1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục: Thực tiễn và một số vấn đề đặt ra ở Việt Nam

7 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 246,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục là chỉnh thể bao gồm thể chế pháp lý, thiết chế pháp lý, phương pháp, cách thức để các thiết chế pháp lý này hoạt động và các điều kiện để chỉnh thể này thực hiện được những hoạt động bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục trong thực tiễn.

Trang 1

CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG

LÝ CỦA NẠN NHÂN NỮ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC: THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA Ở VIỆT NAM

Đặng Viết Đạt *

Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 3/9/2019 Ngày nhận kết quả phản biện đánh giá: 3/3/2020 Ngày bài báo được duyệt đăng: 27/3/2020

Tóm tắt: Cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân nữ bị

xâm hại tình dục là chỉnh thể bao gồm thể chế pháp lý, thiết chế pháp lý, phương pháp, cách thức để các thiết chế pháp lý này hoạt động và các điều kiện để chỉnh thể này thực hiện được những hoạt động bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục trong thực tiễn Việt Nam, trong những năm qua đã nỗ lực hoàn thiện cơ chế này nhằm bảo đảm tốt quyền tiếp cận công lý cho phụ nữ và trẻ em gái bị xâm hại tình dục Tuy vậy, cơ chế này vẫn còn những nhược điểm cần phải tiếp tục hoàn thiện.

Từ khoá: Cơ chế pháp lý, phương pháp, quyền tiếp cận công lý, nạn nhân nữ, xâm hại tình dục.

* Khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị khu vực IV

1 Đặt vấn đề

Quyền tiếp cận công lý (Right of

Access to Justice) (QTCCL) là “Quyề n

củ a ngườ i dân đượ c tì m kiế m và đạ t đượ c

sự đền bù hoặ c khắ c phụ c thông qua cơ

chế chí nh thứ c và không chí nh thứ c, phù

hợ p vớ i cá c tiêu chuẩ n quố c tế về quyề n

con ngườ i” Quyền này phát sinh (được

kích hoạt) khi quyền tự do và lợi ích hợp

pháp của con người bị vi phạm, đặc biệt

đối với nạn nhân nữ (NNN) bi xâm hại

tình dục (XHTD) Trong hoạt động bảo

đảm QTCCL của nạn nhân nữ bị XHTD,

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

phối hợp với các tổ chức khác trong xã

hội thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

cụ thể của mình theo pháp luật quy định nhằm tạo điều kiện và những biện pháp pháp lý cần thiết để phụ nữ và trẻ em gái tìm kiếm được các biện pháp khắc phục, đền bù thoả đáng những thiệt hại mà họ gánh chịu Đây là một chỉnh thể bao gồm thể chế pháp lý, thiết chế pháp lý, phương pháp, cách thức để các thiết chế pháp lý hoạt động và các điều kiện để chỉnh thể này thực hiện được những hoạt động bảo đảm QTCCL của nạn nhân nữ bị XHTD trong thực tiễn

