LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Chính sách công "Chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ", là công trình nghiên cứu của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ NHƯ HOA
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ,
TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ NHƯ HOA
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Chính sách công
"Chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ", là công trình nghiên cứu của riêng bản thân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Vân Hương
Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc Mọi
số liệu được sử dụng đã được trích dẫn đầy đủ trong danh mục tài liệu
tham khảo
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Như Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Chính sách công của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Vân Hương đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn cùng giảng viên, cán bộ nhân viên tham gia công tác giảng dạy, phục vụ khoá đào tạo Chính sách công
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các phòng, ban của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, song do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các anh/chị, các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Như Hoa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7.Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 8
1.1 Những vấn đề chung về nông thôn và xây dựng nông thôn mới 8
1.1.1.Khái niệm 8
1.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 11
1.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 13
1.2 Chính sách và chính sách xây dựng nông thôn mới 14
1.2.1.Khái niệm 14
1.2.2 Vai trò của chính sách xây dựng nông thôn mới 15
1.2.3 Nội dung thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách xây dựng NTM 24
1.3.1 Điều kiện tự nhiên- xã hội 24
Trang 61.3.2 Nhận thức và năng lực của chính quyền địa phương về chính sách
xây dựng nông thôn mới 25
1.3.3.Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng 26
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về thực hiện chính sách xây dựng NTM 28
1.4.1 Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 28
1.4.2 Huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 30
1.4.3 Huyện Yên Định, Thanh Hóa 33
1.4.4 Bài học rút ra cho thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ 33
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 37
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Việt Trì 37
2.1.1.Khái quát đặc điểm tự nhiên 37
2.1.2.Khái quát về phát triển kinh tế - xã hội 39
2.2 Tình hình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại thành phố Việt Trì .41
2.2.1 Chủ trương, chính sách xây dựng NTM của tỉnh Phú Thọ 41
2.2.2 Thực trạng ban hành các văn bản thực hiện chính sách xây dựng NTM của thành phố Việt Trì 42
2.2.3 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì 43
2.2.4 Xây dựng bộ máy tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM 46
2.2.5 Phổ biến, tuyên truyền chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì 47
Trang 72.2.6 Điều hành và phối hợp thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa
bàn thành phố Việt Trì 48
2.2.7 Huy động nguồn lực thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì 50
2.2.8 Thanh tra, kiểm tra và tổng kết thực hiện việc chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì 51
2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt Trì 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những hạn chế 63
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 65
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 68
3.1 Định hướng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 68
3.1.1.Định hướng chung 68
3.1.2.Định hướng của tỉnh Phú Thọ 70
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt Trì 72
3.2.1.Hoàn thiện việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 72
3.2.2.Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền chính sách xây dựng nông thôn mới 73
3.2.3.Huy động tối đa nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới 75
3.2.4.Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia chỉ đạo, thực hiện chính sách 76
Trang 83.2.5.Nâng cao ý thức tham gia của người dân vào quá trình thực hiện
chính sách 77
3.2.6.Tiếp tục gắn vai trò của hội, các tổ chức đoàn thể vào quá trình thực hiện chính sách 78
3.2.7.Giải pháp về đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới 80
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCĐ : Ban Chỉ đạo CNH : Công nghiệp hoá HĐH : Hiện đại hoá MTQG : Mục tiêu quốc gia NTM : Nông thôn mới
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của người dân trên địa bàn thành phố Việt Trì về nội
dung chính sách xây dựng NTM 28Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sử dụng đất của thành phố Việt Trì năm 2016 37Biểu đồ 2.3: Cơ cấu kinh tế các ngành của thành phố Việt Trì 38
Trang 11Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo
về phát triển nông nghiệp, trong đó chú trọng xây dựng NTM (NTM), nâng cao đời sống của người nông dân Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với quan điểm: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT-
XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng”
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng khẳng định:
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng NTM” Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 về Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM và Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020, trong đó nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp Sau 5 năm triển khai thực hiện, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
Trang 12số 1980/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 Có thể nói, đây là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết 26-NQ/TW, là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm vi cả nước Vì vậy, thực hiện thành công chương trình xây dựng NTM không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ, là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, là kinh đô Văn Lang - kinh đô đầu tiên của người Việt và là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ quốc Trong thời gian qua, cùng với các địa phương khác trong tình và trên cả nước đã tiến hành triển khai nghiêm túc, kịp thời, huy động được cả hệ thống chính trị tham gia vào phong trào toàn dân xây dựng NTM, góp phần làm cho bộ mặt nông thôn có sự chuyển biến rõ nét
Tuy nhiên, công tác xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì những năm qua còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; đặc biệt là quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng NTM Vì vậy, cần phải có những phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xây dựng NTM giai đoạn vừa qua, từ
đó đề xuất những những giải pháp thực hiện chính sách xây dựng NTM nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Việt Trì lần thứ XX nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra
Từ những lý do trên đây, tác giả lựa chọn đề tài "Chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ" làm luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công
Trang 132 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Khi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài này, tác giả đã được tiếp cận với một
số công trình khoa học của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài ở những góc độ khác nhau, tiêu biểu là một số công trình sau:
- “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”
là kết quả của nghiên cứu của TS Đặng Kim Sơn và các cộng sự thuộc Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (2008) Công trình đã làm rõ thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Xuất phát từ thực tiễn, nhóm tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển [13]
- PGS.TS Trần Thị Minh Châu (2007), Chính sách nông nghiệp ở nước
ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia Trong cuốn sách, tác giả đã hệ thống hóa
những chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp và phân tích những bất cập của các chính sách hiện hành [35]
- GS.TS Hoàng Ngọc Hòa (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb
Chính trị Quốc gia Tác giả cuốn sách đã làm sáng tỏ những những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tìm ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam và đề xuất những chính sách, giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình CNH – HĐH đất nước [16]
- Luận án Tiến sỹ của tác giả Nguyễn Mậu Thái (2015), Nghiên cứu
xây dựng NTM các huyện phía Tây thành phố Hà Nội, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam Đề tài đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông thôn, xây dựng NTM, đánh giá thực trạng xây dựng NTM
Trang 14tại 5 huyện phía Tây thành phố, đồng thời đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng NTM tại các tỉnh phía Tây Hà Nội tới năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 [29]
- Luận văn thạc sĩ: "Tổ chức thực thi Chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng NTM của chính quyền huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam" của tác giả
Trương Tuyết Nhung - bảo vệ năm 2013, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nội dung luận văn nghiên cứu, phân tích thực trạng tổ chức thực thi Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM của chính quyền huyện Lý Nhân và
đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM của chính quyền huyện Lý Nhân đến năm 2020 [34]
- Khoa kinh tế và Phát triển Nông thôn, Đại học Nông nghiệp Hà Nội
(2012), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa
và đô thị hóa ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Cuốn sách gồm
các bài viết của các nhà khoa học của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Trường Đại học Cần Thơ, các nhà quản lý ở trung ương và địa phương về thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay với những ảnh hưởng trong quá trình CNH, đô thị hóa, hội nhập quốc tế và những biến đổi khí hậu, môi trường… Các tác giả đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những yếu kém, đưa ra những định hướng phát triển cho nông nghiệp, nông
dân, nông thôn trong thời gian tới [14]
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới (2014), Nxb Chính trị Quốc gia –
Sự thật và Nxb xây dựng, chủ yếu đưa ra phương pháp quy hoạch xây dựng
xã, cụm xã, thiết kế quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trường, tổ chức thