Do vậy vốn từ của trẻ em ngày nayphát triển chậm và nghèo nàn, chủ yếu trẻ được tiếp xúc và phát triển ngôn ngữ thôngqua ti vi, điện thoại chưa được sự chỉ bảo, uốn nắn của người lớn.. Đ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ mầmnon nói riêng thì ngôn ngữ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng “Trẻ lên ba cả nhà họcnói” Câu nói ấy một lần nữa đã khẳng định vị trí quan trọng của ngôn ngữ đối với sựphát triển toàn diện ở trẻ em
Ngôn ngữ có vai trò là một phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ
về thế giới xung quanh Thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen vớicác sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh Trẻ hiểu những đặc điểm,tính chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương ứng với nó Nhờ có ngôn ngữtrẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộcsống hàng ngày
Như vậy “Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy”, là công cụ để giúp pháttriển tư duy và là phương tiện để giáo dục tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ Ngônngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, đó làphương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thànhnhững cảm xúc tích cực Trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ những nhu cầu,mong muốn của mình với mọi người xung quanh, ngôn ngữ còn giúp cá nhân trẻ pháthuy được năng lực của mình
Nhưng thực tế phần lớn các bố mẹ đều bận rộn, lo toan cho cuộc sống, thời gian
bố mẹ trò chuyện với trẻ để phát triển vốn từ còn ít Một số cha mẹ của trẻ nhận thức
về tầm quan trọng của ngôn ngữ còn hạn chế Do vậy vốn từ của trẻ em ngày nayphát triển chậm và nghèo nàn, chủ yếu trẻ được tiếp xúc và phát triển ngôn ngữ thôngqua ti vi, điện thoại chưa được sự chỉ bảo, uốn nắn của người lớn Rất nhiều phụhuynh khi đưa con tới lớp ở lứa tuổi nhà trẻ 24-36 tháng thường trao đổi với tôinhững băn khoăn của họ như: Con chưa biết nói cô ạ Bạn này nói ít lắm Phải làmsao để con nói được nhiều hơn nữa hả cô?
Bên cạnh đó việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 23-36 tháng ở trường mầm non chưathực sự được quan tâm, chú trọng Giáo viên chưa quan tâm được đến từng cá nhântrẻ Đa số trong hoạt động nhật biết trẻ chưa được nói nhiều, chưa được trải nghiệm
Trang 2hết các giác quan: Nhìn, sờ, nếm, ngửi Chủ yếu trẻ chỉ được nhìn và được nói tập thểnhiều lần Trước thực trạng trên tôi luôn trăn trở làm sao để các con có vốn ngôn ngữphát triển tốt theo yêu cầu của độ tuổi? Làm thế nào để các con phát âm chuẩn, chínhxác đúng Tiếng Việt? Làm thế nào giúp các con tự tin trong giao tiếp, biết diễn đạttình cảm, ý muốn của bản thân bằng lời nói
Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ24-36 tháng qua các hoạt động trong ngày ở trường mầm non”
2 Mục đích của đề tài
Đề xuất một số biện pháp giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng qua cáchoạt động trong ngày ở trường mầm non
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ24-36 tháng qua các hoạt động trong ngày ở trường mầm non
4 Kế hoạch nghiên cứu
Trong năm học 2018-2019 từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận
Ngôn ngữ là một phương tiện để trẻ giao tiếp với người xung quanh bằng cách trẻnói, hỏi, trả lời, trẻ thể hiện nhu cầu, khả năng của bản thân Trẻ dùng ngôn ngữ đểbiểu đạt cảm xúc, tình cảm của trẻ với người xung quanh Trẻ dùng ngôn ngữ để tiếpnhận thông tin, lĩnh hội kiến thức về thế giới xung quanh
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là việc chúng ta làm phong phú vốn từ cho trẻ để trẻ
có thể diễn đạt được ý muốn của bản thân, các sự vật, hiện tượng thông qua ngônngữ Đồng thời giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ để từ, trẻ biết sử dụng từ phù hợp vớihoàn cảnh, tình huống, giúp trẻ sử dụng câu chính xác, từ câu đơn giản đến câu đầy
đủ chủ ngữ, vị ngữ Giáo dục ngôn ngữ còn là giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ Trẻ ở độ tuổi 24 đến 36 tháng có số lượng từ tăng nhanh, đặc biệt là ở trẻ 22 thángtuổi đến 30 tháng tuổi, vốn từ của trẻ phần lớn là những danh từ và động từ, các loạikhác như tính từ, đại từ, trạng từ xuất hiện rất ít và được tăng dần theo độ tuổi của trẻ.Trẻ ở lứa tuổi này không chỉ hiểu nghĩa các từ biểu thị các sự vật, hành động cụ thể
Trang 3mà có thể hiểu nghĩa các từ biểu thị tính chất màu sắc, thời gian và các mối quan hệ.Tuy nhiên vốn từ của mỗi trẻ đa số là còn ở mức nghèo nàn, cùng với mức độ hiểunghĩa của các từ này ở trẻ còn rất hạn chế, chưa kể đến tình trạng trẻ phát âm khôngđúng, nói không đủ câu, nói lắp, nói ngọng, Chính vì vậy phụ huynh và giáo viênhướng dẫn trẻ như thế nào để ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt là điều rất quan trọng Tại ngôi trường nơi tô công tác, tôi nhận thấy một thuận lợi là trẻ ở trường với cô
cả ngày nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động trong ngày là rất hợp
lí Ngay từ giờ đón trẻ, tôi có cơ hội giao tiếp với trẻ một cách tích cực, tôi luôn khơigợi và tạo cho trẻ những cảm xúc tốt đẹp ngay từ buổi sáng Đây là tiền đề để trẻ tíchcực, chủ động tham gia vào các hoạt động khác trong ngày như: Hoạt động có chủđịnh, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời Việc tạo cho trẻ môi trường ngôn ngữ tíchcực sẽ giúp trẻ bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, giao tiếp trong học tập cũng như vui chơi
Từ đó trẻ có vốn từ phong phú, nói rõ ràng, khă năng nghe và hiểu tốt hơn sẽ giúptrẻ tự tin hơn trong giao tiếp, giao tiếp chủ động và tích cực hơn
c Học sinh:
- Lớp tôi đang dạy là lớp nhà trẻ có độ tuổi từ 24-36 tháng với 34 trẻ, 100% các cháuđúng độ tuổi, sức khỏe bình thường, khả năng vận động tương đối đồng đều
Trang 4- Trẻ ở lớp với cô cả ngày, nên thuận lợi trong việc giáo dục rèn luyện có tính xuyênsuốt.
- Có một số phụ huynh còn xem nhẹ khả năng nói của con, họ nghĩ để con phát triển
tự nhiên, dần dần sẽ tự biết nói
2.3 Khảo sát điều kiện thực trạng
Năm học 2018 - 2019, tôi tiến hành khảo sát trên 34 trẻ nhà trẻ 24-36 tháng nhưsau
Phân loại khả năng ngôn
Trang 5Căn cứ vào kết quả trên đây tôi nhận thấy khả năng ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế.
Tỉ lệ tốt đạt kết quả thấp, tỉ lệ yếu cao Tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp pháttriển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi qua các hoạt động trong ngày ở trường mầmnon như sau:
3 Các biện pháp đã tiến hành.
3.1 Biện pháp 1: Xây dựng góc trọng tâm trong năm học.
Dựa trên chuyên đề trọng tâm của năm học đó là: Chuyên đề phát triển ngôn ngữ
