Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý nhà, đất tại các đơn vị cũng bộc lộ một số bất cập như: mô hình, tổ chức quản lý nhà, đất còn chưa hoàn thiện; các quy định liên quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT
TRONG CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC
SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT
TRONG CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC
SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM ĐỨC HẠNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sỹ quản lý công tại Học viện Hành chính Quốc gia, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã được thầy, cô giáo giảng dạy các môn học tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình học tập Tôi xin được chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo và các thầy, cô trong Học viện Hành chính Quốc gia
Tôi xin cảm ơn TS Phạm Đức Hạnh, giáo viên hướng dẫn với trình độ
nghiên cứu khoa học và tinh thần trách nhiệm cao, cùng sự tận tâm đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Thời gian được làm việc với TS đã giúp tôi nhận ra và lĩnh hội được nhiều điều trong đó có phương pháp làm việc một cách khoa học
Xin chân thành cảm ơn và gửi lời chúc sức khỏe, thành công tới Lãnh đạo
Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội, và bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học tập, tìm hiểu tình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đuợc trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Phạm Hoàng Tình
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVSN : Đơn vị sự nghiệp
NSNN : Ngân sách nhà nước QLNN : Quản lý nhà nước SGDĐT : Sở giáo dục - đào tạo
TSC : Tài sản công THPT : Trung học phổ thông
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……….………… ……… …1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT ……… ……… 9
1.1 Tổng quan về tài sản, quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập……… … ……… 9
1.1.1 Khái quát chung……… …………9
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập……… ………….13
1.1.3 Vai trò, chức năng và đặc điểm của quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập ……… …… ……15
1.2 Nội dung của quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất … …… … 21
1.2.1 Ban hành chính sách về quản lý nhà, đất……… ……… 21
1.2.2 Tổ chức thực hiện về quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập……… ………… ………….23
1.2.3 Giám sát, thanh tra, kiểm tra đối với quản lý tài sản là nhà, đất…… 25
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập……….……….27
1.3.1 Các nhân tố chủ quan……….……….………27
1.3.2 Các nhân tố khách quan……… ………28
1.4 Kinh nghiệm quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị trực thuộc tại các Sở Giáo dục và Đào tạo một số địa phương……… ………29
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hố Chí Minh……… 29
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh……….………32
1.4.3 Một số bài học rút ra……… ……… 34
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT TRONG CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HÀ NỘI……….……….36
Trang 72.1 Khái quát tình hình các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà
Nội và thực trạng tài sản là nhà, đất ……….………36
2.1.1 Khái quát chung 36
2.1.2 Thực trạng tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội 40
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội 56
2.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước về biến động tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội 56
2.2.2 Thực trạng quản lý đầu tư tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội 60
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội……… … 64
2.3.1 Kết quả đạt được… 64
2.3.2 Hạn chế và yếu kém……….………66
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế và yếu kém……… 69
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT TRONG CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HÀ NỘI ………… …….…… … 72
3.1 Phương hướng hoàn thiện … ……….………… ……….72
3.1.1 Dự báo nhu cầu nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc…… ………….72
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội……….………….………….74
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội………… ……… 76
3.2.1 Tăng cường huy động các nguồn lực để phát triển tài sản là nhà, đất……….……… ………76
Trang 83.2.2 Rà soát, xây dựng kế hoạch đầu tư tài sản là nhà, đất.……… …… 80 3.2.3 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tài sản là nhà, đất, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài sản là nhà, đất……… 81 3.2.4 Phân cấp thẩm quyền, gắn với trách nhiệm thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản là nhà, đất……… ……….83 3.2.5 Kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà, đất……… ……… ……….84 3.2.6 Tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch và giám sát đối với quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất……… ………86
3.3 Một số kiến nghị……… ……… ………88
3.3.1 Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ………… …….88 3.3.2 Kiến nghị đối với các Sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã……… ………… 89
KẾT LUẬN……… 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… ……… 93
Trang 9[Type text]
9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình biến động quỹ nhà, đất giai đoạn 2014-2018 42
Bảng 2.2 Tình hình thanh lý tài sản là nhà giai đoạn 2014-2019 45
Bảng 2.3 Tình hình bố trí kinh phí đầu tư nhà, đất các đơn vị trực
thuộc giai đoạn 2014-2019
48
Bảng 2.4 Tình hình thực hiện các dự án sử dụng nguồn vốn sự nghiệp
có tính chất đầu tư giai đoạn 2014-2019
54
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư đã bố trí cho các dự án giai
đoạn 2014-2019
50
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn XDCB được phân cấp quản lý 51
Biểu đồ 2.3 Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư bố trí hàng năm cho cải
tạo chống xuống cấp các đơn vị
55
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức quản lý tài chính tài sản ở SGDĐT Hà Nội 38
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công sản có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là nguồn lực của đất nước; là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội; là nguồn tài chính tiềm năng cho đầu tư phục vụ sự phát triển của đất nước Ở Việt Nam, công sản được quan niệm là tài sản công – tài sản (TS) thuộc sở hữu toàn dân Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”
Công sản bao gồm tất cả các TS (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của toàn dân Nhà nước là đại diện chủ sở hữu của mọi tài sản công (TSC), song không phải là người trực tiếp sử dụng toàn bộ số tài sản đó mà giao cho các cơ quan đơn vị thuộc bộ máy của mình trực tiếp quản lý, sử dụng Các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũng như mọi công dân Việt Nam đều có quyền và nghĩa vụ quản lý, bảo vệ công sản theo đúng chế độ
do Nhà nước quy định Mọi sự vi phạm vào tài sản công đều phạm tội xâm phạm tài sản quốc gia, tài sản xã hội chủ nghĩa Việc quản lý tốt tài sản công được coi là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng quản lý nhà nước (QLNN) của một quốc gia
