1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại trung tâm công tác xã hội trẻ em tại việt nam

115 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhưng hầu hết các nghiên cứu này chỉ đề cập đến từng khía cạnh nhất định của dịch vụ công bảo vệ chăm sóc trẻ em, chưa phân tích về bản chất, đặc trưng của dịch vụ công trong lĩnh vực bả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ -/ - /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐẶNG THỊ HÀ

CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TRONG BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC

XÃ HỘI TRẺ EM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

XÃ HỘI TRẺ EM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Bùi Huy Khiên

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu độc lập của bản thân Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi số liệu nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đặng Thị Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép em được gửi

lời cảm ơn đến PGS.TS Bùi Huy Khiên - người đã truyền cho em lòng say

mê, tinh thần làm việc nghiêm túc và nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, các cô đang công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cho

em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Em xin chân thành cảm ơn thầy, cô đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ

em trong quá trình học tập, nghiên cứu

Em xin gửi lời cảm ơn tới các cô, các chú, các anh chị hiện đang công tác tại Cục Trẻ em đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người luôn chia sẻ, động viên và giúp đỡ em trong những lúc khó khăn

Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài, nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy

cô để khóa văn của em được hoàn thiện và chất lượng hơn

Hà Nội, ngày… tháng… năm 201

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TRONG BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM 11

1.1 Một số khái niệm cơ bản 11

1.1.1 Trẻ em 11

1.1.2 Bảo vệ trẻ em 11

1.1.3 Dịch vụ bảo vệ trẻ em 12

1.1.4 Trung tâm công tác xã hội trẻ em 13

1.1.5 Dịch vụ công trong bảo vệ và chăm sóc trẻ em 14

1.2 Các loại dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em 16

1.2.1 Dịch vụ hành chính công 16

1.2.2 Dịch vụ sự nghiệp công 16

1.2.3 Dịch vụ công cộng 16

1.3 Đặc điểm dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em 19

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em 21

1.4.1 Môi trường chính trị, pháp lý 21

1.4.2 Khả năng cung ứng dịch vụ của chủ thể cung ứng 22

1.4.3 Mức độ đòi hỏi của khách hàng 23

1.4.4 Các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật 23

1.4.5 Quy trình cung ứng dịch vụ 24

Trang 6

1.5 Mô hình cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em của

một số nước và địa phương 24

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em 24

1.5.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em 27

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2 THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TRONG BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TRẺ EM Ở VIỆT NAM 33

2.1 Giới thiệu về Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam 33

2.1.1 Khái quát chung về Trung tâm 33

2.1.2 Các loại dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em của Trung tâm 36

2.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam 39

2.2.1 Thực trạng công tác phòng ngừa (cấp độ 1); tư vấn can thiệp sớm (cấp độ 2); can thiệp trợ giúp, phục hồi (cấp độ 3) và hỗ trợ khẩn cấp 41 Các trường hợp quản lý 51

2.2.2 Thực trạng hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn 55

2.2.3 Thực trạng công tác giao ban kết nối mạng lưới 57

2.2.4 Thực trạng công tác kết nối cung cấp các dịch vụ bảo vệ chăm sóc trẻ em 57

2.2.5 Thực trạng công tác chăm lo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong các dịp lễ tết 58

2.2.6 Nuôi dưỡng chăm sóc tạm thời 58

2.2.7 Thực trạng công tác phối hợp triển khai thực hiện các dự án liên quan đến lĩnh vực bảo vệ chăm sóc trẻ em 62

Trang 7

2.3 Đánh giá chung thực trạng cung cấp dịch vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ

em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam 65

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 65

2.3.2 Những hạn chế 66

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 69

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO DỊCH VỤ CÔNG TRONG BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TRẺ EM Ở VIỆT NAM 72

3.1 Phương hướng nâng cao dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam 72

3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 72

3.1.2 Phương hướng nâng cao dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam 74

3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam 76

3.2.1 Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành Đảng, Nhà nước vơí sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội 76

3.2.2 Hoàn thiện các thủ tục và đổi mới quy trình cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại các Trung tâm công tác xã hội trẻ em 77

3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức và thay đổi hành vi bảo vệ trẻ em của gia đình, xã hội 78

3.2.4 Củng cố đội ngũ, nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức, cộng tác viên làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em 78

3.2.5 Về thể chế, chính sách dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em 79

3.2.6 Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em 80

Trang 8

3.2.7 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh

vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em 81

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Hoạt động cung cấp dịch vụ can thiệp và hỗ trợ giai đoạn năm 2012 -

2017: 51

Bảng 2.2 Tình hình thực hiện nuôi dưỡng các đối tượng tại nhà xã hội 62

năm 2010 tại 6 tỉnh 62

Bảng 2.3 Hoạt động tại tỉnh dự án xây dựng và phát triển 64

Bảng 2.3.1 Truyền thông 64

Bảng 2.3.2 Tập huấn 64

Bảng 2.3.3 Công tác tư vấn 64

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVCSTE

CTXH

Bảo vệ chăm sóc trẻ em Công tác xã hội

Trang 11

MỞ ĐẦU

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước Trẻ em khi sinh ra đều có quyền được hưởng sự thương yêu, chăm sóc của bố mẹ, cộng đồng Nhưng vẫn c n rất nhiều trẻ em vì hoàn cảnh gia đình phải bỏ học để đi làm thêm phụ giúp gia đình, lang thang kiếm sống rồi nảy sinh ra các tệ nạn

xã hội như trộm cắp, hút chích, bị lạm dụng sức lao động, bị xâm hại tình dục…Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã giúp nền kinh tế Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, GDP liên tục tăng trưởng ở mức cao và tương đối ổn định Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc, phụ nữ và trẻ em Bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế, Việt Nam cũng đạt những kết quả đáng ghi nhận về xã hội, trong đó có mục tiêu vì trẻ em giai đoạn 2001-2010 về cơ bản đã đạt và vượt kế hoạch Song cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng Nhiều trẻ

em đã phải bỏ học để tự kiếm sống và giúp đỡ gia đình Một số trẻ em may mắn hơn khi không phải bỏ học thì phải chọn cho mình một công việc nào đó

để tự lo liệu tiền trang trải việc học tập của mình

Trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách hành chính hiện nay thì việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em

là hết sức cần thiết Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập yêu cầu các đơn vị quy định rõ mặt tài chính, các danh mục dịch vụ công được ban hành và các tiêu chí cụ thể Luật trẻ em năm 2016 ra đời có quy định chi tiết về các dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em vì vậy cần làm rõ các loại hình dịch vụ công để từ đó nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ công Vì vậy, cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn, nhiều chính sách trợ giúp trẻ em được triển khai đạt hiệu

