển nhiệm vụ hợp nhất cho người dùng cuối cùng Đấy là một sự cần thiết cho một kỹ thuật linh động của sự kết nối giữa một dịch vụ ban hành dòng công việc và các ứng dụng dòng công việc khách nhằm hỗ trợ cấu trúc của các hệ thống tổ chức khác nhau được mong đợi có thể gặp
Trang 30Trong sự tương tác cấu trúc dòng công việc xuất hiện giữa ứng dụng khách và cỗ máy dòng công việc qua một giao diện được định nghĩa tốt bao gồm khái niệm của một danh sách công việc – sự sắp xếp của các mục công việc được gán cho một người dùng đặc biệt (hoặc có thể, nhóm người dùng chung) bởi cỗ máy dòng công việc Tại mức đơn giản nhất, danh sách công việc có thể kết nối với cỗ máy dòng công việc vì mục đích của các mục công việc đang được gán và cho người điều khiển danh sách công việc vì mục đích của các mục công việc truy lại cho sự trình bày tới người dùng trong quá trình
Có rất nhiều dạng sản phẩm thực hiện có thể của sự ảnh hưởng danh sách công việc
Sự hoạt động của các mục công việc riêng lẻ từ danh sách công việc (ví
dụ việc đưa ra ứng dụng và kết nối dữ liệu dòng công việc thích hợp) có thể dưới sự điều khiển của ứng dụng dòng công việc khách hoặc người dùng cuối cùng.Một vùng các mục mới được thêm vào trong danh sách công việc, hoàn thành các hoạt động có thể quay lại danh sách công việc, các hành động có thể hoãn tạm thời….Chúng được mô tả trong phần 1.3.5.2
ứng dụng dẫn chứng có thể cũng bị điều khiển từ người điều khiển danh sách công việc, và cả chính xác hoặc dưới sự điều khiển của người dùng cuối cùng Tóm lại nó được mong đợi rằng vùng các ứng dụng được cầu viện từ người điều khiển danh sách công việc sẽ phần lớn là cuộc bộ với môi trường
đó, mặc dù nó có thể đặt một sự ép buộc không cần thiết trong toàn bộ cấu trúc để thừa nhận rằng điều này sẽ luôn là tình thế
Một danh sách công việc có thể gồm các mục có luên quan với hàng loạt các trường hợp hoạt động khác nhau của một quá trình đơn lẻ và/hoặc các mục
đơn lẻ từ sự hoạt động của hàng loạt các quá trình khác nhau Một người điều khiển danh sách công việc có thể có tiềm năng ảnh hưởng tới hàng loạt cỗ máy dòng công việc khác nhau và hàng loạt dịch vụ ban hành khác nhau (Theo sự thực hiện sản phẩm riêng lẻ, các danh sách công việc riêng biệt tự
Trang 31nhiên có thể được duy trì từ mỗi dạng quá trình, hoặc người điều khiển danh sách công việc có thể củng cố hàng loạt mục danh sách công việc trong một
sự trình bày riêng tới người dùng cuối cùng
Giao diện giữa ứng dụng dòng công việc khách và cỗ máy dòng công việc nên đủ linh động trong các thuật ngữ ứng dụng của nó:
- Sự nhận dạng hoạt động và quá trình
- Các tên và địa chỉ nguồn
- Dữ liệu tham chiếu và dữ liệu cấu trúc
- Các kỹ thuật kết nối khác để chứa đựng những dạng của phương pháp thực hiện
1.3.5.2 Giao diện ứng dụng dòng công việc khách (giao diện 2)