Tại Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức có quy định: Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước như: Bệnh viện, trường học… là một trong các khối cơ quan tổ chức quản lý trực tiếp, sử
Trang 112
dụng tài sản công nhiều nhất Tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ tài sản nhà nước của đất nước
Trong 4 loại TS có giá trị lớn gồm: đất, nhà, ô tô, TS khác có giá trị từ
500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị TS (không bao gồm TS tại các đơn vị lực lượng
vũ trang nhân dân) thì nhà và đất là loại TS có trị giá lớn nhất, cũng là loại tài sản đặc thù có nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình quản lý sử dụng tại đơn vị sự nghiệp công lập
Trong những năm qua, TS là nhà, đất ở nước ta đã luôn được quan tâm phát triển cả về quy mô, giá trị, chất lượng và giao cho các ĐVSN công lập trực tiếp quản lý, sử dụng nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao Cùng với đó để quản lý TS nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý, khai thác tài sản nhà nước trong khu vực sự nghiệp có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích, không lãng phí như: Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 có hiệu lực từ 01/01/2018 (thay thế Luật Quản lý sử dụng tài sản nhà nước năm 2008); và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn được ban hành kèm theo QLNN về tài sản công là nhà, đất nói chung và quản lý TS là nhà, đất tại các ĐVSN nói riêng đã từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, công khai và có hiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực và kết quả rất đáng khích lệ đã đạt được, quản lý tài sản công ở nuớc ta hiện nay cũng còn nhiều hạn chế như: cơ chế quản lý TS còn bất cập so với thực tế, nhiều cơ quan, đơn vị còn sử dụng lãng phí nguồn lực tài sản công, sử dụng TSC sai mục đích, thậm chí gây thất thoát tài sản…
Toàn bộ các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội (SGDĐT),
là các ĐVSN công lập trong lĩnh vực giáo dục Do đó, quản lý tài sản là nhà,
đất trong các trực thuộc SGDĐT Hà Nội cũng nằm trong bối cảnh chung nêu trên, trong thời gian qua đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra, là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng và phát triển, cũng như thực hiện các chức năng,
Trang 123
nhiệm vụ đơn vị được Đảng và Nhà nước giao Quản lý nhà, đất từng bước được hoàn thiện theo hướng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả Quy trình quản lý tài sản đã được quan tâm, xây dựng, sửa đổi để đảm bảo phù hợp với quy định chung của Nhà nước; các biện pháp cụ thể để quản lý nhà, đất cũng liên tục được bổ sung, hoàn thiện Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý nhà, đất tại các đơn vị cũng bộc lộ một số bất cập như: mô hình, tổ chức quản
lý nhà, đất còn chưa hoàn thiện; các quy định liên quan đến quản lý nhà, đất chưa đầy đủ; tiêu chuẩn, định mức về sử dụng tài sản đang áp dụng chưa phù hợp với một số đối tượng giáo viên, học sinh; quản lý nhà, đất trong một số đơn
vị chưa được giám sát chặt chẽ; những tồn tại về quản lý đất công, nhà công vụ, tập thể chưa được xử lý dứt điểm; cơ chế dùng tài sản là nhà, đất cho thuê, liên doanh, liên kết chưa phù hợp; quản lý hồ sơ, giấy tờ chưa thật sự khoa học,
lý, sử dụng tài sản nói chung ở các đơn vị sự nghiệp, tài sản là nhà, đất chỉ khái quát chung trong đó nên chưa được cụ thể, dù TS nhà, đất có giá trị rất lớn và còn bất cập Có thể kể một số công trình nghiên cứu có những liên quan nhất
Trang 134
định đến nội dung của đề tài như sau :
Nguyễn Mạnh Hùng (2008) “Cơ sở pháp lý cao nhất cho việc quản lý,
sử dụng tài sản công” Tạp chí Tài chính, (số 8), tr 15-18, đã trình bày ngắn
gọn về bối cảnh ra đời và ý nghĩa của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ở Việt Nam; từ đó đi sâu vào phân tích những nội dung cơ bản của Luật với ý nghĩa là cơ sở pháp lý cao nhất trong quản lý, sử dụng TSC ở Việt Nam
Chu Xuân Nam (2010), Một số vấn đề về quản lý công sản ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, đã đề cập tương đối đầy đủ,
có hệ thống cơ sở lý luận về công sản, cơ chế quản lý công sản và hệ thống các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam Trên cơ sở tổng quan
về TSC và cơ chế quản lý TSC trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam, tác giả
hệ thống hóa số liệu và cơ chế chính sách liên quan đến 3 loại TSC trong cơ quan hành chính sự nghiệp là: đất đai thuộc trụ sở là việc, phương tiện đi lại và trang thiết bị là việc; từ đó phân tích bất cập, hạn chế của cơ chế quản lý TSC trong cơ quan hành chính sự nghiệp và đề ra nhóm giải pháp để đổi mới cơ chế quản lý TSC trong các cơ quan hành chính sự nghiệp ở Việt Nam
Lê Chi Mai (2010), “Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước - Các hạn chế và giải pháp”, Tạp chí Quản lý nhà nước (số 6), tr 26-
30, đã căn cứ các tài liệu có liên quan (Báo cáo tổng kết công tác quản lý tài sản
công giai đoạn 1995 - 2005 của Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính, Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2007, 2008 của Kiểm toán Nhà nước) để đánh giá khái quát thực tiễn quản lý TSC nói chung và trong các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Từ đó, tác giả đi sâu vào phân tích một số vấn đề bức thiết đang đặt ra trong quản lý TSC tại các cơ quan hành chính nhà nước, với những hạn chế, bài báo đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc quản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước, gồm: hoàn thiện các thể chế của Nhà nước về quản lý, sử dụng TSC tại các cơ quan hành chính nhà nước; xây
Trang 14và sử dụng TSC; hình thành các cơ quan chức năng về mua sắm công và quản
có những thay đổi quan trọng (như chính sách tài chính khuyến khích xã hội hoá, khuyến khích huy động nguồn lực) Trên cơ sở các mục tiêu đó, đề tài đã
đề xuất nhóm giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập
La Văn Thịnh (2015), Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập
ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính, Hà Nội, đã nghiên cứu một
cách có hệ thống những lý luận cơ bản của việc sử dụng công cụ kế toán trong quản lý TSC và khẳng định vai trò quan trọng của công cụ kế toán đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý TSC tại các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam Luận án đã đi sâu phân tích, đánh giá chính sách pháp luật
về quản lý, sử dụng TSC tại cơ quan nhà nước, đươn vị sự nghiệp và chính
Trang 156
sách pháp luật về kế toán, đồng thời tổng kết thực tiễn tổ chức thực hiện việc
sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng TSC tại cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp nhằm chỉ ra những kết quả đã đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, luận án đã xác định mục tiêu, xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện, thiết thực, khả thi, phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận đối với đề tài Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về Quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất trong các đơn vị sự nghiệp công lập Do đó
