Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về việc huy động và sử dụng nguồn đầu t trực tiếp nớc ngoài Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu t cho phát triển là một trong những y
Trang 1Thực trạng huy động và sử dụng đầu t trực
tiếp nớc ngoài tạI hà nội trong thời gian
qua
I Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về việc huy động
và sử dụng nguồn đầu t trực tiếp nớc ngoài
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu t cho phát triển là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, mục tiêu đặt ra là thực hiện thành công quá trình CNH- HĐH đất nớc, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nớc công nghiệp Do đó việc thu hút vốn đầu t trở thành chiến lợc quan trọng của đất nớc
Từ Đại hội VI, Nhà nớc ta đã quán triệt t tởng chủ đạo: phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời cũng khẳng định: Nguồn vốn trong nớc là quyết định, nguồn vốn nớc ngoài là quan trọng Hiện nay, nguồn tích luỹ trong nớc là rất thấp do vậy vốn nớc ngoài là nguồn vốn trực tiếp chiếm tỷ lệ lớn trong vốn đầu t phát triển Bởi vì, nguồn vốn nớc ngoài bổ xung cho nguồn vốn trong nớc, thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tạo thêm nhiều ngành nghề mới, tăng thu nhập cho ngời lao động
- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với tiến trình phân công lao động quốc tế
- Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm của các nớc khác trên thế giới trong quá trình xây dựng một nền kinh tế hiện đại
- Sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nớc
Quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nớc ta khi xây dựng chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài là quán triệt phơng châm: Đa phơng hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế đối ngoại trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế
Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam thể hiện:
- Đảm bảo quyền lợi cho các nhà ĐTNN
Trang 2- Nhà ĐTNN đợc tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Đảm bảo lợi ích quốc gia trong mọi lĩnh vực: sản xuất- kinh doanh- môi trờng và đời sống xã hội
- Khai thác triệt để thế mạnh của bên đầu t về vốn, kỹ thuật nhằm nâng cao trình độ quản lý kinh doanh cho đội ngũ các nhà quản trị kinh doanh Việt Nam, đào tạo nghề cho ngời lao động
Để tạo khuôn khổ pháp lý cho các t tởng chủ đạo trên, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về ĐTNN vào năm 1977 Nhng do thế giới có nhiều biến động và Việt Nam cha phát triển, nên Nghị định này không đợc thực hiện tốt, các nhà
ĐTNN cha dám đầu t vào Việt Nam Đến ngày 28/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động
ĐTNN Luật gồm 4 chơng với 42 điều quy định về lĩnh vực đầu t, biện pháp khuyến khích đầu t, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu t, các cơ quan quản lý ĐTNN
Từ năm 1987 đến nay, Luật đầu t nớc ngoài đã đợc sửa đổi, bổ sung 4 lần; bên cạnh đó còn có hàng loạt các văn bản dới luật, các nghị định, nghị quyết, thông t đợc ban hành cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nớc, phù hợp với thông lệ quốc tế
- Lần 1 (tháng 6/1990): Nội dung sửa đổi, bổ sung là các vấn đề về bên Việt nam, về hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh (về khái niệm, phần vốn góp của các bên nớc ngoài, hội đồng quản trị, giảm thuế lợi tức ); các tổ chức kinh tế t nhân ở Việt Nam có thể hợp tác liên doanh với nớc ngoài Do đó, nội dung của Luật đợc cụ thể, rõ ràng hơn, mang tính thực tiễn
- Lần 2 (Tháng 12/1992): Quốc hội đã thông qua các quy định; Bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, quy
định về khu chế xuất, hợp đồng kinh doanh - xây dựng - chuyển giao (BOT); bên Việt Nam có thể góp vốn pháp định bằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc tăng dần tỷ trọng vốn góp của bên Việt Nam trong vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn ĐTNN; mở rộng khoản vốn vay tại ngân hàng ở nớc ngoài; bảo đảm vốn đầu t, không quốc hữu hoá
Luật này đã mở ra các hình thức đầu t và góp vốn đầu t mới, đa ra các biện pháp mới để đảm bảo lợi ích của bên Việt Nam và những giải pháp để làm
an tâm và tạo thuận lợi cho các nhà ĐTNN
Trang 3- Lần 3 (12/11/1996): Luật gồm 6 chơng 68 điều, quy định cụ thể về các hình thức đầu t, biện pháp bảo đảm đầu t, quyền và nghĩa vụ của nhà
ĐTNN, của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
- Lần 4 (5/2000): Mục tiêu của việc sửa đổi, bổ xung một số điều trong Luật ĐTNN là nhằm tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN, thu hút vốn FDI với chất lợng cao, giảm mức chênh lệch giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nớc Luật đã sửa đổi, bổ xung một số điều: Nguyên tắc nhất trí trong doanh nghiệp liên doanh, cân đối ngoại tệ, chuyển nhợng vốn
