Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa phải bảo tồn và phát huy được các giá trị di tích trên địa bàn quận, phải đảm bảo tính trung thực, tính nguyên gốc của di tích ..... Quản lý
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu tập hợp và kết quả nghiên cứu trong luận văn trung thực, các kết quả trích dẫn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc cũng nhƣ trong phần tài liệu tham khảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm cũng như giúp đỡ của nhiều cá nhân
và tập thể để hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Lê Anh Xuân, là
cô giáo đã hướng dẫn khoa học cho tôi, sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô
đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học viện, thầy giáo viên chủ nhiệm cùng các thầy cô đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học này
Xin chân thành cảm ơn các anh chị chuyên viên Phòng Văn hóa và Thông tin quận Hoàn Kiếm và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn này
Tuy nhiên điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, chuyên đề nghiên cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để bài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2019
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Diễm Hương
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài Luận văn 9
1.1.1 Di tích 9
1.1.2 Di tích lịch sử - văn hóa 11
1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 16
1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lích sử - văn hóa 18
1.2.1 Do vai trò, giá trị của di tích lịch sử văn hóa 18
1.2.2 Thách thức của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập 20
1.2.3 Công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 21
1.2.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý di tích lịch – văn hóa 23
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 25
1.3.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, bảo vệ và phát huy các di tích lích sử - văn hóa 26
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy định pháp luật về các di tích lịch sử - văn hóa 26
1.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lích sử - văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di tích lích sử - văn hóa 27
1.3.4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về quản lý văn hóa – xã hội 31
1.3.5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa 31
1.3.6 Tổ chức chỉ đạo công tác khen thưởng trong việc bảo vệ và phát triển các giá trị lịch sử văn hóa của di tích lịch sử - văn hóa 32
1.3.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tổ chức ở di tích lịch sử - văn hóa 32
Trang 61.4 Các yếu tố tác động đến việc quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn
hóa 33
1.4.1 Yếu tố con người 33
1.4.2 Yếu tố thiên nhiên khí hậu 34
1.4.3 Yếu tố chính trị 34
1.4.4 Yếu tố kinh tế 34
1.4.5 Yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán 35
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ở một số địa phương 35
1.5.1 Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 35
1.5.2 Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 38
1.5.3 Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 41
1.5.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI47 2.1 Khái quát chung về quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội 47
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 47
2.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 48
2.1.3 Đặc điểm truyền thống, con người Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 51
2.2 Thực trạng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm52 2.2.1 Số lượng và loại hình 52
2.2.2 Đặc điểm chung của di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 55
2.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 57
2.3.1 Xây dựng chỉ đạo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 60
Trang 72.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy định pháp luật về các di
tích lịch sử - văn hóa 62
2.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích lịch sử - văn hóa 65
2.3.4 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về quản lý di tích lịch sử - văn hóa 69
2.3.5 Lập kế hoạch và huy động, sử dụng nguồn lực cho công tác bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa 69
2.3.6 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát huy giá trị các di tích 72
2.3.7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế và phát huy giá trị di sản văn hóa 75
2.3.8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo về di tích lịch sử - văn hóa 76
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước 78
2.4.1 Những kết quả đạt được 78
2.4.2.Những hạn chế và nguyên nhân 82
2.4.3 Các vấn đề đặt ra từ thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 84
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 87
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 89
3.1 Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 89
3.1.1 Thống nhất quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 91
3.1.2 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa phải bảo tồn và phát huy được các giá trị di tích trên địa bàn quận, phải đảm bảo tính trung thực, tính nguyên gốc của di tích 92
Trang 83.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa phải bảo tồn và phát huy
được giá trị các di tích gắn với cộng đồng, vì cộng đồng 93
3.1.4 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa phải bảo tồn và phát huy được giá trị các di tích gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương 94
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội 96
3.2.1 Xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 96
3.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 98
3.2.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 98
3.2.4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 101
3.2.5 Tăng cường xã hội hóa để huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ, gìn giữ, phát huy các di tích trên địa bàn quận 102
3.2.6 Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng tạo động lực nâng cao chất lượng quản lý các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 104
3.2.7 Tăng cường sự phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 104
3.2.8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 117
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá của quốc gia, là di sản văn hóa phi vật thể và vật thể, mang trong mình rất nhiều giá trị vượt không gian và thời gian Trải qua nhiều biến cố như chiến tranh, loạn lạc, động đất, lũ lụt, thiên tai,…nhiều công trình có giá trị lịch sử bị tàn phá Do vậy, công tác quản lý nhà nước đối với các di tích lịch sử - văn hóa cần được đặt ra và coi trọng
