Bài viết trình bày một số thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên tại Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung.
Trang 1THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG –
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
ThS Nguyễn Thị Kim Cúc
CN Bùi Nguyên Tuân
Trung tâm Ngoại Ngữ - Tin học, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, năng lực
giao tiếp ngoại ngữ đóng vai trò rất quan trọng
để tuyển dụng nhân lực và là chìa khóa phát
triển hội nhập Trong đó tiếng Anh đã trở
thành 1 ngôn ngữ chung được sử dụng trên rất
nhiều quốc gia Tiếng Anh ngày càng được sử
dụng phổ biến trên thế giới, là công cụ giao
tiếp phổ biến cho các hoạt động kinh tế chính
trị, xã hội văn hoá giữa các quốc gia Do vậy
việc đào tạo tiếng Anh ở các trường Đại học
ngày càng được quan tâm đáng kể Trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi trình bày một
số thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao
năng lực tiếng Anh cho sinh viên tại Trường
Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung
Từ khóa
thực trạng, học tiếng Anh, giải pháp, nâng cao
chất lượng đào tạo, Trường ĐHXD Miền Trung
1 Mở đầu
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học Việt Nam nói riêng đang trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới Có thể khẳng định việc đào tạo nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ, đặc biệt là nâng cao năng lực tiếng Anh cho cán bộ, giảng viên và sinh viên là ưu tiên hàng đầu Ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
1400/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” với mục tiêu chung là “Đổi mới toàn diện việc dạy
và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình
độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực
ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng
và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập,
đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”
2 Thực trạng trong việc giảng dạy và học tiếng Anh ở trường Đại học Xây dựng Miền trung hiện nay
2.1 Phương pháp dạy học của giáo viên
Trung tâm Ngoại ngữ tin học Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung hiện có 7 giảng viên (GV) tiếng Anh
Trong đó có 5 GV có trình độ thạc sĩ, có
Trang 2một giảng viên đang nghiên cứu sinh tại
Đại học quốc gia Hà Nội Nhìn chung đội
ngũ GV có trình độ chuyên môn vững
vàng, giàu kinh nghiệm và nhiệt tình
giảng dạy và luôn tự trau dồi chuyên môn
trong giảng dạy Việc bồi dưỡng năng lực
tiếng Anh được quan tâm đáng kể, nhiều
giảng viên tiếng Anh được nhà trường cử
đi đào tạo ở nước trong nước và nước
ngoài hàng năm nên trình độ chuyên môn
ngày càng được nâng cao và đáp ứng yêu
cầu của nhà trường và xã hội Tuy nhiên,
phương pháp giảng dạy giao tiếp và trau
dồi kỹ năng qua các bài tập tình huống có
lẽ chưa được áp dụng triệt để Trên lớp
giáo viên còn giảng giải nhiều (teacher
talk) thay vì vài trò người hướng dẫn
(facilitator), dành nhiều thời giảng cấu
trúc ngữ pháp, giải bài tập, đề kiểm tra,
chưa tổ chức các hoạt động thực hành
ngôn ngữ, khuyến khích, và động viên trải
nghiệm thực tế Giáo viên vẫn là trung
tâm của quá trình giảng dạy, điều đó đồng
nghĩa với việc sinh viên là đối tượng thụ
động tiếp thu thông tin, họ chỉ làm theo
những yêu cầu của giáo viên mà ít có
sáng tạo trong việc sử dụng kiến thức mà
họ đã tích lũy được
2.2 Thái độ học tập và trình độ của
sinh viên
Phần lớn sinh viên của Trường ĐHXD
Miền trung đến từ các tỉnh khu vực Miền
Trung - Tây Nguyên Môi trường học tập
ngoại ngữ của sinh viên còn nhiều hạn
chế, thói quen thụ động trong học ngoại
ngữ đã hình thành từ bậc phổ thông đối
với số đông sinh viên Tính thụ động này
còn thể hiện qua hiện tượng thường xuyên
không chuẩn bị bài, và chưa biết chủ động
trong học tập của nhiều sinh viên Sinh
viên chưa tìm ra động lực học tập cũng
