Từ lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội” để triển khai luận văn thạc sĩ quản lý công để có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THANH TÙNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THANH TÙNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG THỊ MINH
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc
rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong nghiên cứu nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và cảm ơn chân thành nhất đến TS Đặng Thị Minh – người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận
văn với đề tài “Quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao
tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Tôi xin gửi lời cảm ơn quý thầy cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia nói chung và quý thầy cô Khoa Sau đại học nói riêng đã tận tình trang bị cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quan trọng trong quá trình theo học chương trình Thạc sĩ Quản lý công tại Học viện
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người thân đã cổ vũ, động viên, tiếp thêm nghị lực để tôi hoàn thành tốt công trình khoa học này
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTCSNCT Trung tâm chăm sóc người cao tuổi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số lượng NCT sử dụng dịch vụ qua các năm từ năm 2000 – 2017 tại cơ sở Bách Niên Thiên Đức 56Biểu đồ 3.1: Xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam 2009-2049 88
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của người cao tuổi 111.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 18
1.2 Vai trò và sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 21
1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 211.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 23
1.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 25
1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật để quản lý các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 251.3.2 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 261.3.3 Đầu tư và huy động các nguồn lực xã hội để phát triển các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 271.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 281.3.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 28
1.4 Yếu tố tác động tới hoạt động quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 29
Trang 71.4.1 Quan điểm chính trị 29
1.4.2 Chính sách, pháp luật 30
1.4.3 Nguồn lực tài chính 31
1.4.4 Năng lực, trình độ của dội ngũ cán bộ công chức 32
1.4.5 Nhận thức của xã hội 33
1.5 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam về quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 34
1.5.1 Kinh nghiệm quốc tế 34
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1 Khái quát chung về các đặc điểm kinh tế, văn hóa và dân cư của thành phố Hà Nội 42
2.1.1 Đặc điểm kinh tế 42
2.1.2 Đặc điểm văn hoá 44
2.1.3 Đặc điểm dân cư 45
2.1.4 Tác động của các đặc điểm kinh tế xã hội tới sự phát triển của các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 47
2.2 Quá trình hình thành và phát triển của các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 48
2.2.1 Một số mô hình trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 48
2.2.2 Thực trạng hoạt động của các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Thành Phố Hà Nội 54
2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 57
2.3.1 Tổ chức thực hiện các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật 57
2.3.2 Hoạt động quản lý, cấp giấy phép hoạt động cho các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 63
2.3.3 Thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển trung tâm chăm sóc người cao tuổi 69
Trang 82.3.4 Huy động các nguồn lực xã hội 73
2.3.5 Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 75
2.3.6 Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 77
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 79
2.4.1 Kết quả đạt được 79
2.4.2 Hạn chế 80
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 85
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 86
3.1 Quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước đối với bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi và phát triển các trung tâm chăm sóc người cao tuổi 86
3.1.1 Quan điểm 86
3.1.2 Định hướng 87
3.2 Định hướng, mục tiêu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 89
3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 92
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật 92
3.3.2 Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, trách nhiệm Thủ trưởng các cơ quan 94
3.3.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội 96
3.3.4 Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 97
3.3.5 Tăng cường thanh tra, kiểm tra 98
3.3.6 Tăng cường hợp tác quốc tế phát triển lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học mạnh mẽ Từ năm 2007, Việt Nam đã bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tức là, cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi) thì có từ 2 người trở lên trong độ tuổi lao động (từ 15 - 60 tuổi) Với cơ cấu dân số này,
là cơ hội “vàng” để nước ta có được lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010 - 2020 Tuy nhiên, sau giai đoạn dân số “vàng”
sẽ bước sang giai đoạn dân số “già” Điều đáng nói là, Việt Nam nằm trong số
10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới, sẽ chỉ mất không tới 20 năm, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14%
Thống kê của cơ quan chức năng cho thấy, tính đến hết năm 2017, cả nước có 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỉ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi, đến năm 2038 nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số Đến năm 2049, tỉ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là cứ 4 người dân có một người cao tuổi
Trước thách thức của già hóa dân số, việc tái phân bổ nguồn lực tài chính giữa các thế hệ, giữa các nhóm dân cư, đảm bảo thu nhập, phúc lợi và ASXH cho dân số già là vấn đề cần được đặt ra và điều này trước hết cần được quy định bằng pháp luật, chính sách Nhiều vấn đề chưa được chuẩn bị
và chưa sẵn sàng cho xu hướng biến đổi dân số này, đặc biệt từ góc độ trợ giúp xã hội Như nhiều nghiên cứu đã cho thấy, quá trình già hóa dân số ở Việt Nam diễn ra nhanh hơn các quốc gia khác trong khu vực như Nhật bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Tỷ lệ sinh giảm nhanh chóng cùng với tuổi thị được cải thiện đáng kể khiến cho quá trình già hóa dân số ở Việt Nam diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các quốc gia khác Thách thức già hóa dân số ở
Trang 10Việt Nam, diễn ra ở các lứa tuổi già và đặc biệt tăng tốc kể từ những thập niên của thế kỷ 21
Số NCT tăng nhanh sẽ cần một nhóm người đáng kể hỗ trợ cho NCT đảm bảo sinh hoạt bình thường Đạo lý “Kính già” cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, được coi là một trong những giá trị văn hoá truyển thống và quan trọng của dân tộc Việt Nam Song trên thực tế do số lao động kiếm sống
