1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện từ thực tiễn tỉnh hà nam

112 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào cho thấy thực trạng hoạt động báo cáo viên cũng như các yêu cầu về số lượng, chất lượng của đội ngũ báo cáo viên, là nguồn tài liệu tham

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành : Quản lý công

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ HẰNG

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, quý Thầy, Cô của Học viện hành chính Quốc gia đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Hằng, người

đã tận tâm giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo và cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Nam, Thành ủy Phủ Lý, Ban Tuyên giáo các huyện, thành phố; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trên địa bàn thành phố Phủ

Lý đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện giúp tôi thu thập tài liệu, thông tin để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi hạn chế, thiếu sót Kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Phạm Văn Quân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện - từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Học viên

Phạm Văn Quân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP HUYỆN 11

1.1 Các khái niệm cơ bản 11

1.1.1 Cấp huyện và đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 11

1.1.1.1 Khái niệm cấp huyện 11

1.1.1.2 Đội ngũ báo cáo viên cấp Huyện 14

1.1.2 Bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 17

1.1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng 17

1.1.2.2 Mục đích bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên cấp huyện 18

1.1.2.3 Yêu cầu bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên cấp huyện 21

1.1.2.4 Quy trình bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 26

1.1.2.5 Chủ thể quản lý đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 27

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 28

1.2.1 Các quy định của Đảng và Nhà nước về bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện 28

1.2.2 Nội dung, chương trình bồi dưỡng 30

1.2.3 Các yếu tố thuộc về cơ sở bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên 30

1.2.4 Các yếu tố thuộc về người học 31

1.3 Kinh nghiệm bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện của một số

Trang 6

địa phương trên cả nước và bài học rút ra cho tỉnh Hà Nam 32

1.3.1 Kinh nghiệm bồi dưỡng báo cáo viên tại tỉnh Hưng Yên 32

1.3.2 Kinh nghiệm bồi dưỡng báo cáo viên tại tỉnh Quảng Ninh 33

1.3.3 Bài học rút ra cho tỉnh Hà Nam 37

1.4 Nội dung bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 39

1.4.1 Nội dung bồi dưỡng ở trong nước 39

1.4.2 Nội dung bồi dưỡng ở ngoài nước: 39

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 41

2.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam 41

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42

2.1.3 Thực trạng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam 48

2.1.3.1 Về số lượng 48

2.1.3.2 Về chất lượng 50

2.2 Thực trạng về bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam (giai đoạn 2015 -2019) 58

2.2.1 Về hệ thống các quy định, quan điểm và định hướng bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 58

2.2.2 Về hệ thống cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên tham gia bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 60

2.2.3 Về hệ thống chương trình, hình thức, phương pháp bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 62

2.2.4 Về kinh phí bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện 63

2.3 Đánh giá về thực trạng bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện giai đoạn

Trang 7

2015 -2019 63

2.3.1 Những kết quả đạt được 63

2.3.2 Những hạn chế, yếu kém 66

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, bất cập 68

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 71

3.1 Xác định mục tiêu và nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam 71

3.1.1 Mục tiêu chung 71

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 71

3.1.3 Nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ báo cáo cáo viên cấp huyện 75

3.2 Phương hướng triển khai hoạt động bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam 77

3.2.1 Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng đối với hoạt động báo cáo viên 77

3.2.2 Quan tâm xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới 79

3.3 Những giải pháp cơ bản bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam 80

3.3.1 Nhóm giải pháp mang tính định hướng về công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động báo cáo viên 80

3.3.2 Giải pháp đối với các chủ thể quản lý bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên 85

3.3.2.1 Xác định nhu cầu 85

3.3.2.2 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện 85

Trang 8

3.3.2.3 Ban hành các chế độ khuyến khích, đãi ngộ cho báo cáo viên

cấp huyện 85

3.3.2.4 Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy và học cho báo cáo viên cấp huyện 86

3.3.2.5 Tăng cương công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên đối với hoạt động bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện 87

3.3.3 Giải pháp đối với cơ sở tham gia bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện 87

3.3.3.1 Nâng cao chất lượng ngũ giảng viên làm công tác bồi dưỡng báo cáo viên 87

3.3.3.2 Đổi mới về nội dung, chương trình bồi dưỡng 88

3.3.3.3 Đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực hóa các hoạt động học tập của báo cáo viên 88

3.3.4 Đổi mới công tác đánh giá kết quả bồi dưỡng bồi dưỡng báo cáo viên 90

3.3.5 Giải pháp đối với báo cáo viên cấp huyện tham gia các khóa bồi dưỡng 91

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 101

Trang 9

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Về giới tính, độ tuổi, trình độ lý luận và chuyên môn giành cho Báo cáo viên, tuyên truyền viên 49 Bảng 2.2: Khảo sát về nội dung thông tin mà báo cáo viên trình bày 51 Bảng 2.3: Khảo sát về niềm tin của báo cáo viên vào Đảng hiện nay 54

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Khảo sát về tƣ duy lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của báo cáo viên 50 Biểu đồ 2.2: Khảo sát về mức độ hiểu biết của báo cáo viên về các lĩnh vực đời sống xã hội 51 Biểu đồ 2.3: Khảo sát về khả năng thuyết trình của báo cáo viên cấp tỉnh, cấp huyện 52 Biểu đồ 2.4: Khảo sát về năng lực đối thoại của báo cáo viên cấp tỉnh, cấp huyện 52 Biểu đồ 2.5: Khảo sát về khả năng nắm bắt dƣ luận xã hội của Báo cáo viên cấp tỉnh, cấp huyện 53 Biểu đồ 2.6: Khảo sát về sự nhiệt huyết khi tham gia báo cáo viên 53 Biểu đồ 2.7: Khảo sát về tinh thần tự phê bình và phê bình của báo cáo viên 54 Biểu đồ 2.8: Khảo sát sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể các cấp đối với công tác bồi dƣỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Báo cáo viên là một hoạt động, là phương thức tiến hành công tác tư tưởng của Đảng, Nhà nước; là “mắt khâu quan trọng”, cầu nối gắn liền giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân và không thể tách rời trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng, Nhà nước Thời kỳ nào, hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền miệng của Đảng cũng nhằm mục đích thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng và toàn xã hội, động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân tự giác thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phổ biến thông tin chính trị, bình luận các thông tin nhằm chỉ ra nội dung chính trị và sự tác động của nó trong đời sống chính trị - xã hội, đồng thời tiến hành các hoạt động cổ vũ, động viên quần chúng hành động hình thành phong trào cách mạng rộng khắp góp phần to lớn vào việc ổn định chính trị – xã hội, phát triển kinh tế – văn hóa, phát triển đất nước