như phương pháp học thích hợp, nói cách
khác, họ ngại học tiếng Anh và nhiều khi
lảng tránh việc nghe nói tiếng Anh
Trình độ của sinh viên không đồng
đều Mặc dù đã học tiếng Anh nhiều năm
ở trường phổ thông nhưng kỹ năng nghe
nói tiếng Anh rất yếu, kết quả kiểm tra
tiếng Anh đầu vào chỉ có khoảng 10% sinh viên đạt yêu cầu
Phần lớn sinh viên nhìn nhận ngoại ngữ là một môn học kiến thức chứ không phải là quá trình tập luyện để đạt được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh phù hợp Hơn nữa, sinh viên cho rằng tiếng Anh không phải là môn chuyên ngành chỉ là môn điều kiện nên hầu hết sinh viên học đối phó và chỉ cần bài thi đạt yêu cầu là được
2.3 Thời lượng và giáo trình giảng dạy
Theo sự phân phối chương trình đào tạo dành cho sinh viên bậc đại học ở trường Đại học xây dựng Miền trung từ năm 2012 đến nay, tiếng Anh cơ bản gồm
có 3 học phần trong đó học phần Anh văn
1 (2 tín chỉ), Anh văn 2 (2 tín chỉ), Anh văn 3 (2 tín chỉ) và tiếng Anh chuyên ngành ( 2 tín chỉ) Như vậy thời lượng học tiếng Anh của sinh viên trên lớp là 8 tín chỉ tương đương với 120 tiết Tham dự các
hội thảo khoa học “ Tổ chức dạy và học ngoại ngữ nhằm thúc đẩy và hỗ trợ người học đạt chuẩn khung năng lực ngoại ngữ
6 bậc dùng cho Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo” và tại trường
đại học Phú Yên ngày 14/05/2014 và hội
thảo khoa học “Chuẩn đầu ra Ngoại ngữ của SV đại học, cao đẳng các tỉnh, thành phố Miền Trung –Tây Nguyên, Thực trạng
và giải pháp” ngày 27 tháng 11 năm 2015
tại trường Đại học Quy Nhơn cho thấy rằng ở các trường đại học khác thời lượng đào tạo tiếng Anh cao hơn nhiều so với trường Đại học xây dựng Miền trung Hầu hết thời lượng giảng dạy tiếng Anh ở các trường đại học từ 180 tiết trở lên tương đương với 12 tín chỉ Như vậy, để giúp cho sinh viên đạt chuẩn bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam là một thách thức lớn đối với đội ngũ giảng viên của trung tâm Ngoại ngữ Tin học Trường ĐHXD Miền Trung
2.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học
Lãnh đạo Nhà trường có quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất và trang
Trang 3thiết bị giảng dạy, máy chiếu để phục vụ
giảng dạy, một phòng lab 30 máy dành
cho sinh viên rèn luyện kỹ năng trong giờ
học ngôn ngữ Hơn nữa, trường cũng đã
trang bị hệ thống thi kiểm tra trắc nghiệm
trên máy tính và đã đưa vào sử dụng Tuy
nhiên, nhìn chung điều kiện cơ sở vật chất
của Nhà trường vẫn còn hạnchế Hầu hết,
các phòng học tại trường chưa đạt chuẩn
cho giờ học tiếng Anh, chưa trang bị loa,
mirco Mô hình lớp học được thiết lập chưa
phù hợp đối với đặc thù giờ học tiếng Anh,
lớp học còn quá đông, đa số hơn 50 sinh
viên trên một lớp làm hạn chế hoạt động
theo cặp nhóm, làm cho việc quản lý lớp
của giáo viên gặp nhiều khó khăn
Internet đã được trang bị nhưng rất yếu,
chưa được sử dụng hiệu quả cho hoạt
động dạy và học của giảng viên và sinh
viên trên lớp
III Một số giải pháp góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo ở trường Đại
học xây dựng Miền trung
3.1 Vai trò của giảng viên trong việc
nâng cao chất lượng đào tạo trong
nhà trường
Giảng viên cần xây dựng động cơ
học tập cho sinh viên, phân tích cụ thể
mục đích của môn học và tầm quan trọng
của việc tiếng Anh
Trên lớp giảng viên cần phát huy vai
trò là hướng dẫn viên, và hỗ trợ khi cần
thiết, tạo sinh viên chủ động hơn trong
học tập
Sử dụng CEF làm cơ sở xây dựng
chương trình, lựa chọn giáo trình, xác định
mức trình độ đầu vào, đầu ra, mức tăng
trưởng và kiểm tra đánh giá thường
xuyên
Tăng thời lượng để rèn kỹ năng nghe
nói cho sinh viên, khai thác công nghệ
thông tin để hỗ trợ tối đa cho việc luyện
âm, ngữ điệu và khả năng diễn đạt lưu
loát của của sinh viên
Để khuyến khích sinh viên tích cực,
chủ động và sáng tạo trong học tập, giảng
viên cần tạo ra nhiều hoạt động trên lớp,