Mặt khác, trong quá trình hội nhập và phát triển, Việt Nam hiện nay cũng như rất nhiều nước trên thế giới chú ý khai thác thế mạnh vốn có của mình - giá trị của các di tích lịch sử văn hóa để phát triển kinh tế - xã hội Quá trình khai thác này cần đến công tác quản lý nhà nước (QLNN) về các di tích Đảng và nhà nước ta có chủ trương, chính sách phát triển văn hóa, bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá năm, ngày 16-7-1998, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã bổ sung, phát triển, làm sâu sắc, phong phú hơn kho tàng lý luận văn hóa, đường lối văn hóa của Đảng
và mở đường cho thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thu trị của
di tích lịch sử - văn hóa quốc gia vì lợi ích chung của xã hội Cách đây hơn 20 được những thành tựu to lớn trong hai thập niên qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đề ra quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản cho việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 6-5-2009 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn hóa đến năm 2020 Coi trọng và gắn văn hóa với phát triển, coi văn hóa là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Di sản văn hóa phi vật thể là nền tảng hun
Trang 10đúc nên bản sắc văn hóa và hệ giá trị của văn hóa dân tộc, là nguồn lực để phát triển cả về kinh tế và văn hóa tinh thần
Tháng 7-2004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
đã ra Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006) khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”
Di tích lịch sử - văn hóa là một phần quan trọng của di sản văn hóa, là tài sản quý của dân tộc, thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kiến trúc nghệ thuật qua từng thời kỳ của lịch sử Di tích lịch sử - văn hóa chính là phương tiện truyền đạt của thế hệ trước cho thế hệ sau những tinh hoa văn hóa của dân tộc, trong đó có cả tín ngưỡng, tâm linh Do vậy, bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch
sử - văn hóa dân tộc không chỉ là nhiệm vụ riêng của những người làm công tác văn hóa, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, là trách nhiệm của mỗi con người đối với quê hương mình sinh ra, đối với cả dân tộc
Di tích lịch sử - văn hóa là cái nôi của nhân loại, phản ánh lịch sử hiện tại và tương lai của một dân tộc, trong đó có các bằng chứng sống tồn tại theo thời gian, đó chính là các di tích đánh giá các cột mốc của từng thời đại mà nguy cơ xuống cấp ngày càng hiện hữu, vì nhiều lý do thiên nhiên, môi trường, xã hội.v.v nên để bảo vệ cho các thế hệ kế tiếp thì ta cần phải quan tâm, bảo vệ, tu
bổ một cách có hiệu quả và thống nhất Trong đó vai trò của nhà nước là dẫn dắt, quản lý và định hướng có hệ thống để di tích không bị mất đi các giá trị nhân văn của từng thời đại
Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều này sẽ tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho vấn đề quản lý hệ thống di sản văn hóa của cả nước nói chung và quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nói
Trang 11riêng Hoàn Kiếm là quận ở vị trí trung tâm Thủ đô, nơi hội tụ và kết tinh những tinh hoa văn hóa, truyền thống lịch sử của Thăng Long – Hà Nội Đây cũng là địa bàn có nhiều di tích mang giá trị đặc trưng, tiêu biểu, đa dạng và phong phú Trong những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn luôn được quận xác định là nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm còn
có những bất cập và hạn chế trong việc bảo vệ và giữ gìn các di tích Công tác quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm đang đứng trước các khó khăn như: hiện tượng di tích bị lấn chiếm bởi người dân sinh sống và kinh doanh trở thành vi phạm diễn ra khá phổ biến; hoặc hiện tượng sử dụng diện tích đất của di tích để xây dựng các công trình với mục đích khác nhau,
Việc tôn tạo, giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm nói riêng, cả nước nói chung đang là một trong những nhiệm vụ cấp bách của các cấp chính quyền, trong đó có hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn: “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công, mã số 8 34 04 03
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề nghiên cứu, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa cũng như khai thác tiềm năng của các di tích lịch sử - văn hóa là vấn đề đã được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ: lịch sử, văn hóa, kiến trúc, quản lý công…Trong luận văn này học viên đề cập tới một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài luận văn
Năm 2002, để phục vụ cho công tác nghiên cứu, tìm hiểu về di tích lịch sử - văn hóa và tuyên truyền giáo dục truyền thống, Thường trực Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm, được sự hưởng ứng và đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học và cán
Trang 12bộ quản lý văn hóa đã chỉ đạo và biên soạn cuốn sách: “Di tích lịch sử - văn hóa
trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội” Đây là một tuyển tập
nghiên cứu phổ cập khoa học, bao gồm lý luận tổng quan và cụ thể chi tiết về di tích lịch sử - văn hóa trong phạm vi quận Hoàn Kiếm – Hà Nội Cuốn sách gồm hai phần, phần thứ nhất giới thiệu “tổng quan”, 6 chuyên đề chính; phần thứ hai
“Những di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu” giới thiệu 57 di tích chính trong địa bàn khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm [6]
Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia của tác giả
Vũ Thế Hùng (2017) : “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa” Tác giả đã đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tế quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa, phân tích tiềm năng các di tích lịch sử - văn hóa và đưa ra định hướng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa phục vụ hoạt động phát triển của cộng đồng và du lịch.trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa [20]
Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia của tác giả
Đỗ Thu Hằng (2018) : “Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa thông tin tại các phường của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” Tác giả nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về các hoạt động văn hóa thông tin tại các phường trên địa bàn quận Hoàn Kiếm [19]
Luận văn thạc sỹ Quản lý Văn hóa, Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương của tác giả Lê Ngọc Hải (2017): “Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội” Tác giả đã tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động quản lý DSVH
ở đình Phùng Khoang những năm gần đây, trong đó đi sâu vào hai nội dung cơ bản là các hoạt động bảo tồn các di tích nhằm gìn giữ, bảo vệ di tích chống lại
