1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

5 183 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 335,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu sơ lược lịch sử ra đời của giá trị thặng dư, sự cần thiết phải vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Trang 1

VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS Võ Xuân Hội

Khoa Lý luận Chính Trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Giới thiệu sơ lược lịch sử ra đời của giá trị thặng dư, sự cần thiết phải vận

dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ

nghĩa ở nước ta hiện nay

Từ khóa: Giá trị thặng dư, quy luật sản xuất, học thuyết, vận dụng các phương pháp

sản xuất

1 Sơ lược quá trình ra đời của giá trị

thặng dư, sự cần thiết phải vận dụng

các phương pháp sản xuất giá trị

thặng dư trong quá trình xây dựng

chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam

hiện nay

Trong giai đoạn đầu của chế độ

Cộng sản nguyên thủy, năng suất lao

động rất thấp, chưa có sản phẩm thặng

dư Đến cuối chế độ Cộng sản nguyên

thủy và đầu chế độ Chiếm hữu nô lệ, khi

sức sản xuất của lao động tăng lên trong

các ngành chăn nuôi gia súc, trồng trọt,

thủ công nghiệp gia đình, thì khi đó con

người có khả năng sản xuất được nhiều

sản phẩm hơn số sản phẩm cần thiết cho

sự duy trì sức lao động của họ, nghĩa là

xuất hiện sản phẩm thặng dư

Lịch sử phát triển của nền sản xuất

xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ

chức kinh tế khác nhau, đó là sản xuất tự

cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Trong

kinh tế tự cấp tự túc, sản phẩm làm ra

không được trao đổi mua bán nên không

mang hình thái giá trị, do đó sản phẩm

thặng dư chỉ biểu hiện dưới hình thái

hiện vật Khi kinh tế hàng hóa phát triển

thì sản phẩm thặng dư mang hình thái

hàng hóa, cũng có hai thuộc tính giá trị

sử dụng và giá trị Giá trị của sản phẩm

thặng dư là giá trị thặng dư (giá trị mới

dôi ra ngoài hao phí sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không; hoặc giá trị thặng dư

là một bộ phận giá trị mới do lao động của người công nhân làm thuê tạo ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của người công nhân

bị nhà tư bản chiếm đoạt)

Ngày lao động của người lao động được chia làm hai phần, phần thứ nhất là thời gian lao động cần thiết (tất yếu), sản xuất ra sản phẩm cần thiết để tái sản xuất

ra sức lao động của người công nhân Phần ngày lao động thứ hai là thời gian lao động thặng dư, sản xuất ra sản phẩm thặng dư cho xã hội, đây là cơ sở của sự tích lũy, là nguồn gốc của sự giàu có Trong chủ nghĩa tư bản (CNTB), thời gian lao động thặng dư tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản

Ở nước ta, trước đây, do đối lập một cách máy móc CNXH với CNTB đã hình thành quan điểm sai lầm cho rằng: CNXH, thậm chí trong thời kỳ quá độ lên CNXH không có kinh tế hàng hóa, không

có kinh tế thị trường Do đó, không có các phạm trù giá trị và giá trị thặng dư

Ngày nay, trải qua thực tiễn, chúng ta đã nhận thức rõ: sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển chung của nền văn

Trang 2

minh nhân loại, sản xuất hàng hóa tồn

tại khách quan và cần thiết cho công

cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH

đã được xây dựng Lênin viết: “Tri thức

về CNTB thì chúng ta có, nhưng chúng

ta chưa có tri thức về tổ chức với quy

mô hàng triệu người, chưa có tri thức về

tổ chức và phân phối sản phẩm,…”,

“cho nên chúng ta nói, dù hắn là tên đại

bịp bợm, nhưng một khi chúng đã tổ

chức ra được Tơ-Rớt, khi hắn là một

thương nhân đã từng làm công việc tổ

chức sản xuất và phân phối cho hàng

triệu và hàng chục triệu người, một khi

hắn có kinh nghiệm thì chúng ta phải

học ở hắn”

Như vậy, trong thời kỳ quá độ lên

CNXH ở nước ta hiện nay, chúng ta

cần vận dụng một cách linh hoạt và

hợp lý những thành tựu mà CNTB đã

đạt được, cần thiết phải phát triển kinh

tế hàng hóa, phát triển nền kinh tế thị

trường, thừa nhận sự tồn tại của nhiều

hình thức sở hữu, nhiều thành phần

kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp,

nhiều hình thức tổ chức sản xuất - kinh

doanh, thừa nhận sự bóc lột, thừa nhận

phạm trù giá trị thặng dư Chúng ta cần

thiết phải sử các phương pháp sản xuất

giá trị thặng dư - cách thức mà các nhà

tư bản, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

(TBCN) đạt đến sự giàu có vào điều

kiện cụ thể của đất nước, nhằm xây

dựng một nước Việt Nam XHCN “dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,

văn minh”

2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng

dư tương đối

Mục đích của nền sản xuất TBCN

là sản xuất ra giá trị thặng dư và giá

thặng dư tối đa, các nhà tư bản luôn tìm

mọi cách để đạt được lợi nhuận lớn nhất thông qua việc tăng cường áp dụng các phương tiện kỹ thuật và quản lý như tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động, áp dụng cộng nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất - kinh doanh - quản lý, mở rộng sản xuất,… để bóc lột càng nhiều lao động làm thuê Có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tuyệt đối: đây là phương pháp được sử

dụng chủ yếu trong giai đoạn đầu phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời

kỳ hiệp tác lao động giản đơn và thời kỳ công trường thủ công, khi trình độ kỹ thuật còn thấp, lao động thủ công, thô sơ thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân làm thuê

Phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tuyệt đối được thực hiện bằng cách kéo dài ngày lao động (hay tăng cường

độ lao động) trong khi năng suất lao động không đổi, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng

dư (tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên)

Ngày nay, các nhà tư bản luôn tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động (tối đa 24h/ngày) do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định

Vì người công nhân cần phải có thời gian

ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ Ngoài ra, việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời

Trang 3

gian lao động tất yếu, tức thời gian lao

động thặng dư bằng không, điều này có

nghĩa là nhà tư bản đầu tư nhưng không

thu được bất kỳ một đồng lợi nhuận nào

thì chắc chắn họ sẽ không đầu tư vì mục

đích của họ là lợi nhuận Như vậy, về

mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn

thời gian lao động tất yếu, nhưng không

thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh

thần của người lao động Độ dài của ngày

lao động là đại lượng không cố định và

có nhiều mức khác nhau Độ dài cụ thể

của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa

giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên

cơ sở tương quan lực lượng quyết định

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân

đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8

giờ đã kéo dài hàng thế kỷ

Khi sản xuất TBCN phát triển đến

giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ

thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao

động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà

tư bản thấy rằng việc sử dụng phương

pháp này không còn phù hợp nữa và

chuyển sang phương thức bóc lột tinh vi

hơn dựa trên cơ sở tăng năng suất lao

động, đó là bóc lột giá trị thặng dư

tương đối

Phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tương đối:

Phương pháp sản xuất giá trị thăng

dư tương đối được thực hiện bằng cách

rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên

cơ sở tăng năng suất lao động xã hội,

làm cho giá trị hàng hóa sức lao động

giảm xuống, trong khi độ dài ngày lao

động không đổi và thời gian lao động

thặng dư tăng lên tương ứng

Chẳng hạn: Giả sử độ dài ngày lao

động là 8 giờ và nó được chia thành 4

giờ là thời gian lao động tất yếu (t) và 4

giờ là thời gian lao động thặng dư (t’),

được biểu diễn như sau:

Tỷ suất giá trị thặng dư lúc này là:

m’ = t’/t*100% = 4/4*100% = 100%

Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình Khi đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư

Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng

dư sẽ là: m’ = 5/3*100% = 166,7 % Kết quả, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166,7%

Như vậy, làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó

Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển,

h

Trang 4

sản xuất giá trị thặng dư tương đối là

phương pháp chủ yếu Lịch sử phát triển

của lực lượng sản xuất và của năng suất

lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã

trải qua ba giai đoạn: hiệp tác lao động

giản đơn, công trường thủ công và đại

công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình

nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư

tương đối

Hai phương pháp sản xuất giá trị

thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử

dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình

độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá

trình phát triển của CNTB Dưới CNTB,

việc áp dụng máy móc không phải là để

giảm nhẹ cường độ lao động của công

nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng

cường độ lao động Ngày nay, việc tự

động hoá sản xuất làm cho cường độ lao

động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới,

sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho

cường độ lao động cơ bắp

Trong nền kinh tế thị trường hiện

nay, sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản

là hết sức khốc liệt, buộc họ phải áp

dụng phương pháp sản xuất tốt nhất,

cách quản lý tốt nhất để tăng năng suất

lao động trong xí nghiệp của mình

nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá

thấp hơn giá trị xã hội, giá trị thị

trường của hàng hoá, nhờ đó thu được

giá trị thặng dư siêu ngạch Giá trị

thặng dư siêu ngạch chỉ do một số ít

các nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến, áp

dụng sớm nhất công nghệ mới vào hoạt

động sản xuất kinh doanh và thu được,

khi đa số các nhà tư bản áp dụng công

nghệ này vào sản xuất kinh doanh thì

giá trị thặng dư siêu ngạch không còn

mà nó trở thành giá trị thặng dư tương

đối Xét trên góc độ toàn xã hội thì giá

trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng

tồn tại thường xuyên

Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tiết kiệm chi phí, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động

và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hoá C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch

và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên

cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao động xã hội)