Như thế, cách thức vận hành chỉnh thể này trong thực tiễn chính là cơ

Trang 2

chế pháp lý (CCPL) bảo đảm bảo đảm

QTCCL của nạn nhân nữ bị XHTD, đó

là cách thức vận hành của chỉnh thể pháp

lý trong thực tiễn theo quy định pháp luật

nhằm đáp ứng yêu cầu của phụ nữ và trẻ

em gái bị XHTD sử dụng pháp luật và

kịp thời tiếp cận, trình báo với cơ quan

nhà nước có thẩm quyền để tìm kiếm sự

khắc phục, bồi thường thoả đáng những

thiệt hại mà họ bị người có năng lực trách

nhiệm pháp lý thực hiện những hành vi

xâm phạm đến quyền tự do và bất khả

xâm phạm tình dục của bản thân mình

Trong đó, cách thức vận hành CCPL bảo

đảm QTCCL của NNN bị XHTD được

pháp luật quy định rõ ràng về nguyên

tắc, phương pháp, cách thức để các thiết

chế pháp lý trong chỉnh thể pháp lý hoạt

động; chỉnh thể pháp lý là một hệ thống

bao gồm thể chế pháp lý, thiết chế pháp

lý và các điều kiện để chỉnh thể này thực

hiện được những hoạt động bảo đảm

QTCCL của nạn nhân nữ bị XHTD trong

thực tiễn

2 Kết quả vận hành cơ chế pháp

lý bảo đảm quyền tiếp cận công lý của

nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục ở

Việt Nam

Thứ nhất, cơ chế này đã và đang bảo

đảm được QTCCL của NNN bị XHTD ở

Việt Nam Qua thự c tiễ n xé t xử vụ á n liên

quan đế n xâm phạ m tì nh dụ c nhữ ng năm

qua cho thấ y đa số cá c vụ á n đượ c trì nh

bá o đề u đượ c cá c cơ quan chứ c năng thụ

lý , điề u tra, truy tố và đưa ra xé t xử mộ t

cá ch nghiêm minh đả m bả o đú ng ngườ i,

đú ng tộ i

Theo số liệu thống kê trong giai đoạ n 2006 đế n 2017, tò a á n thụ lý 21.081

vụ việ c vớ i 24.142 bị cá o đã đưa ra xé t xử 19.491số vụ vớ i 22.138 bị cá o, tỷ lệ vụ á n đượ c xé t xử đạ t 92,45%, qua đó cho thấ y quyề n tiế p cậ n công lý củ a nạ n nhân nữ bị xâm hạ i tì nh dụ c đã phầ n nà o đượ c đả m

bả o trong thự c tế

Thứ hai, cơ chế này góp phần từng

bước phát huy vai trò của thiết chế tư pháp trong bảo đảm QTCCL của NNN bị XHTD ở Việt Nam Kết quả khảo thực tế cho thấ y đa số cá n bộ thuộ c cá c thiế t chế

tư phá p đá nh giá tố t hoạ t độ ng xé t xử củ a

tò a á n trên cá c tiêu chí như: xé t xử đú ng phá p luậ t, xé t xử thấ u tì nh đạ t lý Hơn 75% ngườ i dân được hỏi chọ n xử lý vụ việ c thông qua thiế t chế tư phá p chí nh thứ c đã cho thấ y ngườ i dân vẫ n rấ t tin tưở ng và o hoạ t độ ng đả m bả o QTCCL củ a cá c thiế t chế nà y

Thứ ba, năng lự c tiế p cậ n công lý

củ a NNN bị XHTD từng bước được cải thiện Thực tế khảo sát cho thấ y phầ n lớ n ngườ i dân có hiể u biế t tương đố i tố t về

cá c hà nh vi liên quan đế n xâm hạ i tì nh dụ c theo quy đị nh củ a BLHS năm 2015 (sử a

đổ i bổ sung năm 2017), đa số ngườ i dân nhậ n diệ n đượ c đâu là hà nh vi tình dục bị