sự xâm hại của con người và thiên nhiên, kéo dài tuổi thọ cho di tích [18]
Luận văn thạc sỹ Quản lý Văn hóa, Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương của tác giả Nguyễn Phương Loan (2018): “Công tác quản lý di tích Đền – Đình Kim Liên, phường Phương Liên, Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” Tác
Trang 13giả khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong công tác quản lý di tích đền - đình Kim Liên; tìm hiểu quá trình xây dựng đền để từ bối cảnh địa lý văn hóa mà các di tích thờ bốn vị thần thiêng trở thành các không gian địa lý, tâm linh của di tích lịch sử văn hóa đền đình - Kim Liên có tuổi thọ 1000 năm tuổi, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, vẫn trường tồn cùng thời gian và trở thành niềm tự hào của Thủ đô Hà Nội nói chung, của người dân làng Kim Liên nói riêng [22]
Đề án: “Tập trung bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị di sản văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, mở rộng hợp tác Quốc tế” (Đảng bộ quận Hoàn Kiếm tháng 11/2016).Đề án nhằm thông tin tuyên truyền, giáo dục góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các ngành, các cấp đặc biệt là các tầng lớp nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa [14]
Bài báo 2 kì “Chuyện dài bảo tồn di tích trong phố cổ” của tác giả Huyền Trang Khu phố cổ Hà Nội là nơi lưu trữ giá trị lịch sử, văn hóa và phong cách sống của người dân Hà Nội Những giá trị ấy nằm ngay trong hệ thống kiến trúc,
sự phân loại khá rõ nét trong hệ thống di tích kiến trúc tôn giáo, di tích lịch sử cách mạng và cả những ngành nghề đặc trưng của từng con phố [44]
Các công trình trên đã trình bày, đề cập đến di tích lịch sử - văn hóa với nhiều nội dung, nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu sâu về QLNN về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Vì vậy trong luận văn này tác giả kế thừa, tiếp thu các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước để nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
Trang 14xuất các giải pháp tăng cường QLNN về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu như trên, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Xác định, phân tích cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử
- văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Quản lý nhà nước về di tích lịch sử Văn hóa trên địa bàn một quận
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2014 đến 2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về Văn hóa, di sản văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng kết hợp một
số phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 15- Phương pháp thống kê: thu thập các nguồn tư liệu, các nghiên cứu về công tác quản lý, bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa truyền thống của các địa phương trong nước và trên địa bàn quận Hoàn Kiếm
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng hình thức phát phiếu điều tra đến các cán bộ và nhân dân quận Hoàn Kiếm, các nhà nghiên cứu quan tâm đến quản lý các di tích lịch sử trên địa bàn quận
- Phương pháp đối sánh: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc quản lý lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn quận Hoàn Kiếm với các địa phương khác trong cả nước nhằm đúc kết kinh nghiệm cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu
Bên cạnh đó đề tài còn được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thực địa, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp, phương pháp khái quát hóa, phương pháp quan sát, phương pháp sưu tầm số liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có một số đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
- văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
Trang 16Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa
bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích
lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Trang 17Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Di sản được hiểu là “1 Tài sản thuộc sở hữu của người đã chết để lại: kế thừa di sản của bố mẹ 2 Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa”
[52, tr 533]
Di sản của các hiện vật vật lý và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau [3] Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật, và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học).
Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa tích lũy trong suốt quá trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc được lưu giữ lại Những di sản này rất phong phú, đa dạng tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau
Di sản văn hóa vật thể
Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Trang 18Di sản văn hóa phi vật thể
Là các sản phẩm tinh thần có giá trị, lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Di tích được hiểu là “1 Các loại dấu vết
của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên cứu 2 Di sản văn hóa lịch sử bất động: di tích văn hóa” [52, tr 533]
Theo Bách khoa toàn thư mở thì Di tích được hiểu: là dấu vết của quá
khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử [3] Ở Việt Nam, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt Tính đến năm 2014, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với
tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam Trong số di tích quốc gia có 62 di
tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có 8 di sản thế giới
Di tích là dấu tích, công trình xây dựng, là bằng chứng của sự tiến hóa hay biến cố về lịch sử, có ý nghĩa về văn hóa; di tích là cổ vật bất động sản, là di sản văn hóa phi vật thể
Có các loại di tích như: Công trình kiến trúc nghệ thuật; Di tích nhà thờ để tưởng niệm người chết, thường ở trên hoặc gần mộ của họ; Di vật và đài tưởng niệm để tưởng niệm người chết, thường là nạn nhân chiến tranh; Những cột thường được chụp hoặc vẽ lên đó với một pho tượng; Mộ đá tạo thành đài kỷ niệm nhỏ cho một người chết; Lăng mộ và các ngôi mộ để đến cõi chết; Những tảng đá nguyên khối được dựng nên những mục đích tôn giáo hay để ghi nhớ; Những gò đất dựng nên để kỷ niệm những lãnh đạo lớn hay những sự kiện; Bia tưởng niệm thường được dựng lên để tưởng niệm các nhà lãnh đạo vĩ đại; Những pho tượng của những cá nhân nổi tiếng; Đền hoặc công trình xây dựng cho những cuộc hành hương tôn giáo, nghi lễ hay các mục đích kỷ niệm; Hồ sơ,
Trang 19cách trình bày thiết kế cho những tượng đài thành thị; Những di vật kỷ niệm những thành công quân đội; Toàn bộ khu vực thành lập như là đài tưởng niệm
để tưởng niệm tội ác chiến tranh; Những thắng cảnh đẹp
1.1.2 Di tích lịch sử - văn hóa