đề tài vẫn đảm bảo tính mới, không trùng lặp, mang tính lý luận và thực tiễn cao, đòi hỏi cần được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đối với tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung của quản lý nhà nước với tài sản là nhà, đất
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với tài
sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn giới hạn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu trong đề tài được xác định từ năm 2014 đến hết tháng 6/2019 Đề tài chọn từ năm 2014 làm mốc nghiên cứu vì gắn quyết định
Trang 167
5163/QĐ-UBND ngày 08/10/2014 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà đất của SGDĐT và các đơn vị trực thuộc theo quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ
- Phạm vi nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu thực trạng quản
lý nhà nước, hoàn thiện quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu là quản lý nhà nước đối với tài
sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong QLNN về TSC
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính được sử dụng là thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh để giải quyết các vấn đề ở chương 1 và chương 2 Sử dụng và kế thừa kết quả các công trình trước đó cùng quan điểm của Đảng và pháp luật trong QLNN về tài sản công để đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đối với tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội
6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Khi luận văn được hoàn thành, sẽ đạt được kết quả chính sau:
6.1 Về lý luận
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tài sản là nhà, đất, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội
Trang 178
Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các tổ chức và cá nhân
6.2 Về thực tiễn
Đánh giá thực trạng việc QLNN về TS là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội, rút ra những ưu điểm, và thành tựu đạt được và các mặt hạn chế của chính sách, cũng như công tác quản lý của nhà nước làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý TS là nhà, đất ở các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và các đơn vị trực thuộc SGDĐT Hà Nội nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với tài sản là nhà, đất Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về nhà, đất tại các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội
Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về nhà, đất tại các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội
Trang 189
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Tổng quan về tài sản, quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1 Khái quát chung
1.1.1.1 Khái quát về tài sản nhà nước
Tài sản nhà nước hay TSC được định nghĩa tại Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội: “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”
Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một trong các nguồn lực của mình là tài sản quốc gia Đó là tất cả những tài sản
do các thế hệ, thành viên của quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và các tài sản
do thiên nhiên ban tặng cho con người Trong phạm vi một đất nước, tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành viên hoặc là sở hữu chung của tất cả thành viên trong cộng đồng quốc gia; đó là tài sản nhà nước; cũng có quốc gia quan niệm TSC là tài sản thuộc về nhà nước
Tỷ trọng TSC trong tổng số tài sản quốc gia lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào quan hệ sản xuất đặc trưng của các hình thái kinh tế - xã hội ở các giai đoạn lịch sử của mỗi nước
Ở Pháp, “Tài sản quốc gia được hiểu là toàn bộ tài sản và quyền hạn đối với động sản và bất động sản thuộc về Nhà nước” (Điều L.1 Bộ luật Tài sản
Trang 1910
nhà nước năm 1998)
Ở Việt Nam, Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Điều 197 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản thuộc hình thức
sở hữu toàn dân như sau: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý"
Tiếp đó, tại các Điều 228, 229, 230, 235, 244 và 622 của Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 26 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 124 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước do pháp luật quy định bao gồm: Các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, vật chứng trong vụ án hình sự bị tịch thu sung quỹ nhà nước; vật bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật do người khác đánh rơi, bỏ quên được xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật, di sản không người thừa kế hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu tặng Chính phủ hoặc tổ chức nhà nước Theo Giáo trình “Quản lý tài sản công” của Học viện Tài chính do Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2007:
“Tài sản nhà nước là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật; đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời”
Khái niệm về TSC trên đây ở các nước cũng như ở nước ta đã phản ánh
Trang 2011
đầy đủ: các TSC đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời phản ánh hai mặt cơ bản của TSC
Thứ nhất, tuy mức độ có khác nhau, nhưng mọi chế độ xã hội đều tồn tại
TSC là các tài sản thuộc sở hữu của mọi thành viên của quốc gia mà Nhà nước
là người đại diện chủ sở hữu Nhà nước giao TSC cho các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng; do đó, nhà nước phải tổ chức quản lý việc sử dụng tài sản nhà nước bằng một hệ thống các chính sách, chế độ, công cụ, biện pháp quản lý
và có bộ máy quản lý để đảm bảo việc sử dụng tài sản nhà nước tiết kiệm, có hiệu quả, đem lại lợi ích cho toàn dân
Thứ hai, Khái niệm TSC đã bao hàm đầy đủ các loại tài sản mà ở tất cả
các chế độ khác nhau đều có như tài sản có được từ đầu tư xây dựng, mua sắm bằng quỹ tiền tệ tập trung của ngân sách nhà nước, các tài sản khác mà Nhà nước thu nạp được và nguồn tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người
1.1.1.2 Tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Tài sản nhà nước là nhà, đất (trụ sở làm việc) của ĐVSN bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng, gắn liền với đất thuộc khuôn viên trụ sở làm việc của ĐVSN
Khuôn viên đất được hiểu là tổng diện tích đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai cho từng ĐVSN
Diện tích làm việc cho cán bộ, công chức là diện tích của các phòng làm việc trong khu vực làm việc được xác định trên cơ sở số lượng cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và hợp đồng làm việc không có thời hạn của đơn vị theo quy định của Nhà nước và tiêu chuẩn định mức cho mỗi chỗ làm việc
Do công tác tổ chức hành chính nhà nước gồm cấp Trung ương và địa phương, trong cấp địa phương được tổ chức thành 3 cấp gồm (Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; Cấp quận huyện và cấp xã phường) nên trụ sở ĐVSN
