Từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng và kiến thức của điều dưỡng viên về tiêm an toàn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư chúng tôi thu được kết quả: Trong số các điều dưỡng được điều tra có 95,7% điều dưỡng viên có kiến thức đạt về tiêm an toàn; 97,1% điều dưỡng viên hiểu thế nào là mũi tiêm an toàn; 100% điều dưỡng viên biết về việc tuân thủ nguyên tắc hai nhanh – một chậm khi tiêm thuốc.
Trang 1JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
TÓM TẮT
Từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 chúng tôi tiến
hành khảo sát thực trạng và kiến thức của điều dưỡng viên
về tiêm an toàn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư chúng
tôi thu được kết quả: Trong số các điều dưỡng được điều
tra có 95,7% điều dưỡng viên có kiến thức đạt về tiêm an
toàn; 97,1% điều dưỡng viên hiểu thế nào là mũi tiêm an
toàn; 100% điều dưỡng viên biết về việc tuân thủ nguyên
tắc hai nhanh – một chậm khi tiêm thuốc Có 67,1% điều
dưỡng viên cho biết mũi tiêm không gây hại cho người
tiêm Có 85,7% điều dưỡng viên cho rằng thiếu ý thức tuân
thủ quy trình tiêm an toàn của cán bộ y tế nguyên nhân cơ
bản nhất dẫn đến hành vi thiếu an toàn trong tiêm
Từ khóa: Tiêm an toàn, điều dưỡng.
ABSTRACT:
CURRENT SITUATION AND KNOWLEDGE
OF NURSES ON SAFE INJECTION AT GENERAL
HOSPITAL OF VU THU DISTRICT IN 2018
We conducted a survey of the current situation and
knowledge of nurses on safe injection at general hospital of
Vu Thu District from June 2018 to Dencember 2018 We
attained results: 95,7% of nurses have the right knowledge
about safe injection, 97,1 % of nurses know what is safe
injection, 100 of nurses know the principle “ two fast – one
slow” when injecting 67,1% of nurses know the injection is
not harmful to the person injected 85,7% of nurses believe
that a lack of awareness about compliance with health
worker’s injection procerdures is the most fundamental
cause of unsafe behavior when injected
Key words: Safe injection, nurses.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm là một thủ thuật phổ biến và có vai trò rất quan
trọng trong lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh Tuy nhiên
tiêm cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cả người nhận mũi tiêm, người thực hiện tiêm và cộng đồng nếu như không có những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm an toàn.Vì vậy tiêm an toàn là một trong những vấn
đề quan tâm ở nhiều nước đang phát triển Theo WHO tiêm an toàn là một quy trình tiêm không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm, không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu sau:
Mô tả thực trạng và kiến thức của điều dưỡng viên về tiêm an toàn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư năm 2018.
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Điều dưỡng viên hiện đang làm việc tại các khoa Lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư
- Các loại mũi tiêm bắp, tiêm trong da,tiêm dưới da,tiêm tĩnh mạch được thực hiện tại thời gian quan sát
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2018
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học
mô tả với điều tra cắt ngang có kết hợp phân tích nhằm: + Xác định thực trạng và kiến thức về tiêm an toàn của điều dưỡng viên Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư + Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới tiêm an toàn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư
- Cỡ mẫu điều dưỡng viên: Chọn toàn bộ điều dưỡng viên đang làm việc tại 7 khoa lâm sàng của Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư gồm 75 người
Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VỀ
TIÊM AN TOÀN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN VŨ THƯ NĂM 2018
Phạm Thị Luân 1 , Ngô Thị Nhu 2 , Phí Đức Long 2 , Lưu Thị Trang Ngân 2
1 Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư
2 Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Trang 2
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1 Phân bố khoa công tác của điều dưỡng viên
Bảng 3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị tiêm an toàn của các khoa
Qua bàng 3.1 ta thấy số lượng điều dưỡng viên tại
các khoa phòng được phân bố như sau: Khoa hồi sức cấp
cứu, nhi, YHCT, sản có từ 8-11 điều dưỡng viên; khoa nội,
ngoại có nhiều điều dưỡng viên nhất (lần lượt là 15 và 13 người), khoa nhiệt đới chỉ có 4 điều dưỡng viên
Trang 3JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Bảng 3.3 Kiến thức chung của điều dưỡng viên về tiêm an toàn
Trước khi tiến hành tiêm thuốc, ĐD phải rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm 70 100
Tiêm thuốc là một kỹ thuật chỉ cần áp dụng phương pháp sạch, không cần tuân thủ nguyên
Biện pháp quan trọng để phòng ngừa tổn thương do kim tiêm đâm là: luôn dùng tay đóng
Xử lý khi bị kim tiêm hoặc vật sắc nhọn đâm là rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng
và vòi nước, dưới vòi nước chảy, để máu ở vết thương tự chảy, không nặn bóp vết thương 65 92,9 Một trong những mục đích chính của việc sử dụng găng tay là hạn chế vật sắc nhọn xuyên
Hầu hết tất cả các khoa trong cuộc điều tra đều có đầy
đủ vật chất, trang thiết bị phục vụ cho tiêm an toàn Duy
chỉ có dụng cụ hấp sấy hàng ngày cho dụng cụ tiêm thì không khoa nào có
Đạt 100% điều dưỡng có kiến thức về: Sử dụng bơm
kim tiêm vô khuẩn, dùng 1 lần là cần thiết cho tiêm; Quy
định bắt buộc phải mang theo hộp thuốc chống sốc mỗi khi
đi tiêm thuốc; Trước khi tiến hành tiêm thuốc, điều dưỡng
phải rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm; Khi
tiêm thuốc đảm bảo hai nhanh, một chậm Vẫn có 18,6%
điều dưỡng cho rằng biện pháp quan trọng để phòng ngừa
tổn thương do kim tiêm đâm là luôn dùng tay đóng lại nắp
kim tiêm cẩn thận rồi bỏ vào thùng đựng vật sắc nhọn; có
30,0% điều dưỡng cho rằng tiêm thuốc là một kỹ thuật chỉ cần áp dụng phương pháp sạch, không cần tuân thủ nguyên tăc vô trùng tuyệt đối; có 51,4 điều dưỡng cho rằng một trong những mục đích chính của việc sử dụng găng tay là hạn chế vật sắc nhọn xuyên vào tay; 77,1% đồng ý với nội dung không bắt buộc phải mang găng tay mỗi khi tiêm thuốc Còn những kiến thức khác về tiêm an toàn của điều dưỡng viên đạt trên 88%
Trang 4
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3.4 Tỷ lệ điều dưỡng viên biết về mũi tiêm an toàn (n=70)
-An toàn cho người bệnh - -An toàn cho nhân viên- -An toàn cho nhân viên thu gom rác thải 2 2,9
An toàn cho người nhà - An toàn cho người bệnh - An toàn cho nhân viên - An toàn cho
Bảng 3.5 Tỷ lệ điều dưỡng viên biết nhiệm vụ quan trọng nhất của người tiêm (n=70)
Bảng 3.6 Tỷ lệ điều dưỡng viên biết nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến hành vi thiếu an toàn trong tiêm (n=70)
-Hầu hết (97,1%) điều dưỡng viên hiểu mũi tiêm an
toàn là mũi tiêm: An toàn cho người nhà - An toàn cho
người bệnh - An toàn cho nhân viên - An toàn cho nhân
viên thu gom rác thải Chỉ có 2,9% điều dưỡng viên cho
rằng mũi tiêm an toàn là mũi tiêm: An toàn cho người bệnh - An toàn cho nhân viên- An toàn cho nhân viên thu gom rác thải
Qua bảng 3.5 ta thấy nhiệm vụ quan trọng nhất của
người tiêm: 52,9% điều dưỡng viên cho rằng cần thực hiện