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Di tích lịch sử - văn hóa được hiểu là
“Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật, hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [52, tr 533]
Theo Bách kháo toàn thư mở: Di tích lịch sử - văn hóa là những công
trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội [3]
Di tích lịch sử - văn hóa là di tích mang tầm cỡ có chiều sâu và bề dày của lịch sử, mang đậm nét văn hóa Di tích lịch sử là công trình xây dựng, địa điểm
và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó có chứa các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra Di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá khứ, di tích là những gì còn lại so với thời gian, những thông tin trực tiếp từ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và sử liệu từ các di vật có trong di tích góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam Chúng
ta có thể nhận biết kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa trải qua các thời đại thông qua các dấu tích, di vật còn sót lại Ví dụ chúng ta có thể biết được kiến trúc các ngôi đình làng đa dạng ở khu vực đồng bằng sông Hồng thay đổi qua các thời kỳ, dựa vào dấu tích còn lại của kiến trúc đình làng người ta có thể suy
ra niên đại của các ngôi đình, chẳng hạn như những ngôi đình có niên đại sớm hơn thường có ván sàn đình Di vật được bảo lưu ở các di tích, là nguồn sử liệu trực tiếp mang lại nhiều thông tin thú vị cho các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau như tôn giáo, địa lý, lịch sử, thông qua di vật ở di tích như quả
Trang 20chuông được đúc năm nào hay nội dung văn bia có thể suy ra niên đại khởi dựng
và trùng tu lại ngôi chùa, xem qua tượng thờ, nghệ thuật chạm khắc thông tin cho chúng ta biết được sự xuất hiện của tín ngưỡng dân gian khác nhau qua các thời kỳ,
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu trực tiếp cho ta những thông tin quan trọng để khôi phục những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam Thuộc di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm của vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Di tích lịch sử - văn hóa nói chung do nhân dân tạo ra, là kết quả của hoạt động sáng tạo văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc Tiềm ẩn trong mỗi di tích lịch sử - văn hóa quốc gia có những giá trị cao cả về văn hóa và về mặt kinh tế, những yếu tố hấp dẫn rất lớn không thể thiếu để góp phần vào việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm di tích lịch sử văn hóa như
sau: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Theo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi và bổ sung năm 2009), khoản 1, Điều
28 được sửa đổi bổ sung: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
Trang 21- Công trình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật
Theo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi và bổ sung năm 2009), khoản 2, Điều
29 được sửa đổi bổ sung: Di tích lịch sử - văn hóa là di tích có giá trị tiêu biểu cấp quốc gia bao gồm:
- Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật kiến trúc, tổng thể kiến trúc, tổng thể kiến thúc đô thị và địa điểm có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam
Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ
Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kiện kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên
có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 29 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, các di tích được phân loại như sau:
-Di tích lịch sử ( di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân);
- Di tích kiến trúc nghệ thuật;
- Di tích khảo cổ;
- Danh lam thắng cảnh
Trang 22Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo
Năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng Các di tích này không những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch
Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội
An, nhà thờ Phát Diệm, chùa Keo, đình Tây Đằng, Chùa Phật Tích,
Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếp hạng
Di tích khảo cổ
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa, thánh địa Mỹ Sơn,…
Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng
Trang 23Danh lam thắng cảnh
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm
mỹ, khoa học Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha,
- Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam,
Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng
Di tích lịch sử cách mạng
Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích Loại hình
di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết
và theo thời gian Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt
Theo đầu mối quản lý và giá trị di tích được chia thành 3 loại gồm: di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh
- Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị
Trang 24của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục
di sản thế giới
- Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia
- Di tích cấp tỉnh: là di tích của địa phương Địa phương lập hồ sơ trên cơ
sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTT&DL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh Các di tích được hình thành từ hoạt động lao động sáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể vừa phong phú vừa đa dạng về các loại hình
Trải qua thời gian những sản phẩm đó được tồn tại đến ngày nay, có những sản phẩm mang những giá trị có tính chất tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử văn hóa, khoa học nên được công nhận là di tích
1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Quản lý được hiểu là “1 Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, cán bộ quản
lý, quản lý theo công việc 2 Trông coi giữ gìn và theo dõi việc gì: quản lý hồ
sơ lý lịch, quản lý vật tư” [52, tr 1363]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì Văn hóa được hiểu là “1 Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa của các dân tộc, kho tàng văn hóa dân tộc 2 Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa, chú ý đời sống văn hóa của nhân dân 3 Tri thức khóa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa, học các môn văn hóa 4 Lối sống, cách ứng
xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh: người có văn hóa, gia đình văn hóa mới
5 Nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật
tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn, văn hóa rìu hai vai”
[52, tr 1796]
Trang 25Theo Fayel trong định nghĩa quản lý đã trực tiếp chỉ ra rằng: Quản lý chính là lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện, chỉ huy, tiến hành, kiểm soát; và nếu