Trang 12

quả Các hoạt động bảo vệ trẻ em bước đầu được triển khai thực hiện ở cả 3 cấp độ: phòng ngừa; can thiệp giảm thiểu các nguy cơ; hỗ trợ phục hồi, hòa nhập cho trẻ em bị tổn thương và hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, kết quả thực hiện các mục tiêu bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đến nay chưa đạt theo kết quả mong muốn, trong số 36 chỉ tiêu đặt ra thì có tới 14 chỉ tiêu chưa đạt, trong đó có tới 5 chỉ tiêu thuộc về Bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong đó có chỉ

tiêu về dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Xuất phát từ việc phân tích bản chất, đặc trưng của dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em để cho thấy rõ vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ công này ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, cán bộ không có chuyên môn về dịch vụ công nên cũng gặp khó khăn, chưa đảm bảo tính kịp thời nếu có nhiều trường hợp xảy ra cùng lúc phải can thiệp, việc theo dõi tư vấn can thiệp còn nhiều khó khăn chưa có các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn và quy định cụ thể, chi tiết trong việc cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho các trung tâm này

Nhằm giúp trẻ em có thể được đối xử bình đẳng, được thừa hưởng tất

cả những quyền lợi cho mình khi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội - chính trị, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách dịch vụ công trong bảo

vệ chăm sóc trẻ em Trong đó có: Luật trẻ em số 102/2016/QH13 được Quốc hội ký ban hành ngày 05/4/2016; Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em; Thông tư số 23/2010/TT-BLĐTBXH ngày 16/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục; Thông tư liên tịch số 181/2011/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 15/12/2011 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; …

Trang 13

Từ những nhận thức trên, với mong muốn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao hơn nữa dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ

em, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em tại Việt Nam" làm đề

tài nghiên cứu luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, đã có một số chương trình, đề tài, bài báo nghiên cứu về dịch vụ bảo vệ chăm sóc trẻ em như Chương trình quốc gia bảo

vệ trẻ em, lao động trẻ em, đánh giá về trung tâm phục hồi chức năng cho trẻ

em dựa vào cộng đồng, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, công tác xã hội đối với trẻ em nhưng hầu hết các nghiên cứu này chỉ đề cập đến từng khía cạnh nhất định của dịch vụ công bảo vệ chăm sóc trẻ em, chưa phân tích về bản chất, đặc trưng của dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em,

về vai trò, chức năng của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đảm bảo các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân và cộng đồng, cũng như cơ sở lý luận về dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em như:

- Báo cáo tóm tắt hoạt động của trung tâm công tác xã hội bảo vệ trẻ

em (1/2017-12/2017), Báo cáo đã đề cập đến các dịch vụ công cho trẻ em như

công tác phòng ngừa, công tác can thiệp sớm, công tác can thiệp phục hồi

- Báo cáo kết quả điều tra về lao động trẻ em tại 8 tỉnh, thành phố năm

2010 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổ chức Lao động quốc

tế tại Việt Nam (ILO), Báo cáo đã đề cập đến thực trạng về lao động trẻ em tại các tỉnh thành phố đặc trưng, đây là cơ sở để nhà nước có các giải pháp về lao động trẻ em;

Báo cáo kết quả nhiệm vụ năm 2016, phương hướng nhiệm vụ năm

2017 của Trung tâm công tác xã hội Thành phố Hải Phòng, Báo cáo đã đề

Trang 14

cập đến những kết quả đã đạt được và đưa ra các kiến nghị giải pháp cũng như đề xuất cho công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Báo cáo tóm tắt tình hình hoạt động của Trung tâm công tác xã hội trẻ

em thành phố giai đoạn 2015-2017 của Trung tâm công tác xã hội trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo đề cập đến công tác tư vấn can thiệp và hỗ

trợ khẩn cấp, công tác đào tạo truyền thông, công tác kết nối cung cấp các dịch vụ bảo vệ chăm sóc trẻ em

- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Tình hình lao động trẻ em- Thực trạng

và giải pháp” của TS Nguyễn Hải Hữu - Cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc

trẻ em thực hiện năm 2010 Đề tài đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng lao động trẻ em trong những năm 2010 và đưa ra các giải pháp căn bản về bảo vệ chăm sóc trẻ em;

- Kết quả điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012 của Bộ Lao

động- Thương binh và Xã hội, Tổng cục thống kê và Tổ chức lao động quốc

tế Đây là kết quả điều tra tổng hợp về lao động trẻ em ở tất cả các tỉnh, thành phố của Việt Nam;

- Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: “Đánh giá pháp luật

và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được sự giúp đỡ của Quỹ

Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tổ chức biên soạn năm 2009 Bản đánh giá đã phân tích các cơ chế chính sách, văn bản pháp luật của Việt Nam về trẻ

em, nhóm trẻ em bị thiệt th i ở Việt Nam nhằm kêu gọi sự giúp đỡ của tổ chức UNICEF;

- Chùm nghiên cứu về đề tài trẻ em (Viện nghiên cứu và phát triển xã

hội) trong đó đề cập đến vấn đề sức khỏe của trẻ em lao động sớm

- Báo cáo tình hình thực hiện Chỉ thị 20/CT-TW ngày 05/11/2012 của

Bộ chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, báo cáo đề cập đến một số

Trang 15

vấn đề hạn chế, ưu và nhược điểm trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em đồng thời đưa ra một số biện pháp khắc phục

Báo cáo về thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ năm 2012-2017 của Trung tâm công tác xã hội tỉnh Phú Yên, Báo cáo đã đưa ra được

các dịch vụ cơ bản về dịch vụ công trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Qua các đề tài và công trình nghiên cứu trên có thể hình dung ra bức tranh tổng quan về tình hình dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em hiện nay Một số đề tài, nghiên cứu đã đề cập đến một số kỹ năng thực hành dịch

vụ công đối với việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em bên cạnh đó đã đề cập đến một

số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Tại Việt Nam, khái niệm dịch vụ công lần đầu tiên được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VIII (năm 1999) chính thức ghi nhận với sự thận trọng cần thiết, thì đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khái niệm này hoàn toàn chiếm lĩnh tư duy của cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; tiếp sau đó Quốc hội khoá X đã thống nhất sử dụng khái niệm này trong việc quyết định các vấn đề về tổ chức và hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước khi thông qua Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001

Qua các cuộc hội thảo và các công trình nghiên cứu về dịch vụ công, có thể nhận thấy vẫn đang tồn tại những ý kiến khác nhau, chưa thống nhất, về phạm vi dịch vụ công, việc phân loại và tên gọi của các hoạt động dịch vụ công, các chủ thể và phương thức cung ứng dịch vụ công cũng như vấn đề xã hội hoá dịch vụ công Thậm chí còn có những ý kiến đánh giá trái ngược nhau

về các đặc trưng của dịch vụ công, nhất là về mô hình thí điểm dịch vụ hành chính công ở một số thành phố lớn

Việt Nam, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, cần thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước góp phần

Trang 16

xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Các nội dung của cải cách hành chính hướng vào xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu cơ bản, thiết yếu, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân Trong đó việc đổi mới vai trò, trách nhiệm của Chính phủ và bộ máy hành chính Nhà nước trong quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công gắn liền với chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ công thực sự

là một nhiệm vụ quan trọng cần phải tập trung giải quyết

Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch

vụ công với sự giám sát của cộng đồng như vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an, xóm phường” Nghị quyết Đại hội X tiếp tục khẳng định nhiệm vụ

“Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”

Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 –

2010 của Chính phủ đặt ra yêu cầu: “Xây dựng quan niệm đúng đắn về dịch

vụ công Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do

cơ quan Nhà nước trực tiếp đảm nhiệm Trong từng lĩnh vực cần định rõ những công việc mà Nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công việc cần chuyển giao cho các tổ chức xã hội đảm nhiệm”

Dịch vụ công (public services) là một khái niệm mới được du nhập vào nước ta trong những năm gần đây như một lĩnh vực hoạt động gắn với vai trò

và chức năng của Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ như: giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khoẻ, khoa học, công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, điện chiếu sáng công cộng… Đồng thời, trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em việc cung ứng các

Trang 17

dịch vụ công ngày càng đóng vai tr quan trọng cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Quan niệm, nhận thức về nội dung, đặc trưng, phạm vi của dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa rõ ràng, thống nhất, còn có

sự nhầm lẫn giữa hoạt động quản lý nhà nước với hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ chăm sóc trẻ em Quan điểm về xã hội hoá cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ chăm sóc trẻ em chưa đúng, chưa thấy

rõ vai trò của nhà nước và vai trò của các tổ chức cung cấp dịch vụ công, bao gồm cả tổ chức công lập và ngoài công lập; môi trường cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em giữa tổ chức công lập và ngoài công lập chưa bình đẳng còn có sự phân biệt đối xử Nhà nước thiếu các quy định

về tiêu chuẩn, quy chuẩn về cung cấp dịch vụ bảo vệ chăm sóc trẻ em, dẫn đến tình trạng không kiểm soát được chất lượng dịch vụ, đặc biệt là các dịch

vụ do các tổ chức ngoài công lập cung cấp, thậm chí trong quá trình cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn vi phạm quyền trẻ em

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động của trung tâm công tác xã hội để đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại các Trung tâm công tác xã hội

- Phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

Trang 18

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận văn nghiên cứu việc cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại một số Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam: Trung tâm công tác xã hội ở Phú Yên, Trung tâm công tác xã hội thành phố Hải Phòng, Trung tâm công tác xã hội trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm công tác xã hội bảo vệ và chăm sóc trẻ em Đồng Tháp, trung tâm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em An Giang

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em

5.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp phân tích và tổng hợp

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích để lý giải tính cấp thiết và ý nghĩa mà đề tài nghiên cứu đặt ra cho việc cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam Luận văn

Trang 19

phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em; phân tích làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, tạo cơ sở cho đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ này

Luận văn cũng sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm lược nội dung sau mỗi phần phân tích, đánh giá Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát vấn đề, tóm lược nội dung của từng mục và kết luận

b Phương pháp thống kê

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê trong chương 2 để có các số liệu cụ thể về thực trạng cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

c Phương pháp so sánh

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu thực trạng cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam so với yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính nhà nước để thấy chất lượng của cung cấp dịch vụ này; so sánh qua các năm, các thời kỳ để thấy điểm mạnh, điểm yếu và sự phát triển của cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

d Phương pháp điều tra xã hội học

Điều tra bằng bảng hỏi về thực trạng cung cấp dịch vụ công trong bảo

vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam vào trung tuần tháng 6 năm 2018 với tổng số phiếu phát ra là 500 phiếu và thu về

382 phiếu và số liệu sau khi tổng hợp được là 76.4%

Học viên đã điều tra bằng cách phát phiếu câu hỏi cho đối tượng là cán

bộ, công chức làm việc tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam và các đối tượng thụ hưởng dịch vụ công này (các cháu được nuôi dưỡng chăm sóc tại trung tâm và người thân của các cháu)

Trang 20

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: Khẳng định sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cung cấp

dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ

em ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta

- Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá một cách khách quan thực trạng cung

cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam, đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam trong những năm tới

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục; nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ,

chăm sóc trẻ em

Chương 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc

trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nâng cao dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc

trẻ em tại Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở Việt Nam

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG

TRONG BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM 1.1 Một số khái niệm cơ bản

* Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em: là một công ước quốc tế

quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em bao gồm 54 điều khoản Công ước đề ra các Quyền cơ bản của con người mà trẻ em trên toàn thế giới đều được hưởng và được Liên hiệp quốc thông qua năm 1989 Công ước đã được hầu hết các nước trên thế giới đồng tình và phê chuẩn Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Trong đó nêu bốn nhóm quyền chính của trẻ em là :

- Quyền được sống c n

- Quyền được bảo vệ

- Quyền được phát triển

- Quyền được tham gia

Việc phân chia bốn nhóm quyền này chỉ mang ý nghĩa tương đối, trên thực tế các nhóm quyền này có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau

1.1.2 Bảo vệ trẻ em

Là một thuật ngữ đề cập đến trách nhiệm của cả cha mẹ, người chăm sóc, gia đình, nhà nước và cộng đồng xã hội trong việc cung cấp dịch vụ để

Trang 22

đảm bảo mọi trẻ em trong xã hội đều được bảo đảm an toàn không phải lang thang kiếm sống, không phải lao động trong điều kiện tồi tệ, không phải làm việc xa gia đình; không bị bạo lực, không bị xâm hại tình dục, không bị ngược đãi, không bị sao nhãng, không vi phạm pháp luật…

1.1.3 Dịch vụ bảo vệ trẻ em

a) Dịch vụ là một dạng hoạt động mang tính chất hàng hóa hoặc phi

hàng hóa do nhà cung cấp dịch vụ thưc hiện nhằm cung cấp tới người sử dụng

về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó nhằm thỏa mãn hay đáp ứng nhu cầu của họ Tham gia vào quá trình “dịch vụ” này có người cung cấp dịch vụ và

có người sử dụng dịch vụ

b) Dịch vụ bảo vệ trẻ em

Là việc tổ chức thực hiện các hoạt động, đáp ứng yêu cầu can thiệp, trợ giúp nhằm thực hiện các mục tiêu của công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Dịch vụ bảo vệ trẻ em có năm trách nhiệm chính:

- Ph ng ngừa, ngăn chặn tổn hại xảy ra đối với trẻ em

- Giảm thiểu hoặc loại trừ những yếu tố dẫn đến việc trẻ em bị tổn hại

- Trợ giúp, phục hồi cho những trẻ em đã bị tổn hại

- Hỗ trợ gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc cho trẻ em

- Trợ giúp, phục hồi cho các gia đình và cộng đồng có trẻ em đã hoặc

có nguy cơ bị tổn hại

Dịch vụ bảo vệ trẻ em là một hợp phần của Hệ thống bảo vệ trẻ em có chức năng đáp ứng thực hiện các nội dung của công tác bảo vệ trẻ em, bao gồm:

+ Dịch vụ phòng ngừa (cấp độ 1): Ở cấp độ này, các dịch vụ chủ yếu tăng

cường nhận thức và kỹ năng cũng như xây dựng năng lực cho cộng đồng, xã hội, gia đình, người chăm sóc trẻ em và chính trẻ em về bảo vệ trẻ em

Các hoạt động chủ yếu ở đây là truyền thông, giáo dục, tư vấn, vận động nâng cao nhận thức, kỹ năng và thay đổi hành vi bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Trang 23

+ Dịch vụ can thiệp sớm (cấp độ 2): Ở cấp độ này, các dịch vụ vẫn mang tính phòng ngừa nhưng tập trung vào những nhu cầu cụ thể của nhóm đối tượng trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc bị tổn hại