đã và đang chiếm phần lớn số thành viên của các gia đình nên việc thực hiện đạo lý ấy đang bị sao nhãng và ít được quan tâm như trước Chính vì thế, gần đây, ở nước ta cũng có nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc NCT được hình thành và hoạt động; đặc biệt là các mô hình do tư nhân đứng ra thành lập bước đầu đã đạt được những thành công nhất định góp phần thực hiện các chính sách ASXH của nhà nước Tuy nhiên do yếu tố tâm lý xã hội,truyền thống văn hóa dân tộc nên vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh vấn đề này
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính của cả nước, phát triển mạnh về kinh tế, văn hóa, xã hội nên đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thành phố Hà Nội ngày càng nâng cao, điều kiện chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn nên tuổi thọ ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, nhà nước ngày càng quan tâm và đã đầu tư xây dựng các mô hình tuy nhiên vẫn không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của người cao tuổi Do đó, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện để các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia xây dựng các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn Đến nay đã xuất hiện một số mô hình TTCSNCT do tư nhân quản lý đã được hình thành tuy nhiên chưa có sự quan tâm và điều tiết của nhà nước và thiếu sự quản lý của các cơ quan chức năng Vì vậy bên cạnh một số mô hình hoạt động tốt, có hiệu quả thì vẫn tồn tại mô hình hoạt động không ngoài mục đích thu lợi nhuận
Trang 11Việc tiếp nhận NCT vào sống trong TTCSNCT tư nhân hiện nay quá thông thoáng, nhiều khi chỉ cần có sự thỏa thuận giữa gia đình và trung tâm,
bỏ qua cả sự đồng ý của chính bản thân NCT Điều này vô hình chung đã làm sai với luật NCT và có thể là điều kiện cho những người con hư dễ dàng chối
bỏ bố mẹ, không làm tròn trách nhiệm và bổn phận làm con của mình
Chất lượng dịch vụ của các trung tâm hiện nay đa phần chưa đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của các cụ về mô hình dưỡng lão lý tưởng Do không được nhà nước quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện ưu tiên bất cứ điều gì cho nên các trung tâm hiện nay hoạt động còn rất khó khăn Nguồn kinh phí chủ yếu
có được là do đóng góp của các gia đình, hoạt động theo phương thức lấy thu bù chi nên họ không đầu tư vốn và mặt bằng Vì vậy, trung tâm thường hẹp, ít có chỗ vui chơi ngoài trời cho các cụ và cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn nhiều
Từ lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với các
trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội” để triển
khai luận văn thạc sĩ quản lý công để có thể đề xuất những biện pháp hữu hiệu
về quản lý nhà nước (QLNN), thúc đẩy sự phát triển đối với các loại hình dịch
vụ này, tăng cường chất lượng dịch vụ, xã hội hóa và huy động sự tham gia của toàn thể cộng đồng, xã hội đối với công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT
2 Tình hình nghiên cứu
* Các nước trên thế giới:
Ở châu Âu, những nghiên cứu về NCT được tiến hành từ những năm
1800 với những đề tài như: “Quà tặng các cụ già, bàn về biện pháp để kéo dài cuộc sống”, M.J.Tenon, 1815; Bàn về tuổi thọ loài người và về lượng sống trên thế giới”, P.Fluorons, 1860; “Tuổi già xanh tươi”, Alexanho, 1919 Những nghiên cứu này cũng tiến hành điều tra về thực trạng cuộc sống của NCT và tình trạng sức khỏe của họ, từ đó đưa ra những biện pháp chăm sóc sức khỏe cho NCT để kéo dài tuổi thọ cũng như giúp NCT có được cuộc sống thoải mái hơn
Trang 12Để hỗ trợ cho gia đình chăm sóc NCT, Chính phủ nhiều nước đã có chính sách đầu tư và khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ chăm sóc NCT ngoài gia đình
Ở Trung Quốc, nhà nước có nhiều loại hình chăm sóc NCT ngoài gia đình với các hình thức đầu tư khác nhau:
Loại hình viện dưỡng lão 100% vốn nhà nước đầu tư được dành riêng cho cán bộ về hưu
Loại hình viện dưỡng lão liên kết giữa nhà nước và nhân dân tham gia: lấy thu bù chi, phần còn thiếu nhà nước bù, dành cho các đối tượng tuổi từ 50 trở lên
Loại hình 100% vốn tư nhân thì kết hợp như một khu phố giành cho NCT, có bán hoặc cho thuê phòng ở, có bệnh viện, nhà hàng, chỗ chơi và chỗ học Những người sức khoẻ yếu có thể thuê hộ lý riêng giúp việc trong phòng
Ở Singapore, theo The Straits Times, từ những năm 1980, Chính phủ Singapore đã quan tâm đến vấn đề già hoá dân số với những chính sách mở rộng chương trình giáo dục cộng đồng về NCT, giao đất cho các tổ chức phi chính phủ để xây dựng nhà ở cho NCT, nghiên cứu tính khả thi của việc cung cấp các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ tại gia đình cho NCT ốm yếu, giảm thuế thu nhập cho nhân viên chăm sóc NCT Chính phủ cho rằng hình thành các TTCS theo ngày là giải pháp tốt hơn cho sự bảo đảm ASXH cho NCT
Ở Malaisia, để đối phó với tình trạng suy giảm gia đình mở rộng, nhà nước thực hiện giải pháp chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng để có thể đáp ứng nhu cầu chăm sóc của một số lượng lớn NCT không có khả năng sử dụng dịch vụ có trả tiền để thuê chăm sóc hoặc không có điều kiện được chăm sóc
ở các nhà dưỡng lão của nhà nước
Ở Hàn Quốc, mặc dù nhà nước có chủ trương xây nhà dưỡng lão cho NCT từ năm 1981 Tuy nhiên, cho đến năm 1985, Hàn Quốc vẫn chưa có nhà dưỡng lão chính thức nào Năm 1989 và năm 1993, Luật phúc lợi của NCT
Trang 13được sửa đổi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của NCT vốn ngày càng trở nên đa dạng Theo đó, các dịch vụ như dịch vụ chăm sóc NCT tại nhà và tại cộng đồng bắt đầu thu hút được sự quan tâm của xã hội Các dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng bao gồm: chăm sóc tại nhà theo ngày, trợ giúp các công việc tại nhà, chăm sóc tại nhà trong một thời gian ngắn theo yêu cầu
Nhật Bản là quốc gia có hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ NCT tại cộng đồng rất phát triển, bao gồm dịch vụ tại cơ sở và dịch vụ tại nhà Trong dịch vụ tại cơ sở có “ nhà dưỡng lão đặc biệt” sử dụng cho NCT có mức độ lão hoá cao, bị khuyết tật, sa sút về trí tuệ Dịch vụ tại nhà được nhà nước đặc biệt quan tâm vì nó đáp ứng nhu cầu được sống tại nhà của NCT và không tốn chi phí để thiết lập cơ sở vận hành Dịch vụ tại nhà bao gồm các hình thức: hỗ trợ tư vấn và dịch vụ chăm sóc trực tiếp Trong dịch vụ chăm sóc trực tiếp có hai loại: dịch vụ đi đến cơ sở để được chăm sóc và dịch vụ chăm sóc tại nhà
* Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam :
Ở Việt Nam, những nghiên cứu xã hội học về NCT mới chỉ được bắt đầu vào những năm 1990 khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường và khi tỷ lệ NCT trong dân số có xu hướng tăng nhanh Các cuộc điều tra nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những nội dung như: quy mô dân số NCT; cơ cấu dân số NCT; về tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống của NCT; chăm sóc sức khoẻ NCT; phát huy vai trò của NCT Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách xã hội đối với NCT Đáng chú ý là các công trình sau đây:
Nghiên cứu điều tra thực trạng thu nhập và mức sống NCT Việt Nam Nghiên cứu đưa ra thực trạng thu nhập và mức sống của NCT cả nước Nghiên cứu này cho thấy mức sống và thu nhập của NCT còn thấp, nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao mức sống cho NCT