Nhìn lại chặng đường cách mạng của Đảng và Nhân dân ta trong hơn

80 năm qua, có thể nhận thấy hoạt động báo cáo viên luôn phát huy được vai trò của mình trước mọi hoàn cảnh, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cách mạng Qua thực tiễn đã khẳng định công tác báo cáo viên của Đảng

đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá chủ trương của Đảng, lôi cuốn,

cổ vũ đồng bào, chiến sỹ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài thành công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội giành được nhiều thắng lợi vĩ đại

Để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng 8 năm

1945 xây dựng Nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng gió, Đảng ta đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trên cơ sở phát huy tối đa vai trò của hoạt động tuyên truyền miệng Đảng đã nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ

Trang 11

nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để có những sự lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, phù hợp với lý luận và thực tiễn Chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử đã chỉ ra rằng ý thức xã hội có tác động tích cực, trở lại đối với tồn tại xã hội C.Mác chỉ ra: "Vũ khí của sự phê phán

cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó xâm nhập vào quần chúng [21, tr.580] Lênin khẳng định: "Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng" [25, tr.30] Xuất phát từ lý luận đó, ngay từ khi mới thành lập, khi còn

là một Đảng non trẻ, Đảng ta đã xác định công tác tư tưởng là mặt trận hàng đầu và Ban Cổ động Tuyên truyền được hình thành

Đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển và hội nhập mạnh mẽ, những thành tựu sau hơn 30 năm đổi mới của Đảng và nhân dân ta đạt được hết sức

to lớn Đường lối đổi mới của Đảng được thể chế hoá trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đưa lại nền chính trị ổn định, văn hoá- xã hội phát triển, quốc phòng- an ninh được giữ vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt, vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế Mặc dù, sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng nhưng vẫn đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân những khó khăn đòi hỏi cần tập trung hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đó là, nền kinh tế nước ta phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chậm được cải thiện; văn hoá

- xã hội và các lĩnh vực khác còn chậm phát triển, còn nhiều bất cập; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế vẫn còn có chừng mực nhất định Bên cạnh

đó, những khó khăn, thách thức khó lường của xu thế đa phương, đa cực, bất

ổn chính trị trong khu vực và trên thế giới; Các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu "Diễn biến hoà bình" ngày càng trở

Trang 12

nên tinh vi nhằm lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ Chủ nghĩa xã hội và các vấn đề: chống tham nhũng, cải cách, đổi mới đang tập trung sự quan tâm của dư luận Tất cả những diễn biến đó đang từng ngày, từng giờ tác động vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân Trước những khó khăn, thách thức to lớn như vậy, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên coi trọng mặt trận tư tưởng bằng sự phối hợp nhiều kênh tuyên truyền, trong đó cần quan tâm đến việc củng cố, xây dựng đội ngũ báo cáo viên từ Trung ương đến cơ sở vững mạnh, đủ tiêu chuẩn để có thể nắm bắt, phản ánh, chuyển tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình dư luận xã hội và diễn biến sống động trong đời sống

xã hội để từ đó định hướng tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân thực hiện Đồng thời, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân nhằm biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội

Hà Nam là tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, cửa ngõ phía nam Thủ đô Hà Nội, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng Đang trong qua trình phát triển mạnh mẽ, Hà Nam có nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong đó có công tác tuyên truyền, định hướng dư luận được tiến hành bởi đội ngũ báo cáo viên làm nòng cốt để góp phần tạo sự đồng thuận trong nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội Với 6 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 5 huyện và 1 thành phố) thực tế cho thấy, đội ngũ báo cáo viên trên địa bàn tỉnh còn chưa đồng bộ, chất lượng còn hạn chế Vì vậy, xây dựng đội ngũ Báo cáo viên cấp huyện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ ý nghĩa lý luận về vai trò quan trọng của đội ngũ báo cáo viên nói chung và ý nghĩa về mặt thực tiễn là cần nâng cao chất lượng, hiệu

Trang 13

quả hoạt động cho đội ngũ báo cáo viên cấp huyện thuộc tỉnh Hà Nam, bản

thân em quyết định chọn đề tài “Bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện -

từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều nghiên cứu về đề tài công tác tuyên truyền và vai trò của đội ngũ báo cáo viên từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở nhìn nhận, đánh giá dưới các góc độ khác nhau Khi nghiên cứu vấn đề này, tác giả luận văn đã có điều kiện tiếp cận với một số công trình, bài báo nghiên cứu liên quan:

Nguyễn Đức Bình (1996), "Phấn đấu vươn lên ngang tầm những nhiệm

vụ công tác tư tưởng trong thời kỳ mới", Tạp chí Cộng sản, tháng 1/1996 Tác

giả đi sâu phân tích vai trò, những khó khăn đang đặt ra cho công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay Từ đó, đề cao vai trò của đội ngũ Báo cáo viên các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền của Đảng

Ngô Văn Thạo (2002), "Đổi mới công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên trong tình hình mới", Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá, tháng

6/2002 Tác giả đã nêu được những khó khăn hiện nay của công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền

Nguyễn Thị Hồng Lê (2004), "Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

Hà Nội Tác giả tập trung nghiên cứu lý luận chính trị và vai trò của nó đối vớí cán bộ lãnh đạo chủ chốt

Lương Khắc Hiếu (2008), Nguyên lý công tác tư tưởng, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội Là tài liệu được dùng giảng dạy trong hệ thống Trường Đại học về chuyên ngành Mác-Lênin Tác giả đã đi sâu nghiên cứu

Trang 14

nhiều khái niệm cơ bản, nhiệm vụ, vai trò của công tác tư tưởng trên quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin

Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Công tác tuyên giáo ở cơ sở, Nhà

xuất bản Lao động và Xã hội, Hà Nội Cuốn tài liệu này tập trung chỉ ra những nhiệm vụ của công tác tuyên giáo ở cơ sở Trong đó, nêu rõ vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ tuyên giáo, xây dựng đội ngũ Báo cáo viên các cấp

Những việc cần làm ngay (2012), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Đây là cuốn sách phát hành sau triển khai Nghị quyết TW4, khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” tập trung chỉ rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân

Vũ Ngọc Hoàng (2013), "Tiếp tục đổi mới, nâng cao sức chiến đấu, tính thuyết phục của công tác Tuyên giáo", Tạp chí Tuyên giáo tháng 1/2013

