Luật Ngân sách năm 2015 của Nhà nước Việt Nam đã định nghĩa về NSNN như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thờ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG TRUNG DŨNG
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN:
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8340403
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ SỸ THIỆP
Khoa Quản lý nhà nước về Kinh tế và Tài chính công
HÀ NỘI - NĂM 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng” là sản phẩm do chính tác giả tự nghiên cứu lý luận,
tìm hiểu thực tế, thu thập tài liệu, xây dựng nội dung của đề tài nghiên cứu Luận văn là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc của bản thân tác giả, dưới
sự hướng dẫn của GS.TS Lê Sỹ Thiệp, khoa Quản lý nhà nước về Kinh tế và Tài chính công, Học viện Hành chính Quốc gia
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Trung Dũng
Trang 3Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình đã động viên, hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian khóa học và quá trình viết luận văn Nếu không có họ, tác giả sẽ không thể hoàn thành đề tài luận văn này
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Trung Dũng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AN-QP An ninh - Quốc phòng
VHTT Văn hóa thông tin
Trang 5MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN
1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA MỖI QUỐC GIA
8
1.1.4 Yêu cầu đối với ngân sách nhà nước 13 1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lành mạnh của ngân sách nhà
1.2.3 Những nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước 17
1.2.4 Nội dung quản lý ngân sách nhà nước 19
Trang 6sách nhà nước
1.3.2 Khái niệm có tính bản chất của tổ chức quản lý nhà nước
trong quản lý ngân sách nhà nước
26
1.3.3 Phương pháp, nội dung tổ chức quản lý nhà nước về ngân
sách nhà nước
27
1.3.4 Cấp huyện trong quản lý nhà nước về ngân sách nhà nước 27
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP
HUYỆN VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO HUYỆN TIÊN LÃNG,
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.2.6 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quản lý ngân
sách nhà nước
60
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
63
Trang 72.3.1 Những ưu điểm 63
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 70
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN
LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG
75
3.1 NHỮNG CĂN CỨ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG
75
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG
79
3.2.1 Phương hướng của kết quả mà công tác quản lý ngân sách nhà
nước huyện Tiên Lãng cần đạt
79
3.2.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tại
huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
80
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TẠI HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Trang 8Bảng 2.1 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội
huyện
40
Bảng 2.2 Thu NSNN giai đoạn 2016-2018 49
Bảng 2.3 Thu NSNN trên địa bàn giai đoạn 2016-2018 52
Bảng 2.4 Tổng hợp chi NS năm 2016-2018 55
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp chi thường xuyên NS huyện 57
Bảng 2.6 Tổng hợp nguồn vốn đầu tư công và xây dựng nông
thôn mới
58
Bảng 2.7 Kết quả thanh tra công tác quản lý NSNN 61
Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả thu phạt về thuế 62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tổng thu NSNN và thu NS địa phương 50
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ phần trăm thu NS địa phương và thu cân đối
NS so với tổng thu NSNN
51
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ phần trăm các khoản thu NS (2016-2018) 53
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ phần trăm chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên so với tổng chi NS
56
Biểu đồ 2.5 Chi thường xuyên huyện 2016-2018 56
Biểu đồ 2.6 Chi đầu tư phát triển 2016-2018 58
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Ngân sách nhà nước là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách được thiết
kế phù hợp với hệ thống chính quyền nhà nước các cấp Ngân sách nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển toàn diện của mỗi quốc gia nói chung, từng cộng đồng địa phương nói riêng Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, xã hội, đảm bảo cho các hoạt động chi tiêu công và điều tiết các quan hệ xã hội
Quản lý ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng, quyết định sự mạnh, yếu của ngân sách nhà nước nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung Bởi lẽ quản
lý tốt ngân sách nhà nước sẽ làm gia tăng thu ngân sách, nuôi dưỡng nguồn thu, hạn chế tối đa thất thu, bỏ sót nguồn thu ngân sách nhà nước; đồng thời đảm bảo sự minh bạch, công bằng về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước của các tổ chức, cá nhân Quản lý tốt ngân sách nhà nước cũng sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng, tiết kiệm ngân sách nhà nước, chống lãng phí, thất thoát ngân sách nhà nước Đồng thời, ngược lại quản lý ngân sách nhà nước không tốt sẽ làm cho ngân sách nhà nước yếu đi, khiến cho các hoạt động kinh tế - xã hội bị trì trệ, chậm phát triển, hoạt động của bộ máy nhà nước gặp nhiều khó khăn, thậm chí dẫn đến khủng hoảng kinh
tế, xã hội
Tiên Lãng là địa phương nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Phòng, bốn bề được bao bọc bởi sông và biển, khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chỉ nhỏ lẻ Tiềm năng phát triển của Tiên Lãng còn lớn, nhất là tiềm năng về đất đai, truyền thống anh hùng cách mạng, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất
Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quản lý ngân sách nhà nước luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền của huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng hết sức quan tâm, trăn trở Các hoạt động quản lý ngân sách nhà nước của huyện đã có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, minh bạch hơn và đạt được nhiều kết quả quan trọng; giúp cấp ủy, chính quyền huyện thực hiện các
Trang 102
nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị huyện và cơ sở vững mạnh Tuy nhiên, thực tế tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện còn nhiều bất cập Thu ngân sách trên địa bàn huyện còn rất hạn chế, chưa thật sự bền vững, phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách của thành phố cấp, song việc thu ngân sách còn bỏ sót các nguồn thu, thất thu ngân sách Chi ngân sách còn để xảy ra thất thoát, lãng phí, còn xảy ra sai phạm Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về ngân sách còn hạn chế về chuyên môn, năng lực công tác, thậm chí còn thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật, làm thất thoát ngân sách nhà nước
Qua thực tiễn công tác quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Tiên Lãng thời gian qua, học viên nhận thấy đây là nội dung cần được nghiên cứu, phân tích làm rõ thực trạng và có các phương hướng, giải pháp để đề xuất với các cấp có thẩm quyền nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Tiên Lãng phục vụ tốt
sự phát triển của huyện trong những năm tới Đồng thời, qua tìm hiểu, được biết đến thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, nghiên cứu sâu về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
Với các lý do được phân tích trên đây, học viên lựa chọn đề tài: “Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng” để làm luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý công tại Học viện Hành chính quốc gia
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
a) Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