đúng quy trình tiêm an toàn; có 40,0% điều dưỡng viên
cho rằng cần tuân thủ đúng quy trình tiêm, xử trí đúng và
báo cáo khi xảy ra phơi nhiễm; còn lại 7,1% điều dưỡng viên cho rằng cần tham gia đầy đủ các chương trình đào tạo về tiêm an toàn
Nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến hành vi thiếu an cho rằng nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến hành vi thiếu
Trang 5JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
người được tiêm, không gây phơi nhiễm cho người tiêm
đối với các nguy cơ có khả năng tránh được và không để
lại chất thải nguy hại cho cộng đồng Qua kết quả nghiên
cứu về thực trạng nguồn lực và kiến thức của điều dưỡng
viên về tiêm an toàn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư
năm 2018 chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề cần bàn
luận sau: Mũi tiêm an toàn là mũi tiêm đạt cả 3 tiêu chí:
an toàn cho người bệnh, an toàn cho cán bộ y tế và an toàn
cho cộng đồng Kết quả phỏng vấn cho thấy có 97,1% điều
dưỡng viên hiểu thế nào là mũi tiêm an toàn: An toàn cho
người nhà - An toàn cho người bệnh - An toàn cho nhân
viên - An toàn cho nhân viên thu gom rác thải (bảng 3.4)
Kết quả này cao hơn kết quả của các nghiên cứu trước:
nghiên cứu của Lê Thị Thúy Nhàn có 88,1% NVYT hiểu
đúng về khái niệm tiêm an toàn, kết quả của Chu Thị Hồng
Huế chỉ có 51,1% NVYT trả lời đúng cả 3 tiêu chí về khái
niệm tiêm an toàn Nguyên nhân quan cơ bản nhất được
điều dưỡng đưa ra dẫn đến hành vi thiếu an toàn trong
tiêm là do cán bộ y tế thiếu ý thức tuân thủ quy trình tiêm
an toàn (chiếm 85,7%); tiếp đến là nguyên nhân do tình
trạng quá tải người bệnh, quá tải công việc (chiếm 8,6%)
Có 5,7% điều dưỡng viên cho rằng do nguyên nhân thiếu phương tiện rửa tay/sát khuẩn tay Vậy nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hành vi thiếu an toàn trong tiêm được điều dưỡng đưa ra là do ý thức tuân thủ quy trình tiêm
an toàn của điều dưỡng viên Kết quả này tương đương với kết quả của tác giả Chu Thị Hồng Huế khi có 76,1% NVYT cho rằng nguyên nhân là do ý thức của NVYT
V KẾT LUẬN
- Trong số các điều dưỡng được điều tra có 95,7% điều dưỡng viên có kiến thức đạt về tiêm an toàn; 97,1% điều dưỡng viên hiểu thế nào là mũi tiêm an toàn; 100% điều dưỡng viên biết về việc tuân thủ nguyên tắc hai nhanh – một chậm khi tiêm thuốc
- Có 67,1% điều dưỡng viên cho biết mũi tiêm không gây hại cho người tiêm
- Có 85,7% điều dưỡng viên cho rằng thiếu ý thức tuân thủ quy trình tiêm an toàn của cán bộ y tế nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến hành vi thiếu an toàn trong tiêm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Thu Hiền, Hà Thị Hương Bưởi và Đoàn Thị Thanh (2017), Đánh giá thực trạng tiêm an toàn của điều
dưỡng tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình.
2 Chu Thị Hồng Huế (2017), Thực trạng nguồn lực và kiến thức, thực hành của cán bộ y tế về tiêm an toàn tại trạm
y tế xã/phường thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2016, Luận văn thạc sỹ y học Trường Đại học Y Dược Thái Bình
3 Lê Thị Thúy Nhàn (2012), Thực trạng nguồn lực, kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng viên về tiêm an
toàn tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2012 Luận văn thạc sỹ y học Trường Đại học Y Dược Thái Bình
4 Đào Thành (2005), Đánh giá thực hiện TAT tại 8 tỉnh đại diện, năm 2005 (Vol 3), Hội Điều dưỡng Việt Nam
5 Nguyễn Thị Hoài Thu (2018), “Thực trạng thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi
Trung ương “, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 112(3), tr 101-109