Các hoạt động chủ yếu ở cấp độ này thường là những hỗ trợ nhằm cải thiện điều kiện sống cho nhóm trẻ em có nguy cơ như: tăng cường năng lực cho các gia đình, cộng đồng và chính bản thân trẻ em để giảm thiểu các yếu tố/nguy cơ dẫn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và bị tổn hại hoặc giảm thiểu mức độ tổn hại do các nguy cơ gây ra tổn hại Ví dụ: hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ gia đình nghèo; giáo dục kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các bậc cha mẹ có hành vi bạo hành, sử dụng rượu hay ma túy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

+ Dịch vụ trợ giúp phục hồi (cấp độ 3): Ở cấp độ này, các dịch vụ

hướng đến việc giải quyết các trường hợp trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột và sao nhãng; đồng thời trợ giúp cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi và tạo cơ hội cho các em tái hòa nhập cộng đồng

Các hoạt động chủ yếu: đảm bảo môi trường sống an toàn, ngăn chặn các nhân tố gây tổn hại cho trẻ em; chăm sóc y tế; hỗ trợ giáo dục, dạy nghề

và tạo việc làm cho trẻ em và gia đình của trẻ em; tìm gia đình chăm sóc thay thế trong trường hợp phải tách trẻ em ra khỏi gia đình Các dịch vụ cấp độ 3 cần được xây dựng dựa trên nhu cầu, bối cảnh cụ thể của từng trẻ em và phải dựa trên nguyên tắc ''lợi ích tốt nhất cho trẻ em"

1.1.4 Trung tâm công tác xã hội trẻ em

Công tác xã hội là ngành học thuật và hoạt động chuyên môn nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội góp phần đảm bảo nền an sinh xã hội

Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng cường năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận

Trang 24

dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề

Công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già ) Sứ mệnh của ngành công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu:

 Những rào cản trong xã hội

 Sự bất công

 Và sự bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng kinh tế

Trung tâm CTXH là mô hình mới được triển khai theo hướng CTXH chuyên nghiệp Việc xây dựng thành công các Trung tâm CTXH là cơ sở để Việt Nam chuyển đổi hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội sang hoạt động theo

mô hình cung cấp dịch vụ CTXH đối với người già, người tâm thần, bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Chính vì thế, việc đánh giá chất lượng dịch vụ CTXH, đánh giá hoạt động của các trung tâm này một cách khách quan trước khi nhân rộng ra toàn quốc là hết sức quan trọng và thiết thực

1.1.5 Dịch vụ công trong bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Theo từ điển Pet Larousse: Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung

do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm Định nghĩa này đã được

cả hai yếu tố liên quan đến dịch vụ công, song cụm từ "hoạt động vì lợi ích chung"phần nào c n chung chung chưa nêu lên được bản chất của loại dịch

vụ này, do đó không có sự phân biệt rõ nét dịch vụ công với các loại dịch vụ công thông thường khác

Tiến sĩ Jim Armstrong hiểu dịch vụ công theo một nghĩa rộng, bao gồm:

- Chính sách, pháp luật hoạt động liên Chính phủ, an ninh quốc gia, chủ trì các thể chế dân chủ cơ bản

Trang 25

- Các hoạt động lập quy, thi hành pháp luật

- Các hoạt động kết cấu hạ tầng

- Cung ứng phúc lợi xã hội

- Cung cấp thông tin và tư vấn

Theo quan điểm của TS Lê Chi Mai, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu hành chính thể hiện trong cuốn sách "Một số thuật ngữ hành chính" do nhà xuất bản Thế giới ấn hành tháng 12/2000, thì dịch vụ công là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung thiết yếu của xã hội

Như vậy, khái niệm dịch vụ công bao gồm một số loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác biệt nhau về tính chất, tuy nhiên, phân tích kỹ có thể thấy các loại dịch vụ này có hai điểm chung:

- Về tính chất sử dụng: các dịch vụ này đều phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của đông đảo nhân dân

- Về trách nhiệm bảo đảm dịch vụ cho xã hội: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội Chúng thuộc về chức năng quản lý của

bộ máy hành chính nhà nước để bảo đảm ổn định xã hội và các quyền hoặc nghĩa vụ cơ bản của con người Ngay cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai tr điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong cung ứng các dịch vụ này, nhằm khắc phục các khiếm khuyết của thị trường

Dựa vào những khái niệm về dịch vụ công như trên, có thể hiểu khái niệm dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em như sau: "Dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền cơ bản của trẻ em do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho các tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em"

Trang 26

1.2 Các loại dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Dựa vào bản chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể phân chia dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em thành 3 loại cơ bản như sau:

Đối tượng cung ứng duy nhất của các dịch vụ công nay là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công (cấp giấy khai sinh, thẻ bảo hiểm y tế, hộ khẩu, công chứng, )

Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu trên thị trường mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí theo cơ quan hành chính nhà nước Phần tỉ lệ này mang tính chất hỗ trợ ngân sách nhà nước

em, các khu học tập và rèn luyện…

1.2.3 Dịch vụ công cộng

Các dịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu và quyền lợi cơ bản của trẻ em trong việc hưởng thụ của cải vật chất và tinh thần của xã hội Dịch

Trang 27

vụ công cộng hàm ý là các dịch vụ phục vụ chung của cả cộng đồng Các dịch

vụ công cộng lại có thể phân chia thành dịch vụ hạ tầng xã hội và dịch vụ hạ tầng kinh tế - kỹ thuật:

- Dịch vụ hạ tầng xã hội liên quan đến những nhu cầu và quyền lợi cơ bản đối với sự phát triển của trẻ em cả về thể lực và trí lực như y tế, giáo dục, văn hóa thông tin

- Dịch vụ hạ tầng kinh tế - kỹ thuật là dịch vụ gắn với các nhu cầu vật chất phục vụ lợi ích chung của xã hội, bao gồm cung ứng điện, nước, giao thông vận tải, thông tin xây dựng trường học, trạm y tế

Tại Quyết định số 1508/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong đó có nhóm dịch vụ trợ giúp xã hội và bảo vệ chăm sóc trẻ em gồm:

- Dịch vụ chăm sóc đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp theo Điều 5 Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội, gồm: Sơ cấp cứu và chăm sóc sức khỏe ban đầu; cung cấp chỗ ở tạm thời; cung cấp thực phẩm, thức ăn; cung cấp quần áo và các vật dụng sinh hoạt thiết yếu:

hỗ trợ tâm lý; trị liệu; phục hồi thể chất và các dịch vụ cần thiết khác

- Dịch vụ chăm sóc dài hạn cho đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội gồm: sàng lọc và tiếp nhận đối tượng; đánh giá nhu cầu chăn sóc trung hạn hoặc dài hạn; kiểm tra và chăm sóc sức khỏe ban đầu, xây dựng kế hoạch chăm sóc; tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc; cung cấp chỗ ở, thức ăn, quần áo và các vật dụng thiết yếu phục vụ sinh hoạt; quản lý đối tượng; xác minh, tiếp xúc với gia đình của đối tượng; hỗ trợ đối tượng trở về gia đình, cộng đồng; tổ chức giáo dục, dạy nghề, dạy kỹ năng sống, vật lý trị liệu, lao động trị liệu, trị