và phát triển nhận thức, ngoài việc xây dựng môi trường góc theo quan điểm lấy trẻlàm trung tâm, tôi đã lựa chọn và xây dựng trên lớp mình góc chuyên đề trọng tâmtrong năm học nhằm tạo cho trẻ có cơ hội trải nghiệm, phát triển ngôn ngữ, phát triểnvốn từ cho trẻ trong các hoạt động
a Góc: “Cô kể bé nghe”
Tôi nhận thấy góc chơi này vừa cung cấp cho trẻ những từ ngữ mới, vừa ôn luyện,củng cố cho trẻ những từ, câu đã học, trẻ được vận dụng vào thực tế thông qua hìnhảnh minh họa, tranh truyện minh họa, tranh nhận biết tập nói qua các bộ rối tay, rốingón tay, rối bông
Tôi đã xây dựng môi trường góc chơi áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trungtâm Tất cả các góc chơi sắp xếp một cách hợp lí, trang trí thẩm mĩ, thân thiện, phùhợp với lứa tuổi Tại góc chơi này tôi tạo cho trẻ không gian mở với các khu vựcriêng như: Khu vực có nhiều gối để trẻ có thể thư giãn, thoái mái ngồi, nằm xemtranh truyện Bên cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xinh để trẻ có thể đặt sách truyện lên và
Trang 6“đọc sách” Tiếp đến là khu vực dành cho những con rối đáng yêu, với ngôi nhà rốingộ nghĩnh, tôi còn tạo ra khung rối phù hợp với trẻ để trẻ tập kể chuyện Nhữngchiếc gối nhỏ dành cho khán giả nào thích xem các bạn tập kể Đặc biệt tôi chuẩn bịthêm các đồ dùng, đồ chơi tính mở như: Làm bộ sách theo từng chủ đề: Sách có tranhhoàn thiện, cũng có tranh chưa hoàn thiện để trẻ học bằng chơi Trong giờ chơi côchơi cùng trẻ để trẻ biết cách chơi, lần sau trẻ tự chơi, cô quan sát và gợi ý giúp trẻ cóthêm ý tưởng Ví dụ ngoài cách giở xem sách truyện trẻ có thể kể chuyện theo tranh,
có thể đọc những câu đơn giản, phù hợp với bức tranh đó Trẻ học bằng chơi nên quatừng trang sách trẻ nói được từ, câu đơn giản về con vật, cây, quả, những hành độngcủa con vật
Mỗi chủ đề tôi đều chuẩn bị thêm các con thú bông mới phù hợp với chủ đề đó Tôi
kể chuyện và sử dụng những con thú bông đó để gây chú ý đến trẻ Giờ chơi trẻ sẽbắt chước cô kể chuyện với thú bông rất ngộ nghĩnh lại ôn luyện vốn từ cho trẻ
Trong giờ chơi tại góc: “Bé chơi với hình và màu” tôi thường xuyên cho trẻ làm cácbài gắn, đính, dán theo từng chủ đề Sau đó cô ghi tít chữ dưới bài của trẻ, đóng thànhsách, tranh thơ, truyện minh họa Sách này phục vụ cho trẻ chơi tại góc: “Cô kể bénghe” Trẻ được xem sản phẩm mình làm ra, trẻ nói lại các câu đơn giản, các từ, hayđọc câu thơ, bài thơ với quyển sách đó
minh họa về con vật
- Trẻ gắnhoàn thiệnbức tranh cònthiếu
- Trẻ nói được từ, câu
về con vật:
Ví dụ:
+ Từ: gà con, vịtcon
+ Câu: “Đây là congà”, “ gà đi chơi”, “gà
mổ thóc”
Trang 7Bước 1: Cô in tranh, ảnh
minh họa về hoa, quả, rau,
củ
Bước 2: Trẻ tô màu, gắn,
đính, dán trang trí
Bước 3: Cô ghi từ, câu
đơn giản dưới mỗi bức
- Trẻ gắnhoàn thiệnbức tranh cònthiếu
- Trẻ nói được từ, câu
về hoa, quả, rau, củ
- Trẻ nói lời thoại củanhân vật
- Làm động tác, tiếngkêu của con vật
Ví dụ:
Trẻ kể chuyện: Quảtrứng
+ Câu: “Quả trứng gì
to to”, “ Quả trứngcủa ai”?
+ Bắt chước tiếng kêu
gà trống: Ò ó o
Trang 8Sau mỗi giờ chơi Cô cùng trẻ sắp xếp lại đồ dùng đồ chơi Đồ dùng dễ lấy, dễ cấtnên trẻ rất hào hứng tham gia cùng cô Qua hoạt động này trẻ hát cùng cô những câuhát: Bạn ơi hết giờ rồi, nhanh tay cất đồ chơi Qua đó giúp trẻ phát triển các câu đơngiản như: “Hết giờ chơi rồi” “Bạn ơi cất đồ chơi”
b Góc Nhận biết phân biệt.