làm việc theo cặp theo nhóm, qua đó
giảng viên có thể xây dựng quy trình đánh giá ghi điểm thưởng và điểm phạt cho mỗi hoạt động tham gia trên lớp
GV tích cực bồi dưỡng chuyên môn của mình qua việc tự điều chỉnh và hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ, tăng hiệu qủa hoạt động sư phạm trên lớp, cải tiến trong giảng dạy và học tập - hoạt động được coi
là tất yếu, trực tiếp thúc đẩy chất lượng công tác đào tạo và đòi hỏi người dạy cần phát huy tối đa tính năng động và sáng tạo trong việc luôn tìm kiếm các biện pháp nghiệp vụ cụ thể
3.2 Một số phương pháp dạy học tích cực cho sinh viên đối với bộ môn tiếng Anh
Đối với việc giảng dạy ngoại ngữ, mỗi giảng viên có nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp đều được có được ưu điểm và nhược điểm riêng của
nó Nếu như với phương pháp dạy ngoại ngữ truyền thống chú trọng nhiều vào việc học và rèn luyện thành thạo các cấu trúc ngữ pháp, thì dạy ngoại ngữ theo phương pháp thực hành giao tiếp việc hình thành ở người học năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo lại là trọng tâm của quá trình dạy học Khác với phương pháp nghe nói nhấn mạnh đến vai trò của luyện tập từ các mẫu cấu trúc có sẵn, cách giảng dạy theo phương pháp thực hành giao tiếp nhấn mạnh đến khả năng tương tác của người học trong bối cảnh giao tiếp, trong đó mỗi hành vi ngôn ngữ của người học sẽ thay đổi tùy thuộc vào những phản ứng và câu trả lời trước đó của những người cùng tham gia Một phương pháp cố định không thể là chìa khoá chung cho mọi giảng viên mà phải tuỳ thuộc từng hoàn cảnh lớp học, đối tượng học, nội dung học để mỗi giảng viên cần điều chỉnh các hoạt động giảng dạy hợp lý Chúng ta không thể có một phương pháp cụ thể cứng nhắc áp dụng cho tất cả các đối tượng mà phải phụ thuộc vào trình độ nhận thức, năng khiếu, sở thích, niềm say mê với môn học
mà người dạy và người học chọn cho
Trang 4mình phương pháp riêng để học tập và
giảng dạy Một số phương pháp dạy học
sau đây có thể được xem là phương pháp
có thể phát huy tính tích cực chủ động
trong học tập
(Brainstorming)
Động não là phương pháp giúp sinh
viên trong một thời gian ngắn nảy sinh
được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một
vấn đề nào đó Thực hiện phương pháp
này, giảng viên cần đưa ra một hệ thống
các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo
luận Để thực hiện phương pháp này,
giảng viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được
tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm và
khích lệ sinh viên phát biểu và đóng góp ý
kiến càng nhiều càng tốt Sau đó giảng
viên liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa
lên bảng và phân loại ý kiến để làm sáng
tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận
sâu từng ý
3.2.2 Phương pháp vấn đáp (oral)
Vấn đáp là phương pháp trong đó
giảng viên đặt ra câu hỏi để sinh viên trả
lời, hoặc sinh viên có thể tranh luận với
nhau và với cả giảng viên, qua đó sinh
viên lĩnh hội được nội dung bài học Căn
cứ vào tính chất hoạt động nhận thức,
người ta phân biệt các loại phương pháp
vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giảng viên đặt
câu hỏi chỉ yêu cầu sinh viên nhớ lại kiến
thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ,
không cần suy luận Vấn đáp tái hiện
không được xem là phương pháp có giá trị
sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi
cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa
mới học
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ:
Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài
nào đó, giảng viên lần lượt nêu ra những
câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ
để sinh viên dễ hiểu, dễ nhớ Phương
pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự
hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