Cách tiếp cận để đạt được các yêu cầu trên là phải chứa đựng các dạng chuẩn của các API (the WAPI), có thể được dùng trong một dạng phù hợp nhằm kết nối từ một ứng dụng dòng công việc với cỗ máy dòng công việc và danh sách công việc
Các API và các tham số của nó sẽ được ánh xạ trong hàng loạt các kỹ thuật kết nối thích hợp để hợp với các mô hình thực hiện dòng công việc
Hình1.7 Giao diện ứng dụng khách
Trang 32Các đặc tả kỹ thuật API được thiết lập trong một văn bản riêng biệt, tiếp theo cung cấp một sự quan sát của APIs được mong đợi từ ứng dụng khách,
được nhóm lại trong hàng loại các vùng chức năng Các lệnh được cung cấp từ các cấu trúc hoặc đơn lẻ hoặc quá trình chung hoặc các trường hợp hoạt động tốt như sự vận động danh sách công việc
Thiết lập Phiên làm việc
- Các phiên kết nối/ không kết nối giữa các hệ thống thành viên
Các thao tác định nghĩa dòng công việc
- Các chức năng phục hồi/ chất vấn(với tiêu chuẩn lựa chọn không bắt buộc) trong tên và cấu trúc định nghĩa quá trình dòng công việc
Các hàm điều khiển quá trình
- Sự tạo ra/ bắt đầu/ kết thúc của một trường hợp quá trình riêng lẻ
- Sự đình chỉ/ sự bắt đầu lại của một trường hợp quá trình riêng lẻ
- Sự bắt buộc một sự thay đổi trạng thái trong một trường hợp quá trình riêng lẻ hoặc trường hợp hoạt động
- Chỉ định hoặc chất vấn của một cấu trúc (ví dụ đầu tiên) của một quá trình hoặc một trường hợp hoạt động
Các hàm trạng thái quá trình
- Mở/ đóng một quá trình hoặc một sự chất vấn trường hợp hoạt động, lựa chọn tiêu chuẩn lọc không bắt buộc
- Tìm các chi tiết của các trường hợp quá trình hoặc các trường hợp hoạt
động, lọc theo danh nghĩa
- Tìm các chi tiết của một quá trình danh nghĩa( riêng lẻ) hoặc các trường hợp hoạt động
Các chức năng điều khiển mục công việc/ danh sách công việc
- Mở/ đòng một chất vấn danh sách công việc, lựa chọn tiêu chuẩn lọc không bắt buộc
- Tìm các mục danh sách công việc, lọc theo danh nghĩa
Trang 33- Khai báo các lựa chọn/ chuyển nhượng lại/ hoàn thành của một mục công việc (danh nghĩa)
- Chuyển nhượng hoặc chất vấn một cấu trúc mục công việc
Các chức năng giám sát quá trình
( Các chức năng tiếp theo được cấu trúc trong toàn bộ quá trình hoặc các trường hợp hoạt động và được cho rằng cấu trúc nên tình huống của một mức giám sát phân cấp, có thể hoặc không thể được công nhận là một ứng dụng khách đặc trưng hoặc người dùng được ghi trong ứng dụng)
- Thay đổi trạng thái cấu trúc của một định nghĩa quá trình dòng công việc và/ hoặc các trường hợp quá trình hiện thời
- Thay đổi trạng thái của toàn bộ quá trình hoặc các trường hợp hoạt
động của một dạng đặc trưng
- Chỉ định cấu trúc cho toàn bộ quá trình hoặc các trường hợp hoạt động của một dạng đặc trưng
- Kết thúc toàn bộ trường hợp quá trình
Các chức năng điều khiển dữ liệu
- Phục hồi/ quay lại của dữ liệu ứng dụng hoặc dữ liệu dòng công việc thích hợp
Các chức năng điều hành
Hỗ trợ các chức năng điều hành thêm vào qua WAPI có thể thích hợp với các ứng dụng khách nào đó
ứng dụng cầu viện
Các chức năng phác thảo ở trên cung cấp một mức cơ bản của các chức năng nhằm hỗ trợ sự cầu viện ứng dụng bởi chức năng người điều khiển danh sách công việc (ví dụ bằng cung cấp kết nối cho các cấu trúc quá trình / hoạt
động/ mục công việc và dữ liệu dòng công việc thích hợp) Một vài lệnh được
đưa ra cho chức năng cầu viện ứng dụng có thể cũng phù hợp với môi trường ứng dụng khách
Trang 34Có thể một vài sản phẩm thực hiện cũng mong đợi để hỗ trợ dạng thứ cấp của WAPI đầy đủ, xa hơn sự xem xét sẽ đưa ra chỉ dẫn các mức trình bày để phục vụ cho các thủ tục thao tác khác nhau đang xuất hiện từ vùng các sản phẩm dòng công việc có giá trị trên thị trường
1.3.6 Các chức năng ứng dụng được cầu viện
1.3.6.1 Các ứng dụng được cầu viện
Giả sử rằng có rất nhiều sự thực thi WFM đặc trưng nào sẽ không có đủ logic để hiểu làm thế nào cầu việc được toàn bộ ứng dụng ban đầu có thể tồn tại trong một môi trường sản phẩm không đồng nhất Điều này sẽ đòi hỏi sự logic để đối phó với sự cầu viện qua các môi trường nền tảng và mạng, cùng với một ý nghĩa của ứng dụng hoán đổi hoặc dữ liệu dòng công việc thích hợp trong một dạng chung và mã hoá cho sự hoán đổi nó sang các môi trường ứng dụng đơn lẻ
Tuy nhiên có nhiều hệ thống dòng công việc xem xét một vùng nhiều hạn chế của ứng dụng, đặc biệt nơi mà dữ liệu được định dạng mạnh và có thể kết nối chính xác (ví dụ qua một thư viện) với một công cụ ứng dụng đặc trưng chẳng hạn một bộ xử lý từ hoặc bảng tính Trong các trường hợp khác sự cầu viện của một cấu trúc qua một ứng dụng đặc trung có thể được hoàn thành qua một kỹ thuật hoán đổi chuẩn như cổng OSI TP hoặc X.400 Một vài sự thực hiện sử dụng khái niệm một “ tác nhân ứng dụng” chứa đựng đa dạng các phương thức cầu viện bên cạnh một giao diện chuẩn trong dịch vụ ban hành dòng công việc Cũng có một khả năng phát triển công cụ ứng dụng “dòng công việc được cho phép” sử dụng một dạng chuẩn của APIs để kết nối với dịch vụ ban hành dòng công việc – chấp nhận dữ liệu ứng dụng, báo hiệu và phản ứng với các sự kiện hoạt động… Như APIs có thể được dùng lập tức bởi công cụ ứng dụng hoặc một quá trình tác nhân ứng dụng như một kết thúc trước của sự ảnh hưởng với di sản hoặc ứng dụng khác được viết ngoài sự hiểu biết đặc trưng của dòng công việc
Trang 35Một vài dạng có khả năng của giao diện đối với sự cầu viện ứng dụng
được chỉ ra trong bảng dưới đây:
Bảng 1.8 Các giao diện cầu viện ứng dụng
Dạng giao diện Kết nối dữ liệu dòng công
việc thích hợp
Sự tiêu chuẩn hoá người ứng
cử Cuộc gọi quá
trình cục bộ
Lớp nguyên bản Qua tham chiếu (gọi các
thông số)
Các môi trường Posix?