cấ m theo quy đị nh củ a luậ t

3 Những vấn đề đặt trong vận hành cơ chế pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục ở Việt Nam

Thực tế kế t quả thụ lý xé t xử cá c

vụ á n liên quan đế n xâm phạ m tì nh dụ c

ở nướ c ta nhữ ng năm qua cho thấy, tì nh

Trang 3

trạ ng ẩ n củ a tộ i phạ m liên quan đế n xâm

phạ m tì nh dụ c vẫn còn nhiều Mặ c dù số

vụ á n liên quan đế n xâm phạ m tì nh dụ c

đố i vớ i phụ nữ và trẻ em gá i bị đưa ra

xé t xử ngà y cà ng tang Tuy nhiên, nhữ ng

con số nêu trên chỉ là phầ n nổ i củ a tẳ ng

băng chì m bở i cò n rấ t nhiề u vụ việ c liên

quan đế n xâm hạ i tì nh dụ c phụ nữ và trẻ

em gá i vẫ n chưa đượ c phá t hiệ n và xử lý

bở i cá c cơ quan chứ c năng Ngay cả khi

các vụ việc được trình báo thì các bước

tiế p cận hệ thống tư pháp chính thức (hay

“chuỗi công lý”) cũ ng thường bị ngắt

giữa chừng vớ i tỷ lệ bỏ cuộ c cao và chỉ

có vài vụ việc bị kết án, do vậ y tỷ lệ tộ i

phạ m ẩ n là rấ t lớ n

Kết quả khảo sát thực tiễn chỉ ra

rằ ng, vẫ n cò n 21,3% ngườ i dân không lự a

chọ n việ c giả i quyế t vụ việ c thông qua

cơ chế chí nh thứ c; 15,6% ngườ i dân lự a

chọ n giữ bí mậ t chuyệ n nà y nhằ m bả o vệ

thanh danh gia đì nh và hạ nh phú c về sau

cho nạ n nhân 28% lự a chọ n việ c thương

lượ ng hò a giả i vớ i kẻ phạ m tộ i và 15,9%

lự a chọ n giả i quyế t thông qua cơ chế phi

chí nh thứ c như tổ hò a giả i, công đoà n, cá c

tổ chứ c truyề n thố ng tạ i cộ ng đồ ng.

Trong đó, kết quả khảo sát thực

tiễn cho thấy, khi trở thà nh nạ n nhân bị

hiế p dâm mà kẻ phạ m tộ i là ngườ i lạ có

25% lự a chọ n giả i quyế t vụ việ c thông

qua thương lượ ng hò a giả i hay giữ kí n

chuyệ n nà y Đố i vớ i trườ ng hợ p nạ n

nhân bị ngườ i thân củ a mì nh hiế p dâm

thì chỉ có 43% ngườ i dân không lự a

chọ n việ c trì nh bá o vụ việ c cho cá c cơ

quan chứ c năng mà lự a chọ n giả i quyế t

thông qua con đườ ng thương lượ ng,

hò a giả i hay giữ kí n chuyệ n nà y, trong

đó 2,6% lự a chọ n giữ kí n chuyệ n nà y, 30,4% lự a chọ n việ c tì m kiế m sự tư vấ n giú p đỡ củ a ngườ i thân, 8% tì m cá ch thương lượ ng hò a giả i vớ i ngườ i đó

để đượ c đề n bù và 2,1% lự a chọ n giả i phá p khá c như bỏ đi, cắ t đứ t liên hệ vớ i ngườ i đó Đố i vớ i trườ ng hợ p bị cưỡ ng dâm, nế u ngườ i phạ m tộ i là ngườ i lạ có 70,8% ngườ i dân lự a chọ n trì nh bá o vụ việ c cho cá c cơ quan chứ c năng, nhưng

nế u ngườ i phạ m tộ i là ngườ i thân thì chỉ

có 56,9% ngườ i dân lự a chọ n việ c trì nh

bá o vụ việ c, nghĩ a là cò n 43,1% ngườ i dân lự a chọ n việ c giữ im lặ ng hay chọ n con đườ ng thương lượ ng hò a giả i và tì m kiế m sự tư vấ n giú p đỡ củ a ngườ i thân Thông thườ ng khi người bị bạo hành tình dục trong gia đình là phụ nữ, trẻ em gá i họ thườ ng có thái độ cam chịu hoặc không dám tố cáo với chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể

đặ c biệ t khi ngườ i xâm hạ i họ là ngườ i thâm quen Họ không sẵ n sà ng cung cấp chứng cứ chứng minh là họ bị xâm hại tình dục khi cơ quan chứ c năng yêu

cầ u Điề u nà y gây nhiề u khó khăn cho tòa án trong việc giải quyết, xét xử vụ việ c nhằ m trả lạ i công lý cho nạ n nhân

Vớ i nhữ ng hà nh vi dâm ô vẫ n cò n tỷ lệ khá cao nạn nhân không lự a chọ n trì nh

bá o vụ việ c cho cơ quan chứ c năng Họ

có thể giữ kí n chuyệ n nà y đặ c biệ t trong trườ ng hợ p ngườ i phạ m tộ i là ngườ i thân trong gia đì nh Điề u nà y có thể do

họ e ngạ i việ c tiế t lộ sự việ c sẽ phá vỡ

hạ nh phú c, thanh danh gia đì nh và mộ t

Trang 4

số trườ ng hợ p không biế t rằ ng đây là

nhữ ng hà nh vi có thể đượ c xử lý thông

qua con đườ ng tư phá p hì nh sự

Theo bá o cá o củ a Bộ Lao độ ng -

Thương binh và Xã hộ i tỷ lệ tả o hôn, đặ c

biệ t đố i vớ i ngườ i dân tộ c thiể u số ở nướ c

ta cò n khá lớ n nhưng nhữ ng vụ việ c nà y

thườ ng không đượ c trì nh bá o để ghi nhậ n

như cá c vụ việ c liên quan đế n XHTD

Trong khi đó, năm 2013-2014 tỷ lệ kế t

hôn trướ c 15 tuổ i ở phụ nữ có độ tuổi

15-49 là 2,1% ở khu vực trung du và miền

núi phía Bắc và 1,9% ở khu vực Tây

Nguyên Nế u tí nh tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi

20-49 kết hôn trước 18 tuổi ở hai khu vực

này lần lượt là 18,8% và 15,8% Một báo

cáo phân tích thực trạng trẻ em ở Ninh

Thuận năm 2011 cho thấ y 0,9% phụ nữ

nằ m trong độ tuổ i từ 15-49 kết hôn hoặc

sống chung như vợ chồng lần đầu trước

năm 15 tuổi và 11,2% phụ nữ 20-49 tuổi

kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng

lần đầu trước năm 18 tuổi; 10,3% phụ nữ

từ 15-19 tuổi đã kết hôn hoặc chung sống

như vợ chồng

Hoạ t độ ng yế u ké m củ a cá c thiế t

chế tư phá p chí nh thứ c và phi chí nh

thứ c, nhữ ng lỗ hổ ng trong phá p luậ t, hạ n

chế trong năng lự c tiế p cậ n công lý là

cá c nhân tố khiế n cho nhiề u nạ n nhân

lự a chọ n con đườ ng giữ kí n, không trì nh

bá o vụ việ c Nhiề u vụ việ c đượ c trì nh

bá o nhưng do năng lự c thự c thi nhiệ m

vụ củ a cơ quan chứ c năng nên đã không

đượ c đưa ra xé t xử hay không chứ ng

minh đượ c bị can đã phạ m tộ i; tì nh trạ ng

“xé t xử oan sai vẫ n cò n tồ n tạ i, vẫ n cò n

hiệ n tượ ng vi phạ m thờ i gian giả i quyế t

vụ việ c”; khả năng đượ c bồ i thườ ng thiệ t hạ i mộ t cá ch thỏ a đá ng cho nạ n nhân vẫ n chưa đả m bả o

Trên phạ m vi cả nướ c tổ ng số vụ á n liên quan đế n xâm phạ m tì nh dụ c bị đì nh chỉ , trả hồ sơ điề u tra bổ sung cò n lớ n Điề u đó cho thấ y mộ t phầ n sự yếu kém trong công tác phát hiện, xử lý tội phạm

củ a cơ quan chứ c năng Hoạt động kém hiệu quả của cơ quan công an, công tố và tòa án cũng có thể dẫn đến việc nạn nhân sớm rút đơn khiếu nại Thực tiễn ở Việ t Nam cho thấ y tỷ lệ rú t đơn cò n diễ n ra khá phổ biế n, việ c rú t đơn kiệ n có thể xả y

ra ở tấ t cả cá c giai đoạ n từ giai đoạ n trì nh

bá o đế n giai đoạ n điề u tra, giai đoạ n trướ c khi xé t xử và giai đoạ n xé t xử Sự hạ n chế trong năng lự c thự c thi công vụ khiế n cho

tì nh trạ ng tộ i phạ m ẩ n gia tăng bở i ngườ i dân không dá m tố cá o do ngạ i tiế p xú c vớ i

cá n bộ tư phá p, do họ không tin tưở ng và o khả năng đả m bả o công lý củ a cá c thiế t chế nà y