lý giải một cách đơn giản như vậy thì quản lý lại trở thành một hành động cụ thể
mà mất đi bản chất thống nhất của nó Định nghĩa quản lý nên phản ánh khách quan đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý, thể hiện bản chất quản lý, hay có thể nói, trong định nghĩa về quản lý nhất định phải đề cập đến bản chất của quản
lý là theo đuổi năng suất, hiệu quả
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi Chấp hành, điều hành, quản
lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Quản lý nhà nước về văn hóa là thông qua những giải pháp về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch…của nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần, quản lý những hoạt động văn hóa theo đúng đường lối chủ trương của Đảng đồng thời đảm bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa, xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc
Quản lý di tích lịch sử có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể Cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; tổ chức bảo vệ chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ di tích Bảo tồn và phát huy giá trị của di
Trang 26tích lịch sử văn hóa là hai thành tố, hai nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động quản
1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lích sử - văn hóa
1.2.1 Do vai trò, giá trị của di tích lịch sử văn hóa
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam
là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông
để lại”
Trang 27Nước Việt Nam trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những trang sử hào hùng của dân tộc được ghi lại qua nhiều hình sử liệu khác nhau: di tích – di vật, hình ảnh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng… trong những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò như một nguồn sử liệu vật chất quan trọng nhất Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia cho chúng ta những thông tin trực tiếp về hoạt động của con người trong quá khứ và giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có những bằng chứng cụ thể để khẳng định sử có mặt của cộng đồng dân cư đã sống và tồn tại trên mảnh đất này
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng
về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và
nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Ngày nay có nhiều di tích đã và đang được bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị đúng mức nhưng cũng có không ít những di tích lịch sử - văn hóa quốc gia như bị
bỏ quên đang xuống cấp hoặc đang bị xâm hại nghiêm trọng và đã bị khai thác sử dụng quá mức Chúng ta cần quan tâm, chú ý hành động chung tay góp sức bảo vệ, gìn giữ những tài sản vô giá mà cha ông chúng ta đã để lại qua nhiều thế kỷ
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa được chia thành: Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, do Chủ tịch UBND Thành phố quyết định xếp hạng di tích
Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của Quốc gia
Trang 28do Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng cấp Quốc gia Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của Quốc gia, do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích lịch
sử - văn hóa Quốc gia đặc biệt
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời với những trang sử sáng chói trong cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước, giành độc lập dân tộc Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ đi trước đã để lại cho chúng
ta kho tàng di sản văn hóa với nhiều giá trị Việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch
sử - văn hóa quốc gia để lưu truyền lại cho muôn đời sau là một việc quan trọng
và cần thiết Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã xác định: “Bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển văn hóa”
1.2.2 Thách thức của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập
Nước ta là một nước đang phát triển, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, nên sau khi giành độc lập, thống nhất đất nước, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước và nhân dân là phát triển kinh tế, nâng cao đời sống Tuy nhiên, tập trung phát triển kinh tế trong khi chưa xây dựng hoàn thành hành lang pháp lý bảo vệ di sản văn hóa; đồng thời ý thức chấp hành pháp luật và nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển chưa đầy đủ rất dẫn đến tình trạng phát triển không bền vững Hơn nữa di sản văn hóa vật thể của Việt Nam phần lớn làm bằng chất liệu hữu cơ, lại bị thiên tai và địch họa tàn phá, sự tác động của phát triển dân số, kinh tế, do nhu cầu khai thác, xây dựng và sản xuất ngày càng tăng Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa Phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chục năm nay nên việc giải quyết cần có quyết tâm
và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp
Đó là những nguy cơ hiện hữu đẩy di sản văn hóa đến với những cơ hội
và thách thức lớn lao Những sức ép do sự tác động tiêu cực của sự phát triển
Trang 29cộng với sự xuống cấp hàng loạt của di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, nhận thức chung của công đồng về bảo vệ di sản, di tích vẫn còn bị hạn chế so với nhu cầu phát triển kinh tế phục vụ đời sống hàng ngày Chính vì vậy, di sản, di tích lịch sử - văn hóa của nước ta đã và đang chịu tác động ngày càng nhanh chóng của sự biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, những thách thức đối với quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa quốc gia nói riêng chủ yếu gồm:
Thứ nhất là, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa tạo cơ hội để chúng
ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, tuy nhiên cũng nảy sinh những nguy
cơ về sự thay đổi quan niệm sống, lối sống khác thâm nhập tác động tiêu cực đến giá trị văn hóa truyền thống
Thứ hai là, hoạt động quản lý nói chung chưa gắn kết với thực tiễn, trên mọi phương diện do trình độ quản lý còn lạc hậu và yếu kém
Thứ ba là, đặc tính thương mại trong văn hóa nếu không được kiểm soát chặt chẽ, dễ bị chi phối bởi yếu tố thị trường, làm thay đổi chức năng của văn hóa
Thứ tư là, dữ liệu cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách làm căn cứ
để đưa ra những quyết sách đúng đắn vì những số liệu liên quan để đánh giá cần phải điều tra xã hội học, mất nhiều thời gian và chi phí
Thứ năm là, khoảng cách đời sống ở các vùng miền còn cách xa nhau
Do vậy muốn phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo giữ gìn, phát huy những nhân tố tích cực của văn hóa truyền thống thấm sâu vào lĩnh vực kinh