- “Nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước tỉnh An Giang, giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020” của Tô Thiện Hiền, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh, năm 2012 Đề tài đã có
những luận giải cơ sở về hiệu quả quản lý NSNN nói chung và tỉnh An Giang nói riêng Trên cơ sở thực tiễn quản lý NSNN tỉnh An Giang, đề tài đã đề xuất những giải pháp phù hợp, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả quản lý NSNN
trên địa bàn tỉnh An Giang
Trang 113
- “Quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Hoằng Hóa, Tỉnh Thanh Hóa” của
tác giả Bùi Thị Minh Thúy Luận văn đã đề cập công tác quản lý ngân sách ở cấp huyện của tỉnh Thanh hóa qua đi sâu phân tích chi tiết từng khoản thu ngân sách để đưa ra được những giải pháp phù hợp
- “Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Cẩm Giàng - Tỉnh Hải Dương” của
tác giả Vũ Thị Thuận Luận văn đã đề cập tới công tác quản lý ngân sách ở cấp huyện của tỉnh Hải Dương thông qua việc tập trung vào hoạt động thu và chi ngân sách, tuy nhiên chưa làm rõ được vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra trong quản
lý ngân sách nhà nước
- “Quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” của tác
giả Nguyễn Thị Thùy Nhung Công trình này đã đưa ra được hệ thống lý luận rõ ràng, cũng như công tác quản lý NSNN ở cấp huyện của một số địa phương, từ đó
đề xuất các giải pháp về quản lý NSNN cấp huyện
- “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thu - chi ngân sách của thành phố Hải Phòng” của Nguyễn Thị Thanh Mai, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên
cứu quản lý kinh tế Trung ương Luận án đã đi sâu nghiên cứu, cung cấp một số luận cứ khoa học, phân tích, đánh giá thực trạng thu - chi ngân sách của Tp Hải Phòng trong thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2011-2015, chỉ rõ một số hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu trong quản lý nhà nước đối với thu - chi ngân sách của Tp Hải Phòng, từ đó, tác giả đã đề xuất 10 nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với thu - chi ngân sách của Tp Hải Phòng
- “Quản lý đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hải Phòng” của Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Luận án Tiến sĩ kinh tế - Năm 2012, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đã luận giải được cơ
sở lý luận của quản lý đầu tư phát triển từ NSNN và các nhân tố ảnh hưởng tới quản
lý đầu tư phát triển từ NSNN; rút ra 6 bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quản lý đầu tư phát triển từ NSNN của một số quốc gia và một số địa phương trong nước Luận án đã chỉ ra 6 nhân tố ảnh hưởng tới quản lý đầu tư phát triển từ NSNN, đã đề cập đến
Trang 124
hiệu quả đầu tư phát triển từ NSNN
- “Phân cấp quản lý ngân sách địa phương nghiên cứu tại thành phố Hải Phòng” Bài viết của TS Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Trường Đại học Hải Phòng, Tạp chí Công Thương, ngày 04/11/2017 Trong bài viết này, tác giả đã tập trung nghiên cứu kết quả tác động của phân cấp quản lý NSNN đến phát triển kinh tế, an sinh xã hội của Tp Hải Phòng Trong đó, tác giả đã tiến hành thu thập, khảo sát thực tiễn công tác quản lý NSNN tại Tp Hải Phòng trong giai đoạn 2011-2015, tập trung phân tích kết quả thu, chi ngân sách; chỉ ra một số hạn chế và nguyên nhân trong công tác thu, chi ngân sách; qua đó, tác giả đề xuất một số một số gợi mở chính sách trong phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình phân cấp
- “Một số biện pháp hoàn thiện quản lý dự án đầu
hành phố Hải Phòng” của Lương Văn Công, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý các dự án đầu tư công trên địa bàn huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng, sử dụng nguồn vốn đầu tư công được giao cho Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện Tiên Lãng làm chủ đầu tư Qua đó, tác giả đưa ra 9 biện pháp hoàn thiện quản lý dự án đầu tư công; trong đó có biện pháp hoàn thiện quản lý vốn ngân sách đầu tư, chống thất thoát trong sử dụng NSNN trong các dự án đầu tư công
b) Ý nghĩa của các nghiên cứu trên đối với công trình của học viên
Qua việc nghiên cứu các công trình trên, tác giả thấy rằng:
Trước hết, tác giả có thể tiếp nhận từ các công trình trên rất nhiều nội dung thiết thực, bổ ích để xử lý vấn đề đặt ra cho luận văn của bản thân Tuy mỗi công trình, đề tài nghiên cứu nêu trên có những cách tiếp cận theo nhiều hướng, mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu cũng khác nhau, xuất phát từ sự khác nhau về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, không giống mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả nhưng đều đề cập nhiều vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và quản lý NSNN và thực tế quản lý NSNN của nhiều địa phương, những điều đó có giá trị
về cơ sở lý luận và thực tế cho tác giả trong việc xử lý vấn đề “Quản lý ngân sách
Trang 135
nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng”, vấn đề đã được tác giả
chọn làm đề tài luận văn của mình
Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu về công tác quản lý NSNN của huyện Tiên Lãng, nên với nội dung cụ thể của luận văn, tác giả thấy rằng:
- Chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu về quản lý NSNN trên địa bàn huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng
- Về lý thuyết, các công trình trên luận giải chưa đủ mức về chức năng công
cụ vĩ mô của NSNN trong việc giúp nhà nước điều chỉnh sự vận động của nhiều quan hệ xã hội mà phần nhiều thiên về giá trị kinh tế của việc thu - chi NSNN Trong khi đó, đối với nhiều nhà nước, trong đó có nhà nước của nước ta, NSNN là trung tâm của chính sách tài chính, cùng với chính sách tiền tệ, chính sách thương mại, chính sách hối đoái, chính sách giá cả và thu nhập tạo nên hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô, được nhà nước dùng để điều chỉnh sự phát triển KTXH theo hướng Dân giầu - Nước mạnh - Dân chủ - Công bằng - Văn minh Đó chính là một trong những hướng mà tác giả sẽ nỗ lực làm rõ thêm trong luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục đích nghiên cứu của tác giả luận văn
Bản luận văn này được viết với mục đích cuối cùng và cao nhất là: Góp phần hoàn thiện công tác QLNN về NSNN của chính quyền huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng, cả về mặt lý thuyết và thực tế công vụ
b) Nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả luận văn
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lý NSNN nói chung, NSNN cấp huyện nói riêng, lấy đó làm cơ sở để xử lý toàn bộ vấn đề, được đặt ra cho luận văn của tác giả
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý NSNN cấp huyện tại huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng giai đoạn 2016-2018, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập của chính quyền huyện trong quản lý NSNN của huyện
- Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý NSNN cho bộ máy chính quyền huyện Tiên Lãng
Trang 146
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
a) Đối tượng nghiên cứu
Đó là công tác quản lý nhà nước đối với NSNN
b) Phạm vi nghiên cứu
- Về chủ thể quản lý NSNN được nghiên cứu, đó là chính quyền huyện Tiên Lãng, bao gồm cả HĐND, UBND, trong đó, trung tâm là quản lý NSNN của UBND qua cơ quan chuyên quản về NSNN của huyện
- Về nội dung quản lý NSNN được nghiên cứu, luận văn tập trung vào nghiên cứu các nội dung cơ bản sau: Công tác lập dự toán ngân sách; Công tác phân
bổ và giao dự toán ngân sách; Công tác tổ chức thu, chi ngân sách; Công tác quyết toán ngân sách và thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động có liên quan đến NSNN của huyện
- Về thời gian nghiên cứu, đó là:
Giai đoạn 2016-2018 cho thực trạng quản lý NSNN tại huyện Tiên Lãng
Giai đoạn đến năm 2025 cho các dự kiến hoàn thiện quản lý NSNN tại huyện Tiên Lãng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
a) Về phương pháp luận