Cuộc gọi ORB
(ví dụ kết nối đối
1.3.6.2 Giao diện ứng dụng được cầu viện (giao diện 3)
Sơ đồ 1.9 chỉ ra phạm vi của giao diện này mà được mong đợi để có thể dùng được với các tác nhân ứng dụng và các ứng dụng mà được thiết kế cho
“dòng công việc được cho phép” (ví dụ để ảnh hưởng nhanh chóng tới một cỗ máy dòng công việc)
Trang 36Hình 1.9.Giao diện ứng dụng được triệu gọi
Các dấu hiệu và cú pháp được chi tiết của một dạng API cho sự cầu viện ứng dụng là sự nghiên cứu thêm nữa và sẽ được dẫn chứng như phần của dạng
đặc trưng Coalition Sự tổ chức được vạch ra từ một loại giao diện ở dưới, bao gồm một sự lựa chọn từ bảng trên, một vài cách tổ chức đồng bộ và không
đồng bộ khác Sự tổ chức của API được thừa nhận tại trạng thái này trở thành các chuỗi đơn hay phức tiềm năng( trong trường hợp trễ hơn sử dụng một hoạt
động ít điều khiển vì dòng phân biệt) Tiếp theo cung cấp một giới hạn của dạng lệnh có khả năng có thể ứng dụng vào các chức năng cầu viện ứng dụng
Phiên thiết lập
- Kết nối/ không kết nối phiên ứng dụng (hoặc tác nhân ứng dụng)
Các chức năng điều khiển hoạt động
(cỗ máy dòng công việc cho ứng dụng)
- Bắt đầu hoạt động (cỗ máy dòng công việc cho ứng dụng)
- Đình chỉ/ bắt đầu lại/ bỏ dở hành động (nơi một giao diện ứng dụng không đồng bộ có giá trị)
( ứng dụng cho cỗ máy dòng công việc)
Trang 37- Khai báo hoàn thành hoạt động
- Dấu hiệu sự kiện (ví dụ sự đồng bộ hoá)
- Chất vấn cấu trúc hoạt động
Các chức năng điều khiển dữ liệu
- Đưa ra dữ liệu dòng công việc thích hợp (tiền hoạt động với ứng dụng,
…từ ứng dụng)
- Đưa ra dữ liệu ứng dụng hoặc địa chỉ dữ liệu
1.3.7 Các thao tác dòng công việc
1.3.7.1 Các dịch vụ ban hành dòng công việc không đồng nhất
Một mục tiêu quan trọng của việc đưa ra tiêu chuẩn là cho phép các hệ thống dòng công việc được sản xuất ra bởi các đại lý khác chấp nhận các mục công việc liền nhau giữa một cái khác
Các sản phẩm dòng công việc gồm nhiều loại trong vùng tự nhiên từ ứng dụng khác cho nhiều hơn lộ trình ad-hoc của các nhiệm vụ hoặc dữ liệu để chúng tập trung vào các quá trình sản xuất theo đúng qui tắc cao Trong xu thế phát triển của nó vì các tiêu chuẩn thao tác sự kết hợp được xác định để chiếm
đoạt các đại lý sản phẩm dòng công việc nhằm lựa chọn giữa việc cung cấp một sản phẩm mạnh đã được tập trung vào sự cần thiết của khách hàng của nó
và đưa ra những cái mạnh khách nhằm cung cấp các khả năng thao tác
Vì thế, công việc của sự kết hợp tập trung vào việc phát triển một loại kịch bản thao tác có thể cấu trúc như một số mức từ nhiệm vụ đơn giản qua các khả năng thao tác ứng dụng dòng công việc với việc hoàn thành giao diện của định nghĩa quá trình, dữ liệu dòng công việc thích hợp và một phong cách cảm nhận chung Trong vùng này, nó được mong đợi rằng các kịch bản thao tác tương đối đơn giản sẽ được hỗ trợ đầu tiên, với nhiều hơn các trạng thái phức tạp đang đòi hỏi thêm công việc trong các định nghĩa khả năng thao tác Bốn cấu trúc thao tác có thể được chỉ ra, bao bọc các mức khác nhau (tăng lên) của khả năng Các phần tiếp theo mô tả cấu trúc thao tác đầu tiên; ví
Trang 38dụ minh hoạ sử dụng hình vuông để mô tả các nhiệm vụ hoặc hoạt động, với
sự tô bóng khác nhau để biểu diễn các nhiệm vụ được sắp xếp bởi các dịch vụ ban hành dòng công việc đơn lẻ
1.3.7.2 Kịch bản 1 – Sự kết nối rời rạc (được kết nối)