tế, kinh doanh, để kinh tế - xã hội có những bước phát triển bền vững thì nhà nước cần phải có những chính sách và giải pháp đúng đắn, phù hợp, cùng với sự
nỗ lực chung của toàn xã hội
1.2.3 Công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
* Những thành tựu đạt được
- Nghiên cứu sưu tầm, điều tra khảo sát, nắm vững tình hình di tích lịch sử
- văn hóa trên địa bàn Nhiều di tích lịch sử - văn hóa bị các yếu tố tự nhiên và
Trang 30xã hội tàn phá, nhưng với truyền thống văn hóa dân tộc, trên nền móng cũ của nhiều công trình như những ngôi đình thờ thành hoàng làng, ngôi chùa thờ được phục dựng
- Đền thờ những người có công với nước được phục hồi để bảo tồn giữ gìn và phát huy các giá trị tinh thần truyền thống văn hóa của dân tộc xu thế toàn cầu hóa là tất yếu, trong tiến trình phát triển mạnh mẽ và đầy biến động, nhiều giá trị mới sinh ra, cùng với sự mất đi của giá trị truyền thống, vì vậy cần phải tăng cường quản lý nhà nước để bảo tồn các giá trị truyền thống và phát hiện, giữ gìn các giá trị mới
- Tăng cường hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cập nhật cùng với sự phát triển chung của thế giới vì lợi ích, sự phát triển của quốc gia, dân tộc, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn và tăng cường hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy để quản lý bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch
sử - văn hóa
- Lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích; bảo vệ chống vi phạm di tích; tu bổ, tôn tạo di tích; tuyên truyền, giáo dục phát huy giá trị di tích Việc bảo tồn được các di tích – văn hóa tại địa phương cũng góp phần đáng kể vào quá trình phát triển du lịch, mang nhiều nguồn lợi cho kinh tế địa phương
* Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu thì cũng có một số hạn chế:
Thứ nhất là, do quá trình hội nhập kinh tế, những giá trị mới dần thay thế những giá trị xưa cũ, vấn đề này đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa, như việc tham quan các di tích còn gắn với mê tín dị đoan, việc công đức tại các di tích làm mục đích thương mại hay quảng cáo…đòi hỏi nếu không tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa từ việc đầu tư bảo tồn, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
đủ mạnh, có hiệu lực trong thực tiễn thì các di tích khó giữ gìn được cho các thế
hệ tương lai
Trang 31Thứ hai là, do sự thiếu đồng bộ, thiếu ý thức, thiếu sự quan tâm đến việc bảo tồn di sản, di tích của một số ngành chức năng, địa phương không tuân thủ các quy định của nhà nước trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ, phát triển cơ sở sản xuất như: cầu đường, bến cảng, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản không chú ý đến việc bảo tồn di sản, di tích trong khu vực triển khai dự án; việc phát triển nhanh các đô thị, xây dựng nhà cao tầng, vô hình chung đã làm cho di sản, di tích bị mất đi không gian truyền thống, nhiều di tích còn bị các công trình mới chèn lấn, có nguy cơ bị mai một Các công trình cấp thoát nước và xử lý rác thải, khói bụi gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực di sản, di tích
Thứ ba là, những hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý số lượng và chất lượng không song hành, những cán bộ có chuyên môn về đúng chuyên ngành bảo tồn di tích còn khiêm tốn, mà đa phần có thể là các cán bộ học kinh tế, thương mại, nông nghiệp hay học những ngành khác lại làm công tác bảo tồn di tích
Thứ tư là, nguồn kinh phí, bất kể vấn đề gì liên quan đến bảo tồn hay trùng tu các di tích trong quản lý nhà nước tại địa phương thì mối quan tâm lớn luôn là nguồn kinh phí, hiện nay ngoài ngân sách nhà nước thì nguồn vốn xã hội hóa là nguồn vốn chính để duy trì hoạt động cũng như trùng tu tại các di tích, tuy vậy việc huy động nguồn vốn này từ các doanh nghiệp hay nhân dân là vấn
đề khó nếu không có sự hướng dẫn của quản lý nhà nước tại địa phương
Thứ năm là, đô thị hóa nông thôn, phát triển du lịch trong khi chưa có đủ
cơ sở hạ tầng, chưa có những công cụ pháp lý hữu hiệu để điều chỉnh các hành
vi liên quan dẫn đến tình trạng quá tải, tập trung quá đông người trong mùa lễ hội tại di tích, cơ sở dịch vụ, nhà hàng lấn át gây bất lợi cho di tích
1.2.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý di tích lịch – văn hóa
Trong quá trình xây dựng và phát triển nhiều năm qua, việc đẩy mạnh công tác quản lý văn hóa cả về chiều rộng và chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực
đã được chú trọng, tạo không ít thành quả Tuy nhiên, có thể thấy chất lượng, số lượng, quy mô, phương thức…của công tác quản lý văn hóa chưa đáp ứng được
Trang 32nhu cầu phát triển, chưa theo kịp thực tiễn hoạt động văn hóa chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, chưa theo kịp thực tiễn hoạt động văn hóa và đang đặt
ra nhiều vấn đề được quan tâm giải quyết một cách thấu đáo Hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực di tích lịch sử - văn hóa tuy có chuyển biến, tiến bộ song còn nhiều hạn chế, có lúc, có nơi còn buông lỏng quản lý (để xảy ra xây dựng không phép, trái phép, làm vỡ cảnh quan di tích, lấn chiếm đất đai, mua bàn chuyển nhượng diện tích ở trong di tích)
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và sự hiểu biết về quản lý di tích lịch sử
- văn hóa ở cấp cơ sở nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được với nhu cầu nhiệm vụ, nên ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo vệ di sản văn hóa Hiện nay đa phần số cán bộ làm quản lý văn hóa tại các địa phương làm công tác về văn hóa nhưng hầu hết lại không có chuyên môn về văn hóa, nghiệp vụ chính của họ là làm công tác quản lý, điều này cũng đặt ra nhiều vấn đề cho công tác quản lý các di tích lịch sử - văn hóa tại các địa phương
Hiện nay, tuy chúng ta đang tiến hành quản lý văn hóa trong cơ chế kinh
tế thị trường, nhưng dấu ấn của cơ chế bao cấp vẫn còn khá sâu đậm, khiến cho nhiều cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức văn hóa vẫn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, chưa phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa chưa phát huy hiệu quả cao Việc xây dựng hoàn thiện thể chế văn hóa còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy nhân sự ngành văn hóa, thể thao
và du lịch còn nhiều lúng túng Trong khi quản lý văn hóa là một công việc rất phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi cả về kiến thức, kỹ năng lẫn tinh thần trách nhiệm, thì đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là cấp cơ sở, còn nhiều hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng tốt yêu cầu công tác Tóm lại, năng lực nguồn nhân lực quản lý văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế…dẫn đến ảnh hưởng tới chất lượng công tác quản lý nhà nước về văn hóa