Đó là thế giới quan và nhận thức luận Mác - xít Kiến thức đó được thể hiện trong sự toàn diện, có hệ thống khi tác giả xem xét vấn đề NSNN cấp huyện trong tổng thể QLNN các cấp đối với toàn bộ hoạt động của quốc gia nói chung, từng địa phương nói riêng
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quản lý NSNN nói chung, quản lý NSNN cấp huyện nói riêng
b) Về phương pháp chuyên môn cụ thể trong nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Học viên nghiên cứu một số tài liệu như:
Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, sách báo, đề tài khoa học, tạp chí, các bài viết trên Internet có nội dung liên quan đến quản lý NSNN để làm
Trang 157
cơ sở khoa học cho luận văn Bên cạnh đó, tác giả thu thập các báo cáo có liên quan của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Tiên Lãng, của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Kho bạc Nhà nước huyện Tiên Lãng, Chi cục thuế huyện Tiên Lãng
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn: Trong phạm vi luận văn này, tác giả trao
đổi, phỏng vấn đối với một số đồng chí lãnh đạo phụ trách kinh tế, tài chính; CBCC hiện đang trực tiếp thực hiện chức năng quản lý NSNN ở huyện để hiểu rõ hơn về thực trạng quản lý NSNN, các giải pháp quản lý NSNN đối với huyện Tiên Lãng
- Phân tích, tổng hợp số liệu: Trên cơ sở báo cáo số liệu của các cơ quan, tác
giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu để khái quát thực trạng quản
lý NSNN huyện Tiên Lãng một cách đầy đủ, khoa học, trung thực Từ đó đưa ra giải pháp phù hợp, có tính khả thi cao để đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
a)Ý nghĩa lý luận
Lý thuyết về NSNN và quản lý
b) Ý nghĩa thực tiễn
- Những ý kiến đánh giá quản lý NSNN tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
Trang 168
Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỖI QUỐC GIA
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Nguồn gốc ra đời ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một phạm trù lịch sử, một thành tựu lịch sử của sự
phát triển xã hội loài người Sự ra đời và hoàn thiện của NSNN là cả một quá trình
lâu dài, đa dạng và phức tạp NSNN ra đời vì hai lý do chủ yếu sau:
Một là, vì sự xuất hiện và ngày càng gia tăng về số lượng, chủng loại các nhu
cầu chi tiêu công, điển hình như chi cho phòng chống ngoại xâm, phòng chống
thiên tai Ngày nay, nhu cầu chi tiêu công đã phát triển sang nhiều lĩnh vực, như chi
cho sự nghiệp giáo dục & đào tạo, sự nghiệp y tế, chi cho việc xây dựng kết cấu hạ
tầng KTXH, hay xây dựng nông thôn mới hiện nay
Để chi cho các việc công trên, các nhà nước đã đặt ra lệ đóng góp, từ giản
đơn đến phức tạp về nội dung đóng góp (công sức và nhiều loại hiện vật), từ phức
tạp đến giản đơn về hình thức đóng góp (từ nhiều loại hiện vật đến duy nhất bằng
tiền) và từ đó hình thành công quỹ, ngày nay gọi là NSNN
Hai là, vì sự phát sinh những vấn đề KTXH mà để xử lý những vấn đề đó,
những phương thức, công cụ QLNN ở phương diện nào đó đều chỉ có tác dụng nhất
định, khó triệt để, kém nhạy bén, trong khi đó, sử dụng NSNN mới có thể giúp cho
nhà nước xử lý được các vấn đề đó một cách nhanh chóng, triệt để, hiệu lực cao
Điển hình là việc điều tiết cung - cầu hàng hóa trên thị trường theo hướng mà nhà
nước coi là có lợi cho dân, cho nước Chẳng hạn, nhà nước thấy cần hạn chế việc
sản xuất và tiêu dùng rượu, bia, thuốc lá, vàng mã để cúng tế, Trong việc này, các
nhà nước thường dùng biện pháp tuyên truyền Nhưng nếu chỉ bằng việc tuyên
truyền, vận động thì việc hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm trên là rất kém
Trang 179
tác dụng, mà cấm thì vướng và khó, không như việc cấm sản xuất và tiêu dùng các chất ma túy, vũ khi và chất cháy nổ, Vì thế, bên cạnh việc tuyên truyền để người dân từ bỏ việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm độc hại trên, nhà nước đã đánh thuế cao các hàng hóa đó Khi áp thuế cao vào các hàng hóa trên thì cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng đều thiệt, từ đó mà giảm cả sản xuất lẫn tiêu dùng
Ở chiều hướng khác, để làm cho xã hội gia tăng sản xuất và tiêu dùng hàng trong nước (khác với hàng nhập khẩu) vì hướng sản xuất và tiêu dùng đó có lợi cho nước, cho dân, các nhà nước cũng dùng công cụ NSNN, nhưng không phải để kìm hãm mà để thúc đẩy cả sản xuất lẫn tiêu dùng, trong đó có việc miễn, giảm thuế đối với các mặt hàng đó hoặc trợ giá cho các mặt hàng đó với thực chất là nhà nước dùng công quỹ để bù đắp phần thiệt cho người sản xuất để người sản xuất kinh doanh bán hàng hóa cho người tiêu dùng với giá thấp, từ đó khuyến khích tiêu dùng Chẳng hạn, như dịch vụ vận tải hành khách, sử dụng điện năng, Tức là, nhà nước muốn người dân đi lại bằng các phương tiện công cộng, dùng điện chứ không dùng các dạng năng lượng khác, thì nhà nước dùng công quỹ để bù giá cước vận tải khách, bù giá điện cho các nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ để họ cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng, từ đó người tiêu dùng sẽ đi phương tiện công cộng nhiều hơn, dùng điện chứ không dùng các năng lượng khác
1.1.1.2 Khái niệm ngân sách nhà nước
Thuật ngữ "Ngân sách" xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước Từ thời Trung cổ, thuật ngữ “Ngân sách” được dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua mà bên trong chiếc túi đó có nhiều ngăn khác nhau chứa những khoản tiền khác nhau về nguồn gốc có và khác nhau về đích chi dùng [15]
Từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa "Ngân sách là tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định"
Luật Ngân sách năm 2015 của Nhà nước Việt Nam đã định nghĩa về NSNN
như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
Trang 1810
nước” [17]
Mỗi định nghĩa được tiếp cận theo cách khác nhau Với cách tiếp cận từ
nguồn gốc ra đời của NSNN, tác giả định nghĩa NSNN như sau:
Ngân sách nhà nước là công quỹ hàng năm của quốc gia, có phân rõ nguồn gốc tạo nên và đối tượng chi dùng công quỹ đó
Định nghĩa NSNN như trên để hiểu sâu sắc, có hệ thống những việc cần làm trong quản lý NSNN, điển hình là quản lý thu như thế nào, quản lý chi như thế nào theo từng loại thu - chi với các công đoạn cấu thành toàn bộ quá trình quản lý hai đầu thu - chi đó sao cho minh bạch
1.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Chức năng bảo đảm chi tiêu công
Chi tiêu công xuất hiện vì nhiều lý do, có mối quan hệ hữu cơ và hệ thống với nhau Xuất phát từ thực tiễn lao động sản xuất, nhu cầu sinh hoạt vật chất, tinh thần và sự sinh tồn trước thiên tai, địch họa, con người cần sống cộng đồng Khi con người đã cộng đồng cả ba việc trên, tất sinh ra nhiều nhu cầu và khả năng tiêu dùng chung, như phương tiện chung để cùng lao động sản xuất, phương tiện chung để cùng sinh hoạt vật chất và tinh thần, phương tiện chung để bảo vệ cộng đồng trước thiên tai, địch họa Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu các việc công trên, phải tạo lập công quỹ, tức ngân sách nhà nước Đó chính là thực chất của chức năng bảo đảm chi tiêu
công của ngân sách nhà nước
1.1.2.2 Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội
Sởi dĩ ngân sách nhà nước phải có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội
là vì một chuỗi lý do, có quan hệ liên đới như sau:
Thứ nhất, một trong các chức năng hay sứ mạng của nhà nước là điều chỉnh
các quan hệ xã hội sao cho ích nước, lợi dân
Thứ hai, việc điều chỉnh các quan hệ trên có nhiều cách: Nhà nước đưa ra
định hướng và chuẩn mực quan hệ xã hội để dân biết mà ứng xử đúng các quan hệ của mình với xã hội, tuyên truyền lôi cuốn để những ai chưa hiểu được định hướng
đó thì giác ngộ và theo
Trang 1911
Thứ ba, trên thực tế, các biện pháp trên không đủ tác dụng điều chỉnh đối với
không ít thành viên trong xã hội Tức là, tuy nhà nước đã có chỉ dẫn và tuyên truyền, lôi cuốn nhưng nhiều người vẫn không theo các chỉ dẫn, các chuẩn mực đó trong nhiều quan hệ với xã hội của họ
Thứ tư, với nhiều trường hợp như trên, nhà nước đã dùng biện pháp cưỡng
chế mạnh, như phạt tiền, bỏ tù, tịch thu phương tiện hành vi của đối tượng làm sai
Thứ năm, nhưng với nhiều trường hợp, nhà nước không thể dùng biện pháp
cưỡng chế mạnh đó được, như việc sản xuất và sử dụng rượu, bia, thuốc lá, đồ vàng
mã, của người dân
Thứ sáu, trong trường hợp đó, nhà nước thấy rằng, chỉ có dùng công cụ
NSNN để điều chỉnh cả người sản xuất kinh doanh lẫn người tiêu dùng các hàng hóa đó là ngăn chặn được các hành vi trên và biện pháp đó là phù hợp cả về lý và đạo lý
Thứ bảy, bằng hoạt động của NSNN, nhà nước có thể đưa ra các khoản thu
hoặc chi để điều chỉnh các hành vi của công dân và tổ chức công dân theo hướng ích nước, lợi dân
Những lý giải trên đây của tác giả chính là ngọn nguồn của chức năng điều
chỉnh các quan hệ xã hội của NSNN Chính từ sự nhận ra của nhà nước về tác dụng
của việc sử dụng công cụ NSNN trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội do công
dân thực hiện nên có thể xác lập được chức năng trên của NSNN - chức năng điều
chỉnh các quan hệ xã hội
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chức năng của NSNN, như có người nói
đến chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng giám sát, nhưng theo tác giả, các chức năng đó là các dạng cụ thể của hai chức năng cơ bản trên Nhìn nhận rõ chức năng của NSNN thì mới quản lý NSNN một cách hiệu quả, phát huy hết vai trò, chức năng của NSNN phục vụ sự phát triển của đất nước
1.1.3 Cấu tạo ngân sách nhà nước
Cấu tạo cụ thể của NSNN của mỗi các nước khác nhau, của mỗi thời khác
Trang 2012
nhau của từng nước đều có sự khác nhau Tuy vậy, xuất phát từ chức năng của NSNN như trên, về nguyên tắc chung, NSNN có cấu tạo như sau:
1.1.3.1 Cấu tạo chung của ngân sách nhà nước
Về tổng thể, NSNN của bất kỳ quốc gia nào cũng có dạng như sau:
a) Về hình thái cấu trúc
Đó là cấu tạo với hai phần là phần thu và phần chi
b) Về nội dung của mỗi phần
- Phần chi: Thể hiện toàn bộ nhu cầu chi tiêu công của quốc gia, là xuất phát
điểm cho việc hình thành phần đối ứng với nó là phần thu
- Phần thu: Thể hiện toàn bộ khả năng có của công quỹ quốc gia, bảo đảm
cho nhu cầu chi tiêu công của quốc gia, đã được thể hiện ở phần chi trên đây Phần thu cũng là xuất phát điểm cho việc hình thành phần đối ứng với nó là phần chi
1.1.3.2 Cấu tạo từng phần thu - chi của ngân sách nhà nước
Cấu tạo cụ thể của NSNN của mỗi các nước khác nhau, của mỗi thời khác nhau của từng nước đều có sự khác nhau, như các khoản thu của NSNN Việt Nam thời nay khác xa các khoản thu của NSNN cũng của nước ta nhưng ở thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Thời đó chưa có Thuế Tài nguyên, Thuế thu nhập cá nhân, Tuy thế, về nguyên tắc, các phần thu - chi của NSNN vẫn có nét chung nhất
về cấu tạo như sau:
Trang 2113
dựng kinh tế nhà nước khi cần có kinh tế nhà nước
- Chi thường xuyên: Chi liên quan đến sự tồn tại của chính bộ máy nhà nước;
chi cho các hoạt động nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên mọi lĩnh vực, điển hình như an ninh, quốc phòng, giáo dục & đào tạo, y tế, phát triển khoa học và công nghệ,
- Các khoản chi đặc biệt, điển hình là viện trợ quốc tế
1.1.4 Yêu cầu đối với ngân sách nhà nước
Một cách tổng quát, yêu cầu đối với NSNN là lành mạnh Một NSNN được coi là lành mạnh khi nó có được các dấu hiệu sau:
a) Cân bằng thu - chi
Sự cân bằng này thể hiện ở con số quyết toán NSNN hàng năm Sự cân bằng này chứng tỏ những điều sau đây:
- Khi thu bằng chi mà tổng thu hoặc tổng chi đều là những kết quả đáng kể
so với quy mô phát triển của đất nước thì trạng thái đó của NSNN chứng tỏ nhà nước đã năng động cả trong xây dựng và sử dụng công quỹ Tuy nhiên, qua kết quả thu bằng chi của NSNN chưa thể kết luận ngay là tốt về trạng thái đó của NSNN, nếu cả thu và chi đều là những con số không đáng kể so với quy mô phát triển của đất nước Nhưng chí ít kết quả thu bằng chi cũng chứng tỏ NSNN không có vấn đề bức xúc tiềm ẩn bên trong
- Nếu chi lớn hơn thu tức là bội chi, điều đó sẽ tiềm ẩn nhiều bất lợi cho quốc gia, không là trong đối ngoại thì cũng là việc đối nội Khi đó, nhà nước cần phải nghiên cứu lý do bội chi và phải có giải pháp tích cực để khắc phục tình trạng này
- Nếu thu lớn hơn chi, thì cần phải xem xét nhiều điều, nhiều mặt Việc thu
có thể không sát với nhu cầu chi tiêu công hoặc nhà nước có dự tính dài hạn cho
việc xây dựng đất nước, tức là trong tầm nhìn chiến lược, nhà nước đã tính trước nhu cầu chi của những năm sắp tới, từ đó có kế hoạch thu tích lũy để lo việc chi lớn trong tương lai
Vì thế, sự cân bằng thu - chi được coi là dấu hiệu tối thiểu của một NSNN được coi là lành mạnh Coi là tối thiểu vì còn cần phải xem cả nội dung và tác dụng
Trang 2214
của kết qủa thu - chi đó đối với sự tiến bộ của xã hội qua các tiêu chí dưới đây
b) Tỷ số giữa tổng thu hoặc tổng chi so với tổng GDP quốc gia
Tức là xem tỷ số giữa số thu hoặc chi với GDP cùng kỳ Khó có thể nói số phần trăm này bằng bao nhiêu là tốt Tuy nhiên, nếu tỷ số tổng thu hoặc tổng chi là quá nhỏ hoặc là quá cao so với tổng GDP quốc gia đều phản ánh sự không tương xứng giữa NSNN với sự phát triển của quốc gia Chẳng hạn như khi tỷ lệ đó quá nhỏ chứng tỏ dân giầu nhưng nước không mạnh, nhà nước chưa biết huy động sức dân (khi dân giầu) để làm cho nước mạnh thêm Hay tỷ lệ đó quá cao, phản ánh việc thu NSNN có thể vượt quá sức dân, hoặc quản lý NSNN kém hiệu quả khi GDP thấp còn thu NS thì quá cao
c) Kết quả thu - chi ngân sách nhà nước tương thích với sự phát triển tốt đẹp về kinh tế - xã hội
Có nghĩa là, độ lớn của thu - chi NSNN phải tương xứng với sự thịnh vượng, tốt đẹp của đời sống xã hội, xã hội phải phát triển toàn diện từ kinh tế, đến giáo dục
và đào tạo, y tế và văn hóa, khoa học và công nghệ, môi trường sinh thái và môi trường nhân văn đạo đức
Một khi mà NSNN thì to ra còn KTXH thì chững lại, chậm lại thì đó là một dấu hiệu xấu của NSNN Còn khi độ lớn của NSNN tương xứng với độ trưởng thành của đất nước thì đó là dấu hiệu tích cực, hiệu quả của công cụ NSNN
d) Nhân dân hài lòng với những gì mà nhà nước đưa lại cho họ trong sự
so sánh với những gì mà họ đã đóng góp cho ngân sách nhà nước
Đây là dấu hiệu có được từ việc có dấu hiệu thứ ba trên đây Một khi mà nhà nước đã tạo dựng được sự phát triển tốt đẹp về KTXH tương thích với NSNN thì không người dân nào lại không hài lòng với nhà nước
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lành mạnh của ngân sách nhà nước
Sự tốt đẹp của NSNN, được thể hiện qua các tiêu chí trên phụ thuộc nhiều nhân tố, có cả nhân tố chủ quan và khách quan Các nhân tố đó là:
1.1.5.1 Các nhân tố chủ quan
Đó là các nhân tố thuộc về chính nhà nước, người chủ trực tiếp quản lý
Trang 2315
NSNN Các nhân tố chủ quan bao gồm:
a) Chất lượng cán bộ, công chức làm quản lý ngân sách nhà nước
Nhân tố con người có ý nghĩa quyết định kết quả công việc Điều này đã được thực tế cuộc sống chứng minh và nhiều khoa học có liên quan nghiên cứu Trong quản lý NSNN, vai trò của nhân tố con người càng đặc biệt, vì:
- Việc hình thành và sử dụng NSNN có vai trò rất quan trọng như tác giả đã
nêu và phân tích trong phần nói về chức năng của NSNN Vì thế, nhân tố con người
quản lý NSNN là rất trọng yếu
- Quản lý NSNN là việc đối mặt với tiền của CBCC, kể cả trong khâu thu lẫn khâu chi Trong quản lý NSNN dễ nảy sinh những vấn đề tham nhũng, tiêu cực Và thực tế cũng đã chứng minh, một bộ phận CBCC vì lợi ích cá nhân mà tha hóa
Chính hai vấn đề trên của quản lý NSNN đã cho thấy, NSNN lành mạnh nếu người chủ trực tiếp quản lý NSNN tốt cả về đức và tài, tâm và tầm
b) Chất lượng của bộ máy quản lý nhà nước về ngân sách nhà nước
Chất lượng của bộ máy QLNN về NSNN quyết định chất lượng NSNN qua các mặt cơ bản sau đây của bộ máy đó:
- Tính hợp lý của cấu tạo bộ máy đó: Nó có đủ các bộ phận cần thiết để làm QLNSNN không?
- Sự minh bạch, hợp lý của việc quy định bốn yếu tố sau đây cho từng bộ
phận cấu thành bộ máy, đó là chức năng, nhiệm vụ - quyền hạn - phương tiện - trách nhiệm
Trong các yếu tố trên, yếu tố trách nhiệm cần được hiểu là sự trừng phạt đối
với CBCC hoặc cơ quan, tổ chức không hoàn thành chức năng, nhiệm vụ và yếu tố
này phải thật thích đáng so với quyền hạn được giao
- Sự tối ưu về cơ chế phối hợp trong vận hành của toàn bộ bộ máy QLNN đối với NSNN Có nghĩa là, các bộ phận cấu thành của bộ máy QLNN về NSNN phải được đặt trong một quy trình chặt chẽ, có sự phân công, phối hợp thống nhất trong QLNN về NSNN
Chẳng hạn như việc chi NSNN để khuyến khích phát triển kinh tế nông
Trang 2416
nghiệp, cần phải có sự phối hợp giữa CBCC làm QLNN về Nông nghiệp & Nông thôn và CBCC làm QLNN về NSNN ở cả khâu thu và chi NSNN Trước hết là CBCC làm QLNN về NN&NT phải đưa ra được định hướng đúng cho việc phát triển NN&NT Kế đó là việc của các CBCC làm quản lý NSNN qua việc quyết định cách thu - chi có liên quan đến kinh tế nông nghiệp sao cho nền nông nghiệp của phát triển đúng hướng mà CBCC làm QLNN về NN&NT đã định ra
- Tầm hiện đại cao của phương tiện quản lý NSNN Nhìn vào cơ cấu NSNN cho thấy sự phức tạp của NSNN, vì thế cần phải có phương tiện quản lý đáp ứng với yêu cầu của chính công tác quản lý NSNN và yêu cầu phát triển ngày càng cao của
xã hội
1.1.5.2 Các nhân tố khách quan
Đó là các nhân tố thuộc về chất lượng đối tượng quản lý có liên quan đến NSNN và chất lượng của môi trường quản lý NSNN Các nhân tố khách quan đó bao gồm:
- Chất lượng của công dân và tổ chức công dân có nghĩa vụ đóng góp xây dựng NSNN Điều này thể hiện bởi cả khả năng đóng góp và ý thức, trách nhiệm trong việc đóng góp của công dân và tổ chức công dân cho NSNN
- Chất lượng của toàn bộ nền KTXH Khi nền kinh tế phát triển, xã hội ổn định sẽ tạo cơ sở để động viên mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính mà NSNN là trung tâm, giữ vai trò trọng yếu Khi đó, vai trò của NSNN ngày càng được nâng cao
- Đều kiện tự nhiên, địa lý Đây không là nhân tố quyết định chất lượng của NSNN, nhất là khi đất nước đã ở trình độ cao về mọi mặt, nhưng cũng là nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng NSNN
1.2 QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước
Quản lý NSNN là một trong những cấu thành của công tác QLNN Vì thế, những gì thuộc về nghĩa chung của QLNN tác giả không đề cập đến mà tiếp cận theo nghĩa riêng của QLNN về NSNN
Trang 2517
Với cách nhìn đó, thì quản lý NSNN là việc nhà nước tính toán và tổ chức huy động tiền của công dân và tổ chức công dân nhằm tạo ra công quỹ quốc gia và việc nhà nước tính toán và tổ chức xuất chi công quỹ đó cho việc xây dựng và bảo
Một là, quản lý NSNN là một trong những nội dung trọng yếu của QLNN
nhằm huy động sức mạnh vật chất của quốc gia để dựng nước và giữ nước và biến sức mạnh vật chất đó thành cuộc sống vật chất và tinh thần của dân tộc theo hướng hiện đại, giầu mạnh và văn minh
Hai là, QLNN về NSNN là việc sử dụng một công cụ của nhà nước vào việc
lãnh đạo và quản lý công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hùng mạnh, hiện đại, văn minh
Ba là, do đó, quản lý NSNN là công việc trung tâm, nền tảng, cốt lõi của
toàn bộ sự nghiệp của nhà nước Một nhà nước có làm tròn sứ mạng của mình hay không trước hết là việc quản lý NSNN có tốt hay không
Bốn là, do vậy, quản lý NSNN phải đạt được các yêu cầu như chính các yêu
cầu đối với NSNN đã nêu ở trên trong mục nói về NSNN
Năm là, để công tác quản lý NSNN đạt được yêu cầu như trên, quản lý
NSNN phải được tiến hành một cách khoa học và chí công, vô tư, đủ tâm và tầm
1.2.3 Những nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
Để quản lý NSNN đạt được các yêu cầu đã nêu, cần tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý NSNN nói riêng Hiến pháp
năm 2013, Điều 55 ghi: “Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải
Trang 2618
được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.” [16]
Theo Điều 8, Luật Ngân sách năm 2015, về nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước:
“Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp” [17] Như vậy, có thể
khái quát các nguyên tắc cơ bản trong quản lý NSNN sau đây:
1.2.3.1 Nguyên tắc quản lý thống nhất, tập trung dân chủ
NSNN là công quỹ quốc gia, do vậy phải được quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương, theo phân cấp quản lý; trong đó ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm các nhiệm vụ chi quốc gia và hỗ trợ cho các địa phương
NSNN nói chung, ngân sách các cấp nói riêng phải được quản lý theo quy định của Luật Ngân sách và các quy định pháp luật khác có liên quan Toàn bộ các khoản thu - chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ; được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quyết định
1.2.3.2 Nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm
Nguồn lực là có hạn, còn nhu cầu cho sự phát triển của xã hội thì không có giới hạn Hơn nữa, NSNN là công quỹ và là công cụ QLNN của nhà nước, do vậy, quản lý, sử dụng NSNN phải đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí, làm thất thoát NSNN
Hiệu quả quản lý NSNN được thể hiện ở hai phương diện chính là hiệu quả thu ngân sách và hiệu quả chi NSNN, thực chất là đảm bảo được sự lành mạnh của NSNN theo các tiêu chí của nó
1.2.3.3 Nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch
NSNN phải được công khai, minh bạch, bởi vì:
- Như những phân tích ở trên, NSNN là công quỹ quốc gia, do công dân và
tổ chức công dân đóng góp, do vậy nhân dân có quyền được biết NSNN được sử dụng như thế nào
- Công khai, minh bạch NSNN giúp cho việc quản lý, sử dụng NSNN đạt hiệu quả, tiết kiệm; phòng chống tham nhũng, tiêu cực, làm thất thoát công quỹ
Trang 2719
- Công bằng trong quản lý NSNN thể hiện trong việc phân công, phân cấp quản lý NSNN, trong toàn bộ nội dung quản lý NSNN
1.2.3.4 Nguyên tắc phân công, phân cấp
- Phân cấp quản lý NSNN là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý KTXH
- Phân cấp quản lý NSNN thể hiện ở việc xác định cơ cấu thu và cơ cấu chi; việc phân giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan, tổ chức của nhà nước và chính quyền các địa phương trong quản lý NSNN
1.2.3.5 Nguyên tắc bảo đảm trách nhiệm
Chất lượng tổ chức bộ máy QLNN về NSNN, tài năng, đạo đức của đội ngũ CBCC làm quản lý NSNN, chất lượng của công dân và tổ chức công dân có nghĩa
vụ đóng góp xây dựng NSNN, là những nhân tổ ảnh hưởng tới sự lành mạnh của NSNN Do vậy, quản lý NSNN phải đảm bảo xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân và tổ chức công dân trong đóng góp vào NSNN; trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức trong tổ chức bộ máy quản lý NSNN và CBCC làm quản
lý NSNN
1.2.4 Nội dung quản lý ngân sách nhà nước
Nội dung quản lý NSNN bao gồm các khâu, được tiến hành theo trình tự:
1.2.4.1 Lập dự toán ngân sách nhà nước
a) Khái niệm dự toán và lập dự toán ngân sách nhà nước
Dự toán NSNN là bản dự định về cơ cấu NSNN cho một thời kỳ nhất định của sự phát triển KTXH của quốc gia, trước hết là của hàng năm hoặc dài hơn theo chiến lược phát triển KTXH của đất nước
Nói cách khác và giản đơn hơn, đó là bản dự định thu - chi NSNN, với mức chi tiết theo cơ cấu NSNN, đã được trình bày ở đầu chương
Còn lập dự toán NSNN là việc tính toán nhu cầu chi tiêu công của quốc gia
và tính toán các khả năng thu nhằm bảo đảm nhu cầu chi tiêu công đó để từ đó hình thành bản dự toán trên
Trang 2820
b) Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm
Dự toán NSNN được lập ra trên cơ sở sau đây:
- Về dự toán thu
Căn cứ để lập dự toán thu là:
Thứ nhất, lực lượng đóng thuế và số thuế có thể thu được theo các Luật Thuế
hiện hành
Thứ hai, lực lượng kinh tế nhà nước và số thu có được từ lực lượng này Thứ ba, các khoản tài trợ cho NSNN Với NSNN trung ương, đó là sự tài trợ
quốc tế, với NSNN các cấp, đó là phần phân bổ từ NS cấp trên