Trang 28

liệu tâm lý, phục hồi chức năng, tổ chức các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí; chăm sóc y tế; tư vấn, trợ giúp đối tượng trở về gia đình, cộng đồng

Dịch vụ công tác xã hội và chăm sóc bán trú cho đối tượng theo quy định tại Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không c n nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020 Đối tượng quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội thuộc đối tượng bảo trợ xã hội Đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 gồm: dịch vụ công tác xã hội; dịch vụ tư vấn, tham vấn; trị liệu, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; trợ giúp pháp

lý, hòa giải; vận động nguồn lực; kết nối; chuyển tuyến; phòng ngừa, ngăn chặn đối tượng bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi hoặc có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn khác; hoạt động can thiệp; hỗ trợ đối tượng hòa nhập cộng đồng; quản lý đối tượng; giáo dục xã hội và nâng cao năng lực; phát triển cộng đồng; tư vấn, truyền thông; dịch vụ chăm sóc, nhận nuôi; dịch vụ tuyển chọn, tư vấn, nâng cao năng lực và phát triển mạng lưới gia đình, cá nhân nhận chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội có thời hạn; đánh giá nhu cầu, lập hồ sơ đối tượng bảo trợ xã hội có thời hạn của gia đình, cá nhân; đánh giá, chứng nhận điều kiện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng của gia đình, cá nhân đăng ký; tập huấn nâng cao năng lực gia đình, cá nhân nhận chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng đủ điều kiện; hỗ trợ tâm lý cho đối tượng; đưa đối tượng về gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; kiểm tra, theo dõi việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ chăm sóc bán trú

Trang 29

- Dịch vụ cung cấp tại Trung tâm: Đánh giá tình trạng ban đầu và nhu cầu của đối tượng; nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe; phục hồi thể chất; dạy kỹ năng sinh hoạt hàng ngày; chuẩn bị các kỹ năng học đường; dạy kỹ năng sống; tổ chức các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí; phục hồi chức năng; dạy nghề; trị liệu tâm lý; vật lý trị liệu;

- Dịch vụ được cung cấp tại gia đình: Thăm, khám sức khỏe và đánh giá nhu cầu của đối tượng theo yêu cầu; phục hồi chức năng; trị liệu; tư vấn; tham vấn, chăm sóc

1.3 Đặc điểm dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em là những hoạt động thiết yếu, đáp ứng nhu cầu chung của mọi trẻ em Ví dụ: Các bệnh viện được lập ra để chăm sóc sức khỏe của người dân và các cộng đồng dân cư nhất định, trong đó có trẻ em Trường học được mở ra để đáp ứng nhu cầu giáo dục, đào tạo của trẻ em Các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, các hoạt động tư vấn, tham vấn, trị liệu, các hoạt động cung cấp điện, nước, lương thực - thực phẩm, các công trình hạ tầng cơ sở, cũng vậy, đều nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi trẻ em Các hoạt động này đều có tính chất xã hội, phục vụ lợi ích chung cho cộng đồng, trong đó có đối tượng thụ hưởng là trẻ em, là những hoạt động không thể thiếu bởi nó đáp ứng nhu cầu thiết yếu, cơ bản của đời sống bình thường cho trẻ em

- Dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em do Nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm cung cấp

- Có những dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em có thể

do tư nhân hay các tổ chức xã hội trực tiếp cung cấp một phần hay toàn bộ, nhưng vai tr của Nhà nước vẫn là quyết định, trách nhiệm của Nhà nước là chủ yếu: thực tế cho thấy, người trực tiếp cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em không chỉ là các cơ quan Nhà nước mà còn

có cả tư nhân hay các tổ chức xã hội khác

Trang 30

- Trên thực tế ở nước ta hiện nay, xét tại thời điểm này, mặc dù đang có

sự thay đổi, Nhà nước vẫn là người cung cấp chủ yếu với các loại dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em Việc xã hội hóa một số lĩnh vực hoạt động như giáo dục, y tế, văn hóa; việc thuê khoán một số khâu trong hoạt động hành chính làm chuyển một số khâu nhất định của dịch vụ công thành dịch vụ thông thường, do xã hội, tư nhân trực tiếp cung cấp

- Dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em không tuân theo

cơ chế thị trường đầy đủ, không vì mục tiêu lợi nhuận: quan hệ giữa người cung cấp và người được hưởng dịch vụ không phải là quan hệ mua bán như đối với hàng hóa, dịch vụ thông thường và việc trao đổi dịch vụ cũng không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ, tuy có chịu tác động nhất định của thị trường Giống như các dịch vụ thông thường, người được hưởng dịch vụ là trẻ

em thì cha mẹ, người giám hộ cũng phải trả tiền cho người cung cấp, nhưng với nhiều loại giá khác nhau, nhiều cách thanh toán khác nhau Có những loại dịch vụ cha mẹ, người giám hộ phải trả 1 phần hay toàn bộ theo giá thị trường, nhưng chủ yếu là phải trả giá theo quy định của nhà nước Có những loại dịch vụ cha mẹ, người giám hộ phải thanh toán trực tiếp một phần hoặc toàn bộ kinh phí, nhưng chủ yếu vẫn là hình thức thanh toán gián tiếp bằng cách đóng thuế cho nhà nước Dù phải trả theo giá thị trường hay giá quy định của Nhà nước, dù là thanh toán trực tiếp hay gián tiếp, trả 1 phần hay toàn bộ kinh phí thì quan hệ giữa người cung cấp và người được hưởng như quan hệ giữa Nhà nước và trẻ em, trong đó nhà nước có trách nhiệm bảo đảm việc cung cấp, đáp ứng nhu cầu của trẻ em

- Dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em thường xuyên có

sự biến đổi về hai phía: hoạt động dịch vụ phục vụ không vì mục tiêu lợi nhuận và dịch vụ thông thường: Nằm giữa hai cực, một bên là hoạt động dịch

vụ không vì mục tiêu lợi nhuận, một bên là dịch vụ thông thường, dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em có phạm vi hoạt động rất rộng và

Trang 31

linh hoạt Có những dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em rất gần với hoạt động dịch vụ không vì mục tiêu lợi nhuận như dịch vụ trợ giúp

xã hội, chăm sóc xã hội, dịch vụ về đường xá, xây dựng công trình vệ sinh trong trường học, có những dịch vụ lại gần với dịch vụ thông thường như vận tải, cung cấp nước sạch, điện, y tế, giáo dục, vui chơi giải trí…

- Dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em mang tính chất đặc thù bởi vì trẻ em là đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc Các dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em cần phù hợp với trình độ, năng lực, lứa tuổi của trẻ em Hiện nay có hơn 26 triệu trẻ em, chiếm 1/3 dân số, chính vì vậy, đầu tư dịch vụ công dành cho trẻ em thực sự rất cần thiết, đây là nguồn đầu tư rất tiềm năng đối với các thế hệ tương lai của đất nước