Bên cạnh đó, hàng loạt các quy định, nghị định, thông t đợc ban hành ( nh Quyết định số 233/1998/QĐ - TTg; Nghị định số 169/1999/NĐ - CP ) nhằm cụ thể hoá Luật ĐTNN, bảo đảm cho Luật đợc đi vào thực tiễn và có tính hiệu lực cao
II Vài nét về tình hình kinh tế- xã hội ở Hà nội trong thời gian qua
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế- xã hội Hà Nội có nhiều chuyển biến mạnh mẽ theo chiều hớng tích cực Hiện nay, Hà Nội có 1073 doanh nghiệp nhà nớc (chiếm 16% số lợng doanh nghiệp nhà nớc của cả nớc), 342 dự án
ĐTNN còn hiệu lực (chiếm 14% số dự án và 20% vốn thực hiện) Trên địa bàn, chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh: có trên 97% số cơ sở sản xuất kinh doanh có số lợng lao động nhỏ hơn 50 ngời; 96,8% quy mô vốn dới 100 triệu đồng với hiệu quả sở dụng vốn khoảng 45% doanh thu Số lợng các trờng Đại học-Cao đẳng- Viện nghiên cứu là
92 trờng Dân số thành phố là 2.682.162 ngời, trong đó dân số thành thị chiếm 54,42%, tỷ lệ tăng dân số thành thị là 2,6%/năm Trình độ học vấn và dân trí của
Hà Nội rất cao Tỷ lệ số dân cha biết chữ là 1%, đã hoàn thành phổ cập cấp II và phấn đấu phổ cập cấp III khu vực nội thành Trình độ Đại học - Cao đẳng chiếm 11,1% so với tổng số lao động (trong đó 10.243 cán bộ có trình độ trên Đại học; khoảng 20,3 vạn ngời có trình độ Đại học - Cao đẳng; hơn 10,5 vạn ngời có trình
độ trung cấp) Lực lợng lao động kỹ thuật chiếm 36% số ngời lao động; công nhân kỹ thuật 10,1% Tỷ lệ sinh tự nhiên năm 1997 là 1,77% giảm xuống còn 1,35% năm 1999
Kinh tế-xã hội Hà Nội đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, thông qua một
số chỉ tiêu sau:
Trang 4Bảng : Thành tựu kinh tế - xã hội của Hà Nội
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu t Hà Nội
Quán triệt Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XII (5/1996) về phát triển kinh tế giai đoạn 1996-2000: "Để phát triển kinh tế Thủ đô theo hớng CNH- HĐH, trong những năm trớc mắt, cơ cấu kinh tế Thủ đô vẫn là: Công nghiệp - Thơng mại, du lịch, dịch vụ - Nông nghiệp (nhng có sự thay đổi quan hệ
tỷ lệ nội bộ các trọng điểm phát triển)" Hà Nội đã đạt đợc một số kết quả nh sau:
- Sản xuất công nghiệp: Tỷ trọng công nghiệp (cả xây dựng) trong GDP
toàn thành phố từ 29% (1990) lên 37,5% (1999) Tốc độ tăng trởng GDP ngành công nghiệp bình quân 13,93%/ năm, trong đó xây dựng 16,03%/ năm Năm 1999: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng 8-9% trong đó: công nghiệp nhà nớc trung ơng tăng 7,4%; công nghiệp nhà nớc địa phơng tăng7%; công nghiệp ngoài nhà nớc tăng 12,6% và khu vực có vốn ĐTNN tăng 11% Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1999 thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch đề ra và các năm trớc Đó là do sự suy giảm nhịp độ tăng trởng công nghiệp trung ơng và khu vực có vốn ĐTNN Các nhóm ngành công nghiệp Thủ đô đều có tốc độ tăng trởng khá cao, thấp nhất là nhóm ngành dệt -
Trang 5may cũng có tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 7,93%, tăng trởng cao nhất là nhóm da giày 21,17% Một số ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển: Công nghiệp chế biến thực phẩm, cơ- kim khí, sản xuất vật liệu xây dựng
- Lĩnh vực dịch vụ: Năm 1999, dịch vụ chiếm tỷ trọng GDP toàn thành phố
là 58,6%, tốc độ tăng trởng GDP dịch vụ bình quân 11,39%/ năm Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1375 triệu USD (tăng 11,34% so với năm 1998) trong đó kim ngạch xuất khẩu địa phơng đạt 350 triệu USD (tăng 14,38%), cao hơn mức kế hoạch đề ra Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 2400 triệu USD (bằng năm 1998), kim ngạch nhập khẩu địa phơng đạt 386 triệu USD (giảm 0,2% so với năm 1998) Lợng khách du lịch tăng 7%/ năm trong đó khách quốc tế tăng 2,5%/ năm, khách nội địa tăng 5%/ năm; tổng doanh thu từ du lịch tăng 5,8% so với 1998 Các hoạt động trong lĩnh vực khách sạn - nhà hàng, dịch vụ tài chính - tín dụng có nhịp độ tăng trởng lớn nhất trong khối các ngành dịch vụ: Dịch vụ vận chuyển hàng hoá, cung ứng vật
t kỹ thuật, thơng mại, dịch vụ bảo hiểm, bu chính viễn thông
- Sản xuất nông - lâm -thuỷ sản: chiếm tỷ trọng GDP toàn thành phố từ
9% (1990) xuống 3,9% (1999), tốc độ tăng trởng GDP của ngành bình quân là 5,21%/ năm Năm 1999, tổng giá trị sản lợng tăng 3,6% so với năm
1998, năng suất lúa bình quân đạt 38,2 tạ/ ha tăng 1,2 tạ/ ha so với năm
1998 Có sự biến đổi mạnh về cây trồng và vật nuôi Thực hiện chơng trình trồng rừng, nớc sạch nông thôn, xoá đói giảm nghèo phát triển sản xuất vùng rau sạch, vùng cây ăn quả, phát triển đàn bò sữa, nạc hoá đàn lợn Kinh tế nông trại đang hình thành, sản xuất và đời sống của khu vực nông thôn ngoại thành tơng đối ổn định
- Tài chính: Hà Nội đứng thứ hai về tiềm năng và thực tế huy động (sau
Thành phố Hồ Chí Minh) Giai đoạn 1996 - 1998, tổng vốn huy động là 59.559,5 tỷ đồng (khoảng 19.750 tỷ đồng/ năm), trong đó vốn trong nớc là 36.527,5 tỷ đồng (đạt 61,33%) Đến tháng 11/1999, Ngân hàng tín dụng huy động đợc 52.000 tỷ đồng trong đó từ dân c là 25.650 tỷ đồng với tốc độ tăng tối đa nguồn vốn này là 30,84% và có xu hớng tăng nhanh, tỷ lệ cho vay trung và dài hạn cao hơn trớc
Thu ngân sách tăng liên tục qua các năm: Giai đoạn 1997- 1999, tổng thu ngân sách đạt 35.460,573 tỷ đồng, là địa phơng có số thu ngân sách lớn thứ hai trong cả nớc, trong đó tổng thu ngân sách nhà nớc chiếm 89,05%, tốc độ tăng vố ngân sách khoảng 10,42%/ năm Tổng thu ngân
Trang 6sách luôn lớn hơn tổng chi ngân sách của địa phơng Tổng chi thời kỳ 1997
- 1999, là 6.124,622 tỷ đồng Tốc độ tăng thu năm 1999 là 91,7%, tăng chi
là 126,9% Chi tập trung chủ yếu là chi cho xây dựng cơ bản, khoa học công nghệ - môi trờng, giáo dục - đào tạo, các chính sách xã hội Vốn FDI giảm mạnh; năm 1998 thực hiện đợc 525 triệu USD, năm 1999 là 180 triệu USD, giảm 65,71%
- Văn hoá- xã hội: Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, TDTT, xây dựng
nếp sống văn minh và vệ sinh môi trờng có nhiều chuyển biến tốt: Đa dạng hoá các loại hình giáo dục (các trờng công lập, dân lập, t thục, bán công) ở các cấp học Công tác y tế đã thực hiện tốt mục tiêu, chơng trình của Quốc gia và của thành phố Việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng và chữa bệnh
đạt kết quả tốt, không để xảy ra dịch bệnh nguy hiểm Thực hiện tốt chính sách u đãi đối với ngời có công, gia đình chính sách Chất lợng các hoạt
động văn hoá thông tin, TDTT, gia đình văn hoá đợc nâng lên một bớc Công tác phòng chống tệ nạn xã hội đợc quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả b-
ớc đầu An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đợc giữ vững Bộ máy
Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đợc tăng cờng và có hớng phát triển mới
- Công tác cải cách hành chính: có bớc chuyển biến, bớc đầu thời hạn
giải quyết các công việc theo yêu cầu của nhân dân và các tổ chức đợc rút ngắn hơn trớc; các thủ tục, giấy tờ đơn giản, gọn nhẹ; thái độ phục vụ của các cán bộ đợc nâng lên
- Lĩnh vực xây dựng và quản lý đô thị:
Bộ mặt thủ đô đã có nhiều đổi mới Công tác quy hoạch, xây dựng và quản
lý đô thị đã tập trung hơn vào các công trình trọng điểm
Căn bản hoàn thành quy hoạch tổng thể chung của Hà Nội đén năm 2020, quy hoạch chi tiết các khu đô thị đang đợc tiến hành
Bố trí vốn và triển khai các dự án trọng điểm thuộc lĩnh vực hạ tầng giao thông đô thị: Dự án thoát nớc giai đoạn I, cấp nớc 1A, tăng cờng năng lực quản lý giao thông đô thị, đờng Cầu Giấy - Hùng Vơng, Láng Trung - La Thành - Đội Cấn, thực hiện dự án đê Hữu Hồng mở thêm 8 tuyến xe buýt mới (nâng tổng số tuyến xe buýt lên 33 tuyến với 2400 xe); thực hiện dự án khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn - Sóc Sơn, xây dựng dự án quy hoạch mạng lới công viên cây xanh và các khu vui chơi giải trí
Trang 7Quản lý đô thị: quy hoạch chi tiết việc triển khai xây dựng một số dự án phát triển nhà: Khu Đầm Trấu, khu nhà ở Thanh Trì, Vọng phát triển một số khu
đô thị mới: Trung Hoà, Yên Hoà, Bắc Linh Đàm, Đại Kim - Định Công, Trung Hoà - Nhân Chính
- Công tác phát huy nội lực còn thấp, cha có biện pháp tích cực và khả thi trong việc khai thác các thế mạnh và nguồn tiềm năng sẵn có của Hà Nội, cha có chính sách khuyến khích mới để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cho công cuộc xây dựng kinh tế, thực hiện quá trình CNH- HĐH
- Kết cấu hạ tầng còn thấp so với yêu cầu của phát triến kinh tế - xã hội Phần lớn trang thiết bị kỹ thuật của các xí nghiệp rất lạc hậu, năng suất và chất lợng thấp, cần phải hiện đại hoá Giao thông đô thị còn nhiều vớng mắc, thờng xuyên xảy ra tắc đờng vào các giờ cao điểm và úng ngập vào mùa ma bão Cơ sở hạ tầng kỹ thuật cha đồng bộ, yếu kém Nhiều nơi chính quyền các cấp còn buông lỏng trong công tác quản lý nên việc xây dựng trái phép và không phép vẫn diễn ra
- Công tác cải cách thủ tục hành chính cha đợc triển khai đều, đồng bộ và sâu rộng, còn chậm so với yêu cầu Quá trình giải phóng mặt bằng thờng diễn ra với khoảng thời gian rất dài, làm chậm tiến độ dự án
- Hà Nội tập trung nhiều đối tợng đợc hởng chính sách - xã hội (hơn 90%
so với tổng dân số của thành phố) Do vậy, cần chi một lợng ngân sách khá lớn để giải quyết vấn đề này nên vốn đầu t phát triển và phục vụ lợi ích công cộng bị giảm
- Tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm, tệ nạn ma tuý trong học đờng và trong các tầng lớp thanh thiếu niên ngày càng tăng
Nguyên nhân của những tồn tại trên:
Trang 8- Hệ thống thể chế nhằm chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quảnlý của nhà nớc tuy bớc đầu đã hình thành song cha đầy đủ, chậm kịp đổi mới
và đồng bộ; sự hiểu biết, vận dụng và tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành cha đáp ứng đợc yêu cầu, đã gây nhiều khó khăn, hạn chế kết quả thực hiện
- Các DNNN tuy đã cố gắng vơn lên để thích ứng với cơ chế thị trờng, song nhìn chung còn thiếu năng động, vẫn ỷ lại trong chờ vào cấp trên, hiệu quả hoạt động thấp , cơ cấu bộ máy quản lý còn cồng kềnh, phức tạp Các ngành công nghiệp cha đợc đầu t phát triển tơng xứng Công tác cổ phần hoá triển khai chậm
- Hệ thống thị trờng cha đồng bộ: Thị trờng sức lao động, thị trờng công nghệ, thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn mới phôi thai, thị trờng chứng khoán
đang chuẩn bị ra đời, thị trờng bất động sản cha có cơ chế rõ ràng, môi ờng cạnh tranh cha đầy đủ và không bình đẳng Tình trạng độc quyền kinh doanh cha đợc kiểm soát có hiệu quả
tr Công tác tổ chức điều hành còn yếu kém, cha xác định rõ trách nhiệm
đối với ngời thừa hành, trình độ của một số bộ phận cán bộ còn thấp, tệ nạn tham nhũng - quan liêu thờng xuyên xảy ra
- Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực châu á cuối năm 1997 là nguyên nhân khách quan đã và đang gây nhiều khó khăn cho sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói chung
III Tình hình huy động Đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Hà Nội
Quán triệt nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khoá VIII) chỉ rõ: "Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài vào các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu và công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, điện tử, những ngành ta có thế mạnh về nguyên liệu và lao động
".
Thành uỷ, HĐND,UBND thành phố Hà Nội đã tập trung chỉ đạo công tác kinh tế đối ngoại, hoạt động FDI đã đợc quan tâm chỉ đạo chặt chẽ và đã thu đợc kết quả rõ rệt, đóng góp quan trọng vào tăng trởng GDP của Thành phố
1 Tình hình cấp giấy phép đầu t
Khi Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc ban hành 12/1988, Việt Nam đã
có 37 dự án ĐTNN với tổng số vốn đăng ký là 371,8 triệu USD Tính đến hết năm
Trang 91999, Việt Nam thu hút đợc 2853 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 36.356 triệu USD, quy mô trung bình một dự án là 12,594 triệu USD.
Riêng Hà Nội, trong 11 năm thực hiện luật ĐTNN (1989 - 1999), đã thu hút
đợc 399 dự án với tổng vốn đăng ký là 7.976 triệu USD, trung bình là 19,99 triệu USD/ năm, điều này nói lên ở Hà Nội cha thu hút đợc nhiều dự án lớn
Bảng 5 Tổng hợp số dự án đợc cấp giấy phép ở Hà Nội
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu t Hà Nội
Trong tổng số dự án đợc cấp giấy phép đầu t hiện có 342 dự án còn hiệu lực, vốn đầu t thực hiện là hơn 3.100 triệu USD Thời kỳ 1989 - 1999, hoạt động
ĐTNN tại Hà Nội luôn có sự thay đổi
Nếu xét theo sự thay đổi của Luật ĐTNN thì quá trình thu hút vốn ĐTNN
Trang 10Tính chung thời kỳ 1989 -1992: Hà Nội đã cấp giấy phép cho 51 dự án đầu
có 46 dự án với 2.641 triệu USD Nh vậy, năm 1996 số dự án giảm đi 14 nhng số vốn đăng ký gấp 2,496 lần năm 1995 Điều này chứng tỏ, sức thu hút FDI ở Hà Nội rất mạnh và quy mô của các dự án tăng lên nhiều
Tuy nhiên, do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Châu á năm 1997, lợng vốn ĐTNN vào Hà Nội đã giảm Trong 3 năm (1997 - 1999), Hà Nội thu hút đợc 139 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 1.700 triệu USD Trong đó,
số dự án liên tục giảm qua các năm: 1997 có 50 dự án, 1998 có 46 dự án và 1999 giảm xuống còn 43 dự án; vốn đầu cũng giảm với tốc độ cao, lợng vốn đăng ký t-
ơng ứng qua các năm là 857 triệu USD; 510 triệu USD; 333 triệu USD
Trong năm 1999, Hà Nội cấp giấy phép cho 43 dự án, trong đó có 12 dự án
đầu t bổ sung đã nâng tổng vốn đăng ký (kể cả vốn đầu t đăng ký và vốn bổ sung) tới 333 triệu USD So với năm 1998, số vốn đăng ký giảm 34,71% Đây là năm
Hà Nội giảm mạnh nhất về số vốn đăng ký
So với cả nớc, nguồn FDI của Hà Nội có tỷ trọng tơng đối khá và tăng dần qua các năm
Bảng 6: Nguồn đăng ký FDI tại Hà Nội so với cả nớc
Trang 11Nguồn: Sở Kế hoạchvà Đầu t Hà Nội
Mặc dù nguồn vốn FDI có xu hớng giảm song tỷ trọng khai thác của Thành phố Hà Nội so với toàn quốc vẫn cao, bình quân hàng năm thời kỳ 1989 -1999là 21,81%, đứng thứ hai trong nớc chỉ sau TP Hồ Chí Minh (chiếm 33,32%)