Vẫ n cò n 8,4% ngườ i dân cho rằ ng quan hệ tì nh dụ c hoặ c thự c hiệ n hà nh vi

tì nh dụ c khá c vớ i vợ hoặ c ngườ i yêu dướ i

16 tuổ i là không vi phạ m phá p luậ t Mộ t

số ngườ i dân ghi rõ trong phiế u hỏ i rằ ng quan hệ tì nh dụ c vớ i vợ (dướ i 16 tuổ i) không đượ c coi là vi phạ m phá p luậ t; 5,4% ngườ i dân trong mẫ u nghiên cứ u xá c

đị nh rằ ng việ c A lợ i dụ ng tình trạng quẫn bách về kinh tế củ a B, dù ng tiề n để mua chuộ c, é p buộ c B phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác vớ i A không phả i

Trang 5

là vi phạ m phá p luậ t mặ c dù chiế u theo

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017) thì hà nh vi nà y đượ c xá c đị nh là tộ i

cưỡ ng dâm

Trong nhiề u năm qua, đa số cá c

nạ n nhân bị XHTD là trẻ em có độ tuổ i

tương đố i nhỏ , những người dưới 18 tuổi

hạn chế về năng lực pháp lý để tự đưa

ra quyết định; cá c nạ n nhân nà y thườ ng

không nhậ n thứ c đầ y đủ về hà nh vi mà tộ i

phạ m gây ra vớ i mì nh Đố i vớ i ngườ i bả o

trợ cho cá c em và ngay cả vớ i nạ n nhân là

ngườ i trưở ng thà nh việ c hiể u, biế t và có

thể vậ n dụ ng đượ c cá c quy đị nh phá p luậ t

là mộ t điề u khó khăn đặ c biệ t trong bố i

cả nh khi quy đị nh phá p luậ t củ a nướ c ta

cò n nhiề u tầ ng nấ c

Mứ c độ hiểu biết củ a ngườ i dân

về các cơ chế, thủ tục cần phải tiếp cận

hoặc áp dụng để đả m bả o quyề n và lợ i í ch

chí nh đá ng khi họ là nạ n nhân bị XHTD

hiện còn hạn chế Kết quả khảo sát thực

tế chỉ ra rằ ng 37,8% ngườ i dân trong mẫ u

nghiên cứ u trả lờ i, họ không biế t phả i đế n

đâu trì nh bá o vụ việ c trong trườ ng hợ p họ

hay ngườ i thân củ a họ là nạ n nhân XHTD;

59,3% người dân được hỏi biế t chí nh xá c

và 3% người dân được hỏi biế t không

chí nh xá c nơi họ phả i đế n để trì nh bá o vụ

việ c Đố i vớ i cá c thủ tụ c cầ n phả i là m để

nạ n nhân XHTD có thể trì nh bá o vụ việ c

hay để á p dụ ng khi tham gia tố tụ ng hì nh

sự , thực tế cho thấ y đa số ngườ i dân không

biế t hoặ c chỉ biế t sơ qua về cá c thủ tụ c

nà y Đây là mộ t trong nhữ ng rà o cả n rấ t

lớ n cho con đườ ng tiế p cậ n công lý củ a

nạ n nhân

Về sự sẵn có cùng tính hiệu quả của

hệ thống trợ giúp và tư vấn pháp lý, thự c tiễ n hoạ t độ ng củ a cá c cơ quan tư vấ n trợ giú p phá p lý ở Việ t Nam cho thấ y, đa số ngườ i dân không biế t đế n nhữ ng cơ quan

có chứ c năng trợ giú p tư vấ n phá p lý cho

nạ n nhân bị xâm hạ i tì nh dụ c Kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy 88,8% ngườ i dân trong mẫ u nghiên cứ u khẳ ng đị nh

rằ ng họ không biế t cơ quan, tổ chứ c thự c hiệ n chứ c năng tư vấ n, trợ giú p phá p lý cho nạ n nhân bị XHTD; 3,1% ngườ i dân khẳ ng đị nh không có cơ quan, tổ chứ c nà o thự c hiệ n chứ c năng tư vấ n, trợ giú p phá p

lý cho nạ n nhân bị XHTD tạ i đị a phương

củ a họ và 42,6% ngườ i dân trả lờ i rằ ng có

rấ t í t cá c cơ quan, tổ chứ c thự c hiệ n chứ c năng nà y Ngoài ra, 24,1% ngườ i dân cho

rằ ng chi phí mà nạ n nhân phả i bỏ ra để đượ c tư vấ n trợ giú p phá p lý là khá cao Bên cạ nh đó , ngườ i dân và cá n bộ đề u có