Trang 331.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lích sử văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể, do vậy nội dung quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý
di sản văn hóa Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được đề cập cụ thể tại Điều 54 và Điều 55 Tại Điều 54, Mục 1, chương 5 của Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị
Những nội dung quản lý tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa đã
cụ thể hóa được chức năng, nhiệm vụ quản lý về di tích lịch sử - văn hóa Trong
đó nội dung quản lý về di tích lịch sử - văn hóa rất rộng, nên trong quá trình quản
lý vẫn phải vận dụng được phương pháp phù hợp để thực hiện tốt chức năng quản
lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa nói riêng và di sản văn hóa nói chung
Trang 341.3.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, bảo vệ và phát huy các di tích lích sử - văn hóa
Trên cơ sở tiềm năng và lợi thế về sự phong phú các di tích lịch sử - văn
hóa của đất nước; nhà nước phải xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và chính sách phát triển lễ hội Đây là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước và có tính chất quyết định đối với sự phát triển các di tích Nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả, tạo dư luận xấu… Các chính sách, chiến lược hợp lý được đưa ra thì góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội cổ truyền Vì thế, phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển di sản văn hóa phi vật thể của địa phương, đặc biệt là các di tích lịch sử - văn hóa Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các di tích phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương
Cần có kế hoạch tổng thể về các di tích đang bị mai một để có phương án khôi phục, bảo vệ tôn tạo, tu bổ các di tích lịch sử - văn hóa; Xây dựng chiến lược về nguồn nhân lực lâu dài để đáp ứng cho nhu cầu từng giai đoạn và của từng địa phương
Kế hoạch, chiến lược bảo tồn và phát triển các di tích lịch sử - văn hóa có
ý nghĩa trong ngành di sản văn hóa góp phần thực hiện tốt các mục tiêu lớn về văn hóa của một quốc gia, dân tộc
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy định pháp luật về các di tích lịch sử - văn hóa
Trên cơ sở chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch, Nhà nước phải cụ thể hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật tạo môi trường, hành lang pháp lý cho hoạt động của các di tích lịch sử - văn hóa; tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật đó Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, phù hợp tình
Trang 35hình thực tiễn, có tính khả thi cao, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khan cho việc tổ chức các hoạt động của các di tích Việc xây dựng thể chế, chính sách về hoạt động bảo tồn và phát triển các di tích ngày càng hoàn thiện hơn sẽ giúp việc quản lý nhà nước trong hoạt động này thuận lợi hơn
Cần sớm hoàn chỉnh hệ thống chính sách về di tích, nhất là những chính sách về xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đặc biệt là những quy định của các Luật thuế cho phép các doanh nghiệp, cá nhân được giảm một phần thuế kinh doanh, thuế thu nhập… nếu doanh nghiệp hoặc cá nhân đó có những đóng góp trực tiếp cho việc tu bổ di tích, mua di vật, cổ vật hiến tặng bảo tàng nhà nước, tài trợ cho những chương trình nghiên cứu về di tích.v.v Thông qua đó nâng cao vai trò quản lý và định hướng của Nhà nước để
sử dụng có hiệu quả hơn nữa sự đóng góp của nhân dân cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
1.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lích sử - văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di tích lích sử - văn hóa
Để tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di
tích lịch sử - văn hóa cần phải tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về các di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng Trong phân công thực hiện các nhánh quyền lực nhà nước, Chính phủ được phân công thực hiện quyền hành pháp Trọng tâm quyền hành pháp của Chính phủ - với vị trí pháp lý là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất – Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong quản lý nhà nước về di tích văn hóa pháp luật về di sản văn hóa quy định trách nhiệm cụ thể của các chủ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cụ thể như: trình Thủ tướng Chính phủ quyết định: quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tổ chức và
Trang 36hướng dẫn thực hiện sau khi được phê duyệt; thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; xếp hạng và điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt; đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận di sản văn hóa và thiên nhiên tiêu biểu của Việt Nam là
di sản thế giới; phương án xử lý tài sản là di sản văn hóa vật thể bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trừ trường hợp luật có quy định khác; cấp phép đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài Quyết định theo thẩm quyền: về việc xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I; điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia, giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho bảo tàng nhà nước có chức năng theo quy định của pháp luật; phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt; phê duyệt hoặc thỏa thuận việc xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt; thẩm định quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt; dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu bảo vệ di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật; cấp phép thăm đo, khai quật khảo cổ; đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài, làm bản sao di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia thuộc các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; quản lý việc cấp phép cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn bởi các di tích và nhân vật lịch sử; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản lý,
sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; công nhận, trao tặng danh hiệu vinh dự đối với các nghệ nhân có công gìn giữ, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
Trang 37phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ trình ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể như: tổ chức thực hiện quy chế, giải pháp huy động, quản
lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương sau khi được phê duyệt; hướng dẫn và tổ chức thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được phê duyệt; tổ chức điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể thuộc địa bàn tỉnh; hướng dẫn thủ tục và cấp phép nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức thực hiện kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc địa bàn tỉnh; thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của di tích; tổ chức việc thu nhận, bảo quản các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
do tổ chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở địa phương theo quy định của pháp luật; đăng ký và tổ chức quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong phạm vi tỉnh; cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng cấp tỉnh và sở hữu tư nhân; quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích, nhân vật lịch sử tại địa phương, ủy ban nhân dân các cấp hoặc cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch ở địa phương có trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia khi phát hiện di tích bị lấn chiếm, hư hại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại phải kịp thời có biện pháp ngăn chặn, bảo vệ và báo cáo ngay với cơ quan cấp trên trực tiếp Phòng Văn hóa Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Trang 38trong phạm vi địa bàn huyện; ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hóa, tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương
Công tác bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa nói chung, di tích lịch
sử - văn hóa nói riêng cần được chung tay thực hiện giữa Nhà nước cùng với cộng đồng Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia công tác xã hội hóa trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị các di tích Thống kê, rà soát, nhận diện và phân loại các di tích hiện có, trên cơ sở đó tiến hành quy hoạch nhằm quản lý và có kế hoạch bảo tồn, phục hồi và phát triển Bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống, đặc sắc, coi trọng tính đặc thù, độc đáo của mỗi loại hình di tích ở địa phương, đồng thời loại bỏ dần các yếu tố lạc hậu; khai thác những kinh nghiệm, các tập tục cổ truyền tốt đẹp, kiến thức về tổ chức lễ hội còn tiềm ẩn trong dân gian, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của các di tích Xây dựng thêm các tiêu chí văn hóa trên nền truyền thống, phù hợp đặc điểm văn hóa dân tộc, xu hướng phát triển và nhịp sống văn hóa của thời đại, làm cho các di tích có thêm sức sống mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
Bản thân chính sách, pháp luật đối với nền văn hóa của một đất nước nói chung và trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có các di tích lịch sử
- văn hóa nói riêng mới chỉ là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt mọi chủ thể khác (trong đó có chính bản thân nhà nước) phải thực hiện
Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống, để các thông tin chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát triển các di tích đến được với mọi người, Nhà nước phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về các di tích cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về các di tích lịch sử - văn hóa một cách nghiêm túc
Trang 391.3.4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về quản lý văn hóa – xã hội
Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cần khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Do đó, cần tạo điều kiện và khuyến khích đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học về bảo tồn và phát triển các di tích lịch sử - văn hóa Bởi các cuộc hội thảo, nghiên cứu khoa học sẽ giúp tìm ra giải pháp để giải quyết những vấn đề quản lý
lễ hội, bảo tồn các di tích … đang đặt ra và xã hội rất quan tâm
Cần quan tâm hơn nữa về nguồn nhân lực, cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn, tôn tạo các di tích, quản lý các lễ hội cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong vai trò quản lý, quyết định sự thành công hay thất bại Do vậy, cần có kế hoạch, phương án, chiến lược trong việc đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử kiến trúc phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các di tích lịch sử - văn hóa
1.3.5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa
Hoạt động của các di tích lịch sử - văn hóa chiếm một phẩn rất lớn nguồn kinh phí Do đó, để có nguồn vốn cho mục đích bảo tồn và phát triển các di tích, nhất là các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, cần được tổ chức, huy động từ các nguồn khác nhau
Nguồn tài chính để bảo tồn và phát triển các di tích bao gồm: Từ ngân sách nhà nước; Các khoản thu từ hoạt đông tổ chức lễ hội; Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của pháp luật;
Trang 40khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo tồn và phát triển các di tích
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động ở các di tích nhằm tăng cường sự tham gia một cách chủ động, sáng tạo của đông đảo nhân dân theo sự hướng dẫn, quản lý chung của cơ quan chức năng; huy động nguồn lực của toàn dân và du khách thập phương, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước
1.3.6 Tổ chức chỉ đạo công tác khen thưởng trong việc bảo vệ và phát triển các giá trị lịch sử văn hóa của di tích lịch sử - văn hóa
Khen thưởng là hoạt động khuyến khích cho tất cả mọi người cho hành động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích; các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích được khen thưởng theo quy định của pháp luật Bên cạnh các quy định của Nhà nước về thi đua – khen thưởng, các địa phương cần có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích các hoạt động bảo tồn và phát triển các di tích ở địa phương như: các tập thể, tổ chức, cá nhân làm tốt công tác quản lý, tổ chức lễ hội; những tập thể, cá nhân có công trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa
Trái lại, phải đồng thời uốn nắn các biểu hiện lệch lạc, xử lý nghiêm chỉnh các trường hợp lợi dụng các di tích để trục lợi, coi các di tích là một thương phẩm để mưu cầu lợi nhuận nên tập trung khai thác giá trị kinh tế, thương mại hóa hoạt động dịch vụ phục vụ lễ hội, đặc biệt những biến tướng như mê tín dị đoan, chùa giả, hòm công đức tràn lan, lợi dụng lễ hội để quảng bá dưới hình thức đóng góp kinh phí tài trợ (các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân …)
1.3.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tổ chức ở di tích lịch sử - văn hóa
Cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động ở các di tích lịch sử - văn hóa để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra như: chấn chỉnh các hành vi tiêu cực, phi văn hóa, hoạt động
mê tín dị đoan, tình trạng lộn xộn tại các khu dịch vụ ở các di tích, góp phần làm lành mạnh hóa các lễ hội, đưa hoạt động ở các di tích ngày càng đi vào nề nếp