Đề tài nghiên cứu những vấn đề chính như: cơ sở lý luận về quản lý giáo dục; các bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý giáo dục; phân tích, đánh giá những ảnh hưởng tác động và những yê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THANH KHIẾT
THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Người cam đoan
TRẦN THANH KHIẾT
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa
học Ts Lê Nhƣ Phong đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến khoa
học trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, đã cung cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất các thầy giáo,
cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự động viên giúp đỡ của thầy, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là nguồn động viên quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
TRẦN THANH KHIẾT
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 10
1.1 Khái niệm trường đại học công lập và quản lý nhà nước đối với đại học công lập 10
1.1.1 Khái niệm trường đại học công lập 10
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập 14 1.2 Những vấn đề chung về thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập 18
1.2.1 Khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập 18
1.2.2 Vai trò thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập 21 1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập 27
1.3.1 Yếu tố chính trị 27
1.3.2 Yếu tố kinh tế 28
2.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội 29
2.3.4 Yếu tố con người 30
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33
Trang 62.1 Khái quát chung về Thành phố Hà Nội và đánh giá sự tác động đến thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập tên
địa bàn 33
2.1.1 Khái quát chung về thành phố Hà Nội 33
2.1.2 Ảnh hưởng các điều kiện kinh tế - văn hoá- chính trị- giáo dục của thành phố Hà Nội đến thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập 36
2.2 Thực trạng thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội 37
2.2.1 Thực trạng quy định pháp luật quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập trên địa bàn Hà Nội 37
2.2.2 Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập trên địa bàn Hà Nội 45
2.2.3 Đánh giá chung về thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội 57
2.2.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 57
2.2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 58
2.3 Giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội 66
2.3.1 Đổi mới tư duy quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập 66
2.3.2 Hoàn thiện quy định về bộ máy quản lý nhà nước 73
2.3.2.1 Giải pháp khác 73
2.3.2.2 Tự chủ trong quản lý điều hành nhà trường; 73
2.3.2.3 Tự chủ tài chính 74
2.3.2.4 Tự chủ trong tuyển dụng và quản lý đội ngũ cán bộ và xác định điều kiện làm việc của họ 75
Trang 72.3.2.5 Tự chủ trong hoạt động đào tạo, tuyển sinh 76
2.3.2.6 Tự chủ trong xác định các chuẩn mực và phương pháp đánh giá 77
2.3.2.7 Tự chịu trách nhiệm trong các trường đại học cao đẳng công lập 78
2.3.3 Trách nhiệm với người học, với xã hội: 78
2.3.4 Trách nhiệm với Nhà nước: 78
2.3.5 Trách nhiệm đối với chính nhà trường: 79
2.4 Các giải pháp tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam 79
2.4.1 Nhóm giải pháp vĩ mô: 79
2.4.2 Nhóm giải pháp vi mô 79
Tiểu kết chương 2 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐHCL: Đại học công lập QLNN: Quản lý nhà nước
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng:
Bảng 3.1: Số liệu giảng viên tham gia giảng dạy trong các trường ĐHCL 54Bảng 3.2 Bảng thống kê sinh viên và học viên (đơn vị người) 56
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Quy mô tổng số học viên sau đại học cả nước 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Có thể nói, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu hội nhập sâu rộng với quốc tế Việc phát triển giáo dục được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng Khoản 1 Điều 61 Hiến pháp 2013
đã quy định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân
trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Tại hội nghị Trung ương
6 Khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục và đào tạo Việc phát triển giáo dục-đào tạo là vấn đề đặc biệt quan trọng, đã được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế-xã hội”
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, các trường đại học công lập có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của giáo dục Mặc dù Nhà nước tiễn hành xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục khá mạnh mẽ và sâu sắc nhưng vai trò của các trường công lập đặc biệt là các trường đại học công lập vẫn không thể phủ nhận Bởi với bề dày truyền thống, cơ sở vật chất được đầu tư trang bị bài bản và là nơi hội tụ các lực lượng giảng viên có chất lượng cao Đây là tiền đề tạo ra nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao tạo động lực cho
sự phát triển của xã hội
Xuất phát từ vai trò của trường ĐHCL với sự phát triển của ngành giáo dục nên thể chế QLNN về lĩnh vực này được đặc biệt chú trọng Bởi nếu xây dựng được thể chế QLNN phát huy hiệu lực, hiệu quả sẽ tạo lập những tiền
đề, điều kiện cho sự phát triển của giáo dục; góp phần định hướng cho sự phát
Trang 11triển của các trường ĐHCL đáp ứng các mục tiêu, chiến lược giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Trên cơ sở thể chế QLNN đối với trường ĐHCL sẽ tạo khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của trường; đảm bảo những điều kiện vật chất cho giáo dục phát triển và hội nhập; cũng như đảm bảo chất lượng của giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội Chính vì thế, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL nắm giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý của Nhà nước
Mặc dù vậy, thực trạng thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL hiện nay còn nhiều hạn chế Điều này thể hiện tập trung rõ nét đối với các trường ĐHCL trên địa bàn thành phố Hà Nội Vói vị trí là Thủ đô của đất nước, trung tâm văn hoá, giáo dục – kinh tế và chính trị của cả nước, Hà Nội cũng là địa phương có nhiều trường ĐHCL đóng trên địa bàn nhất Tuy nhiên tư duy quản lý theo cơ chế bao cấp và mô hình các bộ “chủ quản” đã hạn chế sự phát triển của các trường ĐHCL Trách nhiệm quản lý các trường ĐHCL của các
Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội có trường đại học còn chưa được làm rõ, đôi khi còn chồng chéo chức năng QLNN về giáo dục Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý các trường ĐHCL còn chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ, nên không kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm Hệ thống các trường ĐHCL phát triển nhanh về mạng lưới, quy mô, nhưng cơ chế, phương pháp quản lý chưa theo kịp Đội ngũ giảng viên giảng dạy, cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất phục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chưa đi vào chiều sâu, chưa kịp thời phát hiện những sai sót, vi phạm pháp luật ở các trường đại học công lập Vì vậy, chưa kịp thời đề xuất các biện pháp xử lý thích hợp và một số vụ việc xử lý còn chưa dứt điểm, dẫn đến đơn thư, khiếu kiện kéo dài
Trang 12Những hạn chế trên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự yếu kém trong chất lượng giáo dục hiện nay Hạn chế này trước hết chính do bất cập của thể chế QLNN đối với trường ĐHCL hiện nay Hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập, chưa tạo được một hành lang pháp lý đồng bộ và hiệu quả cho hoạt động QLNN đối với các trường ĐHCL Mặt khác việc hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước thường xuyên thay đổi, mâu thuẫn, còn nhiều khoảng trống chưa điều chỉnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo cững như hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cũng như nâng cao chất lượng của các trường ĐHCL trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức cho đất nước đồng thời đảm bảo nhu cầu ngày càng đa dạng với chất lượng cao của người học đòi hỏi phải tăng cường hoàn thiện thể chế QLNN về trường ĐHCL trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chính vì lý do trên việc nghiên cứu đề tài: “Thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội” là một vấn đề cấp thiết dưới góc độ lý luận và thực ti2 Tình hình nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Thể chế quản lý nhà nước và thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà quản lý Có thể kể một số công trình nghiên cứu có những liên quan nhất định đến nội dung của đề tài như sau:
- Giáo trình “ Hành chính công” của Học viện Hành chính , (2012) Nhà xuất bản Giáo dục Chương 3 của Giáo trình trình bày những vấn đề lý luận
cơ bản nhất về thể chế hành chính nhà nước
- Tài liệu bồi dưỡng “ Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam” do Phan Thanh Long chủ biên (2010) Tài liệu cung cấp những kiến thức sơ lược về
Trang 13lịch sử hình thành, phát triển của giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam; đánh giá xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới; phân tích thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay và phương hướng đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong những năm tới
- Đề tài khoa học cấp nhà nước “Luận cứ khoa học cho các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục ở nước ta những thập niên đầu thế kỷ XXI” do Viện nghiên cứu phát triển giáo dục trước đây, nay là Viện chiến lược và chương trình giáo dục thực hiện Đề tài nghiên cứu những vấn đề chính như: cơ sở lý luận về quản lý giáo dục; các bài học kinh nghiệm quốc
tế về quản lý giáo dục; phân tích, đánh giá những ảnh hưởng tác động và những yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý giáo dục ở nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục ở các cấp từ Trung ương đến địa phương theo các nội dung được quy định trong luật giáo dục; từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục
- Luận án tiến sĩ: “QLNN theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” của tác giả Phan Huy Hùng, (2009) Điểm nổi bật của luận án là tác giả đã tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc QLNN theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam nói chung; từ đó đưa ra những giải pháp đổi mới QLNN trong lĩnh vực này Đây là những gợi ý cho luận văn khi đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Luận án tiến sĩ quản lý công “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo
dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay” của Lê Như Phong, năm 2017 Luận
án cung cấp công cụ lý thuyết về thể chế QLNN về giáo dục đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục sau đại học Cụ thể, luận án làm rõ quan điểm khoa học về
Trang 14thể chế QLNN đối với giáo dục SĐH, chủ thể, nội dung thể chế QLNN đối với giáo dục sau đại học, mối liên hệ giữa thể chế với số lượng và chất lượng giáo dục sau đại học Trên cơ sở khung lý thuyết, luận án đã phân tích, đánh giá một cách khách quan và toàn diện thực trạng thể chế QLNN đối với giáo dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng Từ đó đề xuất phương hướng và hệ thống các giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với giáo dục sau đại học
- Luận án tiến sĩ luật học: “ Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta” của Nguyễn Trọng Tuấn (2018) Luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền tự chủ đại học ở nước ta hiện nay Luận án cũng đã phân tích, đánh giá và chỉ ra được những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về quyền tự chủ đại học, từ đó đưa ra các kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật Luận án cũng có nhiều đóng góp cho việc kiến nghị sửa luật giáo dục đại học
Bài viết Một số giải pháp tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
các trường đại học ở Việt Nam của tác giả Phan Đăng Sơn, Viện Khoa học tổ
chức nhà nước đăng trên (http://isos.gov.vn/ Bài viết có những phân tích rất
sâu sắc khi xác định luận điểm: Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm là hai mặt của một vấn đề không thể tách rời Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp: vĩ
mô và vi mô để tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam Đây là những gợi ý xác đáng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bài viết của tác giả Đoàn Văn Dũng (2014), Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số tháng 6/2014 cũng đề xuất những giả pháp căn bản hướng tới hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước ở góc độ hẹp là chất lượng giáo dục đại học
Trang 15Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn đối với đề tài Tuy nhiên, có thể thấy rằng đến nay chưa có
đề tài nào đi sâu nghiên cứu về thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại
học công lập Do đó đề tài: “Thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại
học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội” là một đề tài không trùng lặp,
mang tính lý luận và thực tiễn cao, đòi hỏi cần được nghiên cứu một cách có
là đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm trường đại học công lập; khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố cấu thành của thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập tại thành phố Hà Nội để chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng
- Đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập tại Thành phố Hà Nộihiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 164.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung
Đề tài nghiên cứu thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập dưới hai góc độ: hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh về tổ chức, bộ máy
và hoạt động của các trường ĐHCL
- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu trong đề tài: được xác định từ năm 2015 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục; thể chế QLNN, được thể hiện trong Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước
Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được sử dụng trong đề tài như sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: phương pháp này được sử dụng để phân tích cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Tài liệu sơ cấp bao gồm các văn bản pháp luật và Văn kiện của Đảng có liên quan, các số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tài liệu thứ cấp bao gồm các bài báo, tạp chí, kết luận phân tích đã được các tác giả khác thực hiện Phương pháp này được sử dụng đồng thời trong các chương của luận văn
- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuất của chính tác giả luận án Phương pháp này được sử dụng các chương của luận văn
- Phương pháp so sánh: phương pháp này được áp dụng để nghiên cứu, so sánh các luận điểm, quan niệm khác nhau của tác giả về các vấn đề nghiên cứu Phương pháp này chủ yếu sử dụng tập trung ở chương 1 của luận văn
Trang 17Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch… để cung cấp thêm các luận cứ khoa học và thực tiễn triển khai đề tài
6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp trên cả phương
diện lý luận và thực tiễn mới cơ bản như sau:
- Trên cơ sở các luận điểm khoa học, luận văn đã xây dựng khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập; chỉ ra đặc điểm, vai trò và các yếu tố thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
- Luận văn đánh giá khách quan và chỉ ra những thành tựu, tập trung làm rõ những hạn chế, bất cập của thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập Từ những hạn chế, bất cập của thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập hiện hành trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn đã chỉ ra và phân tích kỹ các nguyên nhân để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện
- Đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập nói chung và thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập tại Thành phố Hà Nội nói riêng
Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các tổ chức và cá nhân
Trang 187 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 2 chương: Chương 1 Những vấn đề lý luận về thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
Chương 2 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 191.1.1 Khái niệm trường đại học công lập
Để làm rõ khái niệm trường đại học công lập cần làm rõ 3 thuật ngữ có liên quan là: cơ sở giáo dục đại học, trường đại học và đại học
Theo khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học 2012: “cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình
độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” Cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật
Trường đại học, học viện (sau đây gọi chung là trường đại học) là cơ sở
giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học ( khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học 2012) Như vậy, nội hàm thuật ngữ “trường đại học” hẹp hơn nằm trong phạm vi cơ sở giáo dục đại học Căn cứ vào quy định trên, trường đại học được hiểu bao gồm: trường đại học và các học viện; không bao gồm các đại học quốc gia, đại học vùng (ví dụ như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Thái Nguyên…)
Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
Trang 20Theo từ điển tiếng Việt: “Đại học là bậc học trên trung học, dưới cao học” [33] Như vậy đại học được hiểu là trình độ đào tạo và người học đài học khi ra trường được cấp bằng cử nhân, kĩ sư Sau đại học là trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Trong các trường đại học hiện nay đào tạo từ trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học Có trường đào tạo cả 3 trình độ, có trường đào tạo đại học và sau đại học, có trường đào tạo sau đai học (ví dụ Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Khoa học xã hội)
Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình sau đây: Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất và cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế
tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất Ngoài ra Ngoài ra có trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài trong đó có 100 vốn của nhà đầu
tư nước ngoài hoặc liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước
Như vậy trường đại học Việt Nam chia làm hai loại: trường đại học công lập và trường đại học tư thục
Về khái niệm đại học công lập: Theo bách khoa toàn thư của Việt Nam thì Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, được quản lý toàn diện mọi hoạt động bởi cơ quan quản lý của Nhà nước Đại học công lập khác với đại học tư thục hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng và được thành lập, quản lý hoạt động bởi các cá nhân là chủ đầu tư của trường [30]
Trang 21Ở một góc độ khác, Trường đại học công lập được định nghĩa là một cơ
sở giáo dục và nghiên cứu, công nhận bằng cấp học thuật ở tất cả các trình độ (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) ở nhiều chuyên ngành khác nhau Trường đại học công lập được nhà nước, bao gồm trung ương và địa phương cấp kinh phí hoạt động Nó thường được quản lý bằng một hội đồng giáo dục đại học hoạt động theo quy định của chính phủ [30]
Như vậy, trường đại học công lập là trường đại học do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa)
và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi
Từ sự phân tích trên có thể thấy, trường đại học công lập và tư thục có những điểm giống và khác nhau cơ bản
Điểm giống nhau: đại học tư thục và trường đại học công lập đều là tổ chức cơ sở trong hệ thống giáo dục đại học Vì vậy, điều kiện, trình tự thủ tục thành lập trường như nhau do Bộ giáo dục và Đào tạo thẩm định Mọi tổ chức
và hoạt động động cơ bản của trường như: Đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hoạt động dịch vụ khác đều phải tuân theo quy chế chung do bộ GD&ĐT và các Bộ, ngành khác quy định đều trên cơ sở pháp luật Và về cơ bản với sản phẩm đầu ra là giáo dục nên hoạt động của trường đều dựa trên nguyên tắc không vụ lợi Văn bằng của trường đại học tư thục có giá trị tương đương như văn bằng công lập
Sự khác nhau cơ bản:
Một là, về sở hữu: Trường Đại học công lập do Nhà nước thành lập,
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên Chính vì vậy, chủ sở hữu ở các trường này là của nhà nước, của toàn dân Còn trường đại học tư thục là do các nhà đầu tư bao gồm các tổ chức, cá nhân đứng ra thành lập, chủ sở hữu là các cổ đông, các nhà sáng lập
Trang 22Hai là, về tài chính: Nguồn ngân sách của các trường đại học công lập
lấy trực tiếp từ nguồn ngân sách nhà nước, mà ngân sách có được chủ yếu từ thuế của công dân đóng góp Còn các trường đại học tư thục nguồn tài chính được lấy từ nguồn ngoài ngân sách, do các nhà đầu tư trực tiếp đóng góp Tuy nhiên, cần lưu ý Nhà nước tuy không trực tiếp lấy từ nguồn ngân sách để đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ngoài công lập nhưng nhà nước đã dùng chính sách kinh tế khác để gián tiếp đầu tư, như chính sách: miễn giảm thuế, ưu đãi lãi suất tín dụng đầu tư; giảm thuế thu nhập; miễn thuế trước bạ
và quyền thuê đất,… Nhờ đó mà các trường đại học tư thục tăng kinh phí xây dựng cơ sở vật chất Mặt khác, nhà nước lại có những chính sách xã hội hóa đầu tư tài chính cho các trường công lập trên cơ sở tự chủ, tự chịu trác nhiệm
về các hoạt động của mình Trong đó, điểm quan trọng nhất là tự hạch toán cân đối về tài chính, không còn được nhà nước bao cấp như trước đây Điều này đã một phần thể hiện sự bình đẳng giữa các trường công lập và ngoài công lập
Ba là, về tổ chức nhân sự: Trường đại học công lập có Hội đồng
trường Chủ tịch Hội đồng trường do đại diện của các phòng, các khoa và các đơn vị trong nhà trường bầu ra Hiệu trưởng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm (có thể là Bộ trưởng bộ chủ quản hoặc Chủ tịch tỉnh) Còn các trường đại học tư thục thì có Hội đồng quản trị Chủ tịch Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra; Hiệu trưởng do Hội đồng quản trị đề xuất và được BGD&ĐT hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định công công nhận
Về thuật ngữ quản lý nhà nước , xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Trong lịch sử phát triển của nhân loại, QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, là công cụ của nhà nước trong quản
lý xã hội, là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước của các
Trang 23cơ quan nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan
hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân Thuật ngữ QLNN được sử dụng khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận nhất định
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập
Về thuật ngữ QLNN, theo khoa học quản lý công và luật học hiện có hai cách hiểu phổ biến:
Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Đó là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước, bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động của nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế văn hóa - xã hội theo đường lối quan điểm của Đảng cầm quyền
Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đó là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các CQHCNN từ trung ương đến cơ sở tiến hành, nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu của con người Đồng thời, các cơ QLNN nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình như ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban
hành quy chế làm việc nội bộ…
Trang 24Như vậy, QLNN theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước Trong phạm vi luận văn, xuất phát từ nghiên cứu thực tiễn ở Thành phố Hà Nội– một cơ quan quản lý hành chính Vì vậy, luận văn
tiếp cận khái niệm QLNN ở nghĩa hẹp, cụ thể là quản lý hành chính nhà nước
Quản lý nhà nước là sự tác động tổ chức mang tính quyền lực - pháp lý của
các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức khi được nhà nước trao quyền tới ý thức, hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức, cơ quan, tới các quá trình xã hội hướng chúng vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định của QLNN và xã hội
Từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với
trường đại học công lập là sự tác động có tổ chức mang tính quyền lực - pháp
lý của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức khi được nhà nước trao quyền thông qua pháp luật để quản lý toàn bộ hoạt động giáo dục, đào tạo của các học viện, trường đại học công lập nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của quốc gia
Từ khái niệm trên có thể xem xét một số đặc điểm của QLNN đối với các trường ĐHCL như sau:
Một là, cơ quan QLNN đối với các trường ĐHCL
Căn cứ vào Khoản 36 Điều 1 Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học 2012, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học, có thể xác định cơ quan QLNN đối với các trường ĐHCL bao gồm:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với các trường ĐHCL
Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với các trường ĐHCL
Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước đối với các trường ĐHCL theo thẩm quyền Uỷ ban nhân
Trang 25dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước đối với các trường ĐHCL theo phân cấp của Chính phủ; hỗ trợ phát triển cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của cơ sở giáo dục đại học tại địa phương; thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học; bảo đảm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học tại địa phương
Hai là, nội dung quản lý nhà nước đối với các trường ĐHCL
Căn cứ Điều 68, Luật Giáo dục đại học 2012 (sửa đổi, bổ sung 2018)
quy định về nội dung QLNN đối với giáo dục đại học:
(1) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và
tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học; chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước; việc công nhận, thành lập, cho phép thành lập, giải thể, cho phép giải thể cơ sở giáo dục đại học theo thẩm quyền;
(2) Quy định chuẩn giáo dục đại học bao gồm chuẩn cơ sở giáo dục đại học, chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn giảng viên, cán bộ quản lý và các chuẩn khác; quy định về xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ giáo dục đại học; ban hành danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học, quy chế tuyển sinh, đào tạo, kiểm tra đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân; quản lý việc bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học;
(3) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục đại học; kiểm định, đánh giá, quản lý, giám sát và đáp ứng nhu cầu thông tin cho cá nhân, tổ chức
có liên quan;
(4) Phối hợp với cơ quan có liên quan, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về giáo dục đại học để phổ biến, giáo dục pháp luật về giáo dục đại học;
Trang 26(5) Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục đại học;
(6) Xây dựng cơ chế, quy định về huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục đại học;
(7) Quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục đại học;
(8) Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học;
(9) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục đại học
Như vậy, căn cứ vào nội dung có thể thấy cơ quan quản lý nhà nước thực hiện sự quản lý nhà nước gần như toàn diện các hoạt động của giáo dục đại học và có nhiều nội dung khá chi tiết, cụ thể thuộc phần nội dung hoạt động của nhà trường như quy định nội dung khối lượng và thời gian đào tạo của các khối ngành nghề, các điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ của các trường
Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ khái quát theo quy trình của QLNN gồm
3 nội dung cơ bản: Xây dựng, ban hành pháp luật; Tổ chức thực hiện pháp luật; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm Chính vì thế nội dung quản lý nhà nước đối với trường ĐHCL bao gồm: i) Xây dựng, ban hành VBQPPL về giáo dục đại học nói chung cũng như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học; ii) Tổ chức thực hiện các VBQPPL về giáo dục đại học và chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học; iii) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong tổ chức và hoạt động các trường ĐHCL
Ba là, mục tiêu QLNN đối với trường ĐHCL
Mục tiêu QLNN đối với các trường ĐHCL là việc bảo đảm tuân thủ các qui định pháp luật trong hoạt động giáo dục của các trường ĐHCL để thực hiện được mục tiêu giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội
Trang 271.2 Những vấn đề chung về thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
1.2.1 Khái niệm thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
Để tìm hiểu quan niệm về thể chế QLNN đối với trường ĐHCL , trước tiên cần phải làm rõ nội hàm thuật ngữ: thể chế Hiện nay cách tiếp cận về thể chế cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
Theo từ điển “Từ và ngữ Việt Nam” thì “Thể” là cách thức, “Chế” là phép định ra - Cơ cấu xã hội do pháp luật quy định [17, tr.1725] Thể chế là
“những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo” [19, tr.900]
Về mặt học thuật, định nghĩa đầu tiên về thể chế là tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong những tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp nhận về cơ bản và sự tuân thủ các quy tắc đó là do bản thân tự kiểm soát hoặc do quyền lực bên ngoài khống chế do Thorstein Veblen đưa ra năm 1914 [20, tr 11]
Schmid (1972) lại cho rằng “Thể chế là tập hợp các mối quan hệ được quy định giữa mọi người, các mối quan hệ này xác định quyền, trách nhiệm của con người trong mối tương quan với người khác” North (1990) coi “Thể chế là những luật lệ được hình thành trong đời sống xã hội hay đúng hơn đó là những luật lệ do con người tạo ra để điều tiết và định hình các quan hệ của con người” [20, tr 11,12]
Ở Việt Nam, Giáo trình Hành chính công của Học viện Hành chính Quốc gia tiếp cận thể chế ở hai khía cạnh:
“Thể chế bao hàm tổ chức với hệ thống các quy tắc, quy chế được sử dụng để điều chỉnh sự vận hành của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức [15tr.108-109]
Trang 28GS.TS Đinh Văn Mậu đã viết “Thể chế hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành thể chế Nhà nước, bao gồm phân hệ tổ chức hành chính nhà nước với hệ thống quy tắc do nhà nước xác lập trong văn bản quy phạm pháp luật để quy định về tổ chức thực hiện quyền hành pháp và tác động quản lý hành chính nhà nước đối với đời sống xã hội”[18 ]
Theo GS.TS Phạm Hồng Thái, thể chế hành chính nhà nước bao gồm: Thể chế về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy hành chính nhà nước, của từng loại cơ quan hành chính nhà nước; Thể chế về chế độ công vụ, công chức hành chính nhà nước; Thể chế về các thủ tục hành chính; Thể chế quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực, trong đó chứa đựng yếu tố thể chế liên quan tới phân cấp trong quản lý nhà nước; Thể chế quản lý lãnh thổ Theo quan điểm này thì không đồng nhất giữa "thể chế" với pháp luật mà thể chế bao gồm: (1) Các quy tắc, quy định do Nhà nước đặt ra (pháp luật); (2) Các quy tắc, quy định do cơ quan, tổ chức ban hành có ý nghĩa nội
bộ (quy chế, nội quy); (3) Hợp đồng giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, tổ chức với tổ chức… Như vậy, pháp luật chính là bộ phận cơ bản của mọi thể chế [7]
Như vậy, dù có những khác biệt nhất định, song về cơ bản có ba quan niệm nhìn nhận về thể chế
Thứ nhất, thể chế hành chính nhà nước với nghĩa hẹp hơn, chỉ bao gồm
hệ thống gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước, một mặt là thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như cho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật; mặt khác là các quy định các mối quan
hệ trong hoạt động kinh tế cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan và nội
bộ bên trong của các cơ quan hành chính nhà nước [7]
Trang 29Thứ hai, thể chế có thể hiểu là những quy định pháp luật, nội quy, quy chế, điều lệ được ban hành chính thức (bằng văn bản) hoặc không chính thức (quy ước ngầm, văn nói) để điều chỉnh các mối quan hệ trong một tổ chức
Thứ ba, thể chế bao gồm các quy định pháp luật, nội quy, quy chế và tổ chức bộ máy vận hành các quy định đó
Dù có sự khác biệt nhất định, song nhìn chung các quan niệm về thể chế bao hàm hai khía cạnh cơ bản là: tổ chức bộ máy (chính phủ, toà án, hiệp hội… - người chơi), quy tắc vận hành tổ chức bộ máy đó (luật chơi) Từ đó,
có thể nhìn nhận thể chế dưới hai góc độ: Một là, tập hợp các quy tắc điều
tiết/điều chỉnh mối quan hệ giữa các tác nhân có sự ràng buộc lẫn nhau (luật
pháp, phép tắc, ngôn ngữ…), và hai là, các thực thể tham gia vào việc thực
thi các quy tắc (chính phủ, gia đình, các tổ chức đoàn thể, cá nhân…)
Với sự phân tích trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể
hiểu: Thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL là hệ thống các quy tắc xử sự
được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật để quy định, hướng dẫn thực hiện các nội dung QLNN đối với các trường ĐHCL một cách thống nhất, đảm bảo mục tiêu giáo dục của Nhà nước
Như vậy, trong phạm vi luận văn thể chế QLNN hiểu với phạm vi hẹp
là các quy định pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền để thực hiện sự QLNN đối với các trường ĐHCL Từ khái niệm trên, có thể xem xét một số đặc điểm cơ bản của thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL như sau:
Một là, thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL được thể hiện dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành
Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành để QLNN đối với trường ĐHCL ngoài những văn bản chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp như Luật Giáo
Trang 30dục 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), Luật Giáo dục đại học 2012, Luật Giáo dục đại học sửa đổi, bổ sung năm 2018 Nghị định, thông tư hướng dẫn còn được quy định trong những văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực tài chính, tổ chức bộ máy
Hai là, thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL là một bộ phận của thể chế QLNN nói chung.Vì thế, thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL nằm trong một chỉnh thể thống nhất và có mối quan hệ khăng khít với các lĩnh vực khác của thể chế QLNN Điều này xuất phát từ chức năng chung của bộ máy quản lý nhà nước là quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội Đồng nghĩa với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL phải trên cơ sở tính sự tác động tất cả các yếu tố kinh
tế, chính trị, văn hóa , xã hội
1.2.2 Vai trò thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
Thứ nhất, thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập xây dựng khung pháp lý để tổ chức và hoạt động hiệu quả, đáp ứng mục tiêu giáo dục
Các trường ĐHCL với vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục Có thể nói với văn hoá, truyền thống giáo dục của người Việt, đại học công lập vẫn được sự tin tưởng, tín nhiệm của xã hội về chất lượng giáo dục cũng như thương hiệu giáo dục Mặt khác đây là các trường thuộc sở hữu của Nhà nước nên được Nhà nước chú trọng đầu tư các nguồn lực về con người, cơ sở vật chất Để đảm bảo hiệu quả tổ chức và hoạt động của các trường ĐHCL cần một hành lang pháp lý toàn diện, một hệ thống bộ máy quản lý nhà nước minh bạch và hiệu quả Vì thế, thể chế có một vai trò quan trọng trong QLNN đối với các cơ sở ĐHCL Bởi vì, bản thân thể chế với nhiều yếu tố cấu thành (Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư ) đã tạo nên một khung khổ pháp lý hoàn chỉnh làm căn cứ cho các cơ quan chức năng và bản
Trang 31thân các cơ sở ĐHCL thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình tổ chức và hoạt động
Thứ hai, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật phát sinh trong tổ chức và hoạt động các trường ĐHCL
Nhà nước quản lý xã hội thông qua các phương tiện như chính sách, kế hoạch, chiếu lược, pháp luật Trong đó pháp luật là phương tiện quản lý hữu hiệu và quan trọng nhất Thông qua pháp luật, nhà nước hình thành không gian, môi trường pháp lý để các chủ thể hình thành nên những hành vi hợp pháp; đồng thời là cơ sở để xác định những hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và có chế tài xử lý nghiêm khắc Mặt khác, thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL đảm bảo vai trò kiểm soát của Nhà nước và xã hội đối với
tổ chức và hoạt động của các trường ĐHCL thông qua quy định các hình thức, phương pháp khác nhau Thực tiễn đã chứng minh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau của xã hội khi mà Nhà nước buông lỏng quản lý hoặc không có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ của xã hội hoặc một hệ thống văn bản pháp lý không hiệu lực, hiệu quả thì sẽ dẫn đến hạn chế về chất lượng đồng thời phát sinh những vi phạm pháp luật nhất định Chính vì vậy thể chế QLNN đối với ĐHCL góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật phát sinh trong tổ chức và hoạt động các trường ĐHCL Trên cơ sở đó đảm bảo sự phát
triển hiệu quả, đúng định hướng, đáp ứng mục tiêu của giáo dục
Thứ ba, góp phần xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy QLNN đối với các trường ĐHCL hoạt động thống nhất, hiệu quả
Thông qua các quy định pháp luật, xác định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy QLLNN đối với trường ĐHCL Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, cơ cấu tổ chức, bộ máy QLNN cũng phải có sự điều chỉnh, thay đổi phù hợp Giai đoạn hiện nay, xuất phát từ vai trò của giáo dục là quốc sách hàng đầu nên các ĐHCL được Nhà nước chú trọng đầu tư
Trang 32nguồn vốn và tài sản lớn cũng như được sự chú trọng quan tâm, theo dõi của
dư luận xã hội Như vậy câu hỏi đặt ra là năng lực quản lý của bộ máy nhà nước đối với ĐHCL phải được cải thiện, nâng cao như thế nào? Vì vậy thể chế QLNN đối với ĐHCL sẽ thiết lập những quy định đảm bảo bộ máy QLNN đối với ĐHCL tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; từ đó phát huy được vai trò quản lý của nhà nước
Thứ tư, thể chế QLNN đối với ĐHCL góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, quyết định đến sự phát triển các ĐHCL
Chất lượng giáo dục đại học chịu sự quyết định của rất nhiều yếu tố trong đó bộ máy quản lý nhà nước chặt chẽ cùng với hệ thống các văn bản pháp lý hoàn thiện đóng vai trò quyết định Trên cơ sở hành lang pháp lý thống nhất, khả thi, toàn diện và một bộ máy quản lý nhà nước minh bạch, hiệu quả, các trường ĐHCL sẽ có môi trường để phát huy nguồn lực mạnh
mẽ, những thế mạnh của mình so với các đại học tư thục Việc hoàn thiện thể chế QLNN đối với ĐHCL không chỉ ứng phó với đòi hỏi từ bên ngoài, mà còn là cơ hội để đẩy mạnh cải cách và hoàn thiện giáo dục.1.2.2 Các yếu tố cấu thành thể chế quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
Thứ nhất, hệ thống quy định pháp luật quản lý nhà nước đối với trường đại học công lập
Để tiến hành hoạt động quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau như: kế hoạch, chính sách, pháp luật Trong đó pháp luật là một công cụ quan trọng nhất của quản lý nhà nước Căn cứ vào các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại học quy định tại Điều 68 Luật Giáo dục đại học 2012 có thể thấy thể chế QLNN đối với trường ĐHCL bao gồm nhiều nội dung Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sỹ, đề tài triển khai tìm hiểu những nội dung chính sau:
Trang 33Một là, hệ thống quy định pháp luật về bộ máy QLNN đối với các trường ĐHCL
Bộ máy quản lý nhà nước đối với các trường ĐHCL là hệ thống các
cơ quan công quyền từ trung ương đến các địa phương do nhà nước thành lập để thực thi hoạt động QLNN đối với các trường ĐHCL Bộ máy nhà nước được phân cấp, phân công trên cơ sở các định chế nhà nước và các cơ chế quản lý đã được thiết lập Bộ máy ở cấp này vừa là chủ thể quản lý của cấp đó vừa là đối tượng quản lý của các cấp trên cao hơn Mỗi kiểu tổ chức
bộ máy quản lý đều ứng với một kiểu thể chế nhà nước và cơ chế vận hành
Có thể nói, mỗi một thể chế nhà nước và cơ chế quản lý nào thì có bộ máy
tổ chức quản lý tương ứng
Mô hình quản lý trường ĐHCL ở nước ta được tổ chức theo hệ thống tổ chức nhà nước và phân cấp quản lý, có sự thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan có chức năng khác nhau và chức năng của cơ quan hành chính nhà nước chính là chức năng quản
lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành) Và quản
lý đối với trường ĐHCL chính là một trong những nội dung của quản lý nhà nước Chính vì vậy, hệ thống bộ máy QLNN đối với các trường ĐHCL được nghiên cứu tập trung trong luận văn cụ thể là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước khác nhau mang tính chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể như các
Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc có chức năng quản lý hành chính nhà nước về những ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước như Chính phủ
Theo Khoản 36 và 37 Điều 1 Luật Giáo dục đại học sửa đổi, bổ sung năm 2018, cơ quan QLNN về giáo dục đại học bao gồm:
“ Chính phủ thống nhất QLNN về giáo dục đại học
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Trang 34Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm nghiên cứu, dự báo nhu cầu nhân lực của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để hỗ trợ công tác xây dựng
kế hoạch đào tạo, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo phân cấp của Chính phủ; hỗ trợ phát triển cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của cơ sở giáo dục đại học tại địa phương; thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học; bảo đảm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học tại địa phương”
Theo đó, Chính phủ là cơ quan quản lý thống nhất đối với cơ sở giáo dục nói chung và trường ĐHCL nói riêng
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đầu mối, giúp việc cho Chính phủ quản lý nhà nước trường ĐHCL ( trong đó trách nhiệm chính tham mưu cho Bộ Giáo dục và Đào tạo là Vụ Giáo dục Đại học
Cùng phối hợp tham gia quản lý nhà nước với Bộ Giáo dục và đào tạo là các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trường ĐHCL trực thuộc
Hai là, hệ thống các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động các trường ĐHCL
Các quy định về tổ chức và trường ĐHCL như: điều kiện, thủ tục
thành lập, giải thể, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể các
trường ĐHCL, nhân sự, bộ máy các trường ĐHCL Nhân sự trong các trường ĐHCL chính là đội ngũ các giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo, chuyên viên các phòng ban và lao động hợp đồng (vệ sinh, bảo vệ )
Các quy định pháp luật về tổ chức nhân sự , bộ máy trong các trường ĐHCL thể hiện thông qua rất nhiều nội dung: tuyển dụng, sử dụng, quản lý đội ngũ giảng viên và chuyên viên, lao động hợp đồng; bổ nhiệm, miễn
Trang 35nhiệm, cách chức, giáng chức, thuyên chuyển, điều động các chức vụ lãnh đạo trong cơ sở đào tạo; việc thành lập cơ cấu tổ chức (phòng, khoa, ban, đơn vị ) cũng như mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị để thực hiện hoạt động đào tạo Về cơ bản các quy định pháp luật này được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như : Luật Cán bộ, công chức 2008, Luật Viên chức 2010, Luật Giáo dục Đại học 2012 ( sửa đổi, bổ sung 2018)
Các quy định pháp luật về hoạt động trường ĐHCL bao gồm các hoạt động chuyên môn như đào tạo và nghiên cứu khoa học: tuyển sinh, nội dung chương trình đào tạo, giáo trình, thi cử, cấp bằng, quy trình nghiên cứu khoa học và sử dụng kết quả nghiên khoa học, kiểm định chất lượng, Các quy định pháp luật phải xác định được các chuẩn mực, các tiêu chí, trên cơ sở đó trường ĐHCL triển khai hoạt động đào tạo và nghiên cứu
Ngoài ra còn có hệ thống các quy định pháp luật về cơ sở vật chất và chế
độ chính sách
Đối với các trường ĐHCL, cơ sở vật chất (trang thiết bị, chi phí thường xuyên) chủ yếu là do ngân sách nhà nước đầu tư Về thu chi quản lý tài chính mặc dù theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhưng vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Chế độ chính sách bao gồm các quy định pháp luật về chế độ chính sách với đội ngũ nhân sự của cơ sở đào tạo (lương, thưởng và các đãi ngộ khác) và chế độ chính sách với học viên (chế độ học phí, học bổng )
- Hệ thống các quy định pháp luật về giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục ĐH
Để bảo đảm hoạt động giáo dục ĐH đi đúng định hướng, mục tiêu của Đảng và tuân thủ theo các quy định pháp luật của Nhà nước đòi hỏi phải xây dựng khung pháp lý về hoạt động giám sát thanh tra, kiểm tra và
xử lý vi phạm pháp luật đối với lĩnh vực giáo dục ĐH Đặc biệt trong xu
Trang 36hướng hiện nay là tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các cơ
sở đào tạo thì càng chú trọng các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước
Ba là, hệ thống các quy định pháp luật về giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục
Để bảo đảm hoạt động giáo dục đi đúng định hướng, mục tiêu của Đảng và tuân thủ theo các quy định pháp luật của Nhà nước đòi hỏi phải xây dựng khung pháp lý về hoạt động giám sát thanh tra, kiểm tra và xử lý
vi phạm pháp luật đối với lĩnh vực giáo dục Đặc biệt trong xu hướng hiện nay là tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo thì càng chú trọng các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giám sát
và xử lý vi phạm để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước
Thứ hai, triển khai thực hiện thể chế QLNN đối với trường ĐHCL
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn xác định thể chế QLNN là các quy định pháp luật như đã trình bày ở trên vì thế chế QLNN đối với trường ĐHCL được hiểu gồm hai yếu tố cấu thành: quy định pháp luật QLNN đối với trường ĐHCL và việc triển khai thực hiện pháp luật QLNN đối với trường ĐHCL Bởi
lẽ nếu chỉ nghiên cứu các quy định pháp luật thì chỉ xem xét ở yếu tố “tĩnh” của
sự vật; việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật QLNN đối với trường ĐHCL mới là yếu tố “động”, phản ánh chân thực, khách quan, toàn diện sự tồn tại các quy định pháp luật
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến thể chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập
1.3.1 Yếu tố chính trị
Chính trị là một thành tố hết sức quan trọng của kiến trúc thượng tầng
xã hội Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của hệ thống chính trị của giai cấp cầm quyền, Hay nói cách khác chính trị giữ vai trò chỉ đạo đối
với nội dung và phương hướng phát triển của pháp luật
Trang 37Ở Việt Nam, việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam – Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng và ban hành thể chế QLNN đối với trường ĐHCL ở Việt Nam Mối quan hệ chính trị - hành chính được đặt trong cơ chế vận hành như sau: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Vì vậy, nội dung, hình thức và quá trình triển khai thể chế QLNN đối với trường
ĐHCL ở Việt Nam phải phù hợp và thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
Mặt khác sự ảnh hưởng của yếu tố chính trị còn thể hiện ở sự tác động của môi trường chính trị ổn định, phát triển bền vững Đây là một trong những điều kiện thuận lợi và ảnh hưởng tích cực đối với hoạt động xây dựng
và thực hiện thể chế QLNN đối với trường ĐHCL, vì nó củng cố ý thức và niềm tin của cán bộ, đảng viên và thành tố xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng, gia tăng lập trường chính trị - tư tưởng của các cá nhân có thẩm quyền trong xây dựng và thực hiện pháp luật
đó Thực tế đã chứng minh, việc chuyển từ nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã kéo theo sự thay đổi của thể chế QLNN đối với trường ĐHCL Khi đất nước đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế đất nước phát triển, nguồn thu ngân sách nhà nước ngày càng tăng, mức độ đầu tư cho giáo dục
Trang 38càng được chú trọng cũng là động lực rất quan trọng thúc đẩy thể chế QLNN đối với giáo dục SĐH Với nguồn lực kinh tế đủ mạnh, nhà nước có điều kiện hơn để đầu tư cho các trường đại học Chính sách đãi ngộ đối với giảng viên giảng dạy cũng như cán bộ làm công tác giáo dục (chế độ lương, thù lao giảng dạy, thù lao quản lý giáo dục ) nhờ đó cũng gia tăng Việc mua sắm trang thiết bị điện tử, máy móc truyền thông, biên soạn chương trình, hệ thống giáo trình, sách tham khảo sẽ được chú trọng hơn [14] Điều đó có tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật
về giáo dục cho các trường ĐHCL
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, thể chế QLNN về giáo dục đại học nói chung quy định cơ chế tổng quát phát triển giáo dục đại học hiện nay là: Nhà nước đóng vai trò chủ đạo kết hợp với cơ chế thị trường, cơ chế
tự chủ của các cơ sở giáo dục và vai trò của xã hội Cơ chế này đảm bảo cho GDĐH phát triển theo định hướng của nhà nước, phát huy được những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường, đồng thời huy động được sự quan tâm và trách nhiệm của toàn xã hội đối với sự phát triển GDĐH Chính vì vậy khi xây dựng, hoàn thiện thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL phải trên cơ sở định hướng chung đó
2.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội
Văn hoá là hiện tượng xã hội gắn liền với hoạt động của con người Văn hoá được biểu thị như là phương thức hoạt động bao gồm toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra [14]
Ở nước ta, xét từ góc độ văn hóa truyền thống dân tộc, có những giá trị tốt đẹp tác động tích cực đến chế độ chính trị, xã hội, nền hành chính của ta như: tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, lòng nhân ái, mặt khác, một
Trang 39số yếu tiêu cực: tư tưởng bản vị, địa phương, bảo thủ, tư tưởng phong kiến tác động không nhỏ đến hoạt động QLNN nói chung [31; tr.63] Trên cơ sở đó cũng ảnh hưởng đến thể chế QLNN đối với trường ĐHCL Những yếu tố văn hóa này, nếu biết cách khơi gợi, khích lệ hợp lý sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động xây dựng thể chế QLNN đối với giáo dục cũng như thể chế QLNN đối với trường ĐHCL Và ngược lại, tính truyền thống “bảo thủ” đôi khi sẽ là nhân tố cản trở trong việc tiếp thu những tư duy, kiến thức giáo dục mới, gây khó khăn cho việc xây dựng và ban hành thể chế QLNN đối với giáo dục nói chung và thể chế QLNN đối với trường ĐHCL
Trong các yếu tố xã hội, không thể không nhắc đến dư luận xã hội Là một hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội, dư luận xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động xây dựng và ban hành và thực hiện thể chế QLNN đối với các trường ĐHCL Với một quốc gia coi trọng giáo dục đặc biệt
là giáo dục ở trình độ cao như đại học thì mọi văn bản, quy định, quy tắc điều
lệ QLNN đối với các trường ĐHCL đều được nhân dân quan tâm, đánh giá Vì thế dư luận xã hội là một trong những cơ sở thông tin phản hồi giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ban hành các văn bản pháp luật QLNN đối với trường ĐHCL phải đáp ứng yêu cầu chung của xã hội Dư luận xã hội cũng có tác dụng phát hiện những thiếu hụt, những khe hở trong các văn bản quy phạm pháp luật, giúp cho Nhà nước có biện pháp sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh một cách kịp thời các văn bản pháp luật còn khiếm khuyết, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật
2.3.4 Yếu tố con người
Con người luôn là một nhân tố quyết định đến tất cả hoạt động QLNN trong đó có việc xây dựng, ban hành thể chế QLNN đối với trường ĐHCL Trong yếu tố con người, có thể tách ra những chủ thể sau:
Trang 40Một là đội ngũ cán bộ, công chức tham gia quá trình xây dựng, ban hành văn bản pháp luật QLNN đối với các trường ĐHCL Đây là nhân tố quan trọng Nếu đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, kỹ năng và am hiểu về QLNN đối với trường ĐHCL thì đương nhiên các quy định thể chế QLNN đối với trường ĐHCL sẽ có chất lượng và ngược lại
Hai là, lực lượng cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục – nhân
tố cấu thành bộ máy QLNN đối với giáo dục – những người triển khai thực hiện thể chế QLNN đối với trường ĐHCL Đây là nhân tố “động” giúp cho thể chế QLNN đối với trường ĐHCL đi vào cuộc sống, đánh giá được tính hợp pháp, hợp lý và khoa học của các quy định Hay nói cách khác, các quy định pháp luật nói chung và thể chế QLNN đối với trường ĐHCL nói riêng chỉ là quy định “cứng”; việc hiểu và triển khai thực hiện như thế nào phụ thuộc chính vào trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ đội ngũ cán bộ, công chức ngành giáo dục