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

1.4.1 Môi trường chính trị, pháp lý

Môi trường chính trị, pháp lý, đó là sự ổn định chính trị, môi trường chính sách, sự tôn nghiêm của pháp luật, các thể chế pháp luật,… Sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán và thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đối với hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công của cơ quan HCNN là rất cần thiết Ở đơn vị nào mà công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Đảng và chính quyền liên tục, quyết liệt thì đơn vị đó sẽ có được chất lượng, hiệu quả làm việc cao nhất

Thể chế HCNN là một hệ thống gồm các luật, văn bản pháp quy, tạo khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy HCNN, cho chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý HCNN Một mặt, thể chế HCNN tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ hành chính công và thực hiện dịch vụ này Mặt khác, thể chế HCNN cũng là cơ sở để xây dựng mối quan hệ cụ thể giữa cơ quan HCNN và công dân Tất cả các hoạt động thực hiện dịch vụ hành chính công của cơ quan HCNN đều phải chấp hành các quy

Trang 32

định của pháp luật Vì vậy, sự rõ ràng, chặt chẽ, tính hợp lý và khả năng thay đổi của thể chế hành chính để đáp ứng những đ i hỏi biến đổi nhanh chóng của thực tế đời sống là yếu tố quan trọng, góp phần đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan cung ứng dịch vụ hành chính công

1.4.2 Khả năng cung ứng dịch vụ của chủ thể cung ứng

Khả năng cung ứng dịch vụ hành chính công của chủ thể cung ứng bao gồm các yếu tố sau:

- Thầm quyền pháp lý: Thẩm quyền của mỗi cơ quan tham gia cung

ứng dịch vụ hành chính công đều do pháp luật quy định Đây chính là nguồn gốc của tình trạng độc quyền của các cơ quan HCNN Bởi vì khi mà mỗi cơ quan chỉ giải quyết một công việc, công dân và tổ chức không thể có quyền lựa chọn nơi nào chất lượng phục vụ tốt hơn Tình trạng độc quyền trong dịch

vụ hành chính công dễ gây ra sự quan liêu và giảm đi tính cạnh tranh của các

tổ chức cung ứng dịch vụ này

- Tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ hành chính công: Hoạt động cung

ứng dịch vụ hành chính công cũng không thể tiến hành được nếu không có một bộ máy đứng ra đảm nhận trách nhiệm thực thi Các yếu tố tổ chức, vận hành cũng như sự hợp lý của bộ máy HCNN ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả

và chất lượng dịch vụ hành chính công Bộ máy được tổ chức gọn nhẹ và hợp

lý sẽ giúp giải quyết công việc tốt hơn, thực hiện các giao dịch hành đơn giản

và nhanh gọn, hiệu suất và hiệu quả sẽ cao hơn Và ngược lại, nếu bộ máy chồng chéo về chức năng, thiếu sự rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm sẽ là rào cản đối với hoạt động của bộ máy đó, vì thế sẽ trực tiếp làm hạn chế chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công và các dịch vụ công khác cho nhân dân Mọi cải tiến về cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn liền với sự cải cách của bộ máy tham gia vào cung ứng dịch vụ đó

- Chất lượng nguồn nhân lực: Đội ngũ cán bộ, công chức là nhân sự

trực tiếp tổ chức và tiến hành mọi hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính

Trang 33

công Do đó, trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo điều hành, đạo đức công

vụ, ý thức tự giác, tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của họ sẽ trực tiếp quyết định đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động này Cán bộ, công chức cũng là đại diện cho chính quyền trong mối quan hệ với công dân và tổ chức Vì vậy, hình ảnh của họ trực tiếp thể hiện bộ mặt của nền hành chính nhà nước

1.4.3 Mức độ đòi hỏi của khách hàng

Hầu hết các khách hàng, công dân và tổ chức đến giao dịch tại cơ quan hành chính của huyện đều mong đợi hồ sơ của mình được giải quyết nhanh nhất theo đúng nguyện vọng Tuy nhiên, một số người lại không nắm rõ được các thủ tục hành chính cần thiết và quy trình giải quyết hồ sơ, do đó thường phải đi lại 2 hoặc 3 lần để hoàn thiện hồ sơ Đây cũng chính là lý do thuộc về

phía người dân chưa tìm hiểu cụ thể quy trình, thủ tục cần giải quyết

Trong xu thế chung hiện nay trên toàn cầu, giai đoạn phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế thị trường, khách hàng được xem như người dẫn dắt các tổ chức kể cả tổ chức nhà nước Khách hàng mang tính đa dạng, đ i hỏi gia tăng

và khó dự đoán về nhu cầu cũng như những đ i hỏi của họ Những động thái như sự quan tâm mong đợi của khách hàng về chất lượng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ công được nâng cao, sự công bằng, cởi mở và trách nhiệm,… luôn là những đơn hàng, trở thành những nhu cầu cần đáp ứng, do đó nó trở thành áp lực không chỉ với mọi tổ chức, đặc biệt là với các tổ chức HCNN

1.4.4 Các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật

Hệ thống cơ sở hạ tầng, kỹ thuật có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của mọi tổ chức, mọi sản phẩm chỉ có thể có chất lượng tốt khi người tạo ra nó có đầy đủ những yếu tố thiết yếu và chất lượng tốt Cơ sở hạ tầng gồm nhà cửa, thiết bị, công cụ, thông tin và các phương tiện kỹ thuật khác, ; nhất là những trang thiết bị tại phòng tiếp dân - nơi người dân tiếp xúc trực tiếp với cơ quan công quyền thông qua đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nếu phòng tiếp công dân rộng rãi, đảm bảo được các yếu tố như:

Trang 34

ánh sáng, màu sắc, kiểm soát tiếng ồn, nhiệt độ, độ ẩm sẽ tạo cảm giác thoải mái cho người dân khi đến làm việc với cơ quan nhà nước Như vậy, cơ sở hạ tầng là một yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng dịch vụ hành chính công và cũng

là một nhóm tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ này

1.4.5 Quy trình cung ứng dịch vụ

Với việc triển khai mô hình “một cửa”, giải quyết công việc của các tổ chức và công dân đảm bảo yêu cầu đề ra, đáp ứng được đ i hỏi về thời gian

và chất lượng phục vụ, các địa phương, đơn vị đều chú trọng đổi mới tổ chức

và quy trình hoạt động, sửa đổi chế độ làm việc, mối quan hệ công tác trong nội bộ cơ quan và giữa các cơ quan liên quan Đây là điểm mấu chốt, là nội dung chủ yếu có tính quyết định đến thành công của cơ chế “một cửa”

