Công tác quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập: việc thể chế quan điểm, chủ trương của Đảng thành cơ chế, chính sách chậm được tiến hành, còn có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ HÀ CHIÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ HÀ CHIÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phạm Đức Chính
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Đức Chính, Học viện Hành chính Quốc gia
Luận văn này được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là xác thực có nguồn góc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hà Chiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia, được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình và đầy trách nhiệm của quý thầy cô giáo, lãnh đạo Học viện đã giúp tác giả hoàn thành khóa đào tạo chuyên ngành Quản lý công và đề tài nghiên cúu
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới quý thầy, cô giáo đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Phạm Đức Chính, người thầy đã giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình làm đề tài nghiên cứu này
Mặc dù có nhiều cố gắng, song do khả năng nghiên cứu của tác giả có hạn, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học còn hạn chế, do đó tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo tận tình của quý thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn này được bổ sung và hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hà Chiên
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ 7
1.1 Những vấn đề chung về Hội và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập
đỏ 7
1.1.1 Khái niệm hội 7 1.1.2 Khái niệm về Hội Chữ thập đỏ 10 1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ 11
1.1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước: 11
1.1.4 Vai trò của quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 13 1.1.5 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 16 1.1.6 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 19
1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 20
1.2.1 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về hoạt động chữ thập đỏ 21 1.2.2 Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về hoạt động chữ thập
đỏ 22 1.2.3 Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ 24 1.2.4 Thực hiện thống kê, thông tin, tuyên truyền, báo cáo về hoạt động chữ thập đỏ 25
Trang 61.2.5 Hợp tác quốc tế về hoạt động chữ thập đỏ 26
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 28
1.3.1 Các yếu tố chủ quan 28
1.3.2 Yếu tố khách quan 31
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ của một số nước trên thế giới 33
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước 33
1.4.2 Các giá trị tham khảo cho Việt Nam 35
Tiểu kết Chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM 38
2.1 Giới thiệu chung về Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 38
2.1.1 Lịch sử hình thành 38
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 39
2.1.3 Về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 44
2.1.4 Về kết quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 48
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 54
2.2.1 Một số yếu tố đặc thù về tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 54
2.2.2 Thực trạng ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật 56
2.2.3 Thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ 61
2.2.4 Thực trạng việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức của Hội Chữ thập đỏ 65
2.2.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 70
Trang 72.2.6 Thực trạng hợp tác quốc tế để phát triển Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 74
2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 79
2.3.1 Kết quả đạt được 79 2.3.2 Hạn chế trong quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 82 2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 84
Tiểu kết Chương 2 87
Chương 3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM 88
3.1 Bối cảnh, thách thức trong hoạt động nhân đạo, từ thiện thời gian tới 88
3.1.1 Bối cảnh 88 3.1.2 Thách thức 88
3.2 Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 89
3.2.1 Quan điểm 89 3.2.2 Mục tiêu 92
3.3 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 93 3.3.1 Xác lập cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý đối với Hội Chữ thập đỏ 93
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý nhà nước đối với Hội
Chữ thập đỏ Việt Nam 94 3.3.3 Nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, vị trí của Hội Chữ thập
đỏ Việt Nam 96 3.3.4 Phát huy vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong xây dựng, thực hiện chính sách về hoạt động nhân đạo 98
Trang 83.3.5 Tăng cường công tác kiểm tra và xử lý các vi phạm trong các hoạt
động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 99
3.3.6 Mở rộng và nâng cao chất lượng phối hợp hoạt động với các cơ quan, tổ chức và triển khai quyết liệt cơ chế điều phối thống nhất trong lĩnh vực nhân đạo, từ thiện 100
3.4 Kiến nghị 103
3.3.1 Kiến nghị Quốc hội 103
3.3.2 Kiến nghị Chính phủ 104
3.3.3 Kiến nghị các Bộ 105
Tiểu kết Chương 3 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kinh phí quyên góp cho trợ giúp nhân đạo tại Cơ quan TW Hội 50
Bảng 2.2: So sánh kết quả vận động hiến máu tình nguyện qua các năm 51
Bảng 2.3 Số liệu kết quả hoạt động Hội trên các lĩnh vực 52
Bảng 2.4 : Thống kê những khó khăn trong thu hội phí 53
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ 20
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 42
Biểu đồ 2.1: Phân bố hội viên theo giới tính 45
Biểu đồ 2.2: Phân bố hội viên theo loại hình hoạt động 45
Biểu đồ 2.3: Phân bố lực lượng thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ 46
Biểu đồ 2.4: Tổng hợp thực trạng sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ 74
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc ta đã phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, đồng thời vẫn luôn phải đấu tranh với thiên nhiên
để xây dựng và phát triển Quá trình đấu tranh gìn giữ đất nước đó đã hun đúc lên tinh thần và văn hóa Việt Nam, tạo nên giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp Trong các truyền thống quý báu của dân tộc, truyền thống nhân đạo là một trong các phẩm chất cao qúy, tạo nên cốt cách con người Việt Nam được truyền nối từ thế hệ này qua thế hệ khác Mỗi khi đất nước bị thiên tai, địch họa thì truyền thống ấy lại được phát huy cao độ, kết thành sức mạnh đoàn kết rộng lớn
Xuất phát từ truyền thống cao đẹp đó của dân tộc và trước những yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã ra đời nhằm thực hiện sứ mệnh nhân đạo cao cả theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Phải xuất phát từ tình yêu thương nhân dân tha thiết mà làm mọi việc có thể
làm được để giảm bớt đau thương cho họ” [21, tr.18].Thực hiện lời dạy của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã luôn tích cực, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước những chủ trương, chính sách và giải pháp thúc đẩy hoạt động nhân đạo, tăng cường củng cố và phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nhân đạo
Trong những năm qua, hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi; sự phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức trong và ngoài nước trong hoạt động nhân đạo ngày càng chặt chẽ, hiệu quả Các cấp Hội cả nước đã nỗ lực khắc phục khó khăn, tổ chức các hoạt động có trọng tâm, trọng điểm; công tác Hội và phong trào Chữ thập
đỏ tiếp tục được triển khai mạnh mẽ, mang lại hiệu quả thiết thực: tổ chức Hội tiếp tục được củng cố, kiện toàn; công tác chỉ đạo, điều hành tiếp tục
Trang 122
được đổi mới; việc vận động chính sách được quan tâm hơn; công tác đối ngoại và vận động nguồn lực được duy trì và phát triển; các phong trào, các cuộc vận động, các nhiệm vụ trọng tâm của Hội được triển khai đạt kết quả thiết thực, có chiều sâu, thu hút sự tham gia ngày càng đông đảo các tổ chức, các nhà hảo tâm và các tầng lớp nhân dân Một số phong trào, cuộc vận động, một số mô hình, chiến dịch đã và đang lan tỏa, tạo dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống cộng đồng Vai trò, vị thế của tổ chức Hội trong xã hội và trong Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế tiếp tục được khẳng định Kết quả hoạt động của Hội đã thiết thực trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống; tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, hoạt động nhân đạo nói chung và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam nói riêng còn nhiều khó khăn, bất cập và cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, đã xuất hiện ngày càng nhiều tổ chức,
cá nhân, nhóm người hoạt động nhân đạo một cách tự phát, vận động đóng góp trong nhân dân và tổ chức một cách tràn lan, thiếu tổ chức, gây ra sự phân tâm trong nhân dân và thậm chí có sự hoài nghi về hoạt động nhân đạo, từ thiện Công tác quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ vẫn còn bộc lộ một
số hạn chế, bất cập: việc thể chế quan điểm, chủ trương của Đảng thành cơ chế, chính sách chậm được tiến hành, còn có sự mẫu thuẫn, thiếu đồng bộ giữa các quy định của pháp luật đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ; chế
độ, chính sách đối với Hội và cán bộ Hội còn chắp vá, chưa được quan tâm thỏa đáng; cơ chế quản lý thiếu thống nhất giữa các cấp Hội; hoạt động nhân đạo còn chồng chéo, phân tán, thiếu sự quản lý; vai trò nòng cốt, điều phối, cầu nối của Hội trong hoạt động nhân đạo chưa thực sự được phát huy Nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực
Trang 133
nhân đạo, từ thiện được thể hiện rải rác ở những văn bản quy phạm khác nhau, thiếu tính hệ thống, thiếu cơ chế điều phối, thiếu quy định kiểm tra, giám sát, thông tin, thống kê, báo cáo cụ thể Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nhân đạo, từ thiện còn hạn chế
Với những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản
lý công
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu liên quan đến Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, nhất là hoạt động quản lý nhà nước đối với Hội chưa nhiều Có thể liệt kê một
số công trình nghiên cứu sau:
- Tác giả Thang Văn Phúc (chủ biên), Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Ngọc Lâm, Nguyễn Quốc Tuấn xuất bản cuốn sách “Vai trò của các hội quần chúng trong đổi mới và phát triển đất nước" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2002);
- Sách chuyên khảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp nhân đạo” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Việt Nam xuất bản 2017 Cuốn sách đã trình bày quan điểm và những giáo huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hoạt động nhân đạo của các hội, hiệp hội trong bối cảnh xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta
- Đề án nghiên cứu về Hội quần chúng do Bộ Nội vụ chủ trì năm 2013
Đề án đánh giá tổng quan về hoạt động của các Hội quần chúng thuộc phạm
vi điều chỉnh của Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội
- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hoài Thu – Trường Đại học Luật
Hà Nội (2006): Hoàn thiện pháp luật về Hội nhân đạo ở Việt Nam hiện nay
Trang 144
- Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị của Đỗ Đình Tân (2010): Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận đối với đề tài, cung cấp một số cơ sở khoa học quan trọng để tác giả kế thừa
và phát huy trong luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu để làm rõ cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và làm rõ kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: công tác quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Trang 155
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, từ năm 2010 đến năm 2019 và tầm nhìn 2024
- Về không gian: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp Luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên các quan điểm,
cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan
để có luận cứ khoa học cho việc đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, làm cơ sở để đánh giá thực trạng các hoạt động này ở chương 2 của luận văn
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, từ đó chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất phương hướng và các giải pháp ở chương 3
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp: Được học viên
sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến trực tiếp các chuyên gia, các nhà quản lý
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ, bổ sung những vấn
đề lý luận về hoạt động quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam,
Trang 16Nam trong những năm tới
6.2 Về thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các tổ chức và cá nhân
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với Hội chữ thập đỏ Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Chương 3 Quan điểm, mục tiêu và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Trang 177
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ
1.1 Những vấn đề chung về Hội và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ
1.1.1 Khái niệm hội
Hội ra đời từ rất sớm, ngay từ khi con người ý thức được sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhau giữa các nhóm người, cộng đồng người Xã hội ngày càng phát triển, trình độ phát triển và nhu cầu của các tầng lớp nhân dân ngày càng cao thì sự phát triển của hội càng gia tăng và phong phú theo Tuy nhiên, mỗi quốc gia có một khái niệm riêng về hội Nghiên cứu khái niệm của một số quốc gia giúp chúng ta có được một cách nhìn toàn diện, tổng quan về Hội
Điều 2 Luật Hội của Cộng hoà Liên bang đức do Quốc hội ban hành ngày 5/8/1964 quy định: Hội theo quy định của luật này là sự liên kết tự nguyện, lâu dài của các cá nhân và pháp nhân với nhau nhằm thực hiện một mục đích chung và tuân theo một quy định hình thành từ ý chí tập thể có tổ chức, bất kể dưới hình thức pháp lý nào
Điều 1 Luật số 8 về Hội (Đoàn thể quần chúng) năm 1985 của nê-xi-a quy định: Hội: Đoàn thể do công dân Cộng hoà In-đô-nê-xi-a thành lập một cách tự nguyện trên cơ sở có cùng hoạt động, cùng nghề nghiệp, cùng tôn giáo và có cùng lòng tin vào thượng đế vĩ đại duy nhất để vai trò tham gia vào công cuộc xây dựng trong khuôn khổ đạt được mục tiêu quốc gia, trong một quốc gia thống nhất trên nền tảng của Pancassila
In-đô-Điều 1 Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà dân chủ Đức ngày 09/11/1967 quy định: “Hội theo Nghị định này là tập hợp có tổ chức của công
Trang 18Các hội khoa học kỹ thuật: có các dấu hiệu bản chất và riêng biệt như:
Là tổ chức tự nguyện của giới trí thức, khoa học kỹ thuật trong hầu hết các ngành trong nước
Hoạt động chủ yếu là nghiên cứu, khám phá lý thuyết và ứng dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ đời sống, góp phần phổ biến kiến thức khoa học
và kỹ thuật cho quần chúng
Các hội nhân đạo, từ thiện: Có các dấu hiệu bản chất và riêng biệt:
Là tổ chức tự nguyện của nhân dân
Hoạt động vì mục đích nhân đạo, từ thiện, góp phần làm giảm bớt khó khăn cho những đối tượng dễ bị tổn thương, những người nghèo trong xã hội
Các hội văn hoá, nghề nghiệp: Có các dấu hiệu bản chất riêng biệt:
Là tổ chức tự nguyện của những người có cùng sở thích (văn nghệ dân gian, tem, mỹ nghệ…)
Hoạt động chủ yếu của Hội là nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu, truyền
bá, bảo tồn, phát triển đối tượng thuộc lĩnh vực văn hoá hoạt động của mình
Các hội hoà bình và hữu nghị: Có các dấu hiệu bản chất và riêng biệt:
Trang 199
các hoạt động kinh tế như buôn bán, sản xuất, kinh doạn hoặc các hoạt động văn hoá, xã hội hay cũng có thể là chính trị, được thành lập do luật pháp quy định Hội có điều lệ, quy định tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức hoạt động Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, nhiều hội hoạt động trên lĩnh vực kinh tế ra đời, có tác dụng tham gia phát triển kinh tế và động viên mọi năng lực của mọi thành phần kinh tế và mọi người có khả năng hoạt động kinh tế
Có trường hợp hội là tổ chức chính trị…”
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 2 Nghị định số
45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, thì: “Hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức
và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan” [5, tr.1]
Như vậy, hội là tổ chức tự nguyện, là một trong những hình thức, phương pháp để con người tích cực và chủ động tham gia vào các công việc chung của cộng đồng Sự phát triển của hội gia tăng và phong phú theo trình
độ phát triển của xã hội loài người nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức nhất định trong nhân dân như các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, xã hội – nhân đạo hoặc các tổ chức liên hợp lại với nhau cùng chung những mục tiêu hoặc những lợi ích như nhau Nhìn chung, hội có thể có những hình thức tổ chức, phương thức hoạt động khác nhau, nhưng đều hướng đến thực hiện các mục tiêu và vai trò xã hội là: chăm lo, bảo vệ và đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân; đoàn kết, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
Trang 2010
thần; phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân, động viên quần chúng tuyên truyền và tham gia xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…
Tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu đòi hòi mà hội mang tính chất chính trị, xã hội, nghề nghiệp khác nhau Có hội mang tính xã hội như Hội Người cao tuổi;
có hội mang tính nghề nghiệp rõ ràng như Hội nhà văn, Liên đoàn bóng đá…
có hội vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội, lại vừa mang tính nghề nghiệp… Tuy nhiên, dù là loại hình hội quần chúng nào cũng đều chịu sự tác động và quản lý của nhà nước
Hội xây dựng tổ chức và hoạt động theo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện, tự quản, dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tự đảm bảo hoặc đảm bảo một phần kinh phí hoạt động; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ hội Về hình thức tổ chức, hội có các mô hình
tổ chức với những tên gọi khác nhau: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân Về tính chất hoạt động đã được quy định cụ thể như: tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp…
Từ đó có thể rút ra khái niệm chung về hội như sau:
Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của một nhóm người hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp nhân
1.1.2 Khái niệm về Hội Chữ thập đỏ