đá nh giá không cao về tí nh hiệ u quả trong hoạ t độ ng củ a cá c cơ quan tư vấ n trợ giú p phá p lý

Nhữ ng rà o cả n về mặ t văn hó a khiế n cho nạ n nhân bị XHTD khó đưa

vụ việ c củ a mì nh ra á nh sá ng hay không theo đuổ i vụ việ c củ a mì nh đế n cù ng

Mộ t trong nhữ ng rà o cả n lớ n khiế n cá c

nạ n nhân bị XHTD lự a chọ n giữ kí n vụ việ c, dù ng con đườ ng thương lượ ng thỏ a thuậ n hay không theo đuổ i vụ việ c đế n

cù ng đó chí nh là cá c quan niệ m, chuẩ n

mự c văn hó a củ a gia đì nh và cộ ng đồ ng

Cũ ng giố ng như nhiề u quố c gia trên thế giớ i, phụ nữ và trẻ em giá i ở nướ c ta luôn phải đối mặt với các rào cản mang tính

cơ cấu và văn hóa Do đó phầ n lớ n cá c

Trang 6

nạn nhân bị quấy rối và tấn công tình dục

luôn đối mặt với cảm giác lo âu, bất lực

và bị trầm cảm kéo dài Không chỉ nhữ ng

ngườ i xung quanh mà ngay bả n thân nạ n

nhân thườ ng tự đổ lỗ i cho bản thân mình

khi để xả y ra vụ việ c Họ cho rằng chính

những hành vi của mình là nguyên nhân

dẫn đến những hậu quả đau long Trên

thực tế, có đến 31.5% nạn nhân củ a nạ n

XHTD trực tiếp đổ lỗi cho mình; 14.6%

nạn nhân đổ lỗi cho các thuộc tính cá

nhân như “quá tin tưởng”; 3.9% nạn

nhân đổ lỗi cho các hành vi của mình,

như “không ngăn chặn từ đầu”; 13% nạn

nhân tự trách cơ thể mình hoặc giới tính

của mình Theo kết quả khảo sát thực tế,

cho thấy có đế n 76,3% ngườ i dân trong

mẫ u nghiên cứ u đồ ng ý hay đồ ng ý mộ t

phầ n vớ i nhậ n đị nh cho rằ ng, XHTD xả y

ra mộ t phầ n do lỗ i củ a nạ n nhân (ăn mặ c

quá hở hang, không kiên quyế t chố ng

lạ i hà nh vi xâm hạ i, tin theo lờ i dụ dỗ ,

nạ n nhân khơi dậ y sự ham muố n củ hung

thủ ) Tâm lý đổ lỗ i cho mì nh khiế n nạ n

nhân thườ ng co mì nh lạ i và không giá m

tố cá o sự việ c cho cá c cơ quan chứ c năng

Về cá c nguồ n lự c về vậ t chấ t để

trang trả i cho cá c chi phí khi nạ n nhân

tham gia và o và o chuỗ i tiế p cậ n công lý ,

để tham gia và o chuỗ i tiế p cậ n công lý ,

tà i chí nh là mộ t nhân tố tá c độ ng đế n lự a

chọ n củ a nạ n nhân và gia đì nh xem họ có

trì nh bá o vụ việ c hay có theo đuổ i vụ việ c

đế n cù ng hay không Hiệ n tạ i, theo quy

đị nh phá p luậ t, cá c nạ n nhân bị xâm hạ i

tì nh dụ c không phả i mấ t phí để thự c hiệ n

cá c thủ tụ c tố tụng hình sự Tuy nhiên có

thể nhiề u ngườ i dân không biế t đế n quy

đị nh nà y Bên cạ nh đó ngoà i chí phí chí nh thứ c thì cá c khoả n chi phí phi chí nh thứ c,