1.5 Mô hình cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một số nước và địa phương

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Hầu hết các quốc gia đều chú trọng phát triển hệ thống dịch vụ công trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em Cộng hoà liên bang Nga, Thuỵ Điển là những quốc gia có nhiều trung tâm công tác xã hội trẻ em nhất, riêng thành phố Stockhol của Thụy Điển, từ năm 2006 đã có tới 27 trung tâm CTXH với trẻ em, các trung tâm này được ngân sách của các quận cung cấp và đặt dưới

sự điều hành của các quận Đây là nơi các em và cha mẹ, người chăm sóc trẻ

em thường xuyên lui tới, nhất là trẻ em có vấn đề về tâm lý xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bị sao nhãng, bị xâm hại, bị bạo lực Ngoài giờ đi học các

em có thể đến trung tâm để được tư vấn, trị liệu tâm lí xã hội, được tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, thậm chí tạm lánh một vài ngày nếu môi trường gia đình có nguy cơ không an toàn Cán bộ CTXH thực hành tư vấn, tham vấn, trị liệu tâm lí xã hội cho cả trẻ em và cả cha mẹ, người chăm sóc trẻ

em tại trung tâm; ngoài ra họ còn thực hành các chuyến vãng gia để trợ giúp

Trang 35

các gia đình đang có vấn đề Trong trường hợp các chuyến đến thăm không thành công và ít nhất là 3 lần liên tục trong khoảng thời gian một tháng mà cha mẹ, người chăm sóc trẻ em vẫn không chuyển biến về nhận thức và hành động, trẻ em vẫn bị sao nhãng, có nguy cơ bị bạo lực, bị xâm hại thì nhân viên CTXH có thể báo cáo với cấp chính quyền địa phương ra văn bản triệu tập những người này đến ở trung tâm công tác xã hội dành riêng cho các gia đình có vấn đề xã hội, thời gian ít nhất là 3 ngày, một tuần, dài hơn có thể đến một tháng Trong quá trình ở trung tâm CTXH các gia đình c n được tham gia các buổi học tập, toạ đàm dành cho người lớn về tâm lý của trẻ em, kỹ năng chăm sóc trẻ, đặc biệt là kỹ năng ứng xử, chăm sóc trẻ em cá biệt…

Cộng hoà liên bang Nga cũng là một trong số những quốc gia phát triển mạnh mẽ mạng lưới tổ chức bảo vệ trẻ em, đặc biệt là các dịch vụ công trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em điển hình là bang Costonia, trong năm

2009, toàn bang chỉ có khoảng 1,1 triệu dân nhưng có tới 26 trung tâm CTXH trẻ em và có tới 700 cán bộ công tác xã hội, bình quân 1500 dân

có một cán bộ CTXH và khoảng 500 trẻ em có một cán bộ CTXH Họ thuộc biên chế và do các trung tâm CTXH trả lương nhưng vừa làm việc ở trung tâm vừa thực hành trực tiếp tại cộng đồng Đặc biệt, nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ bị tổn hại được quản lý và cập nhật thông tin quản lý hàng tháng, toàn bộ thông tin được kết nối mạng để phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành từ cơ quan bảo vệ chăm sóc trẻ em cấp tỉnh Nói chủ quan, việc áp dụng công nghệ thông tin quản lý trẻ em ở bang Costonia, có lẽ là tốt nhất thế giới Bên cạnh đó, việc tìm kiếm gia đình chăm sóc thay thế và ngăn ngừa nguy cơ trẻ em bị xâm hại, bạo lực, sao nhãng được các cán bộ CTXH đặc biệt quan tâm, vì ở bang này có khá nhiều bậc phụ huynh nghiện rượu, vì vậy trẻ em dễ rơi vào nguy cơ cao bị sao nhãng, bạo lực Việc đưa trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại vào các trung tâm chăm sóc nuôi

Trang 36

dưỡng tập trung chỉ là giải pháp cuối cùng và mang tính tạm thời khi mà trẻ

em chưa tìm được gia đình chăm sóc thay thế

Hồng Kông là một khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc, trong nhiều năm qua Hồng Kông đã mở rộng khá nhiều trung tâm CTXH với trẻ

em, trong đó có những trung tâm chuyên hỗ trợ trẻ em nghiện ma tuý, trung tâm trẻ em đường phố Theo kinh nghiệm của Hồng Kông, hầu hết trẻ em sử dụng ma tuý đều được cha mẹ, người chăm sóc trẻ em hoặc cán bộ CTXH, các thầy cô giáo phát hiện rất sớm, khi các em chỉ mới sử dụng trong v ng một đến hai tháng chưa đến mức nghiện nặng như ở Việt Nam, trẻ em sử dụng ma tuý được các trung tâm tư vấn, tham vấn, trị liệu tâm lý xã hội, tham gia hoạt động lao động, thể thao, các em cũng được nuôi dưỡng tập trung trong một khoảng thời gian nhất định xa môi trường gia đình, trong quá trình đó, trẻ em vẫn được học văn hoá bình thường do trung tâm đứng ra tổ chức Ghi nhận sau một thời gian khoảng 3-6 tháng các em lại được trở về môi trường cộng đồng thì đa phần không sử dụng lại ma tuý hoặc các chất gây nghiện khác

Trung tâm trẻ em đường phố ở Hồng Kông có nét rất khác biệt với Việt Nam và trẻ em lang thang ở đây cũng khác với nước ta Ở Việt Nam, khi nói đến trẻ em lang thang là nói đến nhóm trẻ phải bỏ nhà đi lang thang kiếm sống, nhưng ở Hồng Kông thì hoàn toàn khác, đây là nhóm trẻ em ham chơi, ban ngày các em vẫn đi học bình thường, nhưng vào buổi tối hoặc ban đêm các em thường tập trung lại với nhau để tổ chức các tr chơi trên đường phố như nhảy múa, ca hát, dance sport, trượt ba tanh, biểu diễn xe đạp nghệ thuật

và các tr chơi khác mà trẻ em Hồng Kông thích biểu diễn ở đường phố Trước tình hình đó, một trung tâm trẻ em đường phố ra đời nhằm thu hút trẻ

em, ở đây các em có thể được học, được hướng dẫn các tr chơi mà các em yêu thích, thậm chí cả những tr chơi khá mạo hiểm là leo vách núi, đi xe đạp một bánh… trung tâm c n tổ chức cho các em biểu diễn hoặc thi với nhau

Trang 37

Tất cả những hoạt động này đều được chú ý bảo đảm an toàn cho các em và đều có tổ chức quản lý điều hành chặt chẽ Trung tâm có mối quan hệ chặt chẽ với cảnh sát, ban đêm nếu phát hiện thấy trẻ em tổ chức các tr chơi theo nhóm ở các đường phố, cảnh sát báo về trung tâm để cử người đến thuyết phục và đón các em về Sự ra đời trung tâm đã giúp cho các em có được sân chơi an toàn và lành mạnh hơn, không phải tổ chức các tr chơi một cách tự phát gây mất trật tự an toàn đô thị Tuy vậy, ở Hồng Kông cũng có một số trẻ

em bất hoà với cha mẹ, người chăm sóc, chúng bỏ nhà đi chơi một vài ngày

và thường tập trung với nhau đi chơi trên đường phố, đối với những trẻ em này thì trung tâm trẻ em đường phố là nơi giúp các em tá túc tạm thời, bảo đảm cho các em sự an toàn trong những ngày xa cha mẹ, người chăm sóc Cũng tại trung tâm các em được tư vấn tham vấn, trị liệu tâm lý xã hội, tham gia các hoạt động văn hoá thể thao, các tr chơi mà các em yêu thích; sau một vài ngày khi các em tự cân bằng được suy nghĩ, các em lại trở về với ngôi nhà thân yêu của mình Trung tâm này c n có một cửa hàng nhỏ để các em tham gia bán hàng, và một tiệm ăn để các em nấu ăn, bán cho khách những xuất cơm trưa rẻ tiền, đây cũng là nguồn thu để các em giúp đỡ lẫn nhau khi xa nhà không có tiền ăn