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là tổ chức xã hội hoạt động nhân đạo, Hội tập hợp mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, không phân biệt thành phần, dân tộc, tôn giáo, giới tính để làm nhân đạo Mục đích cao cả của
Trang 2111
Hội là nhân đạo, hoà bình, hữu nghị, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là Hội Chữ thập đỏ quốc gia duy nhất tại Việt Nam; hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong công tác nhân đạo và hoạt động chữ thập đỏ
Hội được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc: hiệp thương dân chủ, thống nhất hành động; tự nguyện, không vụ lợi; công khai, minh bạch, đúng mục đích đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả, không phân biệt đối xử, phù hợp với truyền thống nhân ái của dân tộc; sử dụng Biểu tượng Chữ thập đỏ; không được lợi dụng hoạt động của Hội làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Điều 2, Luật hoạt động Chữ thập đỏ số 11/2008/QH12 quy định: “Hoạt động chữ thập đỏ là hoạt động nhân đạo dựa vào cộng đồng do Hội Chữ thập
đỏ thực hiện hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân thực hiện về cứu trợ khẩn cấp
và trợ giúp nhân đạo; chăm sóc sức khoẻ; sơ cấp cứu ban đầu; hiến máu nhân đạo, hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác; tìm kiếm tin tức thân nhân thất lạc do chiến tranh, thiên tai, thảm họa; tuyên truyền các giá trị nhân đạo; tham
gia phòng ngừa, ứng phó thảm họa” [3, tr.1]
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ
1.1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước:
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình hoạt động của xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan
Hệ thống quản lý gồm 2 phân hệ: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau Thực chất hoạt động quản lý là việc xử lý mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Trang 2212
Chủ thể quản lý luôn là con người có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy
mô, độ phức tạp của khách thể quản lý Khách thể quản lý là đối tượng chịu
sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý bao gồm con người, nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất v.v Con người là yếu tố quan trọng nhất trong khách thể quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân
tố con người trong tổ chức Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức mang tính quyền lực - pháp
lý của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc các tổ chức khi được nhà nước trao quyền tới ý thức hành vi xử sự của cá nhân, tổ chức, tới các quá trình xã hội hướng chúng vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định của quản lý nhà nước và xã hội Mục tiêu của quản lý nhà nước phải phù hợp với mục tiêu phát triển của xã hội
Quản lý nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:
- Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước và có tính tổ chức cao
- Quản lý nhà nước có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu
- Quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ
- Quản lý nhà nước không có sự tách biết tuyệt đối giữa chủ thể quản lý
và khách thể quản lý
- Quản lý nhà nước bảo đảm tính liên tục và ổn định trong tổ chức
1.1.3.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam:
Quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được đề cập trong luận văn này là việc nhà nước và các cơ quan chức năng thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động của Hội Chữ thập đỏ
Trang 2313
Việt Nam trong phạm vi toàn xã hội trong việc thành lập, tổ chức, hoạt động của Hội Chữ thập đỏ nhằm đảm bảo việc thực hiện các hoạt động nhân đạo xã hội được tiến hành đúng pháp luật, công khai, minh bạch và hiệu quả
1.1.4 Vai trò của quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập
đỏ nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết và có vai trò hết sức quan trọng, nhằm thiết lập khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Hội, xác lập một cách rõ ràng cơ chế quản lý, phương thức hoạt động, các mối quan hệ, giúp cho hoạt động của Hội đảm bảo thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, tuân phủ pháp luật của Nhà nước và cũng là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội, đồng thời có giá trị bắt buộc mọi chủ thể có liên quan phải tuân theo những quy định đó
Vai trò của quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ còn thể hiện ở việc xác lập và thực hiện chính sách đối với Hội và cán bộ Hội, thể chế các chính sách về hoạt động nhân đạo Nội dung của chính sách đối với Hội được thể chế hoá trong các quy định của pháp luật, thông qua quy định của pháp luật, các chính sách về Hội được xác định về mặt pháp lý và được hệ thống các cơ quan nhà nước đảm bảo thực hiện
Quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ cần đảm bảo:
- Tính thống nhất, thông suốt, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước về Hội Chữ thập đỏ và đảm bảo nguyên tắc của phong trào Chữ thập đỏ
- Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế
- Đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết cho Hội Chữ thập đỏ hoạt động và phát triển Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho Hội tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội
- Đảm bảo cho hoạt động của Hội Chữ thập đỏ đúng tôn chỉ, mục đích, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển
Trang 24và xử lý các hành vi lợi dụng hoạt động nhân đạo để trục lợi
Bên cạnh đó Hội Chữ thập đỏ cũng đóng góp vai trò quan trọng đối với đất nước, được thể hiện ở hai khía cạnh, đó là vai trò, vị trí của Hội đối với Đảng, Nhà nước và vai trò, vị trí đối với xã hội và hội viên
- Đối với Đảng, Nhà nước: Hội có vai trò rất đặc thù, riêng biệt, góp
phần không nhỏ vào công cuộc phát triển chung của đất nước, thể hiện ở một
số điểm sau:
Một là: Là một trong những phương thức để Đảng tập hợp, thu hút
quần chúng và các đối tượng khác tham gia mặt trận nhận đạo rộng lớn, tập hợp, thu hút các tầng lớp nhân dân, các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm tham gia hoạt động nhân đạo phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Thông qua mặt trận nhân đạo rộng lớn, hội có thể giúp đỡ các đối tượng còn gặp nhiều khó khăn trong xã hội, góp phần thực hiện đường lối của Đảng, phát triển đất nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đó cũng là sợi dây gắn kết Đảng với quần chúng nhân dân, thể hiện trên các phương diện sau:
- Hội phản ánh trung thực nhu cầu, nguyện vọng, tâm tư của hội viên với Đảng, trên cơ sở đó, Đảng đề ra chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp, thiết thực
Trang 2515
- Hội căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng để vận động, hướng dẫn hội viên thực hiện tốt các nhiệm vụ theo đúng tôn chỉ, mục đích của hội, phù hợp với chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng
Hai là: Hội đóng vai trò tư vấn, phản biện và giám sát về các vấn đề có
liên quan đến hoạt động nhân đạo, thể hiện:
- Hội tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động nhân đạo của đất nước
- Hội tuân thủ pháp luật do Nhà nước ban hành, tích cực tham gia dưới góc độ tư vấn, phản biện để Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách, chế độ liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi về các lĩnh vực mà hội hoạt động
Trong tiến trình đổi mới, nhà nước cũng đã và đang yêu cầu hội vươn tới những vai trò cao hơn như cùng các tổ chức khác giám sát hoạt động của các cơ quan nhà trong lĩnh vực nhân đạo, từ thiện
Ba là: Hội là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
Bởi chính thông qua các hoạt động nhân đạo, Đảng và Nhà nước thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách trong việc chăm lo, quan tâm đến đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội, qua đó thể hiện bản chất ưu việt của Nhà nước ta, một nhà nước “của dân, do dân và vì dân”
Bốn là: Hội góp phần thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại
nhân dân của Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam năng động, cởi mở, tăng cường các hoạt động giao lưu, chia sẻ, hỗ trợ với cộng đồng quốc tế thông qua các hoạt động nhân đạo, thúc đẩy hoạt động ngoại giao nhà nước
Đối với xã hội và hội viên:
- Hội Chữ thập đỏ là tổ chức xã hội nhân đạo của quần chúng, kết nối, huy động mọi nguồn lực để phục vụ mục tiêu nhân đạo cao cả, chăm lo cho
Trang 2616
người nghèo, người dễ bị tổn thương trong xã hội Do đó, có thể coi những hoạt động của Hội là một hình thức để điều phối thu nhập một cách tự nguyện giữa người giàu và người nghèo, giữa người có điều kiện tốt hơn với người còn khó khăn, góp phần giảm bớt tình trạng chênh lệch giàu nghèo, thúc đẩy tính tích cực, nhân văn, nhân ái trong xã hội, phát huy cách ứng xử nghĩa tình, góp phần làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội Vì vậy Hội có vai trò như người bạn đồng hành, luôn kề vai, sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân để chia ngọt, sẻ bùi, hỗ trợ, giúp đỡ người dân vươn lên trong cuộc sống Thông qua đó Hội phát huy truyền thống nhân ái, nhân đạo cao cả của dân tộc, khơi dậy nguồn lực nội sinh, sức mạnh tinh thần gắn bó cộng đồng nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn
- Hội còn có vai trò to lớn trong việc phát huy tính năng động, tích cực
xã hội của quần chúng ngay tại cộng đồng Vị trí, vai trò của Hội chỉ được phát huy thông qua các hoạt động tích cực, thiết thực của hội viên và nhân dân trong cộng đồng Thông qua đó, Hội hướng dẫn, tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của hội viên, thoả mãn nhu cầu tinh thần, giúp hội viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước
Trang 2717
mạng cho người tham gia hoạt động Chữ thập đỏ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức hội và cán bộ, hội viên, tình nguyện viên, thanh, thiếu niên chữ thập đỏ
1.1.5.2 Tính tự nguyện
Tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam theo nguyên tắc tự nguyện, mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đều có thể tham gia hoạt động chữ thập đỏ trên tinh thần tự nguyện, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, chính kiến
Tính tự nguyện của Hội thể hiện ở sự lựa chọn, tham gia và tự giác thực hiện nhiệm vụ, nhiều khi không đòi hỏi điều kiện gì khi thực hiện nhiệm vụ Tính tự nguyện thể hiện tính tích cực xã hội của các thành viên trong xã hội,
đó là những mong muốn của mỗi cá nhân muốn đóng góp cho xã hội, đó là tinh thần tương thân, tương ái, chia ngọt sẻ bùi, giúp đỡ đồng bào lúc khó khăn, hoạn nạn Tính tự nguyện trở thành nguyên tắc hoạt động của hội cả trong hoạt động đối nội và hoạt động quan hệ đối ngoại với các hội chữ thập
đỏ quốc gia khác (Tính tự nguyện là một trong các nguyên tắc cơ bản của phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế mà mọi hội chữ thập đỏ các quốc gia thành viên phải tuân theo)
1.1.5.3 Tính công khai, minh bạch
Tính công khai, minh bạch là một trong các yêu cầu bắt buộc, tiên quyết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Hội, một trong các nhiệm vụ quan trọng của Hội là vận động, kêu gọi sự tham gia đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động nhân đạo, nhằm giúp Hội có nguồn lực để trợ giúp, chăm lo cho người nghèo, người có hoàn thành khó khăn, nạn nhân chiến tranh, nạn nhân thiên tai, thảm hoạ vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống Do vậy nhà nước ban hành các quy định pháp luật đảm bảo cho mọi hoạt động nhân đạo được công khai, minh
Trang 2818
bạch, tạo lòng tin trong các cấp và nhân dân, tránh cho việc bị lợi dụng hoạt động nhân đạo để làm lợi bất chính cho tổ chức và cá nhân Việc quyên góp, tiếp nhận, quản lý, sử dụng tiền, hiện vật từ tổ chức, cá nhân cho hoạt động chữ thập đỏ phải được công khai, minh bạch và phải chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật
Nội dung phải công khai, minh bạch bao gồm mục đích vận động, quyên góp, kết quả vận động, quyên góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán
Việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng tiền, hiện vật từ tổ chức, cá nhân và hỗ trợ từ ngân sách Nhà Nước cho hoạt động chữ thập đỏ, Hội ban hành và triển khai Quy định về tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn tài chính viện trợ các chương trình, dự án và quản lý Quỹ hoạt động chữ thập đỏ, Quy định về quản lý
và thực hiện các dự án nhân đạo và luôn thực hiện đúng thủ tục, quy trình, công khai, minh bạch, và chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ quản lý tiền, hiện vật theo đúng quy định của Nhà nước Đối với các nguồn vận động trong nước để hỗ trợ quốc tế, khi chuyển hỗ trợ nhân dân các nước, Hội đều thực hiện việc xin ý kiến cơ quan chức năng và thực hiện đúng các quy định của Chính phủ với các nguồn lực này
Tiếp nhận, phân phối chương trình, dự án hoặc tiền, hàng cứu trợ khẩn cấp và trợ giúp thường xuyên: đều tuân thủ đúng quy trình, với sự quyết định của tập thể lãnh đạo Hội, có sự phối hợp chặt chẽ với các cấp Hội địa phương, cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở và sự giám sát trực tiếp của người dân trong lựa chọn đối tượng và suốt quá trình trợ giúp từ khi bắt đầu đến khi kết thúc chương trình, dự án; có sự phối hợp, giám sát, kiểm tra của Nhà tài trợ và kiểm toán hàng năm hoặc khi kết thúc chương trình, dự án
1.1.5.4 Tính phi lợi nhuận
Điểm đặc thù, riêng biệt của hoạt động chữ thập đỏ là tính phi lợi nhuận Hội hoạt động không phải vì quyền lợi của cán bộ, hội viên của Hội mà hoạt
Trang 29Pháp luật quy định được miễn, giảm thuế đối với hàng hoá, dịch vụ phục
vụ hoạt động chữ thập đỏ theo quy định của pháp luật về thuế
1.1.6 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập
Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý hoạt động chữ thập đỏ ở địa phương
Theo đó Bộ Nội vụ giúp Chính phủ quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ nói chung: về tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ, thủ tục, điều kiện thành lập, về nghĩa vụ, trách nhiệm của Hội
Bộ Y tế giúp Chính phủ quản lý hoạt động đối với Hội Chữ thập đỏ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ: quy định về đội khám chữa bệnh tình nguyện, về hoạt động hiến máu, hiến tặng mô, tạng nhân đạo
Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ quản lý hoạt động đối với Hội Chữ thập đỏ về hoạt động của thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ trong trường học
Trang 3020
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp Chính phủ quản lý hoạt động đối với Hội Chữ thập đỏ trong việc cứu trợ thiên tai, thảm hoạ
Bộ Tài chính giúp Chính phủ quản lý hoạt động đối với Hội Chữ thập
đỏ trong lĩnh vực quản lý tài chính, tài sản, các quỹ chữ thập đỏ
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý hoạt động chữ thập đỏ đối với Hội Chữ thập đỏ địa phương
1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Theo Điều 29 Luật hoạt động chữ thập đỏ năm 2008, thì nội dung quản lý nhà nước về hoạt động chữ thập đỏ gồm 05 nội dung và được mô
tả theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ
Quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
về hoạt động chữ thập đỏ
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật
về hoạt động chữ thập đỏ;
giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Hợp tác quốc
tế về hoạt động chữ thập
đỏ
Trang 31và thực hiện các hoạt động chữ thập đỏ Trong những năm qua hệ thống Luật
và các văn bản quy phạm pháp luật về Hội Chữ thập đỏ đã được Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ ban hành tương đối đầy đủ, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ và là cơ sở, là căn
cứ pháp lý để các tổ chức, cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật khi tham gia hoạt động chữ thập đỏ Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành về
cơ bản đã quán triệt và thể chế hoá quan điểm của Đảng về công tác nhân đạo, hoạt động chữ thập đỏ Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, ngành liên quan trong hoạt động nhân đạo, chữ thập đỏ Điều 29-33, Luật hoạt động chữ thập đỏ năm 2008 quy định rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan thông tấn báo chí đối với hoạt động chữ thập đỏ Nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ; trong các văn bản chuyên ngành như về ứng phó khẩn cấp, phòng chống thảm hoạ thiên tai;
về chăm sóc sức khoẻ ban đầu… đã quy định rõ trách nhiệm chủ trì, phối hợp của các cơ quan chức năng trong hoạt động nhân đạo, chữ thập đỏ
Các Bộ, ngành thực hiện tốt công tác xây dựng, phối hợp xây dựng và
tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác nhân đạo, chữ thập đỏ Sự phối hợp của các ngành trong công tác nhân đạo, chữ thập đỏ ngày càng có hiệu quả hơn Các ngành: Nội vụ, Y tế, Giáo dục, Lực lượng vũ trang, Lao động - Thương binh xã hội, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngoại giao, Thông tin và Truyền thông, Giao thông, các cơ quan thông tin đại chúng ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn trong công tác nhân đạo, hoạt động chữ thập đỏ
Trang 3222
Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành các văn bản và tạo cơ chế, chính sách cho hoạt động chữ thập đỏ, thông qua việc ban hành các quyết định giao chỉ tiêu biên chế hàng năm cho đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác chữ thập đỏ các cấp; đảm bảo kinh phí để Hội thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động; được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, các dịch vụ công; thực hiện tư vấn; phản biện xã hội; thực hiện các chương trình, đề tài, dự án… Nhà nước cũng quy định ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các cơ quan, đơn vị được cơ quan có thẩm quyền giao vận động, tiếp nhận, vận chuyển, phân phối tiền, hàng cứu trợ trong các hoạt động chữ thập
đỏ theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện hành
Tuy nhiên, các quy định về chế độ, chính sách đối với Hội chưa được thể thế một cách đầy đủ và còn nhiều bất cập, nhất là chính sách đối với cán
Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 3323
và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội
Công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ là yếu tố rất quan trọng trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ
Để pháp luật, chính sách về hoạt động chữ thập đỏ đi vào cuộc sống, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần thực hiện một cách thường xuyên và định