Trang 14Nghiên cứu “Thực trạng đời sống của NCT từ 80 trở lên” của tác giả Nguyễn Thế Huệ Nghiên cứu là kết quả dự án nghiên cứu viện nghiên cứu NCT Việt Nam phối hợp với hội NCT Việt Nam tiến hành Nội dung chính
đề cập đến thực trạng dời sống NCT từ 80 trở lên như mức thu nhập, mức độ tham gia bảo hiểm, chế độ của NCT, trợ giúp khi ốm đau [21]
Năm 2004 TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành điều tra ở 7 tỉnh thành trên các vùng miền của cả nước với 557 phụ nữ từ 50 tuổi trở lên được phỏng vấn về các thông tin liên quan đến nhu cầu của phụ nữ cao tuổi
và nhận thức của các cấp Hội phụ nữ về các vấn đề liên quan đến NCT trong cộng đồng Cuộc nghiên cứu về thực trạng bạo lực gia đình tiến hành tại 3 tỉnh Quảng Trị, Phú Yên và Đắk Lắk của Viện nghiên cứu NCT do Tiến sĩ Nguyễn Thế Hệ chủ biên Điều tra năm 2007 của Ủy ban Quốc gia Khảo sát đời sống NCT tại 72 xã thuộc 8 tỉnh, thành phố với 2.878 NCT, các thông tin thu thập về tình hình sức khỏe, đời sống vật chất, việc làm, phát huy vai trò NCT tại địa phương
Trong cuốn "NCT và các mô hình chăm sóc NCT ở Việt Nam" một công trình nghiên cứu phối hợp giữa Ủy ban dân số, Gia đình và Trẻ em với Viện nghiên cứu Truyền thống và phát triển năm 2008 – 2009 Đây là tập hợp nghiên cứu được thực hiện trên 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố
Hồ Chí Minh, với các nhóm đối tượng như: nhóm người cung cấp dịch vụ chăm sóc NCT, người sử dụng dịch vụ chăm sóc NCT, cán bộ địa phương và cộng đồng Bên cạnh đó Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển còn tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu hơn thông qua quá trình khảo sát các mô hình chăm sóc NCT tại Huế và Hà Nội, trong đó đặc biệt đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi và tọa đàm với đại diện các nhóm xã hội khác nhau, nhằm hoàn thành tốt nhất cho cuộc nghiên cứu Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, NCT không còn là một vấn đề mới, tuy nhiên trong bối cảnh toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu văn hóa thì quan tâm và nghiên cứu NCT là một
Trang 15nhu cầu không thể thiếu Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều loại hình Dịch vụ chăm sóc NCT được hình thành và hoạt động, đặc biệt là các mô hình
tư nhân, liên kết đang phát triển khá mạnh tuy nhiên còn chưa có đầu tư hoặc chưa có sự quan tâm của các cấp
Nghiên cứu “Gia đình với NCT” do nhóm tác giả thuộc vụ gia đình -
Bộ văn hóa, thể thao và du lịch xây dựng tài liệu giáo dục đời sống gia đình phần 5 (NXB văn hóa thông tin, 2010) Trong nghiên cứu có phần nhắn mạnh đến vai trò của NCT trong gia đình, trách nhiệm của NCT đối với con cháu “ NCT có những ưu, nhược điểm mà người trẻ không thể có đó là kinh nghiệm, trách nhiệm, tình thương vô bờ, luôn dành cho con cháu phần tốt nhất, vì với
họ con hay thì được nhờ con Con dở thì đành phải chịu Mặc dù, tuổi cao sức yếu nhưng nhiều cụ vẫn tham công tiếc việc, muốn đỡ đần con cháu những việc thường ngày Nhiều cặp vợ chồng trẻ vẫn phải nhờ vào sức lực, thậm chí kinh tế của cha mẹ trong gia đình Thêm vào đó NCT có vai trò quan trọng trong điều hòa cuộc sống [37]
Các cuộc điều tra, nghiên cứu nói trên tập trung chủ yếu vào những nội dung như: quy mô dân số cao tuổi; cơ cấu dân số cao tuổi; về tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống của NCT; chăm sóc sức khoẻ NCT; phát huy vai trò của NCT ; các mô hình chăm sóc NCT Các công trình nghiên cứu, điều tra đã góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách xã hội đối với NCT.Tuy nhiên cái mới mà đề tài hướng đến là trách nhiệm QLNN đối với hoạt chăm sóc và nuôi dưỡng NCT Nhằm đưa ra các giải pháp hướng tới hoàn QLNN đối với các trung tâm này
Nhìn chung, ở nước ta hiện nay, đã xuất hiện một số loại mô hình chăm sóc NCT, đó là: Mô hình chăm sóc NCT tại gia đình, tại cộng đồng; Mô hình chăm sóc NCT của tư nhân; Mô hình chăm sóc NCT của các tổ chức tôn giáo
và Trung tâm bảo trợ xã hội của Nhà nước, trong đó, Trung tâm bảo trợ xã hội
Trang 16của Nhà nước có ở 61/63 tỉnh, thành phố; Có tỉnh có đến 3 hoặc 4 Trung tâm, được Nhà nước cấp kinh phí Hai loại mô hình còn lại hiện chưa nhận được sự quan tâm của Nhà nước Việc nghiên cứu các loại mô hình này đến nay còn quá ít dẫn đến ảnh hưởng tới công tác QLNN đối với các TTCSNCT cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng chưa thực sự hiệu quả
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận về QLNN đối với các TTCSNCT từ
đó đánh giá thực trạng QLNN đối với các trung tâm này trên địa bàn thành phố Hà Nội để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với các trung tâm này trên địa bàn thành phố
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận như: khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung của QLNN đối với các TTCSNCT
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với các TTCSNCT trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện QLNN đối với các TTCSNCT trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu là hoạt động QLNN đối với các TTCSNCT trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 17- Về phạm vi thời gian:Thời gian nghiên cứu trong đề tài được xác
định từ năm 2009 đến nay Đề tài chọn từ năm 2009 làm mốc nghiên cứu vì
gắn với sự ra đời của Luật NCT năm 2009
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Tác giả thực hiện luận
văn dựa trên các nghiên cứu đi trước có liên quan tới đề tài, tìm kiếm nguồn tài liệu từ Sở lao động thương binh và xã hội Hà Nội, Viện nghiên cứu gia đình và giới để nghiên cứu về hoạt động QLNN
- Phương pháp chuyên gia: Tiến hành trao đổi, tham vấn các lãnh
đạo các TTCSNCT ngoài công lập và các chuyên gia xã hội học về các vấn đề nghiên cứu Mục đích của phương pháp nhằm thu thập thêm những thông tin cần thiết khác mà các phương pháp khác chưa thu thập được
- Phương pháp quan sát: Phương pháp này dựa trên sự quan sát
tình hình thực tế tại một số TTCSNCT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phương pháp thống kê và thống kê phân tích: Phương pháp này được
sử dụng để phân tích số liệu, tài liệu cụ thể thông qua các số liệu cụ thể từ Cục thống kê Hà Nội và Sở lao động thương binh và xã hội Hà Nội
Trang 18- Phương pháp xử lý số liệu: Các phương pháp thống kê, phân tích
tổng hợp, so sánh, dự báo… để tiến hành xử lý, đánh giá các dữ liệu, các thông tin thu thập được Qua đó đưa ra các nhận định, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN đối với các TTCSNCT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về QLNN đối với các TTCSNCT ngoài công lập, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện QLNN đối với các TTCSNCT trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Về thực tiễn: Luận văn phân tích làm rõ thực trạng hoạt động QLNN đối với các TTCSNCT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động QLNN đối với các TTCSNCT, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN đối với các trung tâm này Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan QLNN, cho các tổ chức và cá nhân
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của người cao tuổi
1.1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Việc xác định thế nào là “NCT” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định họ có phải là chủ thể được hưởng các quyền của NCT hay không cũng như xác định thời điểm một người được hưởng các chế độ, chính sách của quốc gia đó dành cho NCT
Trong Bình luận chung số 6 (Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) do Ủy ban kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc đưa ra tại phiên họp thứ 13 (1995) đã ghi nhận rằng:
Thuật ngữ dùng để mô tả người cao tuổi khá đa dạng, kể cả trong các tài liệu quốc tế, chúng bao gồm: “người cao tuổi”,“người già”, “người già cả”,
“thế hệ thứ ba”; “người có tuổi”, và để biểu thị những người từ 80 tuổi trở lên, thuật ngữ được dùng là “thế hê thứ tư” Ủy ban đã chọn thuật ngữ “người cao tuổi” (older person, trong tiếng Pháp là: personnes agee, tiếng Tây Ban Nha là: personas mayores), từ này được sử dụng trong các Nghị quyết 47/5 và 48/98 của Đại hội đồng Theo kinh nghiệm của cơ quan thống kê Liên hợp quốc, những thuật ngữ này bao hàm cả những người từ 60 tuổi trở lên (Eurostat - Cơ quan thống kê của liên minh Châu Âu coi “người cao tuổi” là những người từ 65 tuổi trở lên, vì tuổi về hưu thông thường nhất là 65 tuổi và
xu hướng nghỉ hưu ngày càng muộn hơn) [34]
Khi nghiên cứu “mốc” tuổi, phần lớn các nước Châu Á cũng như ở Châu Âu, mốc 60 tuổi là tuổi mà con người có nhiều biến đổi “về chất” làm bước ngoặt của người tuổi trung niên thành NCT Đối với người phương
Trang 20Đông, 60 tuổi bằng 5 giáp là một mốc trọng đại Hiện nay, do tuổi thọ tăng nhanh, điều kiện kinh tế phát triển, mức sống cao nên người ở độ tuổi này vẫn còn sức khoẻ tốt, hơn thế nữa do thiếu hụt lực lượng lao động nên một số nước phát triển nâng tuổi già lên tuổi 65
Ở nước ta, thời kỳ phong kiến, sau đến thời kỳ Pháp thuộc, người dân sống trong đói khổ, bệnh tật, điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, tuổi thọ thấp (45 - 50 tuổi), NCT có số tuổi là 50 - 60 là rất hiếm Từ 40 - 50 tuổi đã là
“lão” và được tổ chức mừng thọ ở tuổi 40, “tứ tuần đại khánh” Tuổi già của đàn ông, đàn bà cũng khác nhau: “Trai 30 tuổi đang xoan, gái 30 tuổi đã toan
về già” là câu nói cửa miệng của mọi người Xác định mốc tuổi, ranh giới của NCT có thể thấy rõ ý nghĩa trong đó và phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của lịch sử, điều kiện của từng nước Cụ thể như:
- Năm 1242, Vua Trần Thái Tông trong khi tiến hành cải cách cấp hành chính địa phương cho làm hộ khẩu, đã ra quyết định kê khai “lão” là người 60 tuổi và “long lão” là người trên 60 tuổi
- Luật Bảo vệ quyền lợi NCT của Cộng hoà nhân dân Trung hoa (1996) quy định người NCT là công dân từ 60 tuổi trở lên
- Singapore, NCT được coi là người từ trên 60 tuổi
- Tổ chức Y tế thế giới lấy mốc 65 tuổi là tuổi NCT - NCT được coi là người từ trên 65
- Theo Liên Hợp Quốc thì NCT được coi là người từ trên 60 tuổi
Ở nước ta, một số văn bản pháp quy lấy mốc NCT như sau:
- Pháp lệnh NCT quy định NCT là người trên 60 tuổi
- Điều 123 Bộ Luật lao động quy định: “Người lao động cao tuổi là lao động nam trên 60, nữ trên 55”
- Điều 2 Luật NCT năm 2009 quy định NCT là người “từ đủ 60 tuổi trở lên” [27]
Trang 21Có thể thấy quan điểm của quốc tế và Việt Nam trong việc xác định độ tuổi được coi là NCT chưa thực sự đồng nhất Khoảng cách giữa một người
“từ 60 tuổi trở lên” với một người “từ đủ 60 tuổi trở lên” là một khoảng trống
mà ở đó một số người “lẽ ra” đã được xác định là NCT theo quan điểm của luật nhân quyền quốc tế nhưng lại chưa được xác định là NCT theo pháp luật Việt Nam, dẫn đến việc họ chưa được coi là chủ thể của quyền của NCT
Như vậy, khái niệm NCT theo quan điểm chung của quốc tế là khái niệm rộng hơn so với khái niệm “NCT” theo pháp luật Việt Nam Lý giải về điều này, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật NCT của Việt Nam, một số đại biểu cho rằng việc quy định độ tuổi như vậy là để “đảm bảo tính kế thừa Pháp lệnh NCT và Luật Quốc tịch” Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát có thể thấy rằng, xét trên điều kiện kinh tế, xã hội tại Việt Nam
ở thời điểm hiện tại, việc quy định NCT là người “từ đủ 60 tuổi trở lên” là tương đối phù hợp với thực tiễn khách quan tại Việt Nam, thêm vào đó việc quy định như thế này sẽ tạm thời giảm bớt áp lực cho nhà nước trong việc giải quyết vấn đề ASXH của quốc gia
Tóm lại, NCT trong đề tài này được tiếp cận theo luật NCT năm 2009
được Quốc hội ban hành, “NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” 1.1.1.2 Vị trí, vai trò của người cao tuổi
Trong gia đình Việt Nam hiện nay, NCT giữ một vị trí vô cùng quan trọng Đây là lớp người có công lớn với đất nước, từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ đầy gian khổ và giai đoạn xây dựng lại đất nước trong đống tro tàn của chiến tranh để làm nên lịch sử vẻ vang dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đối với NCT, tuy sức khỏe không bằng lúc còn trẻ nhưng có những mặt mạnh cơ bản, đó là: Có lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc; tuổi càng cao chí càng cao; tích lũy được vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng phong phú; có sự tín nhiệm cao” Họ sống cùng những giá trị lịch sử quan trọng và tôn trọng những giá trị đó Đối với NCT, lịch sử là
Trang 22một điều thiêng liêng cần được bảo tồn và chính họ là người tạo ra, bảo vệ, lưu truyền giá trị lịch sử của dân tộc
- Lưu giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống
Không thể không kể đến vai trò lưu giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của NCT Mỗi người đều từng trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, cũng từng có một thời tuổi trẻ Đi qua mỗi giai đoạn ấy, người ta lại đúc kết thêm những giá trị truyền thống của dân tộc Và khi về già, với vốn hiểu biết sâu sắc, truyền thống tốt đẹp mà họ có được trong suốt cuộc đời lại được truyền lại cho con cháu qua những bài học, qua những câu chuyện kể Nếu không có các ông, các bà, thì chắc chắn thế hệ ngày nay sẽ không hiểu sâu về các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta, hay truyền thống làng nghề, văn hóa, nghệ thuật,…mà ông cha ta luôn cố gắng gìn giữ và truyền thụ từ thế
hệ này qua thế hệ khác
- Giáo dục thế hệ sau
Không ai là không lớn lên trong sự yêu thương và giáo dục của gia đình Mỗi con người được sinh ra và hình thành đặc điểm nhân cách thông qua văn hóa trong gia đình từ đời này qua đời khác NCT là người đóng vai trò trụ cột, họ trải qua bao nhiêu tháng năm với biết bao kinh nghiệm đúc kết,
từ những kinh nghiệm đó họ tạo nên giá trị gia đình, và giáo dục con cháu thông qua những giá trị đó Thế hệ trẻ là lực lượng chính tạo nên sự phát triển của một xã hội, và lực lượng ấy có mạnh hay không, có gây dựng được mục tiêu tốt đẹp mà xã hội đề ra hay không, chính những đấng sinh thành là người quyết định điều đó Một đứa trẻ được sống trong một gia đình có truyền thống giáo dục tốt đẹp sẽ tạo nên những giá trị tốt đẹp cho bản thân và những người xung quanh
- Góp công xây dựng đất nước
Những hoạt động của xã, phường, thị trấn ít khi vắng mặt hội NCT Họ khi không còn sức khỏe để tham gia lao động thì trở thành những người tuyên
Trang 23truyền của địa phương NCT rất có ý thức trong việc tham gia phòng chống các tệ nạn và phát huy các hoạt động có ích cho người dân Họ cũng rất quan tâm đến chính trị, bầu cử Với tư cách là những người có vốn hiểu biết rộng, ý kiến của NCT trong việc xây dựng thể chế, bộ máy nhà nước rất đáng được coi trọng và lắng nghe
Vị trí, vai trò của NCT trong xã hội là rất quan trọng, bởi vậy xã hội nói chung và Nhà nước nói riêng cần có sự quan tâm, trợ giúp đối với họ để NCT phát huy được vai trò của mình một cách hiệu quả nhất
1.1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
a Đặc điểm sinh lý
- Quá trình lão hóa:
Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống Lão hóa có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hướng đi xuống
Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Da trở nên khô và thô hơn Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn Ở tuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi Các mạch máu mỏng vỡ ra, tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da
Bộ răng yếu làm cho NCT ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai dù thức
ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng NCT thường chọn các thức ăn mềm
Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả
Các cơ quan nội tạng:
Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao cùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể Tim
Trang 24phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá
Phổi của NCT thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng ôxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng với cũng giảm sút Người NCT thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn Người NCT
dễ dàng bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể hạ thấp sẽ rủi ro nghiêm trọng cho sức khoẻ của họ Họ cũng phải chịu đựng những khó khăn tương tự khi trong trường hợp cần thiết phải tiếp cận với nhiệt độ cao
Khả năng tình dục giảm: Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ở NCT cũng giảm rõ rệt Ở NCT xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp, vụng về NCT hay bị mệt mỏi, mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó khăn
Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…
Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng… Ngoài ra NCT còn hay mắc các bệnh về ung bướu, bệnh thần kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần…
b Đặc điểm tâm lý
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của NCT không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là:
Trang 25- Hướng về quá khứ:
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, NCTthường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật
- Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”:
Khi về già NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy NCT sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”
- Những biểu hiện tâm lý của NCT:
Những biểu hiện tâm lý của NCT có thể được liệt kê như sau:
+ Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn: Con cháu thường bận rộn với cuộc sống Điều này làm cho NCT cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình
+ Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số NCT nếu còn sức khỏe vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một số NCT do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay
tự dằn vặt mình NCT mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho
Trang 26+ Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu Với một bộ phận NCT bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước
mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó
+ Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh - tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy NCT vẫn sợ phải đối mặt với cái chết Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết
Với những thay đổi chung về tâm lý của NCT đã trình bày ở trên dẫn đến việc một bộ phận NCT thường thay đổi tính nết Dẫn đến việc chăm sóc cho NCT vô cùng khó khăn đòi hỏi người chăm sóc phải am hiểu về tâm lý cũng như các biểu hiện bệnh lý của NCT
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
1.1.2.1 Khái niệm về trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một định nghĩa cụ thể nào về
"TTCSNCT" Có rất nhiều cách gọi khác nhau như “ Viện dưỡng lão”, “Nhà dưỡng lão”, “TTCS sức khoẻ NCT”, “Nhà điều dưỡng”, “Nhà nghỉ dưỡng” Khái niệm “TTCSNCT” hay "nhà dưỡng lão" được dùng mặc định trong một
số các tài liệu về tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng nhưng không được giải thích
rõ ràng Trong "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân loại, phân cấp công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị" và quy chuẩn về “Nhà ở và công trình công cộng - An toàn sinh mạng và sức khoẻ”,
Trang 27TTCSNCT được xếp vào nhóm các công trình công cộng và thuộc loại công trình y tế
Quan điểm khác, TTCSNCT là nơi cung cấp những dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cho những người không đủ khả năng lo cho chính bản thân mình Với cách hiểu này, thì khái niệm này khá hẹp, đối tượng chủ yếu là những người không đủ khả năng lo cho chính mình chưa nói đến các đối tượng NCT còn khoẻ mạnh, minh mẫn vẫn còn khả năng tự chăm sóc nhưng muốn được vào TTCSNCT để an dưỡng khi về già
Tóm lại, qua những phân tích đánh giá và bằng những kinh nghiệm làm
việc thực tế tại TTCSNCT tác giả xin đưa ra quan điểm như sau: TTCSNCT là
cơ sở do nhà nước hoặc tư nhân xây dựng và đầu tư nhằm phục vụ việc điều dưỡng, cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cải thiện đời sống tinh thần cho NCT Là mô hình nơi NCT tự nguyện đóng một khoản phí nhất định theo mức đề
ra của trung tâm để được sống, sinh hoạt và được chăm sóc tại trung tâm
Mô hình các trung TTCSNCT ngoài công lập hoàn toàn khác với các
cơ sở trợ giúp xã hội được nhà nước hỗ trợ, đầu tư vì vậy nó sẽ giúp được phần nào xoá bỏ mặc cảm là bị con cháu bỏ rơi, không quan tâm đến, đặc biệt
là trong điều kiện kinh tế nước ta đang phát triển như hiện nay
1.1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người
cao tuổi
Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có tính thống nhất tương đối Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội
và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
Trang 28Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [23]
Tức theo C.Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây C.Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý
Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý
Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý hay nói các khác
là làm bật lên cách thức quản lý và mục đích quản lý
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [20]
Trang 29Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.uản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động
từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật
Như vậy, QLNN đối với các TTCSNCT là hoạt động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý có thẩm quyền tác động lên hoạt động của các TTCSNCT thông qua pháp luật, chính sách để định hướng, tạo điều kiện phát triển các trung tâm đó theo các mục tiêu đã đề ra nhằm bảo vệ, chăm sóc và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho NCT