Trang 211.1.1.3 Quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Đất đai là nguồn tài nguyên và tư liệu sản xuất đặc biệt, là yếu tố căn bản chủ yếu tạo nên của cải và sự giàu có của mọi cá nhân, tổ chức Nhà cửa gắn liền với đất đai là tài sản có giá trị lớn đối với con người Đất đai, nhà cửa không những mang tính kinh tế, tính xã hội mà còn liên quan đến môi trường, kiến trúc, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, mỹ quan đô thị Do vậy, quản lý nhà nước về nhà, đất (trụ sở làm việc) cũng là một nội dung của quản lý nhà nước
về kinh tế
Khái niệm quản lý nhà, đất: Quản lý nhà, đất là dạng quản lý được sinh
ra do nhu cầu khách quan của xã hội có giai cấp, đó cũng chính là thuật ngữ quản lý nhà nước đối với đất đai, nhà cửa
Theo góc độ quản lý nhà nước: Quản lý nhà, đất là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu nắm chắc quỹ đất, quỹ nhà và các thông tin gắn với quỹ nhà đất; duy trì, phát triển quỹ nhà đất bền vững và mối quan hệ nhà đất trong trật tự pháp luật
Theo góc độ công việc chuyên môn: Quản lý nhà đất tại các ĐVSN công lập là toàn bộ các hoạt động nhằm thiết lập và duy trì trạng thái hộ tịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của ĐVSN công lập đó
Như vậy quản lý nhà, đất là quá trình, Nhà nước với vai trò là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, là chủ thể quản lý dùng các công cụ quản lý
Trang 2213
tác động có hướng đích lên đối tượng và khách thể quản lý để nhằm thực hiện những mục tiêu chung đề ra Hệ thống quản lý nhà đất bao gồm:
Chủ thể quản lý: là các cơ quan QLNN từ trung ương đến địa phương có
chức năng và nhiệm vụ cụ thể trong việc quản lý nhà, đất
Đối tượng quản lý: là tất các tổ chức, đơn vị cá nhân trong xã hội sử
dụng đất, sở hữu nhà và hành vi có liên quan tới quá trình sử sử dụng đất và sở hữu nhà, đất
Khách thể quản lý: là toàn bộ quỹ nhà, quỹ đất với các thông tin không
gian gắn với nó trên phạm vi lãnh thổ quản lý
Môi trường quản lý là tổng thể các thể chế quy định về các mối quan hệ nhà đất, cơ chế quản lý nhà đất được pháp luật quy định Môi trường quản lý được quy định bởi cơ sở hạ tầng của xã hội, chế độ chính trị xã hội và mục đích của giai cấp thống trị
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.2.1 Đặc điểm tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Ngoài những đặc điểm chung của tài sản công, tài sản là nhà, đất hay trụ
sở làm việc của ĐVSN công lập có những đặc điểm riêng Đây cũng có thể coi
là điểm tạo nên sự khác biệt trong quản lý đất đai tài sản sau này của ĐVSN công lập tại Việt nam
- Đất đai là tài sản sở hữu toàn dân, nhà nước đại diện đứng ra thống nhất quản lý Trụ sở của ĐVSN công lập có nguồn gốc từ NSNN Để hình thành trụ
sở làm việc cơ quan, đơn vị không phải nộp tiền sử dụng đất Quá trình hình thành trụ sở được đầu tư mới từ NSNN hay từ tiếp quản do lịch sử để lại… tuy nhiên đều đựơc xác lập sở hữu nhà nước trước khi sử dụng Do vậy có thể coi
là có nguồn gốc từ NSNN
- Dựa trên tiêu chuẩn định mức, quy trình khá cụ thể, quy mô trụ sở của
Trang 2314
các cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng nhiệm vụ, quy hoạch Kiểu dáng, diện tích tuỳ thuộc cơ cấu bộ máy, số lượng công chức, viên chức và NSNN cấp Việc tiêu chuẩn hoá diện tích làm việc và mô hình tổ chức tập trung của cơ đơn vị đang đựơc triển khai ở một số địa phương góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chi phí vận hành Tuy nhiên trụ sở của ĐVSN công lập có đặc thù riêng theo ngành và lĩnh vực sự nghiệp mà đơn vị hoạt động như: trường học, bệnh viện
- Đầu tư cho trụ sở là khoản đầu tư không thu hồi trong quá trình sử dụng, mang tính tích luỹ sử dụng cho nhiều năm (tức là tiêu dùng dần) Trụ sở làm việc cơ quan, đơn vị nhà nước không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, không tham gia trực tiếp vào sản xuất, không chuyển giá trị hao mòn vào giá thành sản phẩm hay chi phí nói chung, mặc dù nhà nước vẫn quy định theo dõi khấu hao Với đặc điểm đó nên nguồn vốn đầu tư trong trường hợp này không thu hồi được, cơ quan, đơn vị sử dụng không có nghĩa vụ nộp khấu hao cho nhà nước Việc hao mòn nhanh hay chậm không ảnh hưởng đến lợi ích của đơn vị
mà chỉ ảnh hưởng đến công việc chung và tuổi thọ của công trình mà thôi Vì vậy nhà nước buộc các đơn vị phải sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có quy trình quản
lý, khai thác thống nhất và cơ chế điều chuyển linh hoạt Đây chính là nội dung chính trong công tác quản lý đựơc trình bày ở phần sau
1.1.2.2 Vai trò của tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Nhà, đất hay trụ sở làm việc của ĐVSN có vai trò hết sức quan trọng, nhất là đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam:
- Trụ sở làm việc là hình ảnh (bộ mặt) của cơ quan công quyền nhất là những cơ quan trung ương, phản ánh quyền lực và vị thế của bộ máy nhà nứơc
Cụ thể hơn, đây là nơi làm việc của cán bộ công nhân viên chức nhằm giải quyết công việc hành chính của quốc gia giúp vận hành tốt bộ máy nhà nước, nơi bảo quản thiết bị trợ giúp phục vụ cho quản lý nhà nước Ngoài công việc
Trang 2415
hành chính theo giờ quy định, trụ sở làm việc còn là nơi nghỉ ngơi sinh hoạt chung giúp cán bộ, công nhân viên chức tái sản xuất sức lao động, sinh hoạt chung nhằm nâng cao hiệu quả công việc đặc biệt lĩnh vực quốc phòng,an ninh
- Đảm bảo việc giao dịch thuận lợi trong công việc của các tổ chức, cá nhân với cơ quan, đơn vị hành chính và ngược lại Đảm bảo sự tôn nghiêm của
kỷ cương pháp luật trong xã hội
1.1.3 Vai trò, chức năng và đặc điểm của quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.3.1 Vai trò và chức năng của quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Mỗi chế độ xã hội có sự lựa chọn mô hình kinh tế khác nhau nhưng mục tiêu chung đều hướng đến sự phát triển, ổn định và hiệu quả của một nhà nước Tài sản quốc gia cũng vì vậy tồn tại các cách quản lý sử dụng khác nhau vì mục đích hiệu quả đối với quản lý nhà nước cũng như chủ thể của tài sản
a Vai trò quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp
công lập
Với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản công, Nhà nước có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Nhà nước là chủ sở hữu của mọi tài sản công, nhưng lại không phải là người trực tiếp sử dụng TSC
Để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công của mình, Nhà nước đặt ra các mục tiêu quản lý đối với khối tài sản lớn và có giá trị của mình, trong đó nhà, đất (trụ sở làm việc) là tài sản đặc biệt có giá trị lớn nhất, như sau:
Thứ nhất: đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí và khai thác hiệu quả nguồn
tài sản là nhà, đất của Nhà nước: đơn vị sự nghiệp phải phát huy chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản là nhà, đất để buộc mọi tổ chức, cá nhân được
Trang 2516
giao quyền sử dụng tài sản phải bảo tồn, phát triển và sử dụng tài sản nhà, đất theo quy định của pháp luật, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành nhiệm vụ do Nhà nước giao
Thứ hai: đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức chế độ
mà nhà nước quy định Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra, kiểm soát các quá trình hình thành, sử dụng, khai thác và xử lý tài sản là nhà, đất Nói một cách khác, người được giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản phải thực hiện theo ý chí của nhà nước (người đại diện chủ sở hữu tài sản công) Mặt khác, do những đặc điểm của tài sản công là tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản
lý, sử dụng tài sản không phải là người có quyền sở hữu tài sản; tài sản công được phân bổ ở khắp mọi miền đất nước, được giao cho các cấp, các ngành, các
tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng Do đó, nếu Nhà nước không tổ chức quản lý tài sản nhà, đất theo một cơ chế, chính sách, chế độ thống nhất phù hợp với mô hình kinh tế mà nhà nước theo đuổi sẽ dẫn đến việc tuỳ tiện, mạnh ai nấy làm trong việc đầu tư xây dựng, sửa chữa, sử dụng, điều chuyển, thanh xử lý tài sản; nhất là sử dụng tài sản không đúng mục đích được giao, sử dụng tài sản vào việc riêng, sử dụng tài sản lãng phí, kém hiệu quả, làm thất thoát tài sản, giảm nguồn lực tài sản công
Thứ ba: đáp ứng yêu cầu công việc của ĐVSN gắn với yêu cầu hiện đại
hoá và tái trang bị tài sản công đi liền với hiện đại hoá đất nước Nhà nước thực hiện quản lý nhà, đất cũng chính là thực hiện quyền sở hữu tài sản; trong đó đặc biệt là quyền định đoạt đối với tài sản bao gồm: quyền đầu tư xây dựng, điều chuyển, thanh xử lý tài nhà, đất (bao gồm cả bán tài sản) vì những quyền này được thực hiện không chỉ trong nội bộ các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản; mà trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, những quyền này còn được thực hiện trong mối quan hệ mất thiết với thị trường gắn với mục tiêu định hướng của nhà nước trong qúa trình công
Trang 2617
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Thứ tư: các mục tiêu khác trong quản lý tài sản nhà, đất như; nâng cao
hình ảnh của quốc gia mà cụ thể là cơ quan hành chính nhà nước, tạo sự tôn nghiêm và lòng tin đối với công dân Muốn vậy công tác quản lý tài sản công phải hiệu quả, khoa học, hợp lý
b Chức năng cụ thể của quản lý nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập như sau:
Ở Việt Nam, Bộ Luật Dân sự năm 2015, Điều 198 quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu toàn dân” Để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản, Nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với từng trụ sở, buộc mọi đối tượng được giao quyền quản lý, sử dụng trụ sở được giao phải có nghĩa vụ bảo tồn, phát triển, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả tài sản công, nhằm phát huy tối đa nguồn lực của tài sản công phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo
vệ môi trường, sinh thái Quản lý nhà, đất tại các ĐVSN công lập bao gồm cả
ba mặt quản lý:
- Quản lý quá trình đầu tư: quyết định chủ trương và thực hiện đầu tư, xây dựng: Cơ quan tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm giúp chính quyền các cấp quyết định chủ trương đầu tư, xây dựng trụ sở làm việc, xác định nhu cầu vốn để ghi vào dự toán NSNN dựa trên tiêu chuẩn, định mức, chế độ về sử dụng trụ sở làm việc và khả năng của đơn vị Sau khi đã có quyết định đầu tư, quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng phải tuân theo trình tự đầu tư xây dựng cơ bản do Thủ tướng Chính phủ quy định
- Quản lý quá trình khai thác, sử dụng là quá trình quản lý việc sử dụng trụ sở làm việc theo đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức về sử dụng tài sản công
Trang 271.1.3.2 Đặc điểm của quản lý nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Quản lý đối với ngành lĩnh vực có những đặc trưng riêng, quản lý nhà, đất có những đặc trưng giống như các hoạt động quản lý nhà nước đối với những ngành, những lĩnh vực khác như tính chất chính trị, tính chất khoa học, tính chất toàn diện v.v Những đặc trưng riêng trong quản lý nhà đất tại ĐVSN công lập được thể hiện ở một số điểm như sau:
a Hoạt động quản lý nhà, đất liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
và nhiều cấp do đó chủ thể quản lý nhà, đất có cơ cấu phức tạp
Bất kỳ một ĐVSN công lập nào cũng nắm một quỹ đất, quỹ nhà nhất định vì nhà đất là nền tảng cho sự phát triển và yếu tố không thể thiếu được cho sựu tồn tại của các cơ quan Do vậy hoạt động quản lý liên quan đến nghành đôi khi lại chịu sự quản lý của nhiều cấp quản lý Tính đa dạng và phức tạp của các quan hệ quản lý nhà đất phụ thuộc vào nghành lĩnh vực liên quan đến quan
hệ nhà đất Mặt khác, cơ cấu tổ chức quản lý từng đơn vị, từng lĩnh vực lại khác nhau vì bị chi phối bởi các đặc trưng riêng của từng ngành Do vậy việc bố trí theo từng khâu, từng cấp khác nhau theo chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của các bên trong mối quan hệ nhà đất một lần nữa tạo lên sự phức tạp của cơ cấu chủ thể quản lý
b Hoạt động quản lý nhà đất là công việc có tính chất đặc thù
Với chức năng quản lý sử dụng nhà đất, đòi hỏi ĐVSN công lập phải
Trang 2819
thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Chủ thể quản lý phải thực hiện nghiêm chính sách, tổng hợp và xây dựng hệ thống văn bản về quản lý nhà đất tại đơn vị, áp dụng các chính sách nhà đất để điều chỉnh các mối quan hệ nhà đất từ đơn vị bất động sản riêng biệt tới toàn bộ tài sản
- Phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội có nguồn gốc từ quan hệ nhà đất trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất, sở hữu nhà, các biến động kinh tế các xu hướng biến đổi kinh tế như giá cả để hoạch định và điều chỉnh các nhu cầu về nhà, đất;
- Xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng nhà, đất phát triển nhà theo ngành đồng thời phải kết hợp với các quy hoạch phát triển kinh tế của vùng để thiết lập mặt bằng sử dụng đất sở hữu nhà có lợi cho sự ổn định của đơn vị
- Tổ chức thực hiện hoạt động tác nghiệp nhà, đất nhằm hoàn thành mục tiêu quản lý trong lĩnh vực này theo đúng các quy định của pháp luật và các chính sách liên quan tới các vấn đề sử dụng nhà, đất
- Đồng thời phải tiến hành công khai việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng nhà, đất đảm bảo việc chấp hành các quy định của pháp luật được thực hiện đúng, phát hiện những thiếu sót trong các khâu quản lý để có thể kịp thời điều chỉnh
Hoạt động quản lý đất đai là một hoạt động có khối lượng lớn, mang tính chất thường xuyên phát sinh do nhu cầu phát triển của xã hội, thực hiện nhiệm
vụ này đòi hỏi đơn vị sự nghiệp công lập phải tham khảo các chuyên gia nắm vững nghiệp vụ chuyên môn trong ngành quản lý nhà đất từ đó kết hợp năng lực chuyên môn và kỹ năng của nhà quản lý để tổng kết thực tiễn công tác quản
Trang 2920
nhân đều đã từng hoặc sẽ có những hoạt động liên quan phải tìm hiểu đến các tài liệu địa chính có thể khi tiếp nhận một tài sản có gắn với việc sử dụng đất hay việc tranh chấp giữa các đơn vị, cá nhân sở hữu đất
Thứ hai vì quản lý nhà đất liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng, một giá trị rất nhạy cảm đối với mọi người và được pháp luật đảm bảo như một điều thiêng liêng
Đất đai, nhà cửa là một tài sản lớn không thể di dời gắn liền với mọi đơn
vị hành chính nằm trên mọi địa phương Trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý, đơn vị quản lý cần phải tiếp xúc với mọi tổ chức, cá nhân Cùng với dự phát triển kinh tế xã hội, những nhu cầu phát sinh do nhu cầu khách quan của xã hội, do các đòi hỏi của nền kinh tế dẫn tới sự biến đổi tăng giảm quỹ đất, quỹ nhà hay sự thay đổi về cơ cấu nhà, đất tại ĐVSN công lập Bên cạnh đó tài sản đất đai có một giá trị đặc biệt nên hiện tượng tranh chấp nhà đất tại ĐVSN công lập còn diễn ra
Nhà nước với vai trò là người quản lý chung có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ trả lời các yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với việc tranh chấp khi có yêu cầu, do vậy các đơn vị sự nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và luôn luôn theo sát gắn bó với cơ quan chức năng liên quan đến công tác quản lý nhà đất
d Hoạt động quản lý nhà, đất là hoạt động phức tạp mang tính chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ cao
Hoạt động quản lý nhà, đất là một hoạt động phức tạp mang tính chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ thể hiện trong các phương pháp quản lý Việc quản
lý vừa dựa trên các nguyên tắc hành chính vừa phải dựa trên các nguyên tắc kỹ thuật Trong lĩnh vực quản lý nhà đất thường sử dụng 2 nhóm phương pháp: nhóm phương pháp sử dụng đối với hoạt động sự nghiệp về nhà đất để tác động trực tiếp lên khách thể quản lý quỹ đất, quỹ nhà) và nhóm phương pháp sử dụng đối với hoạt động quản lý nhà nước để tác động trực tiếp lên đối tượng bị
Trang 3021
quản lý các đơn vị sự nghiệp, cá nhân chủ sở hữu nhà và sử dụng nhà, đất
1.2 Nội dung của quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất
1.2.1 Ban hành chính sách về quản lý tài sản là nhà, đất
Nhà nước phải thực hiện chức năng, vai trò quản lý TSC; cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác, để thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với TSC, Nhà nước phải sử dụng tổng hợp hệ thống các công cụ và biện pháp quản lý gồm: hành chính, tổ chức, pháp luật kinh tế, kế toán, thống kế, tuyên truyền giáo dục Trong đó, những công cụ và biện pháp chủ yếu gồm:
Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về quản lý tài sản nhà nước
Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng luật pháp Luật pháp vừa là công cụ vừa là biện pháp nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Pháp luật do Nhà nước quy định, buộc mọi cơ quan, đơn vị sử dụng tài sản nhà nước theo ý chí của Nhà nước - người chủ sở hữu tài sản nhà nước Pháp luật quy định phạm vi tài sản nhà nước, các nguyên tắc quản lý, sử dụng và xử lý tài sản nhà nước buộc mọi người sử dụng tài sản và cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước đều phải tuân thủ Quản lý TSC theo pháp luật được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Ở nhiều nước thường có các bộ Luật về tài sản quốc gia (tài sản nhà nước), đồng thời có các luật quản lý chuyên ngành (tài sản cụ
thể) như Luật Đất đai Ở Việt Nam, đã có có Luật Quản lý sử dụng tài sản công, đây là cơ sở pháp lý cao nhất giúp các cơ quan sử dụng tài sản công và
quản lý tài sản công đưa ra những hướng dẫn và thực hiện công tác quản lý một cách tiết kiệm, hiệu quả, công khai gắn trách nhiệm của các đối tượng liên quan trong quá trình quản lý và hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến tài sản công như các nghị định, thông tư Trong Hiến pháp và Bộ luật dân sự đã định
ra những nguyên tắc cơ bản về quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất như phạm vi của tài sản nhà nước, nhiệm vụ và quyền hạn của Nhà nước, chủ yếu bao gồm:
Thứ nhất, hệ thống định mức sử dụng TSC trong các cơ quan nhà nước
Trang 3122
trên cơ sở luật quản lý, sử dụng TSC, đó là định mức sử dụng diện tích làm việc của cán bộ công chức, biên chế của cơ quan, kinh phí NSNN cấp hàng năm… Dựa vào những cơ sở trên và đề xuất của đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản sau này, cơ quan tài chính có trách nhiệm thẩm định dự toán kinh phí sửa chữa, cải tạo trụ sở làm việc và chủ trì phối hợp với cơ quan Kế hoạch và Đầu tư xem xét nhu cầu đầu tư xây dựng, mở rộng diện tích làm việc của từng cơ quan nhà nước để quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định danh mục dự án
và vốn đầu tư xây dựng ghi vào dự toán ngân sách nhà nước về khoản chi cải tạo, sửa chữa, xây dựng mới trụ sở làm việc theo đúng Luật Ngân sách Nhà nước Hệ thống định mức hiện đang được áp dụng trong quản lý và sử dụng tài sản là nhà, đất: Nghị định số 152/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các thông tư ban hành kèm theo
Thứ hai, quy định về quá trình hình thành tài sản công là nhà, đất (trụ sở
làm việc), nội dung chính trong quá trình hình thành tài sản chủ yếu tập trung vào đầu tư xây mới, nâng cấp mở rộng trụ sở làm việc hiện có (trụ sở được mua sắm rất hãn hữu, vì nhà là tài sản gắn liền với đất, để mua một trụ sở làm việc thì mua cả nhà và nhận chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng đất, nên số tiền thường là rất lớn, NSNN không cân đối được) Quy định này hiện được cụ thể hóa tại Luật đầu tư công và hê thống các Nghị định, thông tư ban hành kèm theo
Thứ ba, quá trình khai thác sử dụng tài sản nhà nước là nhà, đất (trụ sở làm việc) Nội dung chính trong quá trình khai thác sử dụng TS nhà nước nói
chung và trụ sở làm việc nói riêng đó là theo dõi hạch toán kế toán sự biến động tài sản về giá trị và hiện vật Đi kèm với đó là những nội quy hay nguyên tắc sử dụng gắn với duy tu sửa chữa nhằm nâng cao hiệu quả và kéo dài tuổi thọ của tài sản
Thứ tư, sắp xếp lại, xử lý trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất
Trang 3223
Với mục đích khuyến khích cơ quan, đơn vị nhà nước sử dụng nhà đất làm trụ
sở có hiệu quả, tiết kiệm Các bộ ngành địa phương tiến hành sắp xếp điều chuyển trụ sở làm việc từ nơi thừa sang nơi thiếu, thu hồi những diện tích sử dụng không đúng mục đích Thực hiện theo quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước
Thứ năm, trách nhiệm về quản lý và chế tài xử phạt đối với ĐVSN vi
phạm trong quản lý tài sản công là trụ sở làm việc Các đơn vị trực tiếp quản lý,
sử dụng trụ sở làm việc có trách nhiệm: thực hiện quản lý, sử dụng trụ sở làm việc theo đúng quy định, tuyệt đối không được dùng trụ sở làm việc để cho thuê, sang nhượng, chia cho cán bộ công nhân viên làm nhà ở hoặc điều chuyển cho đối tượng khác không đúng thẩm quyền Chỉ thực hiện việc đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng trụ sở làm việc khi có dự án, đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước Trường hợp cơ quan, đơn vị sử dụng cơ sở nhà, đất không thực hiện kê khai, báo cáo, không thực hiện phương án xử lý cơ sở nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền quyết định, cơ quan tài chính trình cấp có thẩm quyền xử lý đối với những sai phạm
1.2.2 Tổ chức thực hiện về quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập
Nhà đất là TSNN phong phú về chủng loại, mỗi loại có tính năng, công dụng khác nhau, được giao cho các ĐVSN công lập sử dụng phục vụ cho các hoạt động như: quản lý nhà nước, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… từ cấp cơ sở đến các hoạt động ở Trung ương Do đó, việc quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất cũng phải được tổ chức thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; đồng thời phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù
Trang 33cơ chế, chính sách, chế độ quản lý cụ thể đối với những tài sản có giá trị lớn mà hầu hết cơ quan nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các đơn vị
sự nghiệp công và các tổ chức khác được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng (có thể gọi là những tài sản sử dụng phổ biến) Trên cơ sở cơ chế, chính sách, chế
độ quản lý tài sản nhà nước do Quốc hội, Chính phủ quy định; các Bộ, ngành, địa phương quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý đối với những tài sản là nhà, đất (có thể gọi là những tài sản có tính đặc thù)
Thực hiện quản lý tài sản nhà, đất theo tiêu chuẩn, định mức Quản lý tài sản nhà nước theo tiêu chuẩn định mức để công tác quản lý tài sản nhà nước phù hợp với các đặc điểm của tài sản nhà nước; đồng thời để thống nhất tiêu chuẩn, định mức sử dụng từng loại tài sản cho từng đối tượng sử dụng, tránh hiện tượng mạnh ai người đó trang bị tuỳ tiện theo ý muốn của mình, tuỳ thuộc vào khả năng vốn liếng (kinh phí) của đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ
sở làm việc tại các cơ quan nhà nước, ĐVSN, còn là thước đo đánh giá mức độ
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản nhà nước của từng đơn vị; mặt khác, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản là nhà, đất là cơ sở để thực hiện công tác quản
lý, thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước Chính phủ hoặc Chính phủ phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản có giá trị lớn được sử dụng phổ biến ở các cơ quan nhà nước như nhà, đất, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các đơn vị sự nghiệp công và các tổ chức khác Trên cơ sở tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đối với các tài sản sử dụng phổ biến, các Bộ, ngành, địa phương quy định tiêu
Trang 3425
chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản sử dụng có tính đặc thù
Thực hiện phân cấp quản lý tài sản nhà nước Phân cấp quản lý tài sản nhà nước để đảm bảo việc quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất phù hợp với đặc điểm của tài sản nhà nước; đồng thời cũng được xuất phát từ phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý kinh tế - xã hội giữa Quốc hội, Chính phủ với các cấp chính quyền địa phương, giữa Chính phủ với các Bộ, ngành về việc xây dựng cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản; về xây dựng và ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản; về quản lý tài sản nhà nước …
- Quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước Xuất phát từ “tài sản nhà nước là những tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước…” và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm bảo (trừ một số trường hợp cá biệt); do đó, việc quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước Hay nói một cách khác, quản lý tài sản nhà nước là quản lý ngân sách nhà nước đã được chuyển hoá thành hiện vật - tài sản Quản lý tài sản nhà nước phải gắn với quản
lý ngân sách nhà nước có nghĩa là mọi cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản nhà nước, định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản nhà nước phải phù hợp với quy định về quản lý ngân sách nhà nước, việc trang bị tài sản nhà nước cho các
cơ quan nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các đơn vị sự nghiệp công, các tổ chức khác phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và được lập dự toán, chấp hành dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước
1.2.3 Giám sát, thanh tra, kiểm tra đối với quản lý tài sản là nhà, đất
1.2.3.1 Giám sát
Ngoài chức năng kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, còn có quy định về giám sát của cộng đồng và giám sát của cán bộ, công chức, viên chức, ban thanh tra nhân dân đối với việc quản lý, sử dụng TSC là nhà, đất Cơ quan Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành
Trang 3526
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan có liên quan tổ chức việc giám sát của cộng đồng đối với TSC nói chung trong đó có nhà, đất, tập trung vào các nội dung: văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, định mức, thủ tục hành chính về TSC; tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê, sử dụng, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, tiêu hủy và các hình thức xử lý khác đối với nhà, đất; tình hình khai thác nguồn lực tài chính từ nhà, đất Việc giám sát của cộng đồng được thực hiện theo 4 hình thức: nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực quản lý, sử dụng TSC liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tổ chức đoàn giám sát; tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; giám sát thông qua hoạt động của ban thanh tra nhân dân
1.2.3.2 Kiểm tra, kiểm soát đối với quản lý tài sản là nhà, đất
Sử dụng công cụ kiểm tra, kiểm soát thường xuyên Kiểm tra, kiểm soát
của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là nhà, đất Kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước cũng được thực hiện đối với các ngành, các cấp là cơ quan chủ quản cấp trên của đơn vị được Nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà, đất Kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước là công cụ hướng dẫn việc quản lý, sử dụng tài sản nhà, đất theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời kiểm tra, kiểm soát để phát hiện, ngăn chặn các hiện tượng sử dụng tài sản nhà nước không đúng quy định của pháp luật, sử dụng tài sản lãng phí, làm thất thoát tài sản hoặc có hành vi tham ô tài sản nhà nước
Qua thực hiện kiểm tra, kiểm soát, cơ quan nhà nước thực hiện sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản nhà nước cho phù hợp với hệ thống chính sách của Nhà nước, nhất là chính sách tài chính – ngân sách và phù hợp với thực tế Trên những ý nghĩa đó, kiểm tra, kiểm soát là công cụ hiệu quả góp phần hoàn thiện công tác quản lý tài sản nhà nước là nhà, đất
Trang 361.3.1 Các nhân tố chủ quan
Thứ nhất, sự phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ, quản lý TS là nhà, đất trong cơ quan nhà nước với thực tế
Trong thời gian qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách,
chế độ, quản lý TS là nhà, đất cũng như TSC trong ĐVSN đã từng bước được
hoàn thiện để đưa công tác quản lý TSC trong ĐVSN vào nề nếp Song so với yêu cầu thực tế quản lý thì hệ thống này vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ, còn nhiều sơ hở, có những chính sách pháp luật bất hợp lý, không phù hợp với thực
tế, chậm được sửa đổi, bổ sung, xây dựng văn bản mới Trong một thời gian khá dài (từ năm 2014 trở về trước) hiệu lực của cơ chế quản lý TSC trong ĐVSN thấp Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 có hiệu lực
từ 01/01/2018 (thay thế Luật Quản lý sử dụng tài sản nhà nước năm 2008), việc ban hành văn bản hướng dẫn Luật thực hiện chậm do đó hệ thống văn bản pháp luật về quản lý TSC trong ĐVSN đang trong quá trình hoàn thiện, sửa đổi, liên quan đến nhiều đối tượng và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
Trang 3728