- Vấn đáp tìm tòi như là giảng viên
dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp
hợp lý để hướng sinh viên kích thích sự ham hiểu biết của mình Giảng viên tổ chức sự trao đổi ý kiến, tranh luận giữa giảng viên với cả lớp nhằm giải quyết vấn
đề đã đặt ra Trong vấn đáp tìm tòi, giảng viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn sinh viên giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, sinh viên có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm
một bước về trình độ tư duy
3.3.3 Phương pháp hoạt động nhóm (Group based Learning)
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 5 đến 7 người Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, Khi làm việc nhóm, các thành viên phải làm việc theo qui định do giảng viên đặt
ra hoặc do chính nhóm đặt ra Các thành viên đều phải làm việc chủ động, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu
ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Khi có một nhóm nào lên thuyết trình, các nhóm còn lại phải đặt ra các câu hỏi phản biện hoặc câu hỏi đề nghị làm sáng tỏ vấn đề Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giảng viên
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giảng viên phải biết tổ chức hợp lý và sinh viên đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Trong hoạt động nhóm, tư duy
Trang 5tích cực của sinh viên phải được phát huy
và ý nghĩa quan trọng của phương pháp
này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các
thành viên trong tổ chức lao động
3.2.4 Phương pháp đóng vai (Role
playing)
Đóng vai là phương pháp tổ chức
cho sinh viên thực hành một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định
Trên thực tế, phương pháp đóng vai có
một số ưu điểm như sinh viên được rèn
luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và
bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn
trước khi thực hành trong thực tiễn, gây
hứng thú và chú ý cho sinh viên và tạo
điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của
sinh viên, khích lệ sự thay đổi thái độ,
hành vi của sinh viên theo chuẩn mực
hành vi đạo đức và chính trị - xã hội Có
thể thấy ngay tác động và hiệu quả của
lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
Cách tiến hành phương pháp này giảng
viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai
cho từng nhóm và quy định rõ thời gian
chuẩn mực, thời gian đóng vai Các nhóm
thảo luận chuẩn bị đóng vai Khi sử dụng
phương pháp này giảng viên nên cho tình
huống mở, không cho trước “kịch bản”, lời
thoại Phải dành thời gian phù hợp cho các
nhóm chuẩn bị đóng vai Người đóng vai
phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập
đóng vai để không lạc đề Nên khích lệ cả
những sinh viên nhút nhát tham gia Nên
hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính
hấp dẫn của trò chơi đóng vai
Phương pháp này có thể giúp đạt
được chuẩn đầu ra như: Tư duy suy xét,
phản biện; nhận biết về kiến thức, kỹ
năng và thái độ cá nhân của bản thân
3.2.5 Phương pháp đặt và giải quyết
vấn đề (Problem based learning)
Mục tiêu của học dựa trên vấn là để
học nhiều hơn về một chủ đề chứ không
phải là chỉ tìm ra những câu trả lời đúng
cho những câu hỏi được giảng viên đưa ra
(Hmelo-Silver, 2004) Trong phương pháp
học dựa trên vấn đề, sinh viên vừa nắm
được kiến thức mới, vừa nắm được
phương pháp lĩnh hội kiến thức đó, phát triển tư duy chủ động, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh (Hmelo-Silver, 2004)
Muốn tạo được một môi trường học tập năng động và hấp dẫn trong đó có sự phối hợp tích cực của thầy và trò Việc áp dụng phương pháp với vai trò là người điều khiển trong quá trình dạy học, người dạy phải tạo ra mọi tình huống, mọi khả năng để hướng dẫn các hoạt động của người học trong giờ học Người dạy cần vận dụng mọi thao tác và phương tiện, cử chỉ điệu bộ để tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao tiếp Các phương tiện dạy học được phát huy triệt để