2 Nhịp độ và quy mô đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Hà Nội.
Nhịp độ đầu t :
Nhịp độ đầu t vào Hà Nội trong thời gian qua khá sôi động Trong thời gian
từ năm 1989 đến nay, số lợng dự án đợc cấp giấy phép không ngừng tăng nhanh
Trang 12l-Vốn đầu t thực hiện năm 1998 - 1999 cũng giảm năm 1998 thực hiện đợc
525 triệu USD (giảm 26,3%), năm 1999 đạt 180 triệu USD (giảm 65,7%) Tình hình trên cho thấy, lợng vốn đăng ký, số dự án, cũng nh số vốn thực hiện đều không ổn định, giảm liên tục qua các năm với tốc độ ngày càng lớn Nguyên nhân chính của việc giảm nhịp độ đầu t là do ảnh hỏng của cuộc khủng hoảng tài chính
- tiền tệ khu vực dẫn đến các nhà đầu t đều lo sợ rủi ro lớn với công việc đầu t của họ
Quy mô đầu t :
Từ khi thực hiện luật ĐTNN, Hà Nội đã thu hút đợc một số lợng lớn dự án
đầu t cũng nh số vốn đăng ký Nếu năm 1989 có 4 dự án với số vốn đầu t đăng ký
là 48,17 triệu USD thì đến năm 1996 có 45 dự án với tổng vốn đầu t là 2.641 triệu USD (tăng 11,25 lần số dự án và tăng 54,83 lần số vốn đầu t)
Về quy mô bình quân một dự án cũng tăng nhanh Nếu giai đoạn 1989 -
1990, bình quân vốn đấu t trên một dự án là 28,605 triệu USD (trong đó năm
1990, đạt mức cao là 36,886 triệu USD/ dự án) Năm 1991 vốn đầu t trên một dự
án giảm đi chỉ còn 8,947 triệu USD/ dự án ( bằng 24,26% vốn bình quân một dự
án năm 1990) Năm 1992 là 11,57 triệu USD; Năm 1993 là 19,22 triệu USD; năm
1994 là 15,964 triệu; Năm 1995 là 17,932 triệu USD Trong giai đoạn này, tính chung bình quân là 16,414 triệu USD/ dự án Quy mô vốn đầu t trên một dự án thời kỳ này thấp hơn giai đoạn trớc (1989 - 1990) nhng đã đạt một mức độ ổn
Trang 13quân một dự án có xu hớng giảm: năm 1997 là 17,14 triệu USD; năm 1998 là 11,087 triệu USD và năm 1999 là 7,744 triệu USD Nh vậy, trong thời kỳ 1996 -
1999, Hà Nội đạt đợc 23,592 triệu USD/ dự án Nếu so sánh với 1991 - 1995, quy mô vốn trên một dự án trong giai đoạn này gấp 1,437 lần Sở dĩ đạt đợc kết quả
nh vậy là do trong giai đoạn 1996 - 1999 số dự án đợc cấp giấy phép đầu t chỉ bằng 90,64% nhng tổng vốn đầu t lại đạt 131,88 % Quy mô vốn bình quân một
dự án của Thành phố là 19,709 triệu USD So với các thành phố khác trong cả nớc thì Hà Nội tuy có số lợng dự đầu t ít (bằng 14% cả nớc; bằng 39,5% số dự án của thành phố HCM ) nhng quy mô một dự án cao gấp 1,569 lần cả nớc; gấp 1,667 lần thành phố HCM; gấp 2,928 lần Bình Dơng Nh vậy, Hà Nội đã thu hút đợc một số
dự án có quy mô lớn nh dự án xây dựng khu đô thị Nam Thăng Long: 2,11 tỷ USD
Bảng 8 So sánh một số chỉ tiêu chủ yếu của Hà Nội với một số thành phố khác trong cả nớc
Trang 14tr-nhìn chung, nhịp độ thu hút FDI của Hà Nội vẫn đứng thứ hai cả nớc chỉ sau TPHCM.