cá c chi phí phả i bỏ ra cho việ c đi lạ i, ăn nghỉ để theo đuổ i vụ việ c hay chi phí mà gia đì nh nạ n nhân bị mấ t đi do họ phả i nghỉ việ c để có thờ i gian theo đuổ i vụ việ c

cũ ng cầ n phả i đượ c tí nh đế n Kết quả khảo sát thực tiễn cho thấ y trên 40% ngườ i dân tham gia mẫ u nghiên cứ u đề u cho rằ ng chi phí chí nh thứ c mà nạ n nhân phả i bỏ ra để thự c hiệ n hiệ n tố tụ ng là cao và rấ t cao; trên 60% ngườ i dân và trên 6% cá n bộ thuộ c cá c thiế t chế tư phá p cho rằ ng chi phí phi chí nh thứ c mà nạ n nhân phả i bỏ ra

để vụ việ c củ a mì nh đượ c quan tâm xé t xử

thỏ a đá ng là cao và rấ t cao.

4 Kết luận

Cơ chế pháp lý bả o đảm quyền tiếp cận công lý củ a nữ nạn nhân bị xâm hại tình dục ở Việt Nam nhữ ng năm qua đã đượ c cả i thiệ n đá ng kể , tuy nhiên cơ chế này vẫn còn những khuyết điểm nhất định, cho nên con đườ ng tiế p cậ n công lý củ a nhiề u nữ nạn nhân bị xâm hại tình dục ở nướ c ta cò n rấ t gian nan Để khắc phục hạn chế này cần phải: Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nữ nạn nhân bị xâm hại tình dục ở Việt Nam; Hai là, hoàn thiện hệ thống thiết chế bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nữ nạn nhân bị xâm hại tình dục ở Việt Nam; Ba là, hoàn thiện

hệ thống nguồn lực hỗ trợ cho nữ nạn nhân

bị xâm hại tình dục ở Việt Nam

Tài liệu tham khảo:

[1] Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm

của liên hợp quốc, (2014), Tiếp cận sớm trợ

Trang 7

giúp pháp lý trong các quá trình tố tụng hình

sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính sách

và các nhà thực tiễn, NXB Văn phò ng Liên

hợ p quố c tạ i Viên.

[2] UNDP, Programming for Justice: Access

for All A Practitioner’s - Guide to a Human

Rights-Based Approach to Access to Justice,

(UNDP Regional Centre in Bangkok, 2005),

accessed 15 Semptember 2019, p 5

[3] Chu Thị Ngọc (2017), “Bảo đảm quyền

tiếp cận công lý - một yêu cầu trong việc bảo

đảm quyền con người của tòa án”, Tạp chí

Khoa học ĐHQGHN, Luật học, tập 33, số 1,

tr 28

[4] Cơ quan phò ng chố ng ma tuy và tộ i phạ m

củ a Liên Hợ p Quố c, Cơ quan Liên hợ p quố c

về Bì nh đẳ ng giớ i và trao quyề n cho phụ nữ , (2013), Đá nh giá tì nh hì nh phụ nữ trong hệ thố ng tư phá p hì nh sự Việ t Nam, tr.5

[5] Eileen Skinnider, Ruth Montgomery và

Stephanie Garrett, (2017), Xé t xử tộ i hiế p

dâm- Hiể u cá ch ứ ng phó củ a hệ thố ng tư phá p

hì nh sự đố i vớ i bạ o lự c tì nh dụ c ở Thá i Lan và Việ t Nam,tr.2

[6] Bộ Lao độ ng và Thương binh xã hộ i,

(2016), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em

Việt Nam 2016, tr.203

Địa chỉ tác giả: Khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị khu vực IV.

Email: vietdatdanghv4@gmail.com

Ngày đăng: 01/11/2020, 01:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm