Bên cạnh những thành tựu quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số tại địa phương, vẫn còn tồn tại những hạn chế như: nhiều giá trị văn hó
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ THÙY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ THÙY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ THÚY
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Thị Thúy – Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thiện luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc, tài liệu sử dụng đều được sự cho phép của các cơ quan chuyên môn
Lào Cai, tháng 08 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thùy
Trang 4Cuối cùng tác giả luận văn luôn ghi nhớ sâu sắc những tình cảm quan tâm của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khích lệ và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thùy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 7
1.1 Các khái niệm cơ bản về quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số 7
1.1.1 Quản lý 7
1.1.2 Quản lý nhà nước 7
1.1.3 Văn hóa 8
1.1.4 Dân tộc thiểu số 9
1.1.5 Bảo tồn và phát triển 11
1.2 Nội dung quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số 11
1.2.1 Quản lý nhà nước về văn hóa 17
1.2.2 Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số 18
1.2.3 Sự cần thiết trong quản lý nhà nước về văn hóa để bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số 14
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số 15
1.3.1.Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình, dự án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc 17
1.3.2 Tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước và tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số 18
1.3.3 Tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về văn hóa 20
1.3.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc 21
Trang 61.3.5 Tổ chức chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, khen thưởng trong việc bảo tồn và
phát triển giá trị văn hóa dân tộc thiểu số 23
1.4 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước 24
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 24
1.4.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước 26
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY 30
2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai 30
2.1.1 Vị trí địa lý, dân số và tài nguyên thiên nhiên 30
2.1.2 Kinh tế - xã hội 31
2.2 Khái quát cư dân, văn hóa và một số nét đặc trưng các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai 34
2.2.1 Cư dân, văn hóa 34
2.2.2 Một số nét đặc trưng các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai 35
2.3 Thực trạng quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai thời gian qua 40
2.3.1 Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước về bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số 40
2.3.2 Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 45
2.3.3 Công tác tuyền truyền, phổ biến, giáo dục trong vùng đồng bào dân tộc về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương 49
2.3.4 Tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa 52
2.3.5 Huy động quản lý sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát triển giá trị di sản văn hóa 54 2.3.6 Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và công tác khen thưởng trong
Trang 72.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn
hóa một số dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai 57
2.4.1 Những kết quả đạt được 58
2.4.2 Hạn chế và những nguyên nhân 61
2.5 Bài học kinh nghiệm 64
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 66
3.1 Quan điểm của đảng, nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số 66
3.2 Quan điểm của tỉnh Lào Cai về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh 67
3.3 Bổ sung, hoàn thiện thể chế chính sách quản lý văn hóa trên địa bàn tỉnh và đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương và người dân trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc 69
3.4 Giải pháp về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý 74
3.5 Xây dựng ban hành các chính sách khuyến khích và tăng cường công tác quản lý nhà nước về quảng bá hình ảnh văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Lào Cai 74
3.6 Giải pháp về huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số 78
3.7 Các giải pháp về kiểm tra giám sát 79
3.8 Các giải pháp khác 79
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển chung của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, "hội nhập chứ không hòa tan" là một chủ trương mang tính chiến lược trong sự phát triển toàn diện của đất nước Nội dung đó được đặt trong khung nhiệm vụ của các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế hàng hóa, thị trường đồng thời với việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục kế thừa những thành tựu lý luận, đồng thời
có bổ sung một số luận điểm mới về văn hóa nhằm khẳng định thêm những giá trị to lớn của văn hóa cũng như phương hướng, quan điểm chỉ đạo để văn hóa phát huy mạnh mẽ vai trò và chức năng của mình trong sự nghiệp đổi mới Từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trước những đòi hỏi của thực tế, yêu cầu của xu hướng phát triển, ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1270/ QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” [6] Đề án có đối tượng là các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập trung ưu tiên cho phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số rất ít người, các dân tộc không có điều kiện tự bảo vệ và phát huy di sản văn hoá của dân tộc mình Trong đó, địa bàn các dân tộc thiểu số có nguy cơ bị biến dạng văn hóa sẽ được đặc biệt chú trọng
Văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hoá Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với
xu thế hội nhập và phát triển, những luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số có nguy cơ bị mai một, phai mờ Các giá trị văn hóa tiêu biểu của các
Trang 9dân tộc (kiến trúc, trang phục dân tộc, nghề truyền thống và các món ăn truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội…) đang đứng trước nguy cơ biến mất Người có uy tín và các nghệ nhân người dân tộc thiểu số ngày càng ít dần Di sản văn hóa của đồng bào chưa được gìn giữ và phát huy đúng mức, việc phát triển những giá trị mới còn nhiều hạn chế, thiếu bền vững Do vậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài
Là tỉnh có đặc thù về văn hóa - xã hội, đa dân tộc, đa văn hóa, trong những năm qua, việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Lào Cai luôn được địa phương quan tâm, chú trọng và đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về “Xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Với phương châm lấy văn hóa dân tộc là nền tảng cho việc tạo ra các thế mạnh, các sản phẩm du lịch, đồng thời gắn việc khai thác du lịch với bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số để thu hút khách du lịch; qua đó di sản văn hóa các dân tộc Lào Cai được bảo tồn và phát triển, tạo thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bên cạnh những thành tựu quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số tại địa phương, vẫn còn tồn tại những hạn chế như: nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai hiện nay đang đứng truớc nguy cơ thất truyền, mất mát nhanh chóng; công tác gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn do ngôn ngữ truyền thống, trang phục, phong tục tập quán, cưới hỏi, lễ hội truyền thống của các dân tộc này đã dần bị mai một, v.v
Vì vậy, nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai là cần thiết nhằm tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả của quản lý, góp phần nâng cao được văn hóa tinh thần, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Từ lý do
trên, tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
Trang 10của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên
cứu luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu và xuất bản hàng trăm công trình về văn hóa các dân tộc thiểu số, một số sách báo, tạp chí, các luận văn luận án cũng có xuất bản và nghiên cứu về bảo tồn và phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số cụ thể:
Tác giả Lê Hồng Hạnh trong luận án Văn hóa học (2008), Di sản văn hóa truyền thống với vấn đề phát triển du lịch (trên cơ sở khảo sát địa bàn tỉnh Hưng Yên)[18], đã chỉ ra mối liên hệ giữa nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa và
khai thác chung cho mục đích du lịch Tìm ra những giải pháp hợp lí để vừa phát triển du lịch dựa trên việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống, vừa bảo tồn các di sản văn hóa góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Tác giả Phạm Thị
Hoàng Hà trong luận án tiến sĩ Triết học (2012), Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay[19], đã trình bày
những nhận thức lý luận về bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa và những nội dung cơ bản của bình đẳng dân tộc về văn hóa ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu thực trạng, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam hiện nay
Ở tỉnh Lào Cai Tác giả Trần Hữu Sơn trong luận án Phó tiến sĩ Dân tộc
học (1995), Đời sống văn hóa tinh thần người Hmông ở Lào Cai (truyền thống
và hiện đại)[22], đã chỉ ra văn hóa tinh thần truyền thống của người HMông ở
Lào Cai là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố, trong đó tín ngưỡng - tôn giáo
- lễ thức, ngôn ngữ, văn học dân gian giữ vị trí cơ bản nhất Cuốn sách tập hợp
27 bài nghiên cứu khoa học về nhiều lĩnh vực trong đời sống người Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có tỉnh Lào Cai với hai bài nghiên cứu của TS
Trần Hữu Sơn “Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở vùng người Mông” và tác giả Mã A Lềnh “Những nhu cầu bức thiết về văn hóa đối với người Mông” Tạp
chí Quản lý Nhà nước hàng năm đều đăng tải nhiều bài viết liên quan đến giữ
Trang 11gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam, trong đó có đề cập đến một số vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai và một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc như các đề tài văn hóa dân gian người Bố Y, người Xa Phó; Những tri thức trong tang lễ cổ truyền người Nùng Dín; Tri thức dân gian người Dao tuyển với việc khai thác,
sử dụng và quản lý nguồn nước; Ngôi nhà truyền thống của người Phù Lá; nghề chế tác cây khèn Mông; Tết tháng 7 của người La Chí; con trâu trong đời sống văn hóa dân gian người La Chí; Dân ca Gầu plềnh và lễ hội Gầu tào của người Mông; Tín ngưỡng Then người Giáy; nghi lễ dân gian liên quan đến rừng của người Dao đỏ; song ngữ Mông- Việt, hệ thống những bài khèn, điệu múa của người Mông Sa Pa; tang lễ truyền thống của người Dao tuyển, Dao đỏ v.v…
Ngoài ra Tỉnh Lào Cai còn có rất nhiều các đề tài, dự án lớn về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai như đề án Phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Lào Cai giai đoạn 2011- 2015 [27]; Đề án đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, trọng tâm là vận động nhân dân cải tạo tập quán lạc hậu giai đoạn 2011- 2015 [28]; Đề
án phát triển du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016- 2020[3]; Đề án phát triển văn
hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016- 2020[2]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả đều đã phân tích một cách có hệ thống dưới nhiều góc độ khác nhau về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc Tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sưu tầm một nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc ghi chép lại, chưa có công trình nào đánh giá chuyên sâu về lĩnh vực quản lý Nhà nước đối với vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Đây là những nguồn tư liệu quý giá cho tác giả luận văn tham khảo
Với việc kế thừa các công trình đi trước, sưu tầm tư liệu tại Tỉnh ủy Lào Cai, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, Báo Lào Cai và tài liệu ở các
cơ quan chuyên môn của tỉnh, phục vụ công tác nghiên cứu, tác giả đánh giá, hệ thống lại tư liệu để tiến hành nghiên cứu, tổng hợp, phát triển các nội dung quản
Trang 12lý nhà nước về công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trong xu hướng hội nhập quôc tế và toàn cầu hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng và cả nước nói chung
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
- Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu, tiếp cận các quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, công tác bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam Trên cơ sở phân tích những thành tựu, đánh giá những vấn đề đang tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai để đưa ra những giải pháp và kiến nghị đối với công tác này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
- Khảo sát, thống kê hiện trạng công tác bảo tồn, phát triển bản sắc văn
hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế và văn hóa như hiện nay
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lào Cai: kết quả thực hiện, thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của 25 dân tộc trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Tập chung nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Trang 13- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn từ 1991 đến 2015
- Phạm vi không gian: Chín huyện, thành phố của tỉnh Lào Cai bao gồm: Thành phố Lào Cai, các huyện Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng, Bắc Hà, Si Ma Cai và Mường Khương
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng là những phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là phương pháp phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, v.v…
6 Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Luận văn sau khi hoàn thiện sẽ góp phần bổ sung lý luận, kiến thức thực tiễn về quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa ở Lào Cai nói riêng và ở Việt Nam nói chung
- Về thực tiễn: Luận văn cung cấp tư liệu trong công tác bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai, đồng thời là tài liệu bổ sung, gợi mở, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương
thiểu số- một số vấn đề lý luận
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về bảo tồn phát triển văn hóa
các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Chương 3: Một số giải pháp quản lý Nhà nước về bảo tồn phát triển văn
hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong thời gian tới
Trang 14Chương 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỐ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Quản lý
Quản lý là sự điều khiển chiến thuật các hoạt động trong xã hội bằng thể chế pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý nhà nước, ban hành căn cứ theo đường lối, chị thị, nghị quyết của Đảng Trong quản lý, chiến thuật này
có sự quản lý của Chính phủ nói trung và sự quản lý của từng ngành, từng bộ nói riêng Muốn quản lý tốt, đúng hướng, có hiệu quả, người quản lý cần nắm vững đường lối, chính sách, nghị quyết, pháp luật v.v của Đảng và Nhà nước, đồng thời phải thành thạo quy trình vận hành quản lý có khoa học
1.1.2 Quản lý nhà nước
Theo GS.TS Đinh Văn Tiến trong bài nghiên cứu Phân biệt các khái niệm Quản trị nhà nước, Quản lý nhà nước và Quản lý hành chính nhà nước đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước số 225 (tháng 1/2015) [25]cho biết Quản
lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức điều hành của cả bộ máy nhà nước theo ba quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp tác động điều hành đến các tổ chức và cá nhân trong mọi hoạt động xã hội, nội dung cơ bản của hoạt động này bao gồm xây dựng hệ thống pháp luật thể chế; tổ chức
bộ máy điều hành và cơ chế hoạt động; phát triển nhân sự (cán bộ, công chức, viên chức); phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính công
Sự quan tâm chủ yếu của quản lý nhà nước có được hiệu lực, hiệu quả thông qua việc xác định, phân định thẩm quyền, phân công, phân nhiệm, tổ chức thực hiện thẩm quyền bằng những biện pháp khuyến khích và cưỡng chế thông qua cơ chế vận hành bộ máy, quy trình và các công vụ quản lý nhà nước
Theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội và hành vi hoạt động của con
Trang 15người theo pháp luật nhằm đạt mục tiêu Quản lý nhà nước mang tính chất chấp hành, điều hành nhằm xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ công vụ
1.1.3 Văn hóa
Văn hóa là một hệ giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo ra gắn liền và xuất phát dựa trên các hoạt động thực tiễn của xã hội Văn hóa là một khái niệm rộng được bắt nguồn từ chữ La tinh: “Cultura” có nghĩa là sự cày cấy, vun trồng Cùng với quá trình phát triển văn hóa ngày càng có nội dung phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm để phản ánh các góc độ của văn hóa Bản chất của văn hóa rộng
và đa dạng, do vậy, các khái niệm về văn hoá chỉ mang tính chất tương đối
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật v.v ) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh v.v ) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chi những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ v.v ) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn v.v )
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem-là bao gồm tất cả những gì
do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhẳm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Theo quan điểm của Unesco: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc
Trang 16cảm quyết định tinh cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên thế giới phát triển văn hóa” tại Pháp ngày 21/01/1998, ngài Tổng thư ký Unesco cũng từng phát biểu:
“Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động dân tộc trong quá khứ cũng như trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo đó đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định riêng biệt của mỗi dân tộc” Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII), Đảng ta xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội” và xác định: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”
Như vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dưới nhiều góc độ khác nhau Quan trọng nhất văn hóa được xem như là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra phục vụ nhu cầu sống của con người trong quá trình phát triển và là nền tảng tinh thần không thể thiếu trong đời sống của con người
1.1.4 Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu sổ là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số
ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với
“dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển” v.v Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia
Trang 17Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc vào số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc
đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là dân tộc thiểu
số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm dân tộc thiểu số, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người” Mặc
dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là dân tộc thiểu số, nhưng cách gọi
“dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung
Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân
ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ờ quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi
là dân tộc đa số ở Việt Nam, nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với các dân tộc của Trung Quốc khoảng 1/55); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/46 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về dân tộc thiểu số và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất
Trang 18và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc
1.1.5 Bảo tồn và phát triển
Từ trước đến nay, khi nói đến văn hoá các dân tộc thiểu số, người ta thường dùng khái niệm “bảo tồn và phát triển” Khái niệm này bao gồm hai nội dung cụ thể là “bảo tồn” và “phát triển” Nhưng nội hàm chi tiết của mỗi một nội dung đó như thế nào thì người ta ít khi giải thích Trong đề tài này, tác giả tạm giới hạn nó ở những khía cạnh sau đây
Trước hết, công việc bảo tồn là làm thế nào để lưu giữ được vốn văn hoá
đã có Đối với các dân tộc thiểu số, có lẽ, việc lưu giữ hữu hiệu nhất là lưu giữ bằng ngôn ngữ các dân tộc Nói khác đi, một dân tộc nào đó nếu ngôn ngữ của
họ bị mai một thì những thành tố văn hoá của họ, như tác giả đã sơ bộ phân tích
ở trên, không ít thì nhiều sẽ bị mai một Chính vì thế việc làm giầu ngôn ngữ của một cá nhân trong cộng đồng dân tộc sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo tồn văn hoá của dân tộc đó Vậy là, ở đây ngôn ngữ dân tộc giữ một vai trò không thể thiếu trong việc lưu giữ văn hoá truyền thống của dân tộc Cùng với việc lưu giữ phải là việc làm giầu bản sắc văn hóa Có như thế nó mới đáp ứng sự phát triển không ngừng của văn hoá Nếu văn hoá không được phát huy thì việc bảo tồn không đem lại lợi ích đích thực cho cộng đồng Do đó có thể nói, giữa bảo tồn và phát triển có quan hệ biện chứng thúc đẩy lẫn nhau
1.2 Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số
1.2.1 Quản lý Nhà nước về văn hóa: Quản lý nhà nước về văn hoá là
hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam hay nói cách khác, quản lý nhà nước
về văn hoá là quản lý các hoạt động văn hoá bằng chính sách và pháp luật Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản: Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật; quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội; quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá Nội dung cùa hoạt động quản lý Nhà nước về văn hoá bao gồm ba hoạt động:
Trang 19Thứ nhất, Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động xây dựng, ban hành
các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá; Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống và tinh thần của con người Tuy nhiên để tạo điều kiện cho mọi công dân có quyền bình đẳng trong nghiên cứu kho học
kỹ thuật và sáng tạo nghệ thuật thì phải được quy định rõ ràng trong luật và phải ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định những khuân mẫu ứng xử trong xã hội
Thứ hai, Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động tổ chức thực hiện của
bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá, để hoạt động các việc đào tào, bồi dưỡng, xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy… Ngoài ra, hoạt động đầu tư tài chính cho văn hóa cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Đầu tư tài chính cho văn hóa xuất phát từ vấn đề quan tâm tới phát triển nguồn nhân lực nên nhà nước chú trọng cho việc đầu tư ngân sách cho giáo dục Đầu tư cho hoạt động văn hóa là đầu tư cho hoạt động sản xuất, cần xem văn hóa cũng làm ra lợi nhuận cho nhà nước nên cần tận dụng cơ chế thị trường cho sự phát triển đúng hướng
Thứ ba, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá
Đây là hoạt động có vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về văn hóa, bởi vì văn hóa có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc như vậy mới có thể thực hiện tốt chức
năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về văn hóa đã đề ra
1.2.2 Quản lý Nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số: Trong những năm
qua, trước sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, cơ chế mở của, hội nhập,
sự biến động dân cư, thông tin phát triển như vũ bão, đã có những tác động lớn đến văn hoá đất nước nói chung, trong đó là văn hoá các dân tộc thiểu số Đảng
và Nhà nước đã có nhiều chính sách, chương trình, dự án bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số Công tác quản lý Nhà nước về văn hoá các dân tộc thiểu sổ được chú trọng, đặc biệt về các mặt như:
Trang 20Nhà nước tăng cường đầu tư, triển khai trên quy mô cả nước các chương trình bảo tồn, tôn tạo, khôi phục các di tích, công trình văn hoá và các chương trình lễ hội văn hoá - thể thao ở vùng dân tộc và miền núi Bảo tồn, phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc, thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục như: Mở các kênh phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc từ trung ương đến địa phương, thành lập, đào tạo, nâng cao chuyên môn hàng năm cho cán bộ quản lý văn hoá dân tộc thiểu số
Nhà nước chú trọng giáo dục trong trường học, cộng đồng, nhằm phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc
Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, truyền tải thông tin thời sự, chính sách của Đảng, Nhà nước, các điển hình tiên tiến qua báo chí, phát thanh, truyền hình, các đội thông tin lưu động v.v Công tác tuyên truyền, vận động tiếp thu những giá trị văn hoá mới hiện đại, tiên tiến thay cho những thói quen cũ, tập quán lạc hậu, lỗi thời cũng được quan tâm và nâng cao hàng năm
Nhìn chung công tác quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc thiểu số được nhà nước chú trọng quan tâm nên đã đạt được những thành tựu quan trọng: Nhiều công trình văn hoá vật thể, giá trị văn hoá phi vật thể được gìn giữ; các lễ hội, liên hoan văn nghệ, thể thao được tổ chức thường xuyên; phong trào xây dựng làng, ấp, bản, buôn văn hoá đi sâu vào đời sống nhân dân, văn hoá ờ khắp các vùng, miền, ăn sâu, bám rễ trong từng gia đình và mỗi cá nhân Tuy nhiên
do nhiều yếu tố văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số đang bị thay đổi hàng ngày, nét đẹp văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số đang mất dần; các tệ nạn xã hội trước đây vốn không có ở vùng dân tộc và miền núi nay cũng xuất hiện tràn lan đến từng bản làng vùng sâu, vùng xa Để khắc phục những nhược điểm này, công tác quản lý văn hoá dân tộc thiểu số còn nhiều thách thức cần Đảng, Nhà nước, đặc biệt những người làm văn hoá vượt qua
* Từ hai dẫn chứng trên cho thấy quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc: là việc thông qua những giải pháp về pháp luật, thể
Trang 21chế, chính sách, kế hoạch của Nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần của các di sản văn hóa; quản lý để bảo tồn và tạo thành các giá trị văn hóa mới; quản lý con người, sản phẩm của quá trình lao động sáng tạo, đồng thời cũng là chủ thể, là đối tượng thụ hưởng của quá trình sáng tạo đó nhằm giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hóa theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước
1.2.3 Sự cần thiết trong quản lý Nhà nước về văn hoá để bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Vai trò của Nhà nước đối với việc bào tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm
ưu tiên, phát triển vùng DTTS và miền núi với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch
về trình độ phát triển giữa vùng DTTS và miền núi với các khu vực khác trong
cả nước đang ngày càng có xu hướng gia tăng cách biệt, vùng miền núi và DTTS đang còn những khó khăn, thách thức rất lớn, trong đó văn hoá truyền thống các DTTS đang đặt ra vấn đề giải quyết hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, giữa kinh tế và văn hoá
Qua nhiều năm thực hiện chính sách văn hoá đối với vùng đồng bào DTTS đã đạt được những thành tựu nhất định Nhận thức của cán bộ, đảng viên
và các tầng lớp nhân dân về văn hóa nói chung, văn hóa DTTS nói riêng được nâng lên một bước; Đời sống văn hoá cơ sở đã có bước phát triển, ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, đời sống văn hoá tuy còn thấp so với đô thị và đồng bằng, nhưng đã có những cải thiện rõ rệt; Công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá dân tộc, đặc biệt là văn hoá của các DTTS có bước phát triển mới về quy mô cũng như chiều sâu; Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá
đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc Nhiều dự án lớn về sưu tầm, tư liệu hoá di sản văn hoá được thực hiện; Việc xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá đã chú ý
Trang 22đếimhững yêu cầu của thời-kỳ mới, Các thiết chế văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được tăng cường cơ sở vật chất, tổ chức và hoạt động bước đầu đã có sự đổi mới, phát huy được hiệu quả
Ở các xã vùng cao, vùng đồng bào DTTS đã được Nhà nước quan tâm hỗ trợ để xây dựng các Nhà văn hoá để làm nơi sinh hoạt, tổ chức các hoạt động văn hoá – văn nghệ và hội họp chung của cộng đồng; Công tác đào tạo đội ngũ những người hoạt động văn hoá, nghệ thuật vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa được chú trọng bước đầu Tăng cường giao lưu văn hoá qua các hoạt động mang tính chất vùng, miền góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số được giao lưu, học hỏi, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thắt chặt tình đoàn kết các dân tộc, đồng thời với việc làm cho nhiều giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc tiếp tục được khơi dậy, bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng
Những yêu cầu chung về quản lý nhà nước đổi với bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc thiểu số: Văn hoá là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm như vấn đề dân tộc và tôn giáo do vậy trong quá trình quản lý nhà nước về văn hoá phải có quy tắc riêng biệt và đặc biệt là phải có yêu cầu để đảm bảo việc quản lý văn hóa có thể thực hiện một cách hiệu quả
1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Đối tượng được bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bao gồm: giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần gìn giữ những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại Đối với các
di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi gìn giữ, bảo vệ, làm giầu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian
Trang 23Sơ đồ hệ thống quản lý Nhà nước về văn hóa
Nhìn vào sơ đồ hệ thống quản lý nhà nước về văn hóa cho thấy, quản lý Nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng và văn hóa nói chung được phân công chức năng, nhiệm vụ nhất định Trong đó việc ban hành luật để điều chỉnh việc quản lý đối với văn hóa trong đó có văn hóa các dân tộc thiểu số thuộc về Quốc hội; việc ban hành các chính sách quản lý nói chung thuộc về Chính phủ; thực hiện chức năng quản lý về mặt chuyên môn, hướng dẫn chuyên
Trang 24môn thuộc chức năng của các cơ quan chuyên môn quản lý về văn hóa từ Trung ương đến địa phương theo thẩm quyền; thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
cụ thể là ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành là chức năng của các cơ quan hành chính có thẩm quyền chung ờ địa phương là ủy ban nhân dân các cấp; Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan thông qua chủ trương, chính sách của ủy ban nhân dân cùng cấp về quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số Việc phân công chức năng quản lý văn hóa cụ thể giữa các cơ quan là cơ sở cho hoạt động quản lý diễn ra đúng mục tiêu và tránh hiện tượng chồng chéo trong quản lý
1.3.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình, dự
án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc
Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số là nội dung quan trọng trong nhiệm vụ duy trì và phát huy văn hóa truyền thống của Nhà nước ta Trong những năm qua, Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành các văn bản liên quan về công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số như: Luật Di sản văn hóa và các luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân tộc; Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 10/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc; Quyết định 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội[5]; Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam[7] Quyết định 1270/QĐ-TTg (năm 2011) phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020[6]; Quyết định sô 975/2006/QĐ-TTg ngày 20/07/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một
Trang 25số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; Quyết định số 2472/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 -2015 (thay thế Quyết định số 975/QĐ-TTg ngày 20/7/2006) của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 1977/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 2, Quyết định số 2472/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2011 cùa Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015; Quyết định
số 124/2003/QĐ-TTg ngày 17/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam; Quyết định 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, văn hoá là một lĩnh vực dễ bị lai tạp, mất dần trong đó bản sắc văn hoá, văn hoá truyền thống dễ bị ảnh hưởng nhất Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại sẽ làm phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy văn hoá phát triển, ngày 27 tháng 7 riăm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1270/ QĐ-TTg phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020 Điểm mới của Đề án là phương thức triển khai theo hướng từ dưới lên: Chủ thể văn hoá đề xướng, thực hiện và thụ hưởng, tập trung cho các dự án hỗ trợ, tăng cường năng lực với vai trò con người chủ thể văn hoá là trung tâm, không nặng về các dự án đầu tư
1.3.2 Tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước và tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Xây dựng và ban hành quyết định, chỉ thị, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm; đề án, chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện cải cách hành chính,
xã hội hóa trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Trang 26Xây dựng và ban hành các văn bản về công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh Trình cơ quan
có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt dự án bảo bảo tồn, các dự án phát triển bản sắc văn hóa từ nguồn ngân sách địa phương quản lý và nguồn vốn xã hội hóa Xây dựng kế hoạch đề nghị xếp hạng, tôn vinh, và khen thưởng cấp quốc gia, cấp tỉnh; xây dựng kế hoạch duy trì và phát triển nghề thủ công truyền thống; kế hoạch sưu tầm và bảo tồn các loại hình văn nghệ dân gian, truyện cổ dân gian, hình thức diễn xướng
Đối với việc tổ chức chỉ đạo triển khai các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa các cơ quan quản lý về công tác văn hóa phải tổ chức kiểm kê, sưu tầm; khôi phục các giá trị văn hóa; chỉ đạo tổ chức đón nhận bằng xếp hạng
di tích quốc gia và cấp tỉnh; thẩm tra và báo cáo cơ quan cấp trên đề nghị các tổ chức cá nhân về việc công nhận bảo vật quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể, bảo tàng tư nhân; đề nghị các cơ quan chức năng thẩm định đồ thờ, hiện vật bổ sung cho di tích đã xếp hạng; Thành lập các ban Quản lý di tích để quản lý trực tiếp các di tích có giá trị tiêu biểu theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo các quy định pháp luật; thành lập và đi vào hoạt động các câu lạc bộ văn nghệ truyền thống; chỉ đạo các vấn đề phát sinh như tu sử, quản ly đất đai, tài sản, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ Chỉ đạo việc tổ chức và quản lý lễ hội trên địa bàn, khoanh vùng bảo vệ di tích đã được xếp hạng, di tích đang trong qua trình thành lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng
Đối với công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng và ban hành nhiều kế hoạch và chương trình nhằm quảng bá về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong đời sống xã hội; nâng cao lòng tự hào ý thức trách nhiệm của cộng đồng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số đối việc bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc như: Kế hoạch đặt hàng tuyền truyền về "Di sản văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam" trên Tạp chí Thế giới Di sản; đăng tải các tin, bài phản ánh đặc trưng di
Trang 27sản văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam Năm 2014, Thông tấn xã Việt Nam và
ủy ban Dân tộc đã ký Chương trình phối hợp công tác Trong nội dung hợp tác, Thông tấn xã Việt Nam có trách nhiệm đăng tải nội dung tuyên truyền, quảng bá các thông tin liên quan đến ủy ban Dân tộc, các vùng dân tộc thiểu số và miền núi trên các loại hình truyền thông của Thông tấn xã Việt Nam và cung cấp thông tin nguồn cho các cơ quan báo chí trong và ngoài nước Đặc biệt, Thông tấn xã Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với ủy ban Dân tộc và các ban, ngành liên quan xây dựng và triển khai chương trình vận động quyên góp, lập quỹ hỗ trợ tài năng trẻ dân tộc thiểu số và tổ chức các sự kiện, các hoạt động xã hội dành cho đồng bào dân tộc thiểu số v.v
Bên cạnh đó, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu
số được diễn ra Đó là Liên hoan văn hóa các dân tộc Việt-Nam nhân Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4; Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng Tây Bắc; các chương trình du lịch hướng về cội nguồn; năm Du lịch quốc gia; Các hoạt động chào mừng Ngày Thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày Di sản văn hoá Việt Nam; các chương trình Giao lưu văn hóa, thể thao và
40 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động
Trang 28đó” Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp v.v Trong quản lý nhà nước về văn hoá - xã hội, nhà nước ban hành các chính sách nhằm
ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp của văn hoá truyền thống, xây dựng nếp sống văn hoá mới v.v Bên cạnh đó cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng xử trong xã hội
Theo chức năng nhiệm vụ được chính phủ giao thì Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng về văn hóa, thể thao,
du lịch trong cả nước Bộ có một số nhiệm vụ quản lý văn hóa cụ thể như: định hướng các nội dung hoạt động về văn hóa cho các tổ chức và công dân theo đúng pháp luật; xây dựng các chính sách nhằm bảo vệ phát huy di sản văn hóa dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, khuyến khích những tài năng sáng tạo, phổ biến những giá trị văn hóa, nghệ thuật, khoa học, nâng cao trình độ
và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân; tổ chức đào tạo các tài năng văn hoá nghệ thuật; tổ chức hướng dẫn sưu tầm, bảo quản, lưu trữ và phát huy những di sản văn hóa của các dân tộc; Hướng dẫn và chỉ đạo quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa, các lễ hội, tổ chức vui chơi giải trí, hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật điện ảnh, báo chí, ngày hội văn hóa các dân tộc v.v… Tổ chức chỉ đạo công tác thanh tra chuyên ngành về các hoạt động văn hóa thể thao du lịch trong cả nước Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Bộ Văn hóa thể thao
và du lịch còn có các vụ, các đơn vị sự nghiệp và một số doanh nghiệp văn hóa
Trong quản lý hoạt động và bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc Nhà nước đã chú trọng tăng cường phân cấp và phát triển các hình thái
tự quản văn hóa; chính quyền địa phương được giao trách nhiệm đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, bảo vệ tính đa dạng và tính thống nhất trong phát triển văn hóa Việt Nam Qua đó cần củng cố, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức
cơ bản trình độ chuyên môn cao phục vụ công tác quản lý bảo tồn văn hóa với
sự hỗ trợ của các cơ quan, các nhà khoa học trong nước và thế giới
1.3.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc
Trang 29Nguồn lực để bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa các dân tộc bao gồm nguồn nhân lực, vật lực Huy động quản lý, sử dụng nguồn lực con người là nội dung quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa bởi hoạt động này đòi hỏi đội ngũ có năng lực quản lý chuyên môn cao gắn liền với sự tham gia ủng hộ, vào cuộc tích cực của toàn bộ cộng đồng dân cư
Trong những năm qua, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhiều đề án, chương trình chính sách mới để hỗ trợ cho đồng bào vùng dân tộc và miền núi đã được thực hiện, trong đó có nội dung huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu
số Với quan điểm tất cả vì người nghèo, nâng cao đời sổng tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, trong những năm qua, các cấp, các bộ ngành đã triển khai
có hiệu quả các chính sách đã ban hành, tháo gỡ khó khăn cho các địa phương, đặc biệt kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã bổ sung nguồn lực thực hiện chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Trước tình hình khó khăn của ngân sách Nhà nước, vấn
đề xã hội hóa, huy động các nguồn lực từ các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp
để thực hiện chính sách, các nguồn lực đầu tư, ủng hộ từ cộng đồng và các nhà
từ thiện trong nước, quốc tế, cũng như phát huy nội lực của các địa phương và người dân, các dòng họ, dòng tộc của đồng bào dân tộc đã được thực hiện
Ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020 tại Quyết định 1270/QĐ-TTg [6] Theo Đề án, tổng kinh phí được thực hiện là 1.512 tỷ đồng được thực hiện trong hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (2011- 2015) là 1.030,7 tỷ đồng
và giai đoạn 2 (2016 - 2020) là 481,3 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (trung ương và địa phương), nguồn vốn lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, lồng ghép với Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, nguồn vốn huy động xã hội hóa, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và nguồn vốn do nhân dân đóng góp
Trang 30Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS chưa thực sự có hiệu quả Việc đầu tư chưa đúng với tầm mức và quan trọng nhất là chưa có sự tham mưu sâu sát, kịp thời của các cơ quan chức năng Đó là việc đề xuất các dự án, đề tài mang tính quy mô, thực hiện những chương trình dài hơi
và hoạch định những giải pháp, chính sách, cơ chế cho việc bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc Chính sách của Nhà nước ta còn đang có những bất cập, sự phân công quản lý, điều hành các chương trình của chúng ta còn chồng chéo, phân công trách nhiệm chưa rõ ràng; bố trí các nguồn lực thiếu hụt, không đủ để thực hiện các mục tiêu của các chính sách; Các chính sách về văn hóa DTTS từ trước đến nay đều chung chung, mang tính chất ứng phó hơn là tính chiến lược lâu dài Không có chính sách riêng để phát triển văn hóa cùa từng dân tộc
1.3.5 Tổ chức chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát triển giá trị văn hóa dân tộc thiểu số
Hoạt động thanh tra, kiểm tra là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về văn hoá, sự tác động trực tiếp của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác Như vậy mới có khả năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý Nhà nước về văn hoá đã đề ra
Ngoài việc hoạt động thanh tra kiểm tra, nhà nước cũng đề ra các Chính sách đãi ngộ khen thưởng là biện pháp tổ chức thực tiễn, một phương pháp tuyên truyền, giáo dục tích cực đồng thời để động viên tích cực ý chí sáng tạo, ý chí quyết tâm, năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ Đãi ngộ khen
Trang 31thưởng ngày càng trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực trong quản lý nhà nước
làm tốt công tác này không những tạo ra động lực cho phong trào thi đua mà qua
đó những nhân tố tích cực được phát hiện và khen thưởng kịp thời sẽ tác động
không chỉ động viên tinh thần trách nhiệm lòng nhiệt tình, sự say mê sáng tạo
của đội ngũ nhân sự đến việc hoàn thành nhiệm vụ công tác đạt chất lượng cao,
đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
1.4 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
- Kinh nghiệm của Trung Quốc: Trung Quốc là một đất nước rất giầu có
về di sản văn hóa, xác định di sản văn hóa được bảo tồn và phát triển chính là sự
giầu có của nền văn minh nhân loại Trung quốc đã đề ra nhiều chủ trương,
quyết sách lớn để gìn giữ và phát triển cụ thể như: Tiến hành các cuộc khảo sát
đối với các di sản văn hóa, phân loại các di sản được ưu tiên bảo tồn cấp khu
vực và địa phương; thực hiện các chiến lược bảo tồn tại các công trình xây dựng
trọng điểm cấp quốc gia; xây dựng công viên khảo cổ học và phát triển ổn định
và bảo tồn đa dạng văn hóa; hỗ trợ các cộng đồng địa phương và tạo lợi ích về
mặt xã hội và kinh tế; điều chỉnh các mối quan hệ giữa phát triển đô thị và bảo
tồn các di sản v.v… Năm 1985 Trung Quốc đã phê chuẩn Hiệp định về bảo tồn
di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đến cuối năm 2015, 48 di sản đã được
đưa vào danh sách di sản thế giới, sự thành công này có được từ sự phát triển
của một quốc gia với hệ thống cơ chế hiệu quả về đề cử, bảo vệ, quản lý, điều
hành và nghiên cứu về di sản thế giới Đặc biệt Trung Quốc tập trung cao về
việc phổ biến các quan niệm liên quan đến di sản thế giới bao gồm các giá trị
chung nổi bật, tính chân thực và tính nguyên vẹn sử dụng phù hợp, nhiều loại
hình di sản văn hóa mới đã được công nhận, tạo them nền tảng lớn về lý thuyết
trong công tác bảo tồn di sản tại Trung Quốc
- Kinh nghiệm của Nhật Bản: Từ những năm 1910 Nhật Bản đã ra ý nghĩa
và tầm quan trọng của các di sản văn hóa, để bảo tồn và phát triển các di sản văn
Trang 32hóa đó Nhật bản đã ban hành Luật Bảo tồn di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh
tự nhiên, từ đó cho đến những năm 1970 Nhật liên tiếp ban hành các luật như: Luật Bảo tồn di sản quốc gia ( năm 1929); Luật Bảo vệ tài sản văn hóa (năm 1950); Luật đặc biệt bảo tồn khu vực lịch sử trong các thành phố cổ (năm 1966) Trong giai đoạn này Nhật bản đã hình thành khung chính sách đầu tiên về bảo tồn di sản văn hóa, với việc cung cấp các khoản trợ cấp cho việc trùng tu các di sản thì thành tựu chính trong giai đoạn này là thiết lập được một hệ thống bảo vệ các tài sản văn hóa, tích hợp ban đầu về bảo tồn di sản văn hóa với việc xây dựng kế hoạch cho đô thị - nông thôn từ đó hệ thống trợ cấp cho việc bảo tồn các tài sản văn hóa được triển khai đồng bộ
Sau năm 1970 đến những năm 1980 Nhật bản sử dụng các di sản văn hóa cho hoạt động du lịch bằng cách cải tạo các tòa nhà lịch sử và quảng bá rộng rãi đến cộng động để phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch Với chiến dịch khám phá Nhật Bản đã tạo sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các chuyến viếng thăm và khám phá truyền thống Nhật Bản, hình ảnh của các làng cổ đã được sử dụng làm băng rôn cho chiến dịch Nhiều trường đại học và nhà nghiên cứu đã khảo sát và tổ chức các hội thảo quốc gia về bảo tồn lịch sử để khởi động chương trình bảo tồn các địa danh lịch sử nơi có các tòa nhà lịch sử, từ đó thu thập và cung cấp thông tin cho các tổ chức cộng đồng và chính quyền địa phương học hỏi trong việc bảo tồn
Nhật Bản xác định chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với cộng đồng để tạo ra môi trường xã hội và trường sống tốt đẹp hơn, từ năm 1980 đến năm 2000 những khu trung tâm du lịch được phát triển thông qua thông qua việc chuyển đổi các tòa nhà lịch sử thành các bảo tàng, nhà hàng, khách sạn để chào đón khách du lịch trong và ngoài khu vực Khởi động những hoạt động bảo tồn và du lịch cộng đồng thành lập các nhóm cộng đồng và xây dựng nguyên tắc về hoạt động du lịch và bảo tồn, các khu vực bảo tồn và các tòa nhà lịch sử được thương hiệu hóa, những địa danh lịch sử được quảng bá như các điểm đến du lịch
Nhờ có sự phát triển về du lịch, nhân dân địa phương đã nhận ra giá trị và
Trang 33nét đẹp của môi trường sống, lịch sử của họ Chính từ những điều đó Chính phủ nhật bản đã tuyên bố xây dựng một đất nước du lịch và trao quyền cho cộng đồng phát triển du lịch bằng cách thương hiệu hóa phong cách sống, ban hành luật đất đai, luật quy hoạch địa danh lịch sử Hệ thống tích hợp giữa sự phát triển vùng miền và bảo tồn di sản văn hóa đã được thiết lập để xây dựng một môi trường sống tốt đẹp hơn
1.4.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước
- Kinh nghiệm của tỉnh Điện Biên: là một tỉnh miền núi, biên giới, nằm ở
phía Tây Bắc của Tổ quốc; có đường biên giới với Lào và Trung Quốc Có 10 đơn vị hành chính (01 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện), với 130 xã, phường, thị trấn và 1.813 thôn, bản và tổ dân phố Dân số toàn tỉnh hiện nay là: 557.411 người; gồm 19 dân tộc, trong đó: Dân tộc Thái chiếm 37,99%, dân tộc Mông 34,81%, dân tộc Kinh 18,43%, còn lại là các dân tộc khác
Theo báo cáo kết quả thực hiện đề án bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên thì đến hết năm 2015 đã bổ sung 23 điểm di tích thành phần của Di tích cấp Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ, nâng tổng
số di tích thành phần lên 45 điểm; Tổ chức tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Điện Biên tại 986/1.766 thôn, bản, tổ dân phố thuộc 114/130 xã, phường, thị trấn có 16/19 dân tộc được kiểm kê, đánh giá hiện trạng văn hóa phi vật thể công bố 690 di sản được phân loại Đến hết năm 2015, có 04
di sản văn hóa phi vật thể được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định công nhận và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Thống kê được 2.725 nghệ nhân và người am hiểu di sản văn hóa các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh, tiến hành rà soát lập 58 hồ sơ nghệ nhân được đưa vào nghiên cứu sâu
và từng bước hoàn thiện hồ sơ, đề nghị Chủ tịch nước công nhận danh hiệu
“Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể
Công tác bảo tồn tiếng nói của dân tộc ít người và chữ viết của những dân tộc có chữ viết riêng được chú trọng, đã có 58 trường tổ chức dạy tiếng Thái, tiếng Mông tại 09 đơn vị hành chính cấp huyện (trừ thành phố Điện Biên Phủ)
Trang 34với tổng số 309 lớp học, 6.747 học sinh tham gia Các trung tâm Ngoại ngữ - Tin học đã tăng cường tổ chức các lớp dạy tiếng Mông, tiếng Thái cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân với trên 4.500 học viên Tổ chức 53 lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho 2.238 cán bộ, công chức, viên chức của các Sở, Ban, ngành, Đoàn thể tỉnh Việc xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ
sở tiếp tục được triển khai với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm Đến nay, toàn tỉnh có 46/130 xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa
Việc tuyên truyền, phổ biến, quảng bá, giới thiệu các di sản văn hóa được thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: Chuyên mục “Sắc màu văn hóa Điện Biên” trên sóng của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh; Chuyên mục “Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên” trên báo viết và báo điện tử của Báo Điện Biên Phủ; 02 chuyên trang: “Di tích lịch sử Điện Biên Phủ” và “Di sản văn hóa” trên Cổng thông tin điện tử Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch v.v Công tác đào tạo nguồn nhân lực được chú trọng triển khai thực hiện Đến nay 100% các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh có cán bộ văn hóa xã, trong đó có 121/130 xã có cán bộ văn hóa - xã hội là người dân tộc thiểu số
Kinh nghiệm để có những thành quả như trên tỉnh Điện Biên đã tăng cường tuyên truyền để cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp và nhân dân, đặc biệt là các nghệ nhân, già làng, trưởng bản hiểu được trách nhiệm và quyền lợi của mình trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc gắn với phát triển kinh tế -
xã hội, từ đó thu hút được sự tham gia chủ động, tích cực của cả hệ thống chính trị và nhân dân Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định rõ thứ tự ưu tiên các di sản cần bảo tồn và phát huy Quan tâm đúng mức đến việc chọn địa điểm, địa bàn, đối tượng, loại hình di sản cần bảo tồn, để đảm bảo tính toàn diện trong việc bảo tồn gắn với phát triển kinh tế - xã hội Phối hợp chặt chẽ, toàn diện của các cấp, các ngành, nhất là cơ quan chuyên môn trong quá trình triển khai nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản Phân công rõ trách nhiệm
Trang 35của các lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Đảm bảo kinh phí kịp thời cho những nhiệm vụ trọng tâm Ưu tiên công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Quan tâm đầu tư thiết bị để phục vụ công tác bảo tồn Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực phát triển văn hóa và quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác văn hóa có năng lực, nhiệt huyết, có trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt quan tâm đến vai trò của yếu tố gia đình, dòng họ, dân tộc, cộng đồng thôn, bản, nghệ nhân dân gian, những người am hiểu và nắm giữ di sản văn hóa các dân tộc
- Kinh nghiệm của tỉnh Sơn La: Để bảo tồn và phát triển các di sản văn
hóa, tỉnh Sơn La đã thực hiện một số phương án nhằm khôi phục, bảo tồn và phát triển như: Xây dựng các đề án, dự án khảo sát sưu tầm các lễ hội, các giá trị văn hóa của các dân tộc trong tỉnh qua đó đánh giá thực trạng của di sản văn hóa, nghiên cứu sâu và đưa ra những định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản; Tổ chức tổng kiểm kê di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đề nghị các cấp xếp hạng Một số di tích đang được bảo tồn và khai thác hiệu quả thu hút được nhiều người tham qua, học tập qua đó góp phần vào việc giáo dục truyền thống, ý thức phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; Không dừng lại ở các công trình ngiên cứu và việc sưu tầm, bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa truyền thống bằng sự đầu tư của nhà nước, Sơn La đã triển khai công tác bảo tồn và phát triển trong đời sống cộng đồng theo phương châm xã hội hóa, định hướng phát triển, tập huấn cho các hạt nhân văn hóa văn nghệ, xây dựng các đội văn nghệ mẫu, đào tạo cán bộ quản lý văn hóa cơ sở Phát huy các thế mạnh của vốn văn hóa truyền thống, tiếp tục đầu tư để nâng cao và làm phong phú thêm vốn văn hóa cổ truyền của các dân tộc góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn, khai thác, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống
Trang 36Tiểu kết chương 1
Việc bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai nói riêng nói riêng và trên cả nước ta nói chung đang là một yêu cầu hết sức cấp thiết, bởi vì nếu không tiến hành kịp thời thì chúng ta có thể sẽ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, nhanh chóng bị hòa tan vào nền văn hóa thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
Để thực hiện được điểu này đòi hỏi chúng ta phải tuân thủ đầy đủ những nội dung quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra Trong đó việc tổ chức thực hiện một các chủ động, sáng tạo các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, đề án, chương trình của cấp trên đã được phế duyệt về lĩnh vực di sản văn hóa có một vị trí, vai trò rất quan trọng
Bên cạnh việc thực hiện đầy đủ nội dung quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa thì cũng cần phải tham khảo, học hỏi kinh nghiệm quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa của các nước thành công trên thế giới cũng như kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước đã có những thành công trong lĩnh vực này, từ đó đem áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể cho phù hợp với từng địa phương, đơn vị
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY
2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai
2.1.1 Vị trí địa lý, dân số và tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý: Là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, Lào Cai có 01 thành phố và 08 huyện với 164 xã, phường Diện tích tự nhiên 6.383.88 km2, có 182,086 km đường biên giới với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc Địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn, chia cắt mạnh, có các tiểu vùng khí hậu khác nhau nên hàng năm phải gánh chịu nhiều hậu quả của thiên tai như lũ ống, lũ quét, sạt
lở đất, sương mù rất dày, rét đậm, rét hại Lào Cai có 05 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 451 km, đặc biệt tuyến đường cao tốc Nội bài Lào Cai dài 265 km được đưa vào sử dụng đã rút ngắn thời gian đi lại và đây cũng là tuyến đường được nối với đường cao tốc Côn minh - Hà Khẩu (Trung Quốc) qua cầu Kim Thành tạo mạch nối thông suốt tuyến hành lang kinh tế Côn minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng Ngoài ra Lào Cai còn có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu - Côn Minh (Trung Quốc); có
2 tuyến sông Hồng và sông Chảy chạy dọc giữa tỉnh tạo thành một hệ thống giao thông đường thủy liên hoàn, trong tương lai Lào Cai sẽ có Cảng hàng không nội địa dùng chung giữa dân dụng và quân sự; có 2 cửa khẩu Quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu với 3 điểm thông quan: đường sắt, cầu hồ kiều 2 cửa khẩu đường bộ số 2
và cửa khẩu chính Mường Khương - Kiều Đầu Tại Nghị quyết 37-NQ/TW của
Bộ Chính trị, Lào Cai được xác định là trung tâm văn hóa - chính trị, kinh tế - xã hội của vùng trung du và miền núi phía bắc Ở đây, có nhiều cơ sở kinh tế, văn hóa, quốc phòng có tầm nhìn chiến lược của đất nước như: Mỏ Apatits Lào Cai, Cửa khẩu quốc tế, khu du lịch Sa Pa …với nhiều điều kiện thuận lợi, tiềm năng, lợi thế lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cả hiện tại và trong tương lai
Trang 38Dân số: Dân số toàn tỉnh có 613.075 người, 25 dân tộc cùng chung sống, dân tộc thiểu số chiếm 64,09% dân số toàn tỉnh Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 35,9%, dân tộc Mông chiếm 22,21% tiếp đến là dân tộc tày 15,84%, Dao 14,05%, Giáy 4,7%, Nùng 4,4%, còn lại các dân tộc đặc biệt ít người như Phù
Lá, Sán Chay, hà Nhì, La Chí v.v… Các dân tộc thiểu số phân bố, cư trú trên địa bàn 9/9 huyện thành phố của tỉnh Là một tỉnh có nhiều dân tộc, song tất cả đều hòa nhập trong một cộng đồng cùng chung sống trên một lãnh thổ có chung một tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa, ý thức, tâm lý, với vị trí điều kiện địa lý, cảnh quan, con người trong lịch sử, hiện tại và cả trong tương lai luôn là khu vực có vị trí quan trọng cả về kinh tể, chính trị và quân sự trong lãnh thổ vùng
và lãnh thổ chung của dân tộc
Tài nguyên thiên nhiên: Lào Cai rất đa dạng với hệ thống sông suối dày đặc là điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát triển các công trình thủy điện vừa và nhỏ; đất có độ phì nhiêu cao, mầu mỡ phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Tổng trữ lượng tài nguyên rừng toàn tỉnh có 51.905 m3 gỗ với hệ sinh thái
tự nhiên phong phú; ngoài ra Lào Cai còn có lợi thế là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản nhất Việt Nam với 35 loại khoáng sản khác nhau với 150 điểm mỏ
Với những điều kiện như trên, trong tương quan so với các tỉnh miền núi khác Lào Cai có đầy đủ các tiềm năng lợi thế phát triển về Công nghiệp, thủy điện, nông - lâm nghiệp, thương mại kinh tế cửa khẩu; Đặc biệt Lào Cai có đỉnh Fan Si Păng cao nhất Đông Dương và một số huyện có khí hậu mát mẻ, có các
di tích được xếp hạng, có 25 dân tộc anh em cùng sinh sống với những nét văn hóa đặc trưng từ chữ viết, trang phục, kiểu dáng nhà ở, văn hóa ẩm thực, tâm linh v.v… Tỉnh Lào Cai là trung tâm du lịch tiểu vùng miền Tây Bắc và cũng là tỉnh biên giới cửa ngõ tiếp giáp với tỉnh Vân Nam một tỉnh đầy tiềm năng du lịch của Trung Quốc Đây là lợi thế để Lào Cai phát triển nhiều loại hình du lịch như: Du lịch văn hóa, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch sinh thái, Du lịch tham quan,
Du lịch thể thao, Du lịch nghiên cứu khoa học
2.1.2 Kinh tế - xã hội
Trang 39Với các lợi thế về tiềm năng kinh tế - xã hội và du lịch tỉnh Lào Cai đã vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, Trung ương vào thực tiễn của địa phương Xác định đúng những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, những tiềm năng, thế mạnh, những khâu đột phá và có bước đi phù hợp Đồng thời tranh thủ sự quan tâm ủng hộ, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố, các tổ chức kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế Quan hệ đối ngoại luôn rộng mở, có cơ chế, chính sách thông thoáng thu hút đầu tư Các cấp, các ngành không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quan tâm, sâu sát cơ sở, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, năng lực và tính chủ động công tác của đội ngũ cán
bộ, nhất là cán bộ cơ sở Sự đoàn kết hợp tác của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong lao động sản xuất, kinh doanh, là một lợi thế để Lào Cai phát triển vượt bậc như ngày hôm nay
Theo báo cáo đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội 25 năm tái lập tỉnh của UBND tỉnh thì kết thúc năm 2015, từ một tỉnh nghèo nhất cả nước (năm 1991), sau 25 năm xây dựng và phát triển, Lào Cai đã thay đổi toàn diện, sâu sắc, trở thành tỉnh phát triển và là trung tâm của vùng Tây Bắc với kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân giai đoạn 1991-2015 đạt 11%, GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 39,4 triệu đồng, gấp 78,8 lần năm 1991 (0,5 triệu đồng/người) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, tỷ trọng kinh tế nông nghiệp giảm mạnh từ 70,5% năm 1991, xuống còn 15,7% năm 2015 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2015 gấp 290 lần so với năm 1991 Kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội được đầu tư nâng cấp, mở rộng, tương đối đồng bộ Tỉnh đã xây dựng được một số công trình hiện đại, có ý nghĩa lịch sử (Khu đô thị mới Lào Cai - Cam Đường, Khu kinh tế cửa khẩu, Khu công nghiệp Tằng Loỏng, Khu du lịch
Sa Pa, Bắc Hà; đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai v.v…); 100% số xã có đường ô
tô đến trung tâm xã; 80% số xã có đường cho xe cơ giới đến tất cả các thôn bản;
Trang 40100% xã có điện lưới quốc gia v.v… Các lĩnh vực xã hội, đời sống nhân dân được quan tâm cải thiện An ninh chính trị được giữ vững
Trong điều kiện đi lên từ điểm xuất phát thấp, thành công trên đã khẳng định đảng bộ và chính quyền Lào Cai đã có những quyết sách đúng đắn phù hợp với thực tế phát triển kinh tế - xã hội, khơi dậy và phát huy được tiềm năng, thế mạnh của các thành phần kinh tế, huy động được mọi nguồn lực trong xã hội vào phát triển kinh tế Mặc dù đạt được những thành công đáng kể nhưng nền kinh tế Lào Cai vẫn còn có những mặt hạn chế như: tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa xứng với tiềm năng; công nghiệp phụ trợ chưa phát triển; xuất nhập khẩu không ổn định; kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao thông, thương mại, văn hóa, thể thao, du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; kinh tế nông nghiệp tăng trưởng chậm; thương mại, dịch vụ và du lịch chưa phát huy được những tiềm năng lợi thế của tỉnh; Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Lào Cai còn hạn chế v.v… Kinh tế phát triển tác động đến mọi mặt xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng Là một tỉnh biên giới có tỉnh lỵ nằm sát với tỉnh Vân Nam Trung Quốc, Lào Cai xác định trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế vấn đề an ninh, chính trị, chủ quyền biên giới quốc gia luôn phải đặt lên hàng đầu và đây cũng là
tư tưởng chủ đạo xuyên suốt về đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, phát triển
vì lợi ích quốc gia, dân tộc; không ngừng tăng cường nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội
Xác định rõ được tầm quan trọng của văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, cùng với phát triển đô thị, phát triển nông lâm nghiệp, phát triển giáo dục, y tế… thì công tác thông tin tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao được duy trì thường xuyên với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, với trên 200 câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao và các câu lạc bộ bản sắc dân tộc sinh hoạt tại
165 nhà, điểm văn hóa xã phường, khu dân cư Phát triển lợi thế sẵn có, các điểm di tích lịch sử văn hóa luôn là những điểm đến của du khách muôn nơi, hàng năm thu hút hàng triệu lượt người đến với Lào Cai Lễ hội Đền thượng