Cấu trúc này cho phép một điểm kết nối trong quá trình A kết nối với
điểm khác trong quá trình B Mặc dù ví dụ nhằm chỉ ra sự kết nối các điểm tại các điểm cuối cùng và các điểm bắt đầu của quá trình, nhưng điều này được thực hiện vì mục đích chỉ để minh hoạ Nó được coi như là các điểm kết nối
có thể ở bất kỳ đầu trong quá trình tạo ra nghĩa rằng phần chủ yếu của quá trình được tạo ra bởi sự kết nối của cả hai
Hình 1.10 Mô hình các dịch vụ được kết nối
Cấu trúc này hỗ trợ sự thay đổi của một mục đơn lẻ của công việc (một ví
dụ quá trình hoặc hoạt động) giữa hai môi trường dòng công việc; sau đó tổ chức độc lập trong môi trường thứ hai với sự không đồng bộ hoá Trong các thuật ngữ thực hiện, nó có thể được nhận ra qua một chức năng ứng dụng cổng vào, điều khiển sự hoán đổi dạng dữ liệu, sự sắp xếp tên quá trình và hoạt
động, … Hoặc có thể xếp vào một dịch vụ dòng công việc, ví dụ khi một cuộc gọi API tiêu chuẩn được sử dụng giữa hai dịch vụ
1.3.7.3 Kịch bản 2 – Phân cấp (lồng chéo các quá trình thứ cấp)
Điều này cho phép một quá trình được thực hiện trong một phạm vi dòng công việc đặc trưng để kết nối hoàn toàn như một nhiệm vụ đơn lẻ trong một (bậc trên) quá trình thực hiện trong một phạm vi dòng công việc khác Một
Trang 39mối quan hệ phân cấp tồn tại giữa quá trình bậc trên và quá trình kết nối, trong
sự ảnh hưởng định dạng một quá trình thứ cấp của bậc trên Sự quay lại trong kịch bản này có thể hoặc không thể được cho phép bởi những sự thực hiện sản xuất riêng lẻ
Hình 1.11 Mô hình lồng chéo các quá trình thứ cấp
Trong biểu đồ, dịch vụ dòng công việc A có một hoạt động được định nghĩa (A3) được cho phép như là một quá trình hoàn thành (B) trong dịch vụ dòng công việc B với sự điều khiển quay trở lại dịch vụ A để hoàn thành Như trong kịch bản 1 sớm hơn, sự hoán đổi hoạt động điều khiển có thể qua một chức năng cổng ứng dụng hoặc bởi các cuộc API lập tức giữa hai dịch vụ dòng công việc Biểu đồ minh hoạ trường hợp đơn giản với một cổng đơn và điểm kết thúc trong quá trình B, mặc dù luật điều hướng hoạt động trong B có thể cho phép các dòng kịch bản hoạt động khác, ví dụ các điều kiện hoàn thành quá trình cho phép quá trình được hoàn thành phân cấp tại hoạt động B5 và
điều khiển quay lại phạm vi dòng công việc A
1.3.7.4 Kịch bản 3 – Kết nối không rời rạc (đồng đẳng)
Cấu trúc này cho phép một môi trường hỗn hợp đầy đủ, biểu đồ biểu thị một quá trình C hỗn hợp, bao gồm các hoạt động có thể được thực hiện qua các dịch vụ dòng công việc phức tạp, định hình một phạm vi được chia sẻ Các hoạt động C1, C2 và C5 có thể được sắp xếp bởi máy chủ A(hoặc thậm chí hàng loạt các máy chủ đồng nhất trong một phạm vi chung) và hoạt động C3, C4 và C6 được sắp xếp bởi máy chủ B
Trang 40Trong kịch bản này, quá trình có thể phát triển rõ ràng từ nhiệm vụ sang nhiệm vụ, ngoài bất kỳ hành động đặc trưng nào bởi người dùng hoặc người
điều hành, với sự ảnh hưởng giữa các cỗ máy dòng công việc riêng biệt đang tạo ra khi cần thiết
Hình 1.12 Mô hình đồng đẳng
Kịch bản này đòi hỏi rằng cả các dịch vụ dòng công việc hỗ trợ các dạng API chung vì sự kết nối và cả chúng có thể giải thích một định nghĩa quá trình chung, được nhập từ các môi trường từ một quá trình xây dựng chung hoặc xuất giữa các dịch vụ trong suốt giai đoạn thời gian chạy Dữ liệu dòng công việc thích hợp và ứng dụng cũng cần thiết để vượt qua các dạng cỗ máy không