Tại góc chơi này tôi chuẩn bị các loại đồ chơi, đồ dùng mang tính mở như: Các bảngchơi gài Trẻ sẽ chơi gài lô tô
Ví dụ: Chủ đề thực vật, Tôi chuẩn bị tranh lô tô các loại quả trẻ đã được học, trênbảng chơi tôi chuẩn bị sẵn lô tô cài trên bảng mẫu Trẻ chơi góc đó sẽ chọn lô tôgiống mẫu, nói tên loại quả đó và gắn vào các ô còn lại
Bước 1: Chuẩn bị
lô tô về con vật
Bước 2: gài lô tô
mẫu vào bảng chơi
- Trẻ lấy lô tô và nóiđược từ, câu về con vật:
Ví dụ:
+ Từ: gà con, vịt con + Câu: “Đây là con gà”,
“ đây là con vịt”, “đây làcon cá”
cơ bản
Bước 2: Chuẩn bị
các kẹp gỗ màutheo các màu cơ
- Trẻ chọn kẹp vàkẹp màu vào đúngmàu tương ứng
- Trẻ chọn thanh
gỗ màu, để vào lọmàu tương ứng
- Trẻ lấy kẹp màu, kẹpđúng màu, lấy thanh gỗthả vào hộp màu và nói
Trang 9- Chuẩn bị cácthanh gỗ màu
Bước 3: Chuẩn bị
các quả bóng to –nhỏ các màu xanh,
đỏ, vàng
- Trẻ chọn đúngbóng to thả vào ô
to Bóng nhỏ thảvào ô nhỏ Thảđúng theo màu
đúng màu tươngứng
- Trẻ lấy bóng màu to –nhỏ thả vào ô to – nhỏtheo màu tương ứng vànói từ, câu
Ví dụ:
+ Từ: Bóng to, bóngnhỏ, bóng xanh, bóngđỏ
+ Câu: “Đây là ô màuxanh”, “ đây là bóngmàu đỏ”
3.2 Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động trong ngày ở trường mầm non.
a Phát triển ngôn ngữ thông qua các hoạt động có chủ định
* Hoạt động nhận biết.
Hoạt động nhận biết là hoạt động vô cùng quan trọng trong việc cung cấp từ mới
về sự vật hiện tượng xung quanh trẻ, phát triển nhận thức của trẻ từ đó trẻ mới cónhững kinh nghiệm, trải nghiệm tốt cho bản thân Tuy nhiên trẻ ở lứa tuổi 24-36tháng, bộ máy phát âm còn chưa chuẩn nên trẻ rất hay nói ngọng, nói lắp, nói thiếu
từ, nói không đủ câu Chính vì vậy ở hoạt động nhận biết đòi hỏi giáo viên phải có sựchuẩn bị thật tốt về đồ dùng trực quan, hình ảnh minh họa phải to, rõ nét, dễ nhìn vàthu hút sự chú ý của trẻ Đặc biệt với trẻ 24-36 tháng tôi luôn ưu tiên sử dụng vật thậtkhi dạy trẻ, giúp trẻ có những trải nghiệm thực tế, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mộtcách tích cực Song song với đồ dùng là hệ thống câu hỏi cô phải xây dựng ngắn gọn,
dễ hiểu, và thật gần gũi với trẻ
Trang 10Ví dụ 1: Khi dạy về con Thỏ: Tôi chuẩn bị một con thỏ thật Tôi xây dựng hệ thống
câu hỏi ngắn gọn:
+ Dây là con gì?
+ Tai con thỏ đâu nhỉ? (Trẻ vừa chỉ tay vừa nói: Tai con thỏ đây ạ)
+ Ai chỉ cho cô biết mắt thỏ đâu nào? (Trẻ chỉ tay và nói: Mắt thỏ đây ạ)
+ Đây là cái gì? (Đuôi thỏ đây ạ)
Khi trẻ trả lời cô phải hướng dẫn trẻ phát âm chính xác từ, nói đầy đủ câu đúng ngữpháp
Để thay đổi không khí lớp học và luyện từ, ghi nhớ kiến thức Tôi cho trẻ chơi tròchơi củng cố “Con thỏ”, qua trò chơi trẻ vừa phải vận động chân tay vừa phải nói lạicác từ: Con thỏ - Tai dài Mắt thỏ - Tròn xoe Đuôi thỏ - Ngoe nguẩy Nói được câu:Thỏ ăn cà rốt
+ Cô nói:“Con thỏ, con thỏ” Trẻ nói: “Tai dài tai dài” đồng thời đưa 2 bàn tay lênqua đầu vẫy vẫy làm tai thỏ
+ Cô nói: “Chân thỏ, chân thỏ” Trẻ nói: “Rất xinh, rất xinh” đồng thời 2 chân dậm 2lần tại chỗ
+ Cô nói: “Mắt thỏ, mắt thỏ” Trẻ nói: “Tròn xoe, tròn xoe” đồng thời đưa 2 tay lênvòng quanh mắt
+ Cô nói: “Đuôi thỏ” Trẻ nói: “Ngoe nguẩy, ngoe nguẩy” Trong khi chơi cùng trẻtôi cố gắng quan sát, lắng nghe và chơi chậm để trẻ nói được các từ cùng cô và cô sửacách phát âm cho trẻ
Tôi muốn cung cấp cho trẻ vốn từ và hiểu biết về món ăn của con thỏ, tôi cho trẻ trảinghiệm: Cho thỏ ăn cà rốt, sau khi đó tôi đặt câu hỏi:
+ Thỏ đang làm gì đấy? (Thỏ đang ăn ạ)
+ Các con vừa cho thỏ ăn gì nhỉ? (Trẻ nói câu: Thỏ ăn cà rốt ạ) Mọi thời điểm trongngày tôi đặc biệt chú trọng việc trẻ trả lời cô đầy đủ câu, rõ ràng, và sửa phát âm chotrẻ
Ví dụ 2: Hoạt động nhận biết tập nói: Con vịt con
1 Kiến thức:
Trang 11- Trẻ nhận biết được con vịt con, nhận biết được tên gọi và một số đặc điểm của convịt con: Đầu vịt, mỏ vịt, cánh vịt, chân vịt, lông vịt.
2 Kỹ năng:
- Trẻ gọi đúng tên “vịt con” và tên một số bộ phận của con vịt: Đầu vịt, cánh vịt, chânvịt, mỏ vịt, lông vịt
- Trẻ nói được câu: “Đây là vịt con”, “Lông vịt màu vàng”
- Phát triển các giác quan cho trẻ qua hoạt động: nhìn, sờ, nghe
3 Thái độ:
- Trẻ tích cực tham gia các hoạt động của giờ học
- Giáo dục trẻ biết yêu các con vật
II CHUẨN BỊ
1 Địa điểm tổ chức: Trong lớp học
2 Đội hình dạy trẻ: Trẻ ngồi quanh cô, trẻ ngồi hình vòng cung
3 Đồ dùng:
* Đồ dùng của cô:
- 5 con vịt thật, 1 cái nơm, ao nhỏ thả vịt
- Màn hình ti vi, hình ảnh con vịt con, con vịt trưởng thành
- Nhạc bài hát: If you happy and you know - nhạc nước ngoài, lời việt Nhạc bài hát
- Cô và trẻ cùng hát, vận động theo nhạc bài hát “If you
happy and you know” - Lời việt: Các con ơi! Chúng mình
cùng hát bài hát tặng các cô, các bác nhé
2 Phương pháp và hình thức tổ chức:
2.1 Hoạt động 1: Quan sát, nhận biết, tập nói về con vịt
- Trẻ vận độngtheo nhạc cùngcô
Trang 12* Tiếng kêu của con vịt con
- Cô cho trẻ lắng nghe tiếng kêu của con vịt con, trẻ tìm và
phát hiện ra các con vịt con Cô hỏi trẻ:
+ Đố các con đó là tiếng kêu của con gì?
+ Tiếng kêu phát ra ở đâu?
- Cô mở lồng vịt, cho 2 con vịt con ra chơi với trẻ và hỏi
trẻ:
+ Đây là con gì? (Cô chỉ vào con vịt con)
- Cô cho cả lớp, 4 - 5 trẻ phát âm: “vịt con” Cô sửa phát âm
cho trẻ
+ Vịt con kêu như thế nào?
- Cô cho cả lớp, 4 - 5 trẻ phát âm: “vít vít”
- Cô cho trẻ bắt chước tiếng vịt con kêu
* Một số bộ phận của con vịt con
- Cô cho trẻ quan sát đầu vịt và hỏi trẻ:
+ Đây là gì? (Cô chỉ vào đầu vịt)
- Cô cho cả lớp, 3 - 4 trẻ phát âm: “đầu vịt” Cô sửa phát
âm cho trẻ
- Cô cho vịt ăn và hỏi trẻ:
+ Vịt con ăn bằng gì?
+ Mỏ vịt đâu nhỉ? (Cô chỉ vào mỏ vịt)
- Cô cho cả lớp, 4 - 5 trẻ phát âm: “Mỏ vịt” Cô sửa phát
âm cho trẻ
- Cô cho trẻ sờ lên người con vịt con và hỏi trẻ:
+ Vịt con có màu gì? (Cô chỉ vào bộ lông vịt)
+ Các con sờ thấy lông vịt như thế nào?
- Cô cho cả lớp, 3 - 4 trẻ tập nói câu: “Lông vịt màu vàng”
Cô sửa sai cho trẻ
-> Đây chính là bộ lông của vịt con đấy, lông vịt con có
- Trẻ làm độngtác vịt kêu
- Trẻ trả lời.-Trẻ phát âm