3 Cơ cấu đầu t trực tiếp nớc ngoài:
Cơ cấu đầu t trực tiếp nớc ngoài phân theo ngành kinh tế có xu hớng dịch chuyển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nớc Hoạt động FDI
đã đi vào hầu hết mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Mức độ phân bổ vốn đầu t theo ngành kinh tế đã tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hà Nội Trong giai đoạn đầu thực hiện Luật
ĐTNN tại Việt Nam, các chủ ĐTNN chủ yếu tiến hành các dự án tập trung vào lĩnh vực khách sạn, văn phòng, căn hộ, bu điệnn, viễn thông Năm 1989: ngành bất động sản chiếm 99% vốn đầu t Năm 1990: Giao thông - Bu điện chiếm 96% Năm 1991: Bất động sản 67% nhng trong năm này Hà Nội đã quan tâm chú trọng
đến việc đầu t vào ngành công nghiệp Đó là do trong thời kỳ đầu, để có thể tận thu đợc nguồn vốn FDI nên Hà Nội ít chú ý đến việc phải lựa chọn các dự án đầu
t sao cho phù hợp với yêu cầu xây dựng cơ cấu kinh tế
Qua nhiều năm vừa làm vừa điều chỉnh, cơ cấu đầu t trực tiếp nớc ngoài đã
có bớc chuyển biến quan trọng theo hớng tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, phát triển các khu đô thị mới Vốn đăng ký của các dự án FDI phân theo ngành kinh tế tại Hà Nội đợc thể hiện trong bảng sau:
Bảng 9: Nguồn FDI tại Hà Nội theo ngành kinh tế
Giao thông -
Bu điện
Đô thị - Hạ tầng
Nông nghiệp
Các ngành khác
Trang 15Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội
Nhìn chung, cơ cấu vốn FDI có sự thay đổi rõ rệt từ năm 1991 Nhịp độ đầu
t vào ngành công nghiệp tăng nhanh và ổn định, đặc biệt là trong 3 năm (1991 - 1993), tỷ lệ vốn đầu t vào ngành công nghiệp trong tổng vốn FDI vào Hà Nội bình quân đạt 39,84% Cũng trong giai đoạn này nhịp độ đầu t vào ngành Bất động sản vẫn tăng nhng tốc độ giảm hơn thời kỳ trớc Giao thông - Bu điện giảm mạnh: Năm 1990 chiếm 90% đến năm 1993 giảm xuống còn 1,2% Điều này khẳng định cơ cấu đầu t của Hà Nội đã thay đổi đáng kể, chuyển dịch theo hớng công nghiệp
- dịch vụ - nông nghiệp Trong khi đó ngành nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong vốn đầu t với mức độ ổn định qua các năm ( trung bình giai đoạn này là 0,37%) Sang giai đoạn 1994 1996, tỷ lệ vốn đầu t vào các ngành công nghiệp
và nông nghiệp có giảm so với tổng vốn đầu t nhng vẫn ổn định qua các năm Đối với ngành công nghiệp, vốn FDI chiếm 16,47%; ngành nông nghiệp chiếm 0,21% Lĩnh vực Bất động sản thời kỳ này không ổn định: năm 1995 chiếm 51% vốn đầu
t nhng sang năm 1996 giảm với mức kỷ lục, chỉ còn chiếm 3,2% tổng vốn FDI và ngành Giao thông - Bu điện cũng vậy vốn đầu t vào ngành này giảm: năm 1995 chiếm 32%; năm 1996 chiếm có 0,5% Nhng năm 1996 là năm có dấu hiệu đáng mừng trong cơ cấu đầu t theo ngành Số vốn đầu t tập trung vào lĩnh vực phát triển
đô thị - hạ tầng chiếm một tỷ lệ khá cao (78,9%) Trong giai đoạn 1997 - 1999, mặc dù lợng vốn ĐTNN vào Hà Nội có giảm nhng vốn đầu t vào các ngành ở thành phố vẫn phù hợp với cơ cấu kinh tế Vốn ĐTNN chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp, bất động sản, giao thông - bu điện, đô thi - hạ tầng với tỷ lệ t-
Trang 16Biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu vốn đầu t theo ngành kinh tế Hà Nội
Cơ cấu đầu t đợc phân bổ nh trên tạo điều kiện cho thành phố khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế của mình Phơng hớng trong những năm tới cần tập trung đầu t vào môt số lĩnh vực và ngành kinh tế mũi nhọn, có hàm lợng công nghệ chất xám cao nh: công nghiệp điện tử, công nghiệp cơ khí và đồ điện, hàng tiêu dùng cao cấp Hiện nay, chúng ta có cơ hội và điều kiện để thu hút FDI một cách có chọn lọc, đã đến lúc Hà Nội không chỉ chú trọng đến số lợng vốn đầu t
mà cần phải quan tâm đến chất lợng các dự án ĐTNN, xem ảnh hởng của nó tới nền kinh tế trong trớc mắt và trong lâu dài
4 Đầu t trực tiếp nớc ngaòi phân theo hình thức đầu t.
Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định có 3 hình thức đầu t chủ yếulà doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh và một số hình thức khác nh BOT, BTO, BT ở Việt Nam, các hình thức này
đều đã đợc thực hiện nhng ở Hà Nộ mới chỉ có 3 hình thức hoạt động là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
Vốn đầu t đăng ký theo các năm tăng liên tục, trong đó chủ yếu vào các doanh nghiệp liên doanh: doanh nghiệp này có tốc độ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng tơng đói lớn trong các hình thức đầu t tại Hà Nội, thể hiện sự linh hoạt của các doanh nghiệp trong nớc huy động vốn của mình cùng tham gia đầu t
Trang 17B¶ng 11: H×nh thøc ®Çu t t¹i Hµ Néi
B¶ng 12: Tæng hîp 6 níc ®Çu t lín nhÊt vµo Hµ Néi
Trang 18Căn cứ vào bảng số liệu thống kê, ta thấy các nớc ở châu á đã tận dụng triệt để cơ hội đầu t vào Hà Nội, trong số 6 nớc đầu t lớn nhất vào Thành phố thì
có đến4 nớc nằm ở khu vực châu á Tuy nhiên, những quốc gia này mới phát triển kinh tế, cha cómột quá trình tích luỹ lâu dài và cha trải qua giai đoạn thăng trầm của cuộc khủng hoảng nên rất dễ không ổn định Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ cuối năm 1997 đã cho thấy các nớc này thoái lui đầu t do không có khả năng về mặt tài chính Vì vậy, cục diện đầu t thay đổi Số lợng dự án cũng nh số vốn đầu t vào Hà Nội giảm đáng kể đã làm giảm chung về số vốn và dự án đầu tcủa Thành phố
6 Các khu chế xuất, khu công nghiệp.
Năm 1991, khu chế xuất đầu tiên ở Việt Nam ra đời, đây là một dạng hoạt
động của KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu Đó là KCX Tân Thuận - TPHCM hợp tác với Đài Loan, trên diện tích 300 ha, có tổng vốn đầu t 89 triệu USDvà hiện nay KCX này đợc kết nạp vào Hiệp hội các KCX trên thế giới Sau 9 năm thành lập và phát triển (1991 - 1999), đến đầu năm 2000; Việt Nam đã có 66 KCN tập trung ( 62 KCN, 3 KCX, 1 khu công nghệ cao, cha kể KCN Dung Quất) Các KCN đợc phân bổ rộng khắp các vùng của đất nớc và phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế của các vùng ( Nam Bộ 40, Miền Bắc 13, Miền Trung 13), 27/61 tỉnh ( thành phố) có KCN, trong đó tập trung nhiều ở vùng tứ giác kinh tế trọng điểm phía Nam: TP HCM - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu - Bình Dơng Các KCN đợc quy hoạch sử dụng khoảng 10.000 ha đất, trong đó có 6.500 ha quy hoạch cụ thể phát triển công nghiệp Các KCN đã góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của
đất nớc, thu hút vốn đầu t, công nghệ, tạo điều kiện tăng trởng GDP nhanh và vững chắc, tạo việc làm, phát triển công nghiệp theo quy hoạch bảo vệ môi trờng, tiết kiệm và phát huy hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực khác, hình thành các khu đô thị mới, giảm bớt khoảng cách giữa các vùng nông thôn và thành thị KCN
là một mô hình phù hợp để thực hiện cơ chế "một cửa, một chỗ" và hội nhập quốc
tế, không chỉ nhằm thu hút vốn ĐTNN mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu t trong nớc hoạt động So sánh với một số nớc trong khu vực: Malaixia có 166 KCN; Đài Loan: 95 KCN; tỉnh Quảng Đông - Trung quốc có hơn 50 KCN Nh vậy, số KCN ở Việt nam thấp hơn các nớc khác và chỉ bằng tỉnh Quảng Đông, cần
có biện pháp hữu hiệu trong việc thành lập thêm nhiều KCN
Trang 19Đến nay, các KCN đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế Việt Nam, hoạt động của nó đã đem lại những kết quả đáng khích lệ cả về kinh tế và xã hội.
Về kinh tế: Đến cuối năm 1999, các KCN đã thu hút 850 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký là 7,84 tỷ USD của 24 nớc và vùng lãnh thổ ( phần lớn là vùng
Đông Bắc á và Đông Nam á) Trong đó, khu vực ĐTNN có 543 dự án với tổng vốn đầu t là 6,1 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 40%; và 307 dự án đầu t trong nớc với tổng vốn 17.000 tỷ đồng ( chiếm 36% số dự án và 17% tổng vốn đầu t) Riêng năm 1999, có 79 dự án với tổng số vốn là 219 triệu USD ( tăng 43,6% số
dự án so với năm 1998), trong đó đầu t trong nớc có 108 dự án với 2.887 tỷ đồng vốn đăng ký, tăng gấp 4 lần so với năm 1998 Ngành nghề trong KCN rất đa dạng với công nghiệp nhẹ, hoá chất, điện tử, tin học, chế biến thực phẩm, nông sản, thuỷ sản, điện dân dụng
Bảng 13 đóng góp Của các KCN vào tăng trởng kinh tế.