kỳ, đặc biệt là những chính sách mới, quy định pháp luật mới phải quán triệt sâu rộng thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến phong phú và đa dạng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác nhau để giúp tổ chức, người dân nắm vững quy định và tổ chức, thực hiện theo quy định của pháp luật
Thực tế cho thấy, các chính sách và quy định của pháp luật có đầy đủ và chi tiết đến đâu, nhưng không được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi tới các cơ quan, tổ chức và người dân một cách kịp thời, đầy đủ, phù hợp với từng đối tượng, thì chắc chắn hiệu quả thực thi chính sách và pháp luật sẽ không cao, thậm trí có thể dẫn tới việc làm không đúng, làm trái với chính sách và quy định của pháp luật
Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật về hoạt động chữ thập
đỏ ở các cấp được thực hiện thông qua Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của tỉnh và triển khai trong chương trình tập huấn của các Trường/Trung tâm đào tạo chính trị tỉnh/huyện và cách làm phong phú như: lập chuyên trang, chuyên mục trên Đài Phát thanh - Truyền hình, gửi sách luật, mở hội nghị quán triệt Luật trong đội ngũ cốt cán, lồng ghép việc tuyên truyền, quán triệt trong các hội nghị báo cáo viên, xuất bản Bản tin, biên soạn, in ấn phát hành tài liệu có nội dung tuyên truyền Luật, thông qua các hình thức tuyên truyền
Trang 341.2.3 Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ
Trong công tác Quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm việc thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ là yếu tố quan trọng, là một trong những phương thức lãnh đạo, không kiểm tra coi như không lãnh đạo Nếu công tác thanh tra, kiểm tra được coi trọng và tiến hành một cách thường xuyên, định
kỳ sẽ kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những việc làm vi phạm pháp luật, đồng thời sẽ phát hiện những mô hình hay, cách làm sáng tạo trong việc triển khai thực hiện hoạt động chữ thập đỏ
Nhà nước thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ nhằm đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước Nội dung của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ tập trung vào những nội dung chính như: Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện pháp luật và chính sách trong hoạt động nhân đạo; kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Hội; kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án giao Hội Chữ thập đỏ thực hiện; kiểm tra, giám sát sự phối hợp thực hiện nhiệm vụ; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc vận động,
Trang 35Trong những năm qua, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ tập trung nhiều vào việc kiểm tra việc thực hiện biểu tượng chữ thập đỏ, thực hiện các quy định về quản lý tài chính, các quỹ hoạt động chữ thập đỏ Trong đó, tình trạng sử dụng sai và lạm dụng Biểu tượng Chữ thập đỏ tại các địa phương của Việt Nam rất phổ biến, mặc dù đã
có quy định cụ thể của pháp luật và các văn bản hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên môn
1.2.4 Thực hiện thống kê, thông tin, tuyên truyền, báo cáo về hoạt động chữ thập đỏ
Điều 33, Luật hoạt động chữ thập đỏ quy định: cơ quan thông tin đại
chúng có trách nhiệm thông tin, tuyên truyền và phối hợp vận động nhân dân
tham gia hoạt động chữ thập đỏ, nêu điển hình tốt, phê phán biểu hiện tiêu cực trong thực hiện pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ
Công tác thống kê, thông tin, tuyên truyền, báo cáo về hoạt động chữ thập đỏ còn giúp chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước nắm rõ tình hình hoạt động nhân đạo nói chung và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam nói riêng, nhằm kịp thời ban hành những văn bản quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động
cho phù hợp
Công tác thống kê, thông tin, tuyên truyền, báo cáo về hoạt động chữ thập đỏ được thực hiện định kỳ hàng năm và đột xuất theo quy định
Trang 3626
của các cơ quan quản lý và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Hằng năm Bộ Nội
vụ yêu cầu thực hiện báo cáo, thống kê về hoạt động của Hội, về tình hình
tổ chức bộ máy, cán bộ và lực lượng hội viên của Hội để theo dõi, quản lý theo quy định của pháp luật Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác thông tin, tuyên truyền ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác thông tin, tuyên truyền đảm bảo đúng định hướng của Đảng và quy định của pháp luật về công tác tuyên truyền; phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tuyên truyền các giá trị nhân đạo, các kết quả hoạt động nhân đạo - xã hội
do Hội Chữ thập đỏ chủ trì và phối hợp thực hiện nhằm lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng về tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của hoạt động chữ thập
đỏ và cũng thông qua đó gìn giữ và giáo dục lòng nhân ái trong các tổ chức
và nhân dân
Trung ương Hội ban hành văn bản hướng dẫn công tác thông tin, báo cáo kèm các biểu mẫu thống kê đầy đủ 07 lĩnh vực hoạt động của Hội theo quy định của pháp luật, theo đó các cấp Hội Chữ thập đỏ địa phương thực hiện báo cáo tháng, báo cáo quý, 6 tháng, báo cáo năm và các báo cáo đột xuất và chuyên đề khác về Trung ương Hội, Trung ương Hội có trách nhiệm tổng hợp xây dựng báo cáo chung gửi các cơ quan, bộ, ban, ngành Trung ương theo quy định
Trang 3727
Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định, điều chỉnh các nội dung hợp tác quốc tế về hoạt động nhân đạo và chữ thập đỏ; tham gia ký kết và thực thực thi các Công ước quốc tế thông qua công tác nhân đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về luật nhân đạo quốc tế, triển khai các chương trình trong nước và hợp tác quốc
tế thực thi các quy định của Công ước quốc tế về nhân đạo và sử dụng biểu tượng chữ thập đỏ; ban hành văn bản quy định thẩm quyền Hội Chữ thập đỏ được tổ chức kêu gọi, ủng hộ đồng bào các quốc gia khác khi bị thiên tai nghiêm trọng