3 Vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Một là, học tập các nhà tư bản sản

xuất ra càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội, càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt Việc vận dụng hai phương pháp trên trong các doanh nghiệp sẽ kích thích hoạt động sản xuất - kinh doanh, vì mục tiêu lợi nhuận chính là động lực giúp doanh nghiệp sẽ không ngừng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới - hiện đại vào sản xuất - kinh doanh, hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm thời gian và chi phí nhằm tăng năng suất lao động cá biệt của đơn

vị mình, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa do doanh nghiệp mình sản xuất ra thấp hơn giá trị thị trường, nâng cao giá trị hàng háo và dịch vụ từ đó mang lại lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch cho các doanh nghiệp Đồng thời, thúc đẩy lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, thúc

Trang 5

đẩy quá trình phân công lao động xã hội,

tạo ra nhiều việc làm, gợi mở cách thức

làm tăng của cải trong doanh nghiệp và

cả nền kinh tế

Hai là, cần tận dụng sử dụng triệt để

các nguồn lực cho phát triển kinh tế đất

nước Trong nền kinh tế thị trường hiện

nay, khi một số nguồn lực để phát triển

kinh tế trở nên khan hiếm thì việc huy

động và sử dụng các nguồn lực cho phát

triển như vốn, lao động, khoa học công

nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai,

phải làm sao mang lại hiệu quả kinh tế xã

hội cao nhất, tránh trường hợp sử dụng

không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí

Ba là, không ngừng hoàn thiện hệ

thống pháp luật Một mặt, yêu cầu các

nhà tư bản phải nghiêm chỉnh chấp hành

pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng

của người công nhân Mặt khác, nhà

nước cần có cơ chế, chính sách khuyến

khích phát triển kinh tế tư nhân, bảo hộ

quyền sở hữu hợp pháp của các nhà tư

bản, không phân biệt đối xử giữa các

thành phần kinh tế, thực thi nhất quán

chính sách thuế sao cho nhà đầu tư có thể

thu được lợi nhuận thích đáng thì họ mới mạnh dạn đầu tư, làm ăn lâu dài Bên cạnh đó, không ngừng hoàn thiện luật doanh nghiệp, luật đầu tư theo hướng ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư hơn Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các nước trong thu hút vốn đầu tư ngày càng gay gắt Do đó, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi đầu tư nhiều hơn để thu hút mạnh hơn các nhà đầu tư

Bốn là, cần kết hợp hài hòa các lợi

ích giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động Đối với thành phần kinh

tế Nhà nước và tập thể dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất thì kết quả sản xuất thuộc về Nhà nước hay tập thể lao động của doanh nghiệp Vì vậy, việc phân phối giá trị thặng dư phải làm sao cho vừa tăng thu cho ngân sách nhà nước, vừa tăng thu nhập của người lao động, lại vừa tăng các quỹ của doanh nghiệp (quỹ tái sản xuất mở rộng, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng), càng nhiều lợi nhuận thì lợi ích của ba thành phần trên càng tăng cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hội đồng TW chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác -

Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh 2008 Giáo trình Kinh tế học Chính trị Mác - Lênin,

NXB CT - QG, Hà Nội

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo 2012 Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa

Mác - Lênin, NXB CT - QG Sự thật, Hà Nội

[3] PGS.TS Lê Danh Tốn, GS-TS Đỗ Thế Tùng 2008 Một số chuyên đề về Những

nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội

[4] PGS.TS Hoàng Bích Loan, TS Vũ Thị Thoa 2009 Hỏi đáp Kinh tế Chính trị Mác -

Lênin, NXB CT - HC, Hà Nội

[5] Lê Quan Diên, Trường Đại học kinh tế, Đại học Huế 2012 Sự cần thiết và những

hướng khai thác khi vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của C Mác trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí khoa

học, Đại học Huế, số 3 năm 2012

Ngày đăng: 31/10/2020, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w