1.2 Vai trò và sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Đại bộ phận NCT nước ta hiện nay, là lớp người đã trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ và những năm tháng dài của nền kinh tế chậm phát triển nên sức khoẻ không tốt, nhiều bệnh xã hội như số rét, lao… nhiều người bị
Trang 30giảm sút sức khoẻ do vết thương chiến tranh… theo số liệu điều tra mẫu của Viện lão khoa trung ương thì hiện nay, trong số NCT, chỉ có 5% có sức khoẻ tốt, 65% trung bình và 30% có sức khoẻ kém (so với tuổi của họ) Nhiều cuộc điều tra khác cho rằng 95% NCT có bệnh và có nhu cầu được chữa bệnh
Tuổi già của NCT hiện nay ở nước ta diễn ra trong bối cảnh của sự quá
độ từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tạo ra nhiều cơ hội cho nhiều tầng lớp nhân dân trong việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người lao động nhưng nó lại là những thử thách sẵn sàng “gạt bỏ” “nhóm người” “yếu thế” ra bên lề của sự phát triển NCT, trong thời kỳ này thực sự trở thành nhóm “yếu thế” vì họ không còn khả năng thích nghi nhanh với những quy luật khắc nghiệt của cơ chế thị trường, hơn nữa năng lực vật chất (kiến thức, kỹ năng, tinh thần, sức khoẻ…) của NCT chưa được chuẩn bị cho cơ chế thị trường
Dưới tác động của cơ chế thị trường và chính sách dân số kế hoạch hoá như hiện nay, gia đình, đặc biệt là gia đình ở thành phố, điều kiện chăm sóc NCT cũng như trẻ em đã thay đổi rất nhiều: Mỗi gia đình chỉ có 1 đến 2 con; nếu như trước đây nhiều gia đình trẻ, ít NCT thì hiện nay, ít gia đình trẻ lại nhiều NCT; số gia đình truyền thống càng ngày càng giảm, thay thế vào đó, gia đình hạt nhân ngày càng tăng; do làm ăn, thiếu thời gian cần thiết để chăm sóc NCT, trẻ em… nhiều gia đình tan vỡ, vợ chồng ly hôn vì lối sống ích kỷ, chỉ biết sở thích của riêng mình mà không quan tâm lợi ích, nhu cầu cũng như mong muốn của các thành viên khác trong gia đình… trong điều kiện đó, gia đình khó có đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu chăm sóc NCT một cách chu đáo và đầy đủ, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của NCT như nó đã từng có trong những thời kỳ trước đây Hơn nữa, số NCT theo xu hướng tăng dần, tỷ
lệ người trẻ tuổi trong dân số có xu hướng giảm Hệ số phụ thuộc trong mỗi gia đình và toàn xã hội đều tăng, nếu như trước đây, mỗi đôi vợ chồng có
Trang 31nhiều con, đến tuổi già mỗi đôi vợ chồng già có thể dựa vào một hoặc hai cặp
vợ chồng con cháu nhưng đến nay, nhiều đôi vợ chồng trẻ phải chu cấp cho
cả ông bà ngoại lẫn ông bà nội, còn nếu gia đình có 2 con thì bình quân, mỗi đôi vợ chồng trẻ có trách nhiệm chu cấp cho ít nhất một đôi vợ chồng bố mẹ Điều này cũng là một sức ép rất lớn đòi hỏi xã hội, mà trước tiên là Nhà nước phải quan tâm tới nghiên cứu vấn đề chăm sóc đối với NCT trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện nay
Trước thực trạng đó, nhu cầu đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe NCT
là tất yếu trong đó có loại hình TTCSNCT đóng vai trò vô cùng quan trọng giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội, giải quyết các vấn đề ASXH cho địa phương và đất nước đồng thời mang đến một cuộc sống viên mãn dành cho NCT khi về già Tuy nhiên, thực sự để loại hình này phát triển đúng hướng nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng cho các TTCSNCT phát triển đúng theo quan điểm, chủ trương của Đảng, hoạt động hướng tới mục tiêu phi lợi nhuận
Bên cạnh đó, nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo các điều kiện cần thiết như có các chính sách hỗ trợ, ưu đãi về tài chính, đất đai, tạo môi trường pháp
lý thông thoáng sẽ khuyến khích được xã hội tham gia vào lĩnh vực này nhiều hơn, từ đó sẽ xây dựng được hệ thống ASXH tốt dành cho người cao tuổi Đồng thời, để các trung tâm này hoạt động đúng mục đích phát huy tối đa nguồn lực xã hội nhà nước cần phái tăng cường hoạt động kiểm soát hoạt động của các trung tâm này nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội
1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của NCT và gia đình họ: Do quá trình già hóa dân số đang tăng nhanh hiện nay đòi hỏi cần có những chính sách an sinh làm sao đảm bảo được các nhu cầu cho nhóm yếu thế và thiệt thòi và tránh tình trạng ngân sách nhà nước được đưa ra hỗ trợ chưa đúng người,
Trang 32đúng việc Chăm sóc NCT cả về đời sống vật chất và tinh thần là một nội dung quan trọng trong chính sách mà Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn nhấn mạnh trong tất cả các giai đoạn phát triển của đất nước Theo dự báo về dân
số NCT, các chính sách và chương trình này mới chỉ điều chỉnh dần từng bước và chính điều này gây ra một số thách thức như hệ thống chăm sóc lão khoa chưa được phát triển đầy đủ; tỷ lệ NCT được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và chăm sóc NCT có chất lượng còn thấp; còn có nhiều vướng mắc khi xét tham gia hoặc không cho phép tham gia vào các chương trình hỗ trợ xã hội
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của các TTCSNCT: Trong những năm
gần đây, ở Việt Nam, một số mô hình TTCSNCT do tư nhân quản lý đã được hình thành tuy nhiên chưa được sự quan tâm và quản lý chặt chẽ của nhà nước
nên vẫn tồn tại mô hình hoạt động nhắm vào mục đích tối đa hóa lợi nhuận
Việc tiếp nhận NCT vào sống trong TTCSNCT hiện nay quá thông thoáng, nhiều khi chỉ cần có sự thỏa thuận giữa gia đình và trung tâm, bỏ qua
cả sự đồng ý của chính bản thân NCT Điều này vô hình chung đã làm sai với luật NCT và có thể là điều kiện cho những người con hư dễ dàng chối bỏ bố
mẹ, không làm tròn trách nhiệm và bổn phận làm con của mình
Chất lượng dịch vụ của các trung tâm hiện nay đa phần chưa đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của các cụ về mô hình chăm sóc NCT lý tưởng
Do không được nhà nước hỗ trợ, ưu tiên bất cứ điều gì cho nên các trung tâm hiện nay hoạt động còn rất khó khăn Nguồn kinh phí chủ yếu có được là do đóng góp của các gia đình, hoạt động theo phương thức lấy thu bù chi nên họ không đầu tư vốn và mặt bằng Vì vậy, trung tâm thường hẹp, ít có chỗ vui chơi ngoài trời cho các cụ và cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn nhiều
Vì vậy, đòi hỏi cần phải cần phải có sự quản lý của nhà nước đối với các trung tâm này, nhằm đảm bảo các trung tâm này hoạt động đúng mục đích, đảm bảo chất lượng phục vụ dành cho NCT
Trang 33Xuất phát từ yêu cầu của Đảng và Nhà nước: Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội Cần phải chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người cao tuổi Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để NCT hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, lao động học tập của NCT trong xã hội và gia đình “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết thương yêu nhau”; giúp đỡ NCT cô đơn không nơi nương tựa
Như vậy, để thực hiện các nhiệm vụ, các yêu cầu đó cần thiết phải xây dựng và phát triển các TTCSNCT và trách nhiệm hàng đầu phải là Nhà nước
1.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc
người cao tuổi