3.3 Một số kiến nghị đối với nhà trường
Nhà trường cần trang bị đầy đủ phương tiện phù hợp với điều kiện giảng dạy đặc thù cho giờ học tiếng Anh, trang thiết bị nghe nhìn, internet đảm bảo chất lượng phục vụ cho việc giảng dạy và học tập trực tuyến trên lớp Sĩ số lớp phù hợp không quá 30 sinh viên/lớp
Tăng thêm thời lượng cho môn tiếng Anh trên lớp ít nhất là 180 tiết tương đương (12 tín chỉ)
Tiếp tục phát huy việc khảo sát, kiểm tra, đánh giá, phân loại trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên năm thứ nhất bậc đại học để định hướng kế hoạch xếp lớp theo năng lực và trình độ tiếng Anh của sinh viên từ đó lên kế hoạch bồi dưỡng kịp thời để sinh viên có thể đủ kiến thức tiếp tục tham gia vào học tiếng Anh chính khóa đồng thời giúp sinh viên nhận biết trình độ tiếng Anh hiện có ý thức để định hướng và có sự chuẩn bị tốt hơn Phối hợp các đối tượng tình nguyện viên bản ngữ của các tổ chức quốc tế tham gia vào câu lạc bộ tiếng Anh để sinh viên có cơ hội tiếp cận và sử dụng tiếng Anh ngoài lớp
Tăng thêm giáo trình và tài liệu tham khảo tiếng Anh ở thư viện hỗ trợ cho
Trang 6sinh viên có điều kiện nâng cao năng lực
ngôn ngữ
Mỗi năm Nhà trường cần tạo điều
kiện cho giảng viên tiếng Anh có cơ hội đi
học tập, bồi dưỡng nghiên cứu chuyên
môn, năng lực ngôn ngữ ở các nước bản
ngữ
IV Kết luận
Tóm lại, để giúp sinh viên đạt chuẩn
đầu ra theo bộ giáo dục đào tạo quy định,
cả tập thể lãnh đạo nhà trường, giảng
viên ngoại ngữ cùng tất cả các sinh viên
đại học trong trường phải nổ lực hết sức
và quyết tâm cao Sinh viên phải tự học
và biết chủ động nỗ lực trong học tập khi
thực hiện lộ trình trên là yếu tố quan
trọng hàng đầu Với giảng viên cho thấy
giảng dạy với phương pháp phù hợp như
chú trọng hướng dẫn thực hiện các bài tập trau dồi kỹ năng, luyện chiến thuật học nghe, nói, đọc, viết là phương châm chủ đạo trong quá trình giảng dạy môn học Đối với nhà trường, lộ trình đạt chuẩn bậc
3 đối với sinh viên là một yếu tố quan trọng Để tối đa hiệu quả là tính đồng bộ,
và nhất quán trong cách tổ chức thực hiện mục tiêu này, không thể thiếu sự hỗ trợ từ phía nhà trường với sự cải tiến và trang bị mới các thiết bị hỗ trợ dạy và học ngôn ngữ Nếu đảm bảo được tính đồng bộ của các hoạt động dạy, học, sự quyết tâm cao
từ phía nhà trường, giảng viên và sinh viên, chúng tôi tin rằng việc đào tạo sinh viên ở Trường ĐHXD Miền trung có trình
độ năng lực ngoại ngữ đạt chuẩn bậc 3 như quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bachman, L.F & Palmer, A.S, 1996.Language Testing in Practice OUP
2 Ngô Doãn Đãi, 2001.Đa dạng hóa phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo, Tài liệu tham
khảo phương pháp giảng dạy đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 N.T.T.Hà & V.Đ.Phước, 2007 Làm thế nào để có được hiệu quả đào tạo tiếng Anh trong chương trình chính quy không chuyên tại ĐHKT TP Hồ Chí Minh trong cuốn Giảng dạy tiếng Anh ở bậc đại học tại Việt Nam: Vấn đề
và giải pháp NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
4 Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, 2008 Lý luận dạy học Đại học, NXB Đại học Sư phạm
5 Nguyễn Đình Hòe, 2001 Cải tiến phương pháp giảng dạy đại học nhằm thích ứng với nền kinh tế tri thức Tài
liệu tham khảo phương pháp giảng dạy đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội
6 PGS TS Trần Văn Hiếu, 2015 Giáo trình lí luận dạy học đại học
7 TS Nguyễn Thanh Hùng, 2016 Bài giảng l í luận dạy học đại học
8 Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), 1998 Quá trình dạy - tự học; NXB Giáo dục
9 Thái Duy Tuyên, 1999 Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại; NXB Giáo dục
10 Thái Duy Tuyên, 2008 Phương pháp dạy học - Truyền thống và đổi mới NXB Giáo dục