Bài báo này, tác giả đề cập đến vai trò quan trọng của đội ngũ Báo cáo viên,

là cầu nối của Đảng với nhân dân Từ đó, đề ra những yêu cầu khách quan của việc tiếp tục đổi mới, nâng cao sức chiến đấu, tính thuyết phục trong công tác Tuyên giáo và hoạt động của đội ngũ Báo cáo viên Bài báo đã đề cập đến yêu cầu của người báo cáo viên là phải có sức chiến đấu và tính thuyết phục nhưng chưa xây dựng được những tiêu chuẩn chung, quan trọng, bao quát được hoạt động

Ngô Thành Can (2014), “Cải cách quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ” Tạp chí Quản lý

Nhà nước, số 5/2014

Trang 15

Phạm Thị Thịnh (2018), "Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai", Luận văn thạc

sĩ chính sách công, Học viện Khoa học Xã hội

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu nghiên cứu đề tài đội ngũ báo cáo viên ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn của các công trình nghiên cứu sẽ giúp làm tài liệu tham khảo phục vụ đội ngũ báo cáo viên nghiên cứu, học tập Các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền và vai trò đội ngũ báo cáo viên hiện nay, giúp tác giả thấy rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên trong công tác tư tưởng của Đảng; làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, phương thức hoạt động báo cáo viên cũng như chất lượng hoạt động báo cáo viên và yêu cầu phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên; sự cần thiết phải củng cố, kiện toàn và xây dựng đội ngũ báo cáo viên với tư cách là một tổ chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay

Về lý luận, các công trình khoa học đều khẳng định vị trí, vai trò quan

trọng của hoạt động báo cáo viên trong công tác tư tưởng của Đảng Đó là loại hình tuyên truyền đặc biệt, được thể hiện qua giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền Các tác giả đã tìm hiểu, luận giải về yêu cầu, nội dung, phương thức, phương pháp hoạt động báo cáo viên phù hợp với từng nhóm đối tượng Các tác giả đã khẳng định hoạt động báo cáo viên là một hình thức tuyên truyền miệng chủ yếu, có từ rất sớm trong hoạt động tuyên truyền của Đảng cộng sản, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ,

tổ chức, chỉ đạo của Ban Tuyên giáo các cấp mà người thực hiện trực tiếp là các báo cáo viên

Về thực tiễn, các công trình đã nghiên cứu hoạt động báo cáo viên với

Trang 16

tư cách là một hoạt động của tổ chức, phối hợp các lực lượng và hoạt động nghiệp vụ tuyên truyền, nghệ thuật diễn giảng, thuật hùng biện… của người báo cáo viên

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào cho thấy thực trạng hoạt động báo cáo viên cũng như các yêu cầu về số lượng, chất lượng của đội ngũ báo cáo viên, là nguồn tài liệu tham khảo, là những gợi ý quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc, đề ra phương hướng và giải pháp cơ bản trong thực hiện đề tài về bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện - qua thực tiễn tỉnh Hà Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới

* Nhiệm vụ

- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như trên luận văn đặt ra các nhiệm

vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Làm rõ một số vấn đề lý luận về đội ngũ báo cáo viên cấp huyện và bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện; kinh nghiệm trong bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện của các tỉnh, thành phố có điểm tương đồng như Hà Nam trong thời gian qua

- Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện và bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện tỉnh Hà Nam hiện nay; đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện tại địa phương

Trang 17

- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng về bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên

cấp huyện qua thực tiễn tỉnh Hà Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian: từ năm 2015 đến năm 2019

+ Không gian: Trên địa bàn tỉnh Hà Nam

+ Nội dung: Hoạt động bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện qua thực tiễn tỉnh Hà Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

* Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp sử dụng phiếu điều tra là công cụ chính để tác giả thu thập dữ liệu về những nội dung nghiên cứu của đề tài tại 11 phường, xã, thị trấn tại tỉnh Hà Nam được lựa chọn

+ Số lượng mẫu phiếu điều tra: 1.133 mẫu phiếu điều tra

+ Đối tượng điều tra: Thường trực Đảng ủy phường, xã, thị trấn: 33 người/xã, phường, thị trấn; công chức cấp xã: 20 người/xã, phường, thị trấn; đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ trực thuộc phường, xã, thị trấn 50 đảng viên/xã, phường, thị trấn

+ Thời gian điều tra: Học viên tiến hành phát và thu phiếu điều tra trong vòng 11 ngày từ 22/3/2019 đến 02/4/2019

Trang 18

+ Tổng hợp kết quả: Thu phiếu điều tra và trả lời qua trao đổi trực tiếp,

từ đó xác định số lượng phiếu điều tra hợp lệ, tổng hợp dữ liệu, lập bảng thống kê dữ liệu điều tra Số lượng phiếu điều tra hợp lệ là1020/1133

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này sử dụng để thống kê, đánh giá về thực trạng và hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp Huyện

- Phương pháp khảo cứu tài liệu

- Phương pháp so sánh, phân tích, quy nạp, diễn dịch và phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể vận dụng trong thực tiễn giúp cấp

uỷ đảng căn cứ lựa chọn cán bộ làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Các Trường chính trị tham khảo và vận dụng trong việc nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu có cùng đề tài liên quan sau này

7 Kết cấu luận văn

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Trang 19

Chương 1: Cơ sở khoa học về bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện trên

địa bàn tỉnh Hà Nam

Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp bồi dưỡng đội ngũ báo

cáo viên cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP HUYỆN 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Cấp huyện và đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

1.1.1.1 Khái niệm cấp huyện

Cơ quan trực thuộc là: Các đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn; các đảng bộ cơ sở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang trực thuộc Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy và tương đương

Cấp xã: Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Ban Chấp hành đảng bộ, chi bộ

cơ sở xã, phường, thị trấn (Đảng ủy, Chi ủy)

Cơ quan trực thuộc là các đảng bộ bộ phận trực thuộc ban chấp chấp hành Đảng bộ cơ sở (nơi có đông đảng viên); các chi bộ trực thuộc ban chấp hành Đảng bộ cơ sở; các tổ đảng trực thuộc chi bộ cơ sở

Theo quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 cấp Huyện bao gồm: Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương Theo quy định của pháp luật, cấp huyện

chia thành 3 loại (I, II, III) (Điều 3, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015) Tuy nhiên, ngoài chia thành 3 loại trên, còn có chia theo:

Trang 21

- Huyện gắn với khu vực nông thôn;

- Quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương gắn với khu vực đô thị Mỗi đơn vị hành chính cấp huyện đều được tổ chức chính quyền tương ứng Chính quyền cấp huyện gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Cấp huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã Chính quyền địa phương cấp huyện chịu

sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp xã Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh với chính quyền địa phương cấp huyện

và giữa chính quyền địa phương cấp huyện với chính quyền địa phương cấp

xã được xem xét dưới hai góc độ:

- Quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước,

- Quan hệ trong việc cung cấp dịch vụ (kể cả dịch vụ hành chính công) Chính quyền địa phương cấp huyện ở Việt Nam bao gồm:

- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm với dân địa phương và với cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân thực hiện quản lý nhà nước mang tính chất lãnh thổ, gắn với ý chí, nguyện vọng của người dân trên địa bàn đơn vị hành chính lãnh thổ được phân công quản lý

- Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước các vấn đề của địa phương thông qua chấp hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Như trên đã nêu, có 5 loại chính quyền địa phương cấp huyện, trong đó 4 loại gắn với đô thị; huyện gắn với quản lý vùng nông thôn Chính quyền quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn phân biệt với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền huyện ở nông thôn

Trang 22

* Mối quan hệ của cấp huyện với cấp tỉnh và cấp xã

Trong hệ thống chính quyền 4 cấp, chính quyền cấp huyện là cấp trực tiếp quản lý chính quyền cấp xã và chỉ đạo, định hướng, kiểm tra hoạt động của chính quyền cấp xã Hiến pháp qua các thời kỳ cũng như Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, đã xác định ở mức độ nhất định mối quan hệ giữa các cấp quản lý trong hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam

Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của từng cấp Đồng thời xác định mối quan hệ phân cấp, phối hợp

* Cấp Huyện trong xu hướng đổi mới theo Hiến pháp 2013

Hiến pháp 2013 kế thừa những thành tựu của các bản Hiến pháp trước

đó, nhưng sự thay đổi những nội dung trong Hiến pháp 2013 thể hiện tư duy đổi mới về hoạt động của nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chính quyền địa phương các cấp Trước hết, không chỉ riêng cấp huyện, cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương được thống nhất bằng tên gọi chung là chính quyền địa phương Tên gọi này phản ánh đúng thông lệ quốc tế và đồng thời cũng thể hiện tính thống nhất trong quản lý nhà nước đối với các vấn đề ở địa phương thuộc về một tổ chức là chính quyền địa phương Hiến pháp 2013 đã sử dụng thuật ngữ “đơn vị hành chính tương đương” với quận, huyện, thị xã trong thành phố trực thuộc trung ương Điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành một đơn vị hành chính trong thành phố trực thuộc trung ương, đó là

“thành phố” thuộc “thành phố trực thuộc trung ương” Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm

có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” Điều thay đổi lớn nhất khi xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 dựa vào Hiến pháp 2013 chính là xác định rõ ràng, cụ thể cơ

Trang 23

cấu tổ chức Ủy ban nhân dân cấp huyện và nhiệm vụ, quyền hạn của không chỉ đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện mà còn đối với chính chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện Đây là một thay đổi cơ bản nhằm xác định

cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy Ủy ban nhân dân tránh việc sau này các văn bản dưới luật đưa ra quy định riêng Hiến pháp

2013 cũng như Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định cụ thể hơn về thẩm quyền của chính quyền địa phương Cụ thể, chính quyền địa phương có 2 loại nhiệm vụ riêng biệt:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương;

- Quyết định các vấn đề của địa phương theo luật định Trong một nhà nước đơn nhất như nước ta, nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của chính quyền địa phương là tổ chức và bảo đảm thực hiện Hiến pháp, pháp luật tại địa phương Đồng thời, chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ xuất phát từ đặc thù của địa phương Việc thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng này đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Thực tế, chính quyền địa phương các cấp trong nhà nước đơn nhất chỉ đóng vai trò thực thi quyền hành pháp hay là một phận cấu thành bộ máy hành pháp Nếu như ở Trung ương, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội thì ở địa phương, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là những cơ quan thực thi quyền hành pháp Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ

và quyền hạn của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn Chi tiết về quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy xem Luật Tổ chức chính quyền địa phương

1.1.1.2 Đội ngũ báo cáo viên cấp Huyện

* Khái niệm Báo cáo viên

Báo cáo viên là lực lượng tuyên truyền miệng của Đảng được tổ chức

Trang 24

thành hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện, do cấp ủy lựa chọn và ra quyết định công nhận Bên cạnh Báo cáo viên, tuyên truyền viên là chức danh để chỉ những người làm công tác tuyên truyền miệng, cổ động trực tiếp bằng lời nói đối với quần chúng Nhân dân Báo cáo viên, tuyên truyền viên phối hợp với nhau, trở thành lực lượng tuyên truyền miệng có tổ chức, có hệ thống từ Trung ương tới đảng bộ, chi bộ cơ sở, tới từng cán bộ, đảng viên và Nhân dân Đây là lực lượng chủ yếu trong công tác tuyên truyền miệng, có nhiệm

vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, củng cố niềm tin, định hướng tư tưởng và hành động cho cán bộ, đảng viên, nhân dân theo đường lối, quan điểm của Đảng Trong hoạt động của mình, Báo cáo viên, tuyên truyền viên

có quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng - đối tượng tuyên truyền miệng, trực tiếp góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận xã hội

Chỉ thị số 17-CT/TW quán triệt rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, xác định đây là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, trực tiếp truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến giáo dục, quán triệt các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các vấn đề thời sự quan trọng trong và ngoài nước, tạo sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng và sự đồng thuận trong toàn xã hội Đồng thời đây là một trong những vũ khí sắc bén, kịp thời đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch Chỉ thị nêu rõ, công tác tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của toàn Đảng, các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến cơ sở, các đảng viên đều có trách nhiệm làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng, trực tiếp tham gia tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Trang 25

* Khái niệm Báo cáo viên cấp huyện

Báo cáo viên cấp huyện là đội ngũ tuyên truyền miệng được Ban Chấp hành Đảng bộ Huyện lựa chọn và ra quyết định công nhận Căn cứ để lựa chọn dựa trên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có hiểu biết chung về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học; có hiểu biết thực tiễn; có năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin; biết vận dụng tâm lý học, phương pháp

sư phạm và nghiệp vụ tuyên truyền miệng vào hoạt động báo cáo viên; có khả năng nói chuyện, truyền đạt trước đám đông, phổ biến lý luận chính trị, tuyên truyền những nội dung cơ bản của hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng vô sản chiếm địa vị thống trị trong xã hội; đồng thời quán triệt sâu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước trong quần chúng nhân dân

Báo cáo viên, tuyên truyền viên trong giới hạn của luận văn có thể hiểu

là người đi tuyên truyền, vận động Nhân dân thực thi các chủ trương, đường

lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Trong tác phẩm “Người tuyên truyền

và cách tuyên truyền”, Hồ Chí Minh đã nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân theo, dân làm”

Từ quan điểm trên, vận dụng vào công tác tuyên truyền ở nước ta hiện

nay, có thể xác định: Báo cáo viên, tuyên truyền viên là người hoạt động có

mục đích tuyên truyền, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đối tượng tuyên truyền, từ đó tạo cho đối tượng tuyên truyền có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng và tự giác, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, nhằm góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội

Báo cáo viên, tuyên truyền viên đã hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử nhân loại Xã hội loài người xuất hiện cũng đồng thời xuất hiện hoạt động báo cáo viên Báo cáo viên, tuyên truyền viên tuyên truyền những

Trang 26

vấn đề gắn liền với các hình thái kinh tế- xã hội khác nhau Ngôn ngữ chính

là phương tiện truyền thông sơ khai nhưng quan trọng bậc nhất của con người Qua những tín hiệu âm thanh giản đơn con người có sự trao đổi tình cảm, tạo sự giao tiếp trong sinh hoạt, lao động sản xuất Báo cáo viên, tuyên truyền viên chính là hoạt động của con người tác động đến con người, vì vậy

nó là hoạt động xã hội đặc biệt, bởi chủ thể Báo cáo viên, tuyên truyền viên

và đối tượng hướng đến đều là con người

Tuyên truyền là hoạt động xã hội, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, nên có tác dụng qua lại biện chứng với nhau Báo cáo viên, tuyên truyền viên có vai trò tích cực trong việc truyền bá sâu rộng hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đến với quần chúng trong xã hội, động viên mọi người tích cực tham gia xây dựng và phát triển xã hội Ngược lại, khi xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện để Báo cáo viên ngày càng hoạt động đạt hiệu quả hơn

1.1.2 Bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

1.1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khái niệm bồi dưỡng Nhưng chung quy lại theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 2005 như sau:

“Đào tạo là quá trình động đến một con người nhằm làm cho con người

đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một

sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội; duy trì và phát triển nền văn minh loài người

Bồi dưỡng là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn” [46, tr.512]

Theo điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đưa ra khái niệm:

Trang 27

“Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,

kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[47, tr.1]

Để phục vụ công tác tuyên truyền, vai trò của lực lượng làm công tác tuyên truyền là vô cùng quan trọng Nhận thức đúng đắn vấn đề trên, Đảng ta

đã luôn quan tâm đẩy mạnh, củng cố, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền; tăng cường các hình thức, phương tiện phục vụ cho tuyên truyền Đảng ta đã có nhiều văn bản chỉ đạo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền như: Chỉ thị số 14 -CT/TW, ngày 3-8-1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng, khoá IV về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên của Đảng; Thông báo số 71 -TB/TW, ngày 7-6-1997, của Thường vụ Bộ Chính trị

về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng Đây là một văn kiện quan trọng của Đảng đối với công tác tuyên truyền miệng trong

thời kỳ mới Thông báo số 71 -TB/TW khẳng định: “Toàn Đảng, mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Trung ương, cấp uỷ viên các cấp phải căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà trực tiếp tuyên truyền cho quần chúng”, “Các cấp uỷ đảng, các ban cán sự đảng đoàn phải tăng cường lãnh đạo và đổi mới có hiệu quả công tác tuyên truyền miệng, trong đó hoạt động báo cáo viên là bộ phận rất quan trọng”

Căn cứ vào Thông báo số 71 của Thường vụ Bộ Chính trị, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 105/1998/TT-BTC ngày 23-7-1998 thực hiện chế độ đối với báo cáo viên của Đảng Do đó, bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên là vấn

đề quan trọng và thường xuyên

1.1.2.2 Mục đích bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên cấp huyện

Bồi dưỡng cán bộ nói chung, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp huyện nói riêng là việc làm cấp bách, cần thiết, thường xuyên

Trang 28

Mục đích cuối cùng của bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên, tuyên truyền viên giúp Báo cáo viên, tuyên truyền viên bám sát tình hình thực tiễn và chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức, phương pháp phong phú, đa dạng như ký kết liên tịch, hợp đồng trách nhiệm giữa các ban, ngành, đoàn thể, các địa phương; yêu cầu xây dựng chuyên trang, chuyên mục trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa nội dung tuyên truyền vào các tờ tin, bản tin, thông báo nội bộ, tờ rơi; biên soạn tài liệu tuyên truyền, phát động quần chúng; xây dựng phim tài liệu; tập huấn nghiệp vụ; tổ chức nói chuyện thời sự, thông tin chuyên đề; tổ chức các chiến dịch truyền thông vận động; mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, lý luận chính trị; tổ chức phát động quần chúng; lãnh đạo thực hiện phương châm hướng về cơ sở; triển khai các đề tài, đề án khoa học; các chương trình phát triển kinh tế - xã hội… Với yêu cầu đó, mục đích của bồi dưỡng Báo cáo viên, tuyên truyền viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền trong Nhân dân

Bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên giúp các lực lượng tuyên truyền phối hợp trong công tác để tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến toàn thể Nhân dân Phối hợp tổ chức các hoạt động nhân các ngày lễ, kỷ niệm, tăng cường các đội công tác về cơ sở, nhất là những điểm nóng để nắm bắt tình hình, thực hiện công tác tư tưởng, vận động quần chúng, hướng dẫn người dân khắc phục khó khăn phát triển sản xuất; qua đó, tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, làm cho đồng bào hiểu rõ âm mưu, thủ đọan và luận điệu lừa bịp của bọn phản động

Báo cáo viên cần nắm rõ cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quân đội - công an làm tham mưu, Mặt trận và các đoàn thể tham gia phối hợp”, Mặt trận và các đoàn thể đã tích cực phối hợp trong tuyên truyền,

vận động, tích cực tham gia đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch Tổ chức cho quần chúng nhân dân học tập quán triệt

Trang 29

đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, mục đích bồi dưỡng cần thiết là giúp tăng cường nhận thức chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên giáo dục về truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc, về các thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; đội ngũ Báo cáo viên cần làm tốt công tác tuyên truyền làm cho nhân dân hiểu rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng Phối hợp tổ chức phát động quần chúng, tấn công chính trị, gắn công tác vận động quần chúng với truy quét, trấn áp các đối tượng phản động cầm đầu Mục đích của bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên nhằm vận động quần chúng, củng cố thực hiện chính trị

cơ sở, phát triển hội viên, đoàn viên; xây dựng lực lượng nòng cốt trong mặt trận và các đoàn thể Tuyên truyền, vận động nhân dân giải quyết các điểm nóng về xã hội và Nhân dân tham gia giữ gìn trật tự an toàn xã hội

Bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên, tuyên truyền viên giúp các ngành, các cấp, các lực lượng tuyên truyền bám sát tình hình thực tiễn và chức năng, nhiệm vụ của mình bước đầu phối hợp triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức, phương pháp phong phú, đa dạng như ký kết liên tịch, hợp đồng trách nhiệm giữa các ban, ngành, đoàn thể, các địa phương; xây dựng chuyên trang, chuyên mục trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa nội dung tuyên truyền vào các tờ tin, bản tin, thông báo nội bộ, tờ rơi; biên soạn tài liệu tuyên truyền, phát động quần chúng; xây dựng phim tài liệu; tập huấn nghiệp vụ; tổ chức nói chuyện thời sự, thông tin chuyên đề; tổ chức các chiến dịch truyền thông vận động; mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, lý luận chính trị; tổ chức phát động quần chúng; thực hiện phương châm hướng về cơ sở; triển khai các đề tài, đề án khoa học, các dự án phát triển nông thôn miền núi; các chương trình phát triển kinh tế-xã hội…

Trang 30

1.1.2.3 Yêu cầu bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên cấp huyện

Thứ nhất, phẩm chất chính trị, đạo đức

Phẩm chất chính trị, đạo đức là kết quả của sự kết hợp hài hòa biện

chứng giữa đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị Trong tình hình hiện nay, phẩm chất chính trị của đội ngũ báo cáo viên cấp huyện chính là sự hiểu biết sâu sắc chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu

do Đảng đề ra dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, không hoang mang, dao động về chính trị tư tưởng, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước, có bản lĩnh chính trị, nhạy bén, luôn nêu cao cảnh giác, có thái

độ đúng đắn trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội, phân biệt rõ đối tượng, đối tác Nếu không có tầm nhìn xa, rộng, chỉ thấy lợi trước mắt, cục bộ địa phương mà quên đi lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, lợi ích của nhân dân thì đó là nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Bản lĩnh chính trị của Báo cáo viên sẽ góp phần tạo nên sức mạnh của uy tín, sự thống nhất ý chí, hành động của Đảng, bảo đảm cho Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa cách mạng đến thắng lợi Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cho thấy, khi nào Đảng thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, độc lập, sáng tạo thì cách mạng phát triển thuận lợi, giành được những thắng lợi to lớn Để xứng đáng với vai trò đó,vấn đề hàng đầu trong việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức

chiến đấu của Đảng hiện nay là “Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng”

Đạo đức cách mạng là cái gốc của người Báo cáo viên Theo Chủ tịch

Hồ Chí Minh: “Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” Đó là lòng trung thành

với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, luôn kiên định sự nghiệp cách mạng của

Trang 31

Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do đó trong khi coi trọng hàng đầu phẩm chất chính trị đồng thời coi trọng trau dồi, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng Phấn đấu, tu dưỡng theo đạo đức mới, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết, có lối sống giản dị trong sạch, không xa hoa lãng phí, thực dụng chủ nghĩa…Những phẩm chất này phải tu dưỡng thường xuyên, bền bỉ trong mọi điều kiện hoàn cảnh Trước diễn biến phức tạp của đời sống xã hội, trong nước và quốc tế, đạo đức cách mạng của người Báo cáo viên cấp xã phải gắn liền với hành động cụ thể Đó

là phải đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng, với tham nhũng và các tệ nạn xã h ộ i

Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn

Năng lực chuyên môn của đội ngũ báo cáo viên được thể hiện trong việc tuyên truyền có tổ chức, có định hướng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp

ủy đảng, nhằm giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình trong nước và quốc tế, góp phần tạo nên sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội

Năng lực chuyên môn giúp đáp ứng các yêu cầu của công tác tuyên truyền miệng nhằm thực hiện mục đích của công tác tư tưởng, thể hiện phẩm chất, năng lực của báo cáo viên và chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng

Người Báo cáo viên dùng sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe để cung cấp thông tin, quan trọng hơn cả là có thể cung cấp loại thông tin mà các loại phương tiện thông tin đại chúng khác không thể đưa lên được Tuyên truyền miệng luôn thể hiện được tính dân chủ, thông tin hai chiều và không bao giờ mang tính áp đặt Tuyên truyền miệng lan tỏa ở mọi đối tượng,

ở mọi không gian, thời gian Nói về điều này, V.I Lênin đã viết: "Khi được

Trang 32

thuyết trình công khai, ta nói với quần chúng, tiếp xúc trực tiếp với họ, được nhìn thấy họ, làm quen với họ và ảnh hưởng tới họ theo kiểu của mình" [24, tr.539] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: "Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ai nghe" [30, tr 523-524]

Từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay, công tác tuyên truyền miệng đã làm tốt vai trò truyền bá, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản sắc văn hóa Việt Nam và những tinh hoa về tư tưởng - văn hóa của nhân loại, xây dựng, bồi đắp lập trường, tư tưởng đúng đắn, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước

Hoạt động báo cáo viên, công tác tuyên truyền miệng góp phần quán triệt Cương lĩnh, quan điểm, đường lối, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân và toàn xã hội, đồng thời hướng dẫn và cổ vũ Nhân dân hành động vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, hướng đến Đảng nói dân tin, chính quyền làm dân theo, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động dân ủng hộ

Hoạt động báo cáo viên, công tác tuyên truyền miệng luôn thể hiện tốt chức năng quan trọng của mình là phổ biến thông tin chính trị Đó chính là phổ biến đường lối, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, những thông tin trong nội bộ Đảng Qua đó làm giàu thế giới tinh thần của con người bằng những tin tức về các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội; giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao trình độ hiểu biết về các vấn

đề đối nội, đối ngoại của Đảng và cũng thông qua công tác tuyên truyền miệng mà quần chúng nhân dân có thể nắm được một cách tốt nhất những tình hình, diễn biến trong mọi hoạt động của cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị mình Công tác tuyên truyền miệng còn có chức năng tham gia bình luận các thông tin Trong thực tế, công tác tuyên truyền miệng không chỉ tham gia cung cấp thông tin trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như:

Trang 33

lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng mà còn tham gia bình luận các thông tin đó nhằm chỉ ra nội dung chính trị và sự tác động của nó trong đời sống chính trị - xã hội, đồng thời tiến hành các hoạt động cổ vũ, động viên quần chúng hành động hình thành phong trào cách mạng rộng khắp

Trong hoạt động của mình, công tác tuyên truyền miệng, báo cáo viên luôn mang tính Đảng, tính khoa học sâu sắc, bởi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền, tất cả các sự kiện, hiện tượng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều được các nhà tuyên truyền phân tích, lý giải theo lập trường, quan điểm của Đảng, chỉ đạo của các cấp ủy, không nói trái, làm trái

Vận dụng tính Đảng, tính khoa học trong tuyên truyền miệng, báo cáo viên góp phần xây dựng thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, củng cố niềm tin, kiên định vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời vững vàng trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình, tích cực đấu tranh chống lại những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lãng phí Để đạt mục đích tuyên truyền cần phải có tính chân thực, bởi tính chân thực luôn mang tính khách quan, luôn đánh giá đúng bản chất của từng vấn đề, sự kiện

Tuy nhiên, không phải nó là chân thực, khách quan mà tuyên truyền một cách tùy tiện, mà cần phải nói đúng lúc, đúng chỗ và phải phù hợp với đối tượng Chính vì thế mà tuyên truyền miệng không thể thiếu tính nhạy bén, tính thời sự và tính hệ thống Chúng ta luôn biết rằng, hiệu quả công tác tuyên truyền phụ thuộc vào tính nhạy bén, tính thời sự và tính hệ thống

Trong tình hình hiện nay, thế giới, khu vực, trong nước đang có nhiều diễn biến rất nhanh với rất nhiều sự kiện, đòi hỏi phải có thông tin, giải thích nhanh chóng, kịp thời cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, cắt nghĩa được

Trang 34

mọi vấn đề người dân quan tâm để kịp thời định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao Muốn làm được điều đó thì công tác tuyên truyền cần phải thể hiện được tính rõ ràng, dễ hiểu và gợi cảm Vì trên thực tế, tuyên truyền các thông tin chính trị, thời sự, cũng như tuyên truyền các nghị quyết của Đảng, muốn cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân hào hứng, lắng nghe, đón nhận hay không, tùy thuộc vào người tuyên truyền có đưa ra được vấn đề

rõ ràng, gợi cảm và dễ hiểu hay không, thì nội dung tuyên truyền, mục đích tuyên truyền phải rõ ràng, dễ hiểu, mang tính gợi mở cao để lôi cuốn người nghe và hành động theo mình

Qua từng thời kỳ phát triển, Đảng ta luôn chú trọng công tác bồi dưỡng

đội ngũ báo cáo viên, nhờ đó: "Công tác tuyên truyền miệng đã đi vào nền nếp, bám sát cơ sở, có nhiều cố gắng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với tình hình thực tiễn và trình độ nhận thức, yêu cầu của cán

bộ, đảng viên và nhân dân ở mỗi địa phương, đơn vị, thực sự là một kênh quan trọng, có hiệu quả cao của công tác tư tưởng - văn hóa" [11, tr 8] Bồi

dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên là yêu cấp thiết giúp công tác tuyên truyền miệng luôn luôn được nâng cao

Thứ ba, bồi dưỡng lý luận chính trị

Báo cáo viên có thế giới quan duy vật biện chứng, có niềm tin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, trung thành với sự nghiệp cách mạng; nhận thức tốt bản chất khoa học cách mạng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; có phẩm chất đạo đức cách mạng, có năng lực thuyết trình, đối thoại, nắm bắt dư luận xã hội tốt, nâng cao năng lực phê và tự phê bình, luôn có ý thức hoàn thành nhiệm vụ được phân công

Trang 35

Đội ngũ báo cáo viên thường xuyên quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình nhiệm vụ địa phương để tuyên truyền, quán triệt, thực hiện có hiệu quả Đối với người báo cáo viên, trình độ bồi dưỡng lý luận chính trị và kinh nghiệm thực tiễn luôn là cơ sở để nâng cao khả năng hiểu biết về các vấn đề của đời sống xã hội, thông tin thuyết trình của báo cáo viên sẽ luôn được thể hiện một cách phong phú, sát đối tượng, thể hiện tính đảng và tính khoa học cao…

1.1.2.4 Quy trình bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

Bồi dưỡng được hiểu là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm nâng cao năng lực làm việc cho học viên và qua đó làm tăng kết quả thực hiện công việc Vậy để bồi dưỡng có hiệu quả thì việc nắm chắc và tuôn theo đúng quy trình là điều rất cần thiết Hơn nữa, nó đảm bảo việc thực hiện công tác bồi dưỡng mang tính khoa học và có căn cứ

Một quy trình bồi dưỡng bao gồm những bước cơ bản sau:

- Bước 1: Xác định nhu cầu bồi dưỡng:

Nhu cầu bồi dưỡng ở đây có thể là nhu cầu của tổ chức muốn nâng cao chất lượng nhân lực, nhu cầu của chính bản thân những người tham gia trong tổ chức đó Đây là giai đoạn mở đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng Bởi ngày nay chúng ta nghe nói nhiều đến bồi dưỡng theo nhu cầu Nhu cầu lớn hay nhỏ, nhu cầu bồi dưỡng về nội dung gì sẽ là những căn cứ quan trọng khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng Xác định đúng nhu cầu bồi dưỡng là cơ sở để tổ chức xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

- Bước 2: Xác định yêu cầu học tập

Là cơ sở để người học khi tham gia các khoá bồi dưỡng tạo nhận thức

rõ mình cần phải làm gì và đạt được kết quả như thế nào cũng như những mong muốn của tổ chức Việc xác định yêu cầu học tập sẽ là căn cứ cho quá trình đánh giá kết quả bồi dưỡng Ngoài ra, xác định yêu cầu học tập còn là

Trang 36

xác định những nội dung bồi dưỡng nào cần thiết, quan trọng cho hiện tại và

cả trong tương lai

- Bước 3: Kế hoạch chương trình bồi dưỡng

Trong kế hoạch chương trình bồi dưỡng cần xác định chính xác những tiền đề, điều kiện thuận lợi khi triển khai kế hoạch Xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng nhằm đảm bảo tính khả thi của chương trình, tính khoa học và mục tiêu của chương trình cần đạt được Đồng thời, dự báo trước những khó khăn gặp phải để có phương án giải quyết trước

Nội dung của kế hoạch cần nêu rõ các yếu tố về kỹ thuật, trang thiết bị,

cơ sở bồi dưỡng, đội ngũ giáo viên, hình thức kinh phí Bởi đây là những nhân tố không thể thiếu trong quá trình thực hiện hoạt động bồi dưỡng

- Bước 4: Thực hiện kế hoạch bồi dưỡng

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ những điều kiện, giai đoạn thực hiện kế hoạch được tiến hành Trong giai đoạn này người làm công tác bồi dưỡng cần theo dõi tiến độ và sẵn sàng thay đổi khi cần thiết, linh hoạt và chủ động trong việc sử dụng các phương án

- Bước 5: Đánh giá thực hiện kế hoạch bồi dưỡng

Hoạt động đánh giá thực hiện kế hoạch bồi dưỡng không chỉ tiến hành

ở việc đánh giá thông qua kết quả bồi dưỡng mà cần đánh giá ở tất cả các giai đoạn Có như vậy mới đảm bảo kế hoạch bồi dưỡng có tính khả thi cao

Như vậy, khi xem xét hoạt động bồi dưỡng không chỉ xem xét ở kết quả mà cần xem xét ở các nội dung liên quan khác như: hình thức bồi dưỡng; nội dung bồi dưỡng; nhu cầu bồi dưỡng; đánh giá của người học về phương pháp giảng dạy của giảng viên, về cơ sở vật chất, tài liệu, giáo trình

1.1.2.5 Chủ thể quản lý đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

Do đặc thù của đội ngũ báo cáo viên có ở cả trong cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan công tác Đảng mà bản thân họ là cán bộ, công chức, viên

Trang 37

chức kiêm nhiệm công tác báo cáo viên do vậy hoạt động của đội ngũ này bị chi phối đan xen bởi cả các chủ thể quản lý của Đảng và chủ thể quản lý hành chính Nhà nước

Theo đó, chủ thể quản lý đội ngũ báo cáo viên là các cơ quan, đơn vị, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức – Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và đào tạo ; HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, UBND cấp huyện Bên cạnh đó có hệ thống Chủ thể cơ quan Đảng như: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức trung ương, Ban Tuyên giáo trung ương, các Tỉnh

ủy, thành ủy, Ban cán sự đảng trực thuộc trung ương, huyện ủy cấp huyện

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

1.2.1 Các quy định của Đảng và Nhà nước về bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện

Trước những yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng và nhà nước ta rất coi trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện nhằm đảm bảo có một đội ngũ báo cáo viên cấp huyện kế tiếp nhau, vững vàng về chính trị, tư tưởng, có đủ đức, đủ tài để truyền đạt có hiệu quả chủ trương, đường lối của của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước đã nêu rõ: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng [15; tr, 54]

“Cụ thể hóa và thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu của tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán

Trang 38

bộ" [10, tr.136-137] Cụ thể hóa chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kì mới, Bộ chính trị đã có kết luận tại Thông báo số 165-TB/TW ngày 27/6/2008 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (gọi tắt là Đề án 165)

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của nước

ta, trước yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 tại quyết định số

136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 với mục tiêu đặt ra là “xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”

Về kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng: Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp luật quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, có thể đơn cử một số văn bản pháp luật như: Thông

tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 08/3/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập Thông

tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị và văn bản của Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn thực hiện Thông tư số 40/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính

Thực hiện Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 139/2010/TT-BTC quy định

Trang 39

việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Qua các văn bản pháp luật kể trên cho thấy đến nay đã xây dựng và ban hành hệ thống chính sách trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ báo cáo viên cấp huyện giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2 Nội dung, chương trình bồi dưỡng

Nội dung bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện gồm những nội dung cơ bản sau đây:

* Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật hiện hành của Nhà nước; những yêu cầu đặt ra đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay

* Quy định pháp luật về báo cáo viên, những yêu cầu và giải pháp nâng

cao hiệu quả hoạt động của báo cáo viên

* Kỹ năng, nghiệp vụ chung, kỹ năng thuyết trình; kỹ năng phân tích,

Nội dung của bồi dưỡng báo cáo viên cấp huyện là tiền đề cơ sở quan trọng qua đó xác định những kiến thức cần được bổ sung, cập nhật kịp thời để nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

1.2.3 Các yếu tố thuộc về cơ sở bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên

Cơ sở tham gia bồi dưỡng gồm có trường chính trị tỉnh, thành phố, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện Nhiệm vụ quản lý cơ sở bồi dưỡng

Trang 40

được phân công, phân cấp cụ thể Các phương án cho việc xây dựng các cơ sở bồi dưỡng như trung tâm chính trị hoặc trường chính trị tỉnh, thành phố; phối hợp với huyện uỷ, quận uỷ, thành uỷ thực hiện đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị và một số kỹ năng cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

Cùng với quản lý cơ sở bồi dưỡng, việc xây dựng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên trong các cơ sở bồi dưỡng là nhiệm vụ rất quan trọng Những vấn đề về phương pháp giảng dạy, những nội dung, kiến thức mới, công tác tuyển dụng giảng viên, lựa chọn đội ngũ báo cáo viên và chuẩn hoá chương trình, tài liệu cho bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cần được triển khai đồng bộ bồi dưỡng Mời những cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm tham gia vào công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

Giảng viên cần được đào tạo đạt các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu; bên cạnh đó, họ cũng cần được chú trọng đào tạo về phương pháp

sư phạm Một số không ít các giảng viên, giảng viên kiêm chức có kiến thức chuyên sâu, song về phương pháp giảng dạy còn hạn chế Đội ngũ giảng viên trước hết cần được tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch giảng viên Hơn nữa, họ cần được cập nhật thường xuyên những tri thức mới theo kịp yêu cầu về phát triển khoa học và công nghệ Họ cần được thường xuyên bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy, sử dụng các trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp huyện

- Phương pháp bồi dưỡng

Bồi dưỡng bằng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ động

và tư duy sáng tạo của người học, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức và

kinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa các học viên

1.2.4 Các yếu tố thuộc về người học

Người học có vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng Việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng phụ thuộc phần lớn vào yếu tố người

Ngày đăng: 31/10/2020, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w