1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật để quản lý các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu nhất của mỗi nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể Việc xây dựng pháp luật của từng quốc gia về từng ngành, lĩnh vực phải đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau Pháp luật phải đồng bộ và nhất quán, ít thay đổi Sự phù hợp của luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế tạo nên hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội nói chung và hoạt động của các TTCSNCT nói riêng Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật nói chung và luật liên quan đến NCT nói riêng còn là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho hoạt động của các TTCSNCT được thực hiện thuận lợi, tạo đà phát triển cho loại hình này phát triển không chỉ tại thành phố Hà Nội mà còn trên
cả nước Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu quả, đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trang 34Chính sách của nhà nước đối với các TTCSNCT bao gồm một hệ thống các quyết định mang tính hành động, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động QLNN đối với các TTCSNCT của một quốc gia (bao gồm các chính sách ưu đãi, kêu gọi xã hội hoá và thu hút đầu tư nước ngoài…) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia đó Theo tính chất, chính sách hỗ trợ hoạt động của các TTCSNCT có thể được phân thành: Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu); Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính; Chính sách thị trường; Chính sách đất đai; Chính sách lao động; Chính sách công nghệ; …
Như vậy, với hệ thống chính sách, pháp luật nêu trên, sẽ có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hoặc là thu hút, đẩy mạnh hoạt động của các TTCSNCT, hoặc sẽ kìm hãm hạn chế nó Hệ thống chính sách, pháp luật là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để đưa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các TTCSNCT đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực và đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra Nếu hệ thống chính sách, pháp luật đúng đắn thì sẽ đạt được kết quả, hiệu quả cao; ngược lại nếu chính sách sai lầm sẽ phản tác dụng, đi ngược lại với mục tiêu chiến lược đã đề ra
1.3.2 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch là những định hướng, cơ sở để Nhà nước cũng như doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nước ngoài và công dân thực hiện công việc của mình
Chiến lược phát triển các cơ sở bảo trợ xã hội, đặc biệt là các TTCSNCT là tổ hợp các mục tiêu dài hạn về thu hút từ tiềm lực, nội lực và các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó Nó xác định những mục tiêu mà trong một thời gian nhất định phải đạt được bằng biện pháp nhất định Chiến lược được xây dựng dựa trên chiến lược, định hướng phát triển kinh tế-
Trang 35xã hội tổng thể quốc gia cũng như từng địa phương Ngoài ra, chiến lược mang tính quốc gia, thể hiện được ngành, lĩnh vực, vùng ưu tiên, thúc đẩy thu hút xã hội hoá, đầu tư xây dựng, phát triển các TTCSNCT
Quy hoạch là việc lựa chọn phương án phát triển và tổ chức không gian nhằm phát triển các cơ sở chăm sóc NCT cho thời kì dài hạn trên lãnh thổ xác định Quy hoạch được xây dựng dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế theo ngành, vùng nhằm đảm bảo phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, đảm bảo ASXH cho NCT
Kế hoạch là việc ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất để thu hút xã hội hoá, đầu tư xây dựng, phát triển các TTCSNCT chất lượng, hiệu quả Kế hoạch thường được xây dựng hàng năm hoặc là kế hoạch năm năm Căn cứ vào tình hình trong nước hoặc địa phương cũng như sự biến động từ bên ngoài, cần phải cố những dự báo xác đáng về tình hình để từ đó xây dựng kế hoạch với những mục tiêu mang tính hiệu quả, khả thi cao
1.3.3 Đầu tư và huy động các nguồn lực xã hội để phát triển các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn già hoá dân số kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề về ASXH cho nhân dân đặc biệt là đối tượng NCT luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Để giải quyết các vấn đề ASXH, đặc biệt
là phát huy vai trò của các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở nước ta hiện nay, đòi hỏi nhà nước phải đầu tư nguồn lực tài chính cho lĩnh vực này Nhiều nguồn lực tài chính được đầu tư cho công tác y tế nói chung và cho lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi nói riêng sẽ góp phần thực hiện hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT, chất lượng dịch vụ chăm sóc và nuôi dưỡng NCT sẽ được nâng cao
Bên cạnh việc đầu tư các nguồn lực tài chính để phát huy vai trò của các
mô hình TTCSNCT, nhà nước cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân, cơ quan, tổ chức và gia đình về trách nhiệm kính trọng, giúp đỡ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; sắp xếp lại hệ
Trang 36thống các cơ sở bảo trợ xã hội công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, tạo lập môi trường thân thiện, hòa nhập giữa các nhóm đối tượng và với xã hội Đồng thời ưu tiên, khuyến khích và huy động tất cả các thành phần trong xã hội đầu tư nguồn lực phát triển các cơ sở cung cấp các dịch vụ chăm sóc NCT
1.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Để hoạt động QLNN được thực hiện một cách có hiệu quả cần thiết lập một bộ máy tổ chức để quản lý và hoạt động quản lý các TTCSNCT Để quản
lý hoạt động của các TTCSNCT Nhà nước cần thiết lập bộ máy quản lý với các cơ quan cùng đội ngũ nhân sự và các điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động quản lý
Hiện nay, Chính phủ quản lý thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, y tế, xã hội Trong lĩnh vực việc làm; quan hệ lao động, tiền lương; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; người có công; giảm nghèo, bảo trợ
xã hội; trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ sự nghiệp công trong các ngành, lĩnh vực, ở cấp Trung ương, Chính phủ giao cho Bộ Lao động thương binh và xã hội quản lý,
mà trực tiếp đó là Cục bảo trợ xã hội, thực hiện việc quản lý các vấn đề về bảo trợ xã hội nói chung và hướng dẫn thực hiện quy hoạch, thành lập, tổ chức và hoạt động của các TTCSNCT nói riêng trên toàn lãnh thổ cả nước Tại các địa phương, hoạt động quản lý các cơ sở bảo trợ xã hội cũng như các TTCSNCT được được giao cho UBND tỉnh, thành phố mà trực tiếp là Sở Lao động thương binh và xã hội và phòng bảo trợ xã hội quản lý Tại cấp Huyện, Phòng lao động thương binh xã hội tham mưu cho UBND huyện thực hiện QLNN đối với các trung tâm đóng trên địa bàn huyện quản lý
1.3.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
Hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm là khâu quan trọng không thể thiếu của hoạt động QLNN Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các
Trang 37TTCSNCT giúp phát hiện điểm bất hợp lý, sai phạm trong tổ chức thực hiện
để kịp thời điều chỉnh hoặc kiến nghị việc điều chỉnh pháp luật, chính sách về phát triển loại hình theo quy định của pháp luật Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện việc giám sát bằng cách lập các đoàn kiểm tra thực địa, hoặc yêu cầu báo cáo từ các doanh nghiệp Đồng thời thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát còn tạo nguồn thông tin phản hồi từ các cơ sở bảo trợ