Nhà nước tạo cơ chế cho Hội Chữ thập đỏ tham gia vào các hoạt động quốc tế, hoạt động đối ngoại nhân dân thông qua các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Nhà nước cũng tạo điều kiện về kinh phí để Hội tổ chức các hoạt động đối ngoại nhân đạo với các tổ chức quốc tế và các Hội quốc gia khác trên thế giới thông qua việc cử thành viên của Hội tham gia vào các diễn đàn quốc tế đa phương và song phương, các hội nghị, hội thảo có liên quan về các vấn đề nhân đạo, xã hội; tham gia thành viên các ủy ban quốc tế có liên quan; tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, thực hiện chính sách đối với Hội và cán bộ Hội; tranh thủ vận động nguồn lực của các tổ chức quốc tế, các Hội Chữ thập đỏ quốc gia trên thế giới đối với hoạt động nhân đạo và công tác chữ thập đỏ
Các cơ quan quản lý nhà nước cũng chú trọng công tác bồi dưỡng và nâng cao nhận thức đối với cán bộ, hội viên của Hội về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước theo tinh thần độc lập, tự chủ, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, góp phần bảo vệ hòa bình, tiến bộ xã hội và thúc đẩy hợp tác quốc tế vì hòa bình và hữu nghị
Hiện nay, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có quan hệ hợp tác với 40 Hội quốc gia trên thế giới và khu vực Hội là thành viên tích cực, có trách nhiệm của
Trang 3828
Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế với 192 nước thành viên và của nhóm các Hội Chữ thập đỏ ASEAN với 11 nước thành viên
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện tốt hơn trách nhiệm quốc tế giúp
đỡ nước bạn khi gặp thiên rai, thảm hoạ; tiến hành các hoạt động trao đổi đoàn cấp cao, cấp kỹ thuật; tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế về hoạt động chữ thập đỏ
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
1.3.1 Các yếu tố chủ quan
1.3.1.1 Ban hành văn bản, quy định của pháp luật
Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động nhân đạo, từ thiện, trong đó có hoạt động của Hội Chữ thập đỏ thực hiện việc ban hành văn bản pháp luật, các quy định, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động chữ thập đỏ, đây là cơ sở quan trọng cho việc tổ chức thực hiện hoạt động nhân đạo, từ thiện của Hội Thực tiễn cho thấy, hệ thống khung khổ về pháp luật chữ thập đỏ bao gồm các luật, nghị định, thông tư và các văn bản quy định về hoạt động chữ thập đỏ không phải bao giờ cũng bao quát được các vấn đề phát sinh trong thực tiễn Việc giải quyết các vấn đề, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể để áp dụng luật và các văn bản có liên quan, tuy nhiên, cũng có những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được quy định trong luật, do đó, cần phải có văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý
Do vậy, việc ban hành văn bản pháp luật và các quy định hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động nhân đạo, từ thiện là một yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động chữ thập đỏ Nếu việc ban hành các văn bản pháp luật, các quy định, hướng dẫn không kịp thời, cũng như các văn bản pháp luật không còn phù hợp, không được sửa đổi, bổ sung sẽ rất dễ dẫn đến buông lỏng công tác quản lý, hoạt động của hội sẽ không hiệu quả hoặc có thể sẽ bị lợi dụng hoạt động nhân đạo để trục lợi
Trang 3929
1.3.1.2 Cách thức tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
Cách thức tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ảnh hưởng đến năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về hội Cách thức tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hội bao gồm cơ cấu tổ chức bộ máy; chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, từng cơ quan trong bộ máy đó; sự phân công, phối hợp theo chiều ngang và theo chiều dọc giữa các cấp và các cơ quan có liên quan Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về hội được thiết lập trên
cơ sở pháp luật; cách thức tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hợp lý; chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các cơ quan cụ thể, có sự phân định rành mạch, không bị chồng chéo; các cấp, các cơ quan có sự phối hợp, kiểm tra, giám sát lẫn nhau… là điều kiện quan trọng tạo môi trường cho cơ quan quản lý nhà nước về hội hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình Các cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ ở địa phương; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và nhiệm vụ công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên theo ngành dọc Để quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ có hiệu quả thì trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ; chức năng, nhiệm vụ của các bộ liên quan, của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh; mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền cần được quy định một cách chặt chẽ, phân định rõ ràng, không bị chồng chéo, có sự phối hợp kiểm tra, giám sát lẫn nhau, là điều kiện quan trọng tạo môi trường cho cơ quan quản lý nhà nước về Hội Chữ thập đỏ hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình
Trang 40Do đó, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đòi hỏi phải có
tư duy khoa học, khả năng nghiên cứu và am hiểu các chủ trương của đảng, văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước, có kinh nghiệm thực tế để tham mưu ban hành một cách chất lượng, sát thực tế, nâng cao được hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của Hội, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động của hội phát triển, mang lại lợi ích cho đất nước và người dân
Đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về hội phải đáp ứng yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực thực thi công vụ và trình
độ, kỹ năng nghề nghiệp… Trước yêu cầu, đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay, thì cần thiết phải nâng cao hơn nữa năng lực trình độ chuyên môn cho đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về hội
Bên cạnh đó, ngoài việc tự nghiên cứu, học tập, bổ sung kiến thức thì trong quá trình công tác, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải thường xuyên được kiểm tra, đánh giá lại năng lực và trình độ chuyên môn, cần được bồi dưỡng nâng cao công tác hướng dẫn nghiệp vụ về chính sách, pháp luật,
kỹ năng thẩm định hồ sơ, kiến thức về tổ chức, lĩnh vực hoạt động của hội và trách nhiệm, đạo đức công vụ Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý cử các cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức các chương trình tọa đàm, trao đổi nhằm chia sẻ kinh nghiệm thực tế