cán bộ công chức làm công tác quản lý TSC hoạch định và thực thi Do đó hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý TS là nhà, đất trong các ĐVSN công lập phụ thuộc vào năng lực của cán bộ, công chức làm công tác quản lý TSC trong các ĐVSN công lập trong việc thực hiện đúng vai trò, chức năng trong xây dựng, vận hành và chấp hành đúng công tác quản lý Cán bộ, công chức làm công tác quản lý TS là nhà, đất có nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của TSC trong các ĐVSN công lập, có trình độ chuyên môn chắc, có phẩm chất đạo đức tốt (có tâm và có tầm) sẽ giúp quá trình quản lý TS là nhà, đất trong các cơ quan nhà nước thu được hiệu quả
- Đối tượng của hệ thống quản lý TS là nhà, đất trong ĐVSN công lập
đó là: ĐVSN và các cán bộ công chức trực tiếp quản lý, sử dụng Đây là một
hệ thống cực kỳ phức tạp với trình độ, năng lực, phẩm chất, yêu cầu và cách ứng xử khác nhau và do đó các phản ứng với các quyết định quản lý, sử dụng tài sản cũng quyết định tới hành vi ứng xử đối với các quyết định quản lý Nếu
ý thức tuân thủ pháp luật và chính sách của cán bộ công chức trực tiếp quản lý,
sử dụng tài sản được nâng cao thì sẽ góp phần nâng cao hiệu lực hiệu quả cơ chế quản lý TSC trong ĐVSN công lập Tuy nhiên, trình độ hóa theo nghĩa rộng nhất là văn hóa pháp luật không phải tự nhiên mà có, nó bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, sự phấn đấu rèn luyện của mỗi người không thể thiếu sự thuyết phục, giáo dục quản lý của hệ thống chính trị trong đó có nhà nước
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, những yếu tố bất thường như thiên tai, địch họa Trong thực
tế, nền kinh tế luôn luôn biến động và chịu sự tác động của nhiều các nhân tố khách quan nằm ngoài ý muốn của chủ thể quản lý Trong điều kiện thiên tai thì việc chống đỡ với thiên nhiên là trên hết, còn việc tuân thủ pháp luật, chấp hành cơ chế chính sách của Nhà nước có thể không được quan tâm nhiều và như vậy hiệu lực của công tác quản lý có nguy cơ bị giảm Trường hợp có chiến tranh hoặc bất ổn về chính trị đều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu lực và
Trang 3829
hiệu quả của công tác quản lý
Thứ hai, các nhân tố quốc tế Trong quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu
hóa, quốc tế hóa thì hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý TS là nhà, đất trong ĐVSN công lập trên cơ sở cơ chế quản lý cũ sẽ giảm, thậm chí mất hiệu lực Nếu không muốn điều đó thì chúng ta buộc phải cải tổ lại hệ thống luật pháp, chính sách cho phù hợp với thông lệ quốc tế Như vậy điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý cả về tư duy, nhận thức và thực tiễn vận hành quản lý
1.4 Kinh nghiệm quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị trực thuộc các Sở Giáo dục - Đào tạo một số địa phương
1.4.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hố Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm phát triển kinh tế của khu vực phía Nam có nhiều điểm tương đồng với thành phố Hà Nội
Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là trung tâm trọng điểm phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa của khu vực phía Nam mặc dù trong quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhưng ngay từ những năm 2003 Thành phố đã phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới trường học ngành giáo dục - đào tạo thành phố đến năm 2020 với mục tiêu phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo:
- Chuẩn bị các điều kiện cơ bản cho việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo thành phố đến năm 2020: Nâng cao giáo dục toàn diện, đổi mới hệ thống trường lớp, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa ngành giáo dục - đào tạo
- Xác định tốc độ, yêu cầu và quy mô phát triển mạng lưới trường học ngành giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố, từ đó xác định qui mô đầu tư tương ứng về đất và vốn đầu tư xây dựng trong tổng thể phát triển thành phố đến năm 2020
- Là cơ sở để UBND thành phố, UBND các quận-huyện lập kế hoạch
Trang 3930
đầu tư phát triển, cải tạo, mở rộng, nâng cấp, chủ động dành quỹ đất và huy động các nguồn vốn, xác định bước đi, giải pháp cho việc thực hiện qui hoạch chi tiết mạng lưới trường học của hệ thống giáo dục - đào tạo trên địa bàn
Thành phố đã sắp xếp lại mạng lưới trường học trên từng địa bàn huyện phù hợp với các mặt về lịch sử, địa lý và dân cư; đồng thời phù hợp với quy hoạch phát triển thành phố Đảm bảo quy hoạch mạng lưới trường học phải đồng bộ, hoàn chỉnh trong cơ cấu giáo dục quốc dân và là cơ sở để các quận-huyện thực hiện tiếp bước quy hoạch chi tiết và dành quỹ đất xây dựng trường học Cải tạo, mở rộng, nâng cấp, tận dụng mặt bằng của các cơ sở trường học hiện có để đạt tới chuẩn diện tích m2
đất/chỗ học theo quy định Các trường xây mới phải đúng qui chuẩn theo từng cấp học, ngành học đã ban hành Đến năm
2005, mỗi quận-huyện phải có ít nhất một trường đạt chuẩn cho một ngành học, bậc học
Tổng diện tích đất dành cho phát triển ngành giáo dục - đào tạo trên địa bàn thành phố đến năm 2020 là 1.904,2 hécta; với diện tích hiện hữu thời điểm
đó là 496,8 hécta, cần tăng thêm 1.407,4 hécta Trong đó, nhu cầu đất đến năm
2010 đã tăng thêm cho giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông là 1.024,60 hécta
Cũng tương tự như Hà Nội, sau khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công ngày 21 tháng 6 năm 2017 có hiệu lực, UBND Thành phố đã ban hành quy định về phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản công tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức khác được thành lập theo quy định pháp luật về Hội được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tại Quyết định Số: 27/2018/QĐ-UBND ngày 31/7/2018, trong đó đã phân cấp cụ thể, giao trách nhiệm cho các cấp quản lý, cho người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước với tài sản, các Trường trực thuộc SGDĐT Thành phố cũng nằm trong các quy
Trang 40tư trước đây là Ban quản lý đầu tư xây dựng các công trình thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo, nay đã sáp nhập vào Ban quản lý Đầu tư - Xây dựng công trình Nâng cấp đô thị Hoặc với các đơn vị có vướng mắc về đất như tranh chấp, vướng mắc giải phóng mặt bằng thì giao cho UBND các quận, huyện làm chủ đầu tư xây dựng công trình
Với nguồn vốn sự nghiệp của đơn vị, phân bổ theo số học sinh trong đó, yêu cầu các đơn vị tiết kiệm chi, trích một phần để cải tạo sửa chữa nhỏ các cơ
sở vật chất đảm bảo điều kiện dạy và học, ngoài ra hàng năm còn phân bổ đều cho các đơn vị chi phí cải tạo điều kiện cơ sở vật chất chào mừng năm học mới khoảng vài trăm triệu đồng
Tuy nhiên trong việc QLNN về nhà đất tại các đơn vị trực thuộc cũng còn nhiều vướng mắc, như cho thuê mượn không đúng thẩm quyền, tranh chấp đất đai với đơn vị khác, với cá nhân, theo dõi, hạch toán tài sản không sát sao Nguyên nhân dẫn đến các tình trạng nêu trên do giá trị đất đai của Thành phố rất cao nên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đơn vị cá nhân, do lịch sử
để lại sau chiến tranh, một phần do công tác quản lý của các đơn vị còn biểu hiện buông lỏng, do nghiệp vụ chưa cao; sự phối hợp kiểm tra xử lý các vi phạm giữa các cấp, các ngành và địa phương sở tại chưa cao