xã hội cũng như các doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực chăm sóc NCT để các cơ quan QLNN có căn cứ đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ban hành Ngoài ra, việc thẩm tra để sàng lọc bớt các TTCSNCT thiếu năng lực là cần thiết để tránh các sự cố đáng tiếc xảy ra đối với NCT
Ngoài ra, hoạt động thanh – kiểm tra sẽ cung cấp những bằng chức xác thực về những vấn đề bất cập trong chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý nhằm bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật Bên cạnh đó, hoạt động này
sẽ tạo áp lực lên các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi từ đó giúp họ nâng cao ý thức, tuân thủ pháp luật, thực hiện nghiêm các quy định của nhà nước
1.4 Yếu tố tác động tới hoạt động quản lý nhà nước đối với các trung tâm chăm sóc người cao tuổi
1.4.1 Quan điểm chính trị
Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối
và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích Hoạt động QLNN phải tuân thủ theo quan điểm, định hướng chính trị của Đảng cầm quyền
Trang 38Với mỗi quốc gia tuỳ từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển sẽ có các quan điểm chính trị khác nhau để giải quyết các vấn đề xã hội Trong quá trình hình thành và xây dựng đất nước, qua từng thời kỳ lãnh đạo công tác chăm sóc NCT ở nước luôn được quan tâm chú trọng đặc biệt từ khi Pháp lệnh NCT 2000 ra đời Tuy nhiên thời kỳ này đất nước còn đang gặp nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển vì vậy việc quan tâm chăm sóc đến NCT còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, với sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta càng quan tâm hơn đến vấn đề này qua việc cụ thể hoá quan điểm chính trị của Đảng về NCT, đó là sự ra đời của Luật NCT năm 2009 cùng với hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện Kể từ hoá chăm sóc NCT được Nhà nước kêu gọi xã hội hoá từ xã hội để đem lại cuộc sống tốt nhất cho NCT Nhờ vậy các TTCSNCT ngày càng được nhân rộng khắp nơi trên cả nước Tuy còn manh mún nhưng phần nào cũng thể hiện được quan điểm chính trị của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực này
1.4.2 Chính sách, pháp luật
Chính sách, pháp luật do nhà nước ban hành là công cụ cơ bản để nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của cả nước Với các chính sách, pháp luật tốt sẽ giúp cho hiệu quả QLNN được nâng cao và ngược lại nếu như không có chính sách, pháp luật tốt phù hợp với sự phát triển của
xã hội sẽ khiến cho hiệu quả QLNN thấp, lòng tin của nhân dân vào Đảng và nhà nước sẽ bị giảm sút Bên cạnh việc ban hành các chính sách, pháp luật tốt
có hiệu quả, thì công tác thực thi các chính sách, pháp luật đi vào đời sống được nhân dân ủng hộ và tuân theo cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng Đảm bảo công tác này được thực hiện nghiêm túc và công bằng sẽ giúp giải quyết tốt các vấn đề xã hội đặt ra
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng NCT trong xã hội Hệ thống chính sách, pháp luật về NCT và trợ giúp xã hội được ban hành và đang triển khai thực hiện khá đồng bộ và
Trang 39hoàn chỉnh Các cơ sở trợ giúp xã hội đặc biệt là mô hình chăm sóc người ngày càng được củng cố và nâng cao, khuyến khích sự tham gia của khu vực
tư nhân tham gia vào hoạt động dịch vụ chăm sóc NCT góp phần phát triển hệ thống ASXH cho NCT nước ta Tuy nhiên, bên cạnh đó các chính sách, pháp luật hiện nay vẫn còn nhiều nội dung chưa bắt kịp các yêu cầu thực tế về chăm sóc NCT, đặc biệt với loại hình TTCSNCT nhưng chậm được rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Việc này sẽ gây ra khó khăn cho việc QLNN đối với các trung tâm này, khiến cho hoạt động QLNN đối với các TTCSNCT gặp nhiều khó khăn, bất cập
1.4.3 Nguồn lực tài chính
Những bảo đảm về mặt tài chính cho hoạt động QLNN phụ thuộc một phần vào nhu cầu quản lý, nhưng chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn Việc đầu tư về tài chính sẽ bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy và hoạt động của chế độ công vụ, công chức vừa là điều kiện, vừa là một trong những tiêu chí chủ yếu đánh giá hiệu quả của hoạt động QLNN Nguồn lực tài chính mạnh sẽ giúp cho các hoạt động QLNN được xúc tiến nhanh chóng, tăng năng suất hiệu quả công việc Đồng thời có thể dựa vào nguồn lực tài chính đó để trang bị các khoa học, kỹ thuật hiện đại vào QLNN hoặc đầu tư nhiều hơn cho các vấn đề ASXH đặc biệt là xây dựng các cơ sở bảo trợ xã hội cho NCT
Trong bối cảnh hiện nay, nước ta vẫn là nước đang phát triển, việc đầu
tư cho ASXH còn nhiều hạn chế, hầu hết các TTCSNCT được thành lập dựa trên nguồn tài chính chủ yếu là do chủ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này bỏ ra Để xây dựng một viện dưỡng lão TTCSNCT cần đầu tư rất nhiều chẳng hạn như máy móc kiểm tra sức khỏe, tập thể dục cho các cụ, hệ thống camera theo dõi, nhân viên dọn vệ sinh, nhân viên chăm sóc đặc biệt cho NCT, bác sỹ, y tá,… trong khi việc thu chi phí từ NCT lại thì chậm và loại hình này còn khá mới dẫn tới ít người sử dụng dịch vụ Điều này, khiến
Trang 40cho các các nhà đầu tư khá e dè và ngại đầu tư Bên cạnh đó,các gia đình, đặc biệt là con cái vẫn là đối tượng chủ yếu chăm sóc khi NCT ốm đau nhưng nhiều gia đình cũng gặp không ít khó khăn trong việc chăm sóc NCT, đặc biệt
là khi đau ốm Khó khăn lớn nhất của con cái khi chăm sóc NCT là khó khăn
về kinh tế Điều kiện kinh tế khó khăn và sự tốn kém trong điều trị bệnh cho NCT nên đối với nhiều gia đình, bệnh viện là một sự ám ảnh, nỗi sợ hãi, chưa nói đến việc sử dụng dịch vụ ở các TTCSNCT Vì vậy, trong bối cảnh già hóa dân số đang ngày càng diễn ra mạnh, Nhà nước chưa đủ lực để chăm lo tốt cho NCT thì nên khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân đầu tư vào dịch vụ dưỡng lão Khuyến khích xã hội hóa dịch vụ dưỡng lão cần đi kèm đa dạng hóa, xây dựng nhiều mô hình dưỡng lão cho riêng từng đối tượng NCT
1.4.4 Năng lực, trình độ của dội ngũ cán bộ công chức
Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc QLNN đối với các TTCSNCT Nếu như Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị thì đội ngũ Cán bộ công chức (CBCC) là lực lượng quan trọng vận hành cỗ máy hành chính nhà nước, giúp guồng máy hành chính hoạt động thông suốt từ trung ương đến địa phương Là đội ngũ có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị và hệ thống hành chính quốc gia, được xem như nguồn tài sản (nguồn vốn) vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc, “xương sống” của chính quyền; vì vậy, chất lượng của đội ngũ CBCC có tính chất quyết định chất lượng của nền hành chính, hiệu quả công tác QLNN
và sự phát triển của quốc gia
CBCC QLNN đối với các TTCSNCT phải được trang bị tốt về trình độ, bên cạnh kiến thức nghề nghiệp, họ cần phải có kiến thức về chính sách xã hội; Tâm lý học; Xã hội học, các kiến thức bổ trợ khác như kinh tế, pháp luật thì mới có thể làm tốt vai trò của mình trong việc QLNN nói chung và QLNN đối với các TTCSNCT nói riêng Với đội ngũ CBCC có năng lực, trình độ cao
sẽ hoạch định được nhiều chính sách, pháp luật tốt đảm bảo tính hợp pháp,