1.3001465
1.5001332,7Tốc độ tăng trởng (%) 100 50 42,4
Cơ cấu đầu t của các KCN thay đổi so với các năm trớc Trong giai đoạn
đầu: ĐTNN chiếm trên 50% tổng vốn đầu t phát triển, gần 90% số dự án và 93% tổng vốn đầu t của các doanh nghiệp trong các KCN Đến nay, 3 tỷ lệ tơng ứng là 40%, 64%, 83%
Đến cuối năm 1999: tổng vốn đầu t phát triển cơ sở hạ tầng là 2.033 triệu USD trong đó ĐTNN chiếm 40%, đầu t trong nớc chiếm 60% Hiện có 22 KCN, KCX đã xây dng xong hoặc căn bản đã hoàn thành hạ tầng cơ sở, số vốn thực hiện dới 50%
Trang 20Về mặt xã hội: Các KCN đã và đang tạo việc làm mới, đến năm 2000, có
khoảng 30 vạn lao động Việt Nam làm việc trong các KCN Riêng năm 1999, có thêm 13,7 vạn lao động trong đó Đồng Lai 17.600 ngời, 2 KCX Tân Thuận và Linh Trung thu hút thêm 9,3 nghìn lao động Nếu tính cả lao động làm dịch vụ gián tiếp ngoài KCN ( sản xuất nguyên liệu, vận chuyển, tiếp thị ) thì con số làm việc mới do các KCN tạo ra còn cao hơn nhiều Bên cạnh đó, KCN còn là trờng học để ngời lao động rèn luyện kỹ năng và tác phong lao động công nghiệp
Riêng đối với thủ đô Hà Nội, các cụm công nghiệp đã hình thành từ hững năm 50, 60 Đó là những khu công nghiệp cũ, đợc hình thành không theo quy hoạch nh: Minh Khai - Vĩnh Tuy, Thợng Đình, Đông Anh, Cầu Diễn - Nghĩa Đô, Gia Lâm - Yên Viên, Trơng Định - Đuôi Cá, Văn Điển - Pháp Vân, Chèm, Cầu B-
ơu Những KCN này do thiếu quy hoạch nên không đợc xây dựng đầy đủ, thiếu cơ sở hạ tầng, nằm xen kẽ trong các khu dân c, nhà trẻ nên gây nhiều khó khăn cho phát triển đô thị và thực sự đang là gánh nặng của Thành phố Hiện nay, Hà Nội có 5 KCN tập trung đợc cấp phép: KCN Nội Bài, KCN Hà Nội - Đài t, KCN Thăng Long, KCN Sài Đồng B, KCN Daewoo - Hanel Các KCN này đều nằm ở ngoại vi Thành phố, tập trung ở Gia Lâm, Đông Anh, và Sóc Sơn Tổng diện tích
đất ở các KCN đợc cấp phép là 562 ha, diện tích đất để cho thuê là 424 ha
Bảng 14 diện tích đất của các KCN ở Hà Nội.
thành lập
Chủ đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng
Diện tích
đất (ha)
4 Daewoo - Hanel 1996 Hàn Quốc-Việt Nam 197
5 Thăng Long 1997 Nhật Bản -Việt Nam 128
Các KCN này đã đợc quy hoạch hoàn chỉnh gồm có các khu: sản xuất, hỗ trợ sản xuất, trung tâm điều hành, công viên, khu thơng mại với hệ thống hạ tầng
kỹ thuật hoàn chỉnh
Trang 21Trong vòng 4 năm, KCN đã thu hút đợc 22 dự án với tổng vốn đầu t của các doanh nghiệp là 340 triệu USD, đã có trên 3600 lao động làm việc tại đó (chiếm 29,5% dự án, 4,55% vốn đầu t của cả nớc; hơn 16% lao động).
KCN Nội Bài xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội, hiện nay có 5 dự án ĐTNN
đang hoạt động với tổng vốn đầu t trên 35 triệu USD, vốn thực hiện đạt trên 5 triệu USD, diện tích đất cho thuê đạt trên 7 ha Sản phẩm chủ yếu là thép, khung nhà, đề can Những sản phẩm này tuy không xuất khẩu nhng đợc thị trờng trong nớc chấp nhận
KCN Đài T - Hà Nội mới có 2 dự án đợc cấp giấy phép với tổng vốn trên 4 triệu USD đang chuẩn bị đi vào hoạt động, 1 dự án sản xuất thiết bị điện tử đang
đợc xem xét Dự kiến đến tháng 6/ 2000 sẽ tăng lên 17 dự án ( Khi đó các doanh nghiệp đầu t vốn bắt đầu hoạt động)
KCN Sài Đồng B (Gia Lâm): đã hoàn thành giai đoạn 1 với 8 dự án (trong
đó có 3 dự án liên doanh, còn lại 100% vốn nớc ngoài) đang hoạt động hiệu quả trên diện tích 40 ha, giai đoạn 2 đang khẩn trơng đa vào sử dụng, đã có 7 dự án
đăng ký đợc cấp phép, nâng tổng vốn đăng ký lên 300 triệu USD, vốn thực hiện trên 260 triệu USD Sản phẩm chủ yếu của KCN này là điện tử, thiết bị đo lờng, ống kính, khuôn đúc, cáp điện, dợc phẩm, bao bì đặc biệt một số hàng điện tử đã xuất khẩu ra nớc ngoài Trong năm 1999, doanh thu của KCN này là 140 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đã đạt 90 triệu USD
Trong số 5 KCN thì chỉ mới có 3KCN đi vào hoạt động còn lại 2 KCN:
- KCN Thăng Long đang trong xây dựng, hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và sẽ đi vào hoạt động trong tháng 6/ 2000; các dự án trong KCN đạt tiêu chuẩn ISO 14011 về chất lợng quản lý môi trờng
- KCN Daewoo - Hanel: vì lý do tài chính nên sau khi đợc cấp phép, hoạt
động còn cha đạt hiệu quả cao
Trong tổng số 22 dự án đợc cấp phép thì có đến 5 dự án vì những lý do khác nhau cũng có thể không có khả năng hoạt động
Do vậy, để đẩy nhanh việc thực hiện dự án và chặn đà suy giảm, thiết nghĩ nhà nớc cần có biện pháp thích hợp, công tác giải phóng mặt bằng triển khai nhanh, xây dựng cơ sở hạ tầng và rà soát lại các KCN đã có quyết định thành lập nhng cha thể triển khai ( KCN Đài T - Hà Nội khi cấp phép hoạt động có 40 nhà doanh nghiệp Đài Loan đã đăng ký hoạt động nhng do quá trình triển khai quá dài: 5 năm trong đó 2 năm dành để giải phóng mặt bằng và gần 3 năm xây dựng cơ sở hạ tầng) nên số vốn đăng ký chỉ còn 17 nhà đầu t KCN Thăng Long giải