Nói đến dịch vụ công trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em đối với các nước trên thế giới được quan tâm đặc biệt sâu sắc, nó không chỉ dừng lại

ở các dịch vụ công thông thường như dịch vụ cấp giấy khai sinh, thẻ bảo hiểm

y tế…các dịch vụ vui chơi, giải trí mà nó c n thể hiện ở các dịch vụ công chăm sóc đặc biệt khác như chăm sóc sức khỏe ban đầu…

1.5.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em

1.5.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trong những năm qua dịch vụ công nói chung và dịch vụ công trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại Đã Nẵng nổi bật lên là một thành phố phát

Trang 38

triển năng động nằm ven biển của nước ta Có được điều này là do chính quyền thành phố Đã Nẵng đẩy mạnh cải cách hành chính gần như trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đà Nẵng là đơn vị đi đầu về chất lượng cung ứng dịch

vụ hành chính công Trong những năm gần đây, có rất nhiều chính sách được đưa ra nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công Thành phố Đà Nẵng

c n là đơn vị đầu tiên trong cả nước thực hiện việc đánh giá xếp hạng cải cách hành chính hàng năm đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn thành phố thông qua một phần mềm trực tuyến tại địa chỉ www.cchc.danang.gov Việc đánh giá dựa trên các chỉ số cụ thể, qua đó phản ánh thực trạng từng đơn vị về khả năng, mức độ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

Sau 5 năm tiến hành, năm 2013 với cách làm có nhiều điểm mới, đặc biệt là bộ chỉ số theo dõi đánh giá xếp hạng cải cách hành chính được xây dựng đảm bảo tính khoa học, khách quan hơn đã đem lại cái nhìn tổng thể về công tác cải cách hành chính của thành phố, giúp các đơn vị tự nhìn nhận, biết được điểm mạnh, điểm hạn chế để có biện pháp cải thiện

Qua sự theo dõi và đánh giá của rất nhiều các chuyên gia trong nước và nước ngoài Đà Nẵng được gọi là thành phố “đáng sống” nhất Việt Nam bởi ở

đó người ta không chỉ nhìn thấy các dịch vụ phục vụ cho con người ngày một hoàn thiện hơn mà các dịch vụ công cũng ngày càng được nâng cao và mang lại nhiều lợi ích cho người dân hơn, bên cạnh đó dịch vụ công dành cho trẻ

em cũng được quan tâm sâu sắc và được Đảng Bộ cũng như chính quyền địa phương chú ý nhiều nhất

1.5.2.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đánh giá là một trong những đơn vị

đi đầu về công tác cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân Riêng trong công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công thì thành phố cũng là đơn vị đi đầu với những cải cách mang tính đột

Trang 39

phá Là đơn vị đầu tiên trong cả nước xây dựng cơ chế “một cửa điện tử” từ ngày 15/12/2008 tại địa chỉ www.hochiminhcity.gov.vn Thông qua hệ thống này, người dân biết được tình trạng giải quyết hồ sơ của toàn thành phố, của từng quận/huyện, từng sở, ngành “Một cửa điện tử” cung cấp thông tin một cách tự động và trực tuyến từ hệ thống công nghệ thông tin tại các đơn vị Người dân có thể dùng phương tiện liên lạc thông dụng nhất hiện nay là điện thoại để được trả lời tự động về tình trạng hồ sơ qua điện thoại, tin nhắn qua

“một cửa điện tử” “Một cửa điện tử” là công cụ hữu hiệu để người dân và lãnh đạo giám sát các dịch vụ hành chính công

Khi thực hiện công tác về dịch vụ công thành phố cũng đã chú ý nhiều đến dịch vụ công trong công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong báo cáo ngày

11 tháng 5 năm 2018 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm công tác xã hội trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra được rất nhiều những nhận xét cũng như đánh giá tiêu biểu về công tác dịch vụ công trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Trong báo cáo nhấn mạnh đến kết quả triển khai các hoạt động chuyên môn của Trung tâm trong giai đoạn 2015- 2017 và đề cập đến các vấn đề như công tác tư vấn can thiệp và hỗ trợ khẩn cấp; công tác kết nối cung cấp các dịch vụ bảo vệ chăm sóc trẻ em; công tác chăm lo cho trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt trong các dịp lễ tết…

1.5.2.3 Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu mà các địa phương trong cả nước

đã đạt được, nó đem lại nhiều bài học to lớn trong việc cung cấp dịch vụ công trong bảo vệ chăm sóc trẻ em Thành phố Hà Nội trong việc thi hành những biện pháp, cách làm phù hợp nhất với địa phương góp phần nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công cho nhân dân nói chung và trẻ em nói riêng, làm gia tăng niềm tin và sự hài lòng trong mỗi người dân và tổ chức Từ đó, có thể rút ra những bài học cơ bản sau:

Trang 40

Thứ nhất, xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ nhà nước đủ năng lực, có

khả năng đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới, có tinh thần thái độ, có trách nhiệm trong thực thi công vụ Bởi vì xét cho cùng thì đây chính là lực lượng quan trọng nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công

Thứ hai, tăng cường đầu tư xây dựng, thiết lập quy trình và phát triển

cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin đồng bộ; hiện đại hoá công sở nhằm nâng hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức và chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công cộng Trong thời đại bùng nổ thông tin, mạng internet phát triển, cùng với khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng như hiện nay là xu thế hội nhập quốc tế thì việc tăng cường đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở kỹ thuật hạ tầng phục vụ nền hành chính cần được coi như một trong các giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công

Thứ ba, tham khảo, thu thập ý kiến khách hàng để điều chỉnh chất

lượng cung ứng dịch vụ hành chính công Cần triệt để sử dụng phương pháp thu thập ý kiến khách hàng, phỏng vấn, thiết kế các bảng câu hỏi, tổ chức hội thảo…Từ đó, thiết kế hay điều chỉnh các dịch vụ, hướng tới thoả mãn cao nhất, sát nhất nhu cầu đa dạng của công dân Các kết quả đánh giá và đo lường đó sẽ là cơ sở giúp Chính phủ tìm ra những yếu kém và tiếp tục cải cách để phục vụ người dân tốt hơn Việc tham khảo, lấy ý kiến rộng rãi các bên liên quan khi cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ là bài học tham khảo tốt trong cải tiến các quy trình chất lượng cung ứng dịch vụ công

Thứ tư, thống nhất, kiên trì sự chỉ đạo kiên quyết của Lãnh đạo, Thủ

trưởng đơn vị Đây là yếu tố quan trọng góp phần thắng lợi sự nghiệp cải cách Từ kinh nghiệm của một số địa phương cho thấy sở dĩ việc tổ chức, thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công tại các địa phương này thành công là nhờ sự kiên quyết của Lãnh đạo, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Bởi vì, việc cải

Ngày đăng: 31/10/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w