Thứ tư, các khoản thu đặc thù khác theo dự tính
Các số liệu về các nguồn thu trên do các cơ quan QLNN chuyên ngành khác nhau cung cấp cho cơ quan QLNN về tài chính để tổng hợp và cân đối
- Về dự toán chi Căn cứ để lập dự toán chi là:
Thứ nhất, chương trình phát triển KTXH và những việc của chương trình đó
cần đến tiền của NSNN, được thể hiện thành dự án hoặc sáng kiến dự án
Thứ hai, chương trình, kế hoạch QLNN và những công tác QLNN cần đến
tiền để thực thi có hiệu lực sự QLNN đó Phần chi này được gắn liền với các chương trình trọng điểm, đổi mới, của QLNN
Thứ ba, bộ máy HCNN cần có cho QLNN và kinh phí theo định mức cho sự
tồn tại và vận hành của chính bộ máy đó
Thứ tư, các khoản chi khác, không ổn định, nhưng là cần thiết
Tất cả các căn cứ trên đều phải được thể hiện thành văn bản do các chủ thể chi lập ra và trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt qua cơ quan tham mưu là cơ quan tài chính Trên cơ sở đó, được tập hợp theo mẫu cơ cấu chi của NSNN của mỗi cấp, từ quốc gia đến cấp chính quyền cơ sở là xã - phường - thị trấn
1.2.4.2 Phê chuẩn dự toán ngân sách nhà nước
Sau khi dự toán NSNN được chính phủ hoặc cơ quan HCNN của một cấp chính quyền địa phương nào đó lập ra, chúng sẽ được trình tại quốc hội hoặc cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, tức Hội đồng nhân dân cùng cấp của NSNN
Trang 291.2.4.3 Phân bổ dự toán ngân sách nhà nước
Thực chất của công việc này là:
a) Giao nhiệm vụ thu cho các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng thu các khoản đã được ghi trong dự toán ngân sách nhà nước
Trong các cơ quan QLNN có liên quan đến việc thu cho NSNN theo dự toán NSNN thì ngành Thuế và Kho bạc nhà nước là hai cơ quan quan trọng nhất và việc giao nhiệm vụ thu này trước hết và chủ yếu là giao nhiệm vụ thu cho ngành Thuế và Kho bạc nhà nước
b) Phân bổ phần được chi cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị được thụ hưởng ngân sách nhà nước
Như tác giả đã nêu trong phần nói về cơ cấu chi NSNN, tất cả các khoản chi
NSNN đều có địa chỉ Địa chỉ này chính là chủ thể sử dụng tiền của NSNN để thực
thi các nhiệm vụ do nhà nước các cấp giao cho Chủ thể đó là các cơ quan, tổ chức, đơn vị được thụ hưởng NSNN Các chủ thể trình lên cấp trên có thẩm quyền về nhu cầu chi của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cũng là yêu cầu đối với cấp trên chi NSNN cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và việc phân bổ dự toán NSNN trong trường hợp này chính là việc quyết định của cấp trên về chi NSNN cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức đó Các cơ quan, đơn vị, tổ chức dựa vào quyết định này mà đến Kho bạc nhà nước để giải ngân
1.2.4.4 Chấp hành dự toán ngân sách nhà nước
Nội dung của việc chấp hành ngân sách nhà nước bao gồm:
a) Tổ chức thu ngân sách nhà nước
Đây là công việc của ngành Thuế và Kho bạc nhà nước Xét về hình thức, công việc này là một nội dung của toàn bộ công tác quản lý NSNN - phần tạo nên công quỹ để có phần kia của NSNN - phần chi tiêu công
Trang 3022
Tuy nhiên, đây là phần thuần túy về nghiệp vụ trong thực thi công vụ QLNN
ở khâu thu, mang tính chuyên sâu về ngành thuế, quá phạm vi nghiên cứu của luận văn này nên tác giả xin không đi quá giới hạn
b) Tổ chức chi ngân sách nhà nước
Đây là công việc sử dụng công quỹ do nhiều cơ quan QLNN, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện để các cơ quan, đơn vị này làm tròn chức năng, nhiệm vụ của họ, chứ không chỉ là việc của cơ quan chuyên quản về tài chính và NSNN
Tuy nhiên, trên giác độ chung của QLNN về chi NSNN, nội dung quản lý chi NSNN cần được nhìn nhận một cách toàn diện và sâu sắc với các việc của khâu này như sau:
- Cấp chủ quản NSNN phân bổ và ra quyết định chi cho các chủ thể chi
- Các chủ thể chi (chủ chi) trình cơ quan QLNN về NSNN bản phương án chi được duyệt bởi cấp có thẩm quyền quản lý chủ chi này
- Cơ quan QLNSNN thông qua bộ máy chuyên môn của mình thực thi quyền thẩm định hành chính và tiến hành xuất chi cho các chủ thể chi
- Các chủ chi dùng tiền được NSNN cấp phát để thực thi các dự án đầu tư công, các chương trình công vụ của cơ quan mình và chi phí HCNN của cơ quan mà cấp trên đã phê chuẩn trong năm tài chính
1.2.4.5 Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành dự toán ngân sách nhà nước
Giám sát, thanh tra, kiểm tra là khâu tối quan trọng của mọi quá trình quản
lý Với nhiều sự việc đơn giản thì quản lý chủ yếu là giám sát, kiểm tra, còn đối với hoạt động của NSNN, công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra còn quan trọng hơn nhiều
Liên quan đến các hoạt động tạo lập, sử dụng NSNN, nói gọn là hoạt động thu - chi NSNN, cần có nhiều hình thức như giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán, vv do nhiều cơ quan, tổ chức có địa vị pháp lý khác nhau tiến hành, như giám sát của quốc hội và HĐND, thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giám sát của hệ thống chính trị dưới sự chủ trì của Ủy ban MTTQ Việt Nam các
Trang 3123
cấp, giám sát và phản biện của quần chúng
Tất cả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát ở trên đều thuộc phạm vi quản lý
NSNN Tuy nhiên, đứng trên giác độ QLNN về NSNN, khâu giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành dự toán NSNN được thực hiện qua các công vụ chính là:
a) Thanh tra, kiểm tra việc thu ngân sách nhà nước
Điển hình và trọng tâm của việc thanh, kiểm tra này là thanh, kiểm tra đối với ngành thuế về việc ngành thuế đã thực hiện việc thu thuế đúng luật và đúng dự toán NSNN như thế nào Điều này khác với việc thanh, kiểm tra của ngành thuế đối với các đối tượng chịu thuế
Bên cạnh đó, việc thanh, kiểm tra khâu thu còn cần được tiến hành với nhiều
cơ quan HCNN, đơn vị sự nghiệp công được nhà nước cho phép thu về tính nghiêm minh của họ trong việc thu và nộp NSNN
b) Thanh tra, kiểm tra việc chi của các cơ quan, đơn vị được ngân sách nhà nước cấp
Tất cả các cơ quan HCNN, đơn vị sự nghiệp công lập, các chủ chương trình,
dự án chi tiêu công, đều là đối tượng của việc thanh, kiểm tra này Việc thanh, kiểm tra nhằm ngăn ngừa, loại trừ mọi hành vi gian lận, lãng phí trong quá trình sử dụng tiền do NSNN cấp để thực thi công vụ Loại sai phạm này có cả trong sử dụng chi thường xuyên, tuy lượng nhỏ nhưng dễ xẩy ra phổ biến, có cả trong nhiều việc chi khác, lớn nhất là chi đầu tư công, chi xây dựng kinh tế nhà nước Các trọng án kinh
tế diễn ra trong những năm qua ở nước ta đều liên quan đến các dự án đầu tư công
và đầu tư kinh tế nhà nước
1.2.4.6 Cân đối và điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước
Trong quá trình chấp hành NS, nếu có sự thay đổi về nguồn thu và nhiệm vụ chi thì phải thực hiện điều chỉnh dự toán NSNN như sau: Số tăng thu và số tiết kiệm chi so với dự toán được giao, được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng NS Nếu giảm thu so với dự toán được duyệt thì phải sắp xếp lại để giảm một số khoản chi tương ứng Trường hợp số thu, chi biến động lớn so với dự toán cần điều chỉnh tổng thể, Chính
Trang 3224
phủ trình Quốc hội, UBND trình HĐND cùng cấp quyết định điều chỉnh DTNSNN
1.2.4.7 Quyết toán ngân sách nhà nước
Quyết toán NSNN được khởi đầu bằng việc lập quyết toán Lập quyết toán NSNN thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên
Cơ quan tài chính cùng cấp thẩm quyền quyết định quyết toán năm của các đơn vị
dự toán cấp I Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng NS, cơ quan tài chính duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp I Bộ Tài chính thẩm định quyết toán thu NSNN, báo cáo quyết toán thu, chi NS địa phương; lập quyết toán thu, chi NS trung ương và tổng hợp lập tổng quyết toán thu, chi NSNN (bao gồm quyết toán thu, chi NS trung ương và quyết toán thu, chi NS địa phương) trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội phê chuẩn; đồng thời gửi cơ quan Kiểm toán Nhà nước
1.2.4.8 Xử lý bội chi ngân sách nhà nước
a) Khái niệm về bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi ngân sách nhà nước trong một năm là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu của năm đó Để tính đúng về bội chi ngân sách nhà nước, xét trên phương diện
lý luận phải loại trừ các khoản thu sau:
- Số thu về các khoản vay nợ, vì các khoản vay phải có trách nhiệm hoàn trả
- Viện trợ không hoàn lại hàng năm từ các chính phủ và tổ chức quốc tế có tác dụng làm giảm bội chi NSNN
- Việc thu hồi hàng năm tiền nợ nhà nước đã cho vay không được tính là một khoản thu của NSNN Vì vậy, trong công thức tính bội chi NSNN, số chi không thể bao gồm toàn bộ doanh số cho vay của nhà nước, mà chỉ gồm cho vay ròng Cho vay ròng hàng năm của nhà nước là chênh lệch giữa số cho vay ra và số đã thu hồi
nợ trong năm
b) Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước và nguồn bù đắp
Có hai nhóm nguyên nhân gây ra bội chi NSNN như sau:
Nhóm nguyên nhân khách quan gồm:
- Tác động của chu kỳ kinh doanh là nguyên nhân cơ bản nhất trong số các
Trang 3325
nguyên nhân khách quan gây ra bội chi NSNN
- Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên (để giải quyết những khó khăn mới về KTXH) Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên Ở giai đoạn kinh tế thịnh vượng, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN
- Những nguyên nhân khác như thiên tai, dịch hoạ, v.v…
Nhóm nguyên nhân chủ quan gồm:
- Những đột phá trong chiến lược, kế sách phát triển KTXH của đất nước Đây là nguyên nhân cơ bản nhất trong số các nguyên nhân chủ quan gây ra bội chi NSNN Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt
- Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính v.v… làm cho nền kinh tế trì trệ cũng có thể dẫn tới bội chi NSNN Nguyên nhân này thường có ở những nhà nước thiếu trong sạch và vững mạnh
c) Lựa chọn phương thức xử lý bội chi ngân sách nhà nước
Những cách xử lý thường có và bất lợi của nó:
- Nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội thu NSNN sẽ kéo theo lạm phát
- Nếu vay nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài
- Nếu giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá
- Nếu vay quá nhiều trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng
Giải pháp khả thi hơn cả:
- Cắt giảm các khoản chi xét thấy chưa thật cần thiết trong năm tài chính tới
- Quyết liệt chống lãng phí, tham nhũng mà trọng điểm là các khuyết điểm, yếu kém đã phát hiện qua công tác thanh, kiểm tra
- Tinh giản bộ máy QLNN
Trang 3426
- Vay nợ (trong nước, ngoài nước) trên cơ sở có phương án chi mang lại những bước tiến đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, được lập ra một cách có căn cứ khoa học và thực tế khả thi
Giải pháp trên giống như chiến lược chuyển yếu thành mạnh của các nước đang phát triển Với các nước này, trong bước đi ban đầu xây dựng đất nước họ phải tranh thủ ngoại viện nhưng biết dùng ngoại viện để từng bước tự cường, tiến tới hoàn toàn tự lực
Nếu không có ý thức trên thì việc vay nợ cũng không thể thoát vòng bội chi, thậm chí, càng bội chi thêm khi các khoản vay đáo hạn trả
1.3 TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ QUẢN
LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CẤP HUYỆN
1.3.1 Sự cần thiết phải tổ chức quản lý nhà nước trong quản lý ngân sách nhà nước
Ở giác độ chung, sự cần thiết phải tổ chức QLNN trong quản lý NSNN cũng giống như sự cần thiết phải tổ chức QLNN nói chung Riêng đối với QLNN về NSNN, sự cần thiết đó nổi bật trên các mặt sau:
Một là, các quan hệ thu - chi NSNN là rất rộng lớn và phức tạp, nên không
thể nào tập trung QLNN được, kể cả trong việc thu lẫn chi của NSNN
Hai là, mọi quan hệ tài chính đều gắn liền với các quan hệ KTXH, mà việc
QLNN về KTXH đã buộc phải phân cấp thành hệ thống, như ở nước ta là hệ thống
4 cấp, từ trung ương đến cấp cơ sở là xã (và cấp tương đương là phường và thị trấn) nên việc QLNN về các quan hệ tài chính này (quan hệ thu - chi) cũng phải được thành hệ thống tương ứng
1.3.2 Khái niệm có tính bản chất của tổ chức quản lý nhà nước trong quản lý ngân sách nhà nước
Tổ chức QLNN về NSNN có thực chất là phân công QLNN về NSNN theo
hệ thống bộ máy nhà nước hiện hành nhằm thống nhất sự QLNN của các cấp về KTXH với QLNN về NSNN
Nói giản đơn hơn là, tổ chức QLNN về NSNN là việc giao chức năng -
Trang 35Riêng với việc tổ chức QLNN về NSNN, do tầm quan trọng của NSNN như
đã nêu, nên việc tổ chức QLNN về NSNN cần được coi trọng các điều sau đây:
- Coi trọng tất cả những gì thuộc về yêu cầu đối với công tác QLNSNN, đã được nêu ở đầu chương
- Coi trọng nguyên tắc minh bạch và hiệu quả trong quản lý NSNN
- Nhận rõ các trọng điểm của việc tổ chức QLNN về NSNN là rành mạch và
tương thích trong việc xác định các yếu tố: Chức năng, nhiệm vụ - thẩm quyền - trách nhiệm (chế tài phạt khi không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm thẩm quyền) đối
với mỗi cấp trong bộ máy nhà nước làm QLNN về NSNN Nói cụ thể là, với mỗi cấp QLNN về NSNN phải được giao chức năng nhiệm vụ rõ ràng; trao quyền đúng
và đủ mức; đặt hình phạt rõ ràng và đích đáng so với lỗi và thiệt hại nếu mắc lỗi QLNN về NSNN
1.3.4 Cấp huyện trong quản lý nhà nước về ngân sách nhà nước
1.3.4.1 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
Tổ chức bộ máy chính quyền cấp huyện đã được quy định trong các Luật tổ chức nhà nước Việt Nam, từ Hiến pháp đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương, cùng các nghị định của Chính phủ, của các bộ chuyên ngành và lĩnh vực Dưới giác
độ quản lý NSNN, tổ chức bộ máy quản lý NSNN cấp huyện bao gồm các cơ quan:
- Hội đồng nhân dân huyện, trong quản lý NSNN cấp huyện, căn cứ vào
nhiệm vụ thu, chi NS được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định: Dự toán, phân bổ dự toán NS cấp mình, phê chuẩn quyết toán NS huyện, các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện, điều chỉnh dự toán NS huyện trong
Trang 3628
trường hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện NS đã được HĐND quyết định, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật về tài chính - ngân sách của UBND, chủ tịch UBND huyện và HĐND cấp xã trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Quyết định danh mục các chương trình, dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN của ngân sách cấp mình; quyết định chương trình, dự án đầu tư quan trọng của huyện được đầu tư từ nguồn vốn NSNN
- Ủy ban nhân dân huyện, trong quản lý NSNN, có nhiệm vụ: Lập dự toán,
phương án phân bổ NS cấp mình; dự toán điều chỉnh NS địa phương trong trường hợp cần thiết, trình HĐND huyện quyết định và báo cáo cơ quan HCNN, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp; lập quyết toán NS địa phương trình HĐND huyện phê chuẩn và báo cáo cơ quan HCNN, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp; kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp dưới về lĩnh vực tài chính - ngân sách; căn cứ vào nghị quyết của HĐND cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NS cho từng cơ quan, đơn
vị trực thuộc; nhiệm vụ thu, chi, mức bổ sung cho NS cấp dưới và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa các cấp NS ở địa phương đối với các khoản thu phân chia Quyết định các giải pháp và tổ chức thực hiện dự toán NS địa phương được HĐND quyết định; kiểm tra, báo cáo việc thực hiện NS địa phương; phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý NSNN trên địa bàn; báo cáo, công khai NSNN theo quy định của pháp luật; thực hiện quản lý NS theo kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Chính phủ
- Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có nhiệm vụ: Trình UBND huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về lĩnh vực tài chính Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán thuộc huyện, UBND cấp xã xây dựng DTNS hàng năm; xây dựng trình UBND huyện DTNS huyện theo hướng dẫn của Sở Tài chính Tổng hợp, lập dự toán thu NSNN đối với những khoản thu
Trang 3729
được phân cấp quản lý, dự toán chi NS cấp huyện và tổng hợp dự toán NS cấp xã, phương án phân bổ NS huyện trình UBND huyện; lập dự DTNS điều chỉnh trong trường hợp cần thiết để trình UBND huyện; tổ chức thực hiện DTNS đã được quyết định Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý tài chính, NS, giá, thực hiện chế độ kế toán của chính quyền cấp xã, tài chính hợp tác xã, tài chính kinh tế tập thể và các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước thuộc cấp huyện Phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc quản lý công tác thu NSNN trên địa bàn theo quy định của pháp luật Thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư do huyện quản lý; thẩm định quyết toán thu, chi NS xã; lập quyết toán thu, chi NS huyện; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu NSNN trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi NS huyện báo cáo UBND huyện để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn Tổ chức thẩm tra, trình chủ tịch UBND huyện phê duyệt quyết toán đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của chủ tịch UBND huyện Thẩm tra, phê duyệt quyết toán các dự
án đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản thuộc NS huyện quản lý Quản lý tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc cấp huyện quản lý theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính Thẩm định, trình UBND huyện quyết định theo thẩm quyền việc mua sắm, thuê, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán, tiêu hủy tài sản nhà nước Quản lý nguồn kinh phí được ủy quyền của cấp trên; quản lý các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật Quản lý giá theo quy định của UBND cấp tỉnh; kiểm tra việc chấp hành niêm yết giá và bán theo giá niêm yết của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hoạt động trên địa bàn; tổ chức thực hiện đăng ký giá, kê khai giá theo phân công, phân cấp của UBND cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật; chủ trì thực hiện thẩm định giá đối với tài sản nhà nước tại địa phương theo phân cấp của UBND cấp tỉnh Chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan kiểm tra việc thi hành pháp luật tài chính; giúp UBND huyện giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về tài chính theo quy định của pháp luật Thực hiện các nhiệm vụ khác về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính theo phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của UBND cấp huyện và quy định của pháp luật
Trang 3830
- Chi cục Thuế cấp huyện là tổ chức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ
chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của NSNN thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn theo quy định của pháp luật Chi cục Thuế có nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu NSNN, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế; thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế trên địa bàn Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai,
ấn chỉ thuế; lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của UBND đồng cấp và các cơ quan
có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục Thuế; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế; xử lý vi phạm hành chính về thuế và các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao
- Kho bạc Nhà nước huyện là tổ chức trực thuộc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh
có chức năng thực hiện nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật Kho bạc nhà nước huyện có nhiệm vụ: Quản lý quỹ NSNN và các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quy định của pháp luật; thực hiện giao dịch thu, chi tiền mặt và các biện pháp bảo đảm an toàn kho, quỹ tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện; thực hiện công tác kế toán NSNN; hạch toán
kế toán về thu, chi NSNN, các khoản vay nợ, trả nợ của Chính phủ, chính quyền địa
Trang 3931
phương và các hoạt động nghiệp vụ kho bạc tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSNN cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định của pháp luật; thực hiện công tác điện báo, thống kê về thu, chi NSNN, các khoản vay nợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định; xác nhận số liệu thu, chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước cấp huyện; quản lý ngân quỹ nhà nước tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo chế độ quy định và các nhiệm vụ khác theo quy định
1.3.4.2 Những đặc điểm của cấp huyện dưới giác độ quản lý nhà nước về ngân sách nhà nước
Nếu nhìn không định hướng sẽ thấy cấp huyện có nhiều đặc điểm Nhưng khi nhìn huyện để biết phải QLNN về NSNN như thế nào cho tốt thì các đặc điểm sau đây của cấp huyện cần được lưu ý:
Một là, cấp huyện phải QLNN về NN&NT Điều này đã rõ, tác giả xin không
chứng minh Trên thực tế vẫn đang có những huyện phi nông nghiệp và nông thôn, nhưng đó là tình trạng quá độ của các huyện ngoại thành đang trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa
Hai là, xã hội huyện phần đông là phân tán trên địa bàn rộng Điều này
cũng quá rõ, tác giả xin không chứng minh
Ba là, xã hội huyện dễ mang bản sắc địa phương chủ nghĩa Điều này do
nguồn gốc dân cư tạo nên Khi một địa bàn có lịch sử dân cư truyền đời tất sẽ hình thành nên những nét văn hóa dòng tộc truyền thống, trong đó có nhiều mặt tốt nhưng cũng không tránh khỏi cục bộ, bản vị, thủ cựu, hẹp hòi
Bốn là, cộng đồng huyện trong điều kiện Việt Nam khá thích ứng cho việc xây dựng một cộng đồng dân cư tương đối hoàn chỉnh cả về làm và sinh sống
Điều này thể hiện trên các mặt: Quy mô huyện là tối ưu cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay trên tất cả các khâu kinh tế nông nghiệp; xây dựng nền giáo dục phổ thông; xây dựng nền y tế đa khoa phổ biến; giao lưu cộng đồng về văn hóa dân tộc - nghệ thuật quần chúng - thể thao quần chúng
Trang 4032
Năm là, cấp huyện là một cấp gần như cấp cơ sở Điều đó có nghĩa là, cấp
huyện là một cấp chính quyền địa phương thấp nhất được QLNN toàn diện, trong khi cấp cơ sở là cấp xã nhưng chỉ là cấp thuần túy thừa hành các công vụ, rất ít thẩm quyền độc lập, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính và NSNN Trên lĩnh vực này, cấp xã chỉ là cấp được bao, phần chi là chính và chủ yếu là chi thường xuyên, phần thu rất không đáng kể
1.3.4.3 Những đặc điểm trong quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện a) Trước hết, về căn bản, công tác quản lý NSNN của cấp huyện không khác về căn bản so với công tác quản lý NSNN nói chung Vì thế tác giả xin
không nhắc lại về công tác quản lý NSNN nói chung cho riêng cấp này
b) Do đặc điểm cấp huyện, như đã nêu, công tác quản lý nhà nước của huyện đối với ngân sách nhà nước cần lưu ý các điều chính sau đây:
Một là, tính phân cấp trong QLNN về NSNN Sự phân cấp này được luật
định trong phần trao thẩm quyền thu - thi NSNN cho cấp huyện Nội dung này không mang tính nguyên lý mà mang tính pháp luật thực định, nên có sự thay đổi theo sự phát triển chung của nền KTXH và của chính khả năng QLNN của mỗi cấp
Do là một cấp trong hệ thống nhiều cấp QLNN về NSNN, nên trong QLNN về NSNN, cấp huyện cần đặc biệt coi trọng hai điều: Tránh lộng quyền, vượt quyền trong thu - chi NSNN và tránh thụ động, bỏ chỗ trong thực thi quyền được giao trong quản lý thu - chi NSNN, từ đó làm thất thoát thu cho NSNN hoặc thiếu chủ động, sáng tạo trong sử dụng NSNN để phát triển kinh tế - xã hội
Hai là, dưới cấp huyện là cấp không có quyền đáng kể trong việc thu- chi
NSNN, đó là cấp xã Về QLNSNN, cấp xã là cấp được ủy thu và bao chi Có nghĩa
là, các khoản chi của cấp xã do cấp huyện quyết, cấp xã theo đó mà chi, với việc thu, cấp xã thực hiện thu theo quyết định của cấp huyện
Ba là, cấp huyện là một cấp chính quyền của một cộng đồng dân cư tối ưu
cho việc tổ chức công cuộc lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng về tất cả các
mặt cơ bản, phổ biến của đời sống con người
Điều này có nghĩa là, cấp huyện cần và có điều kiện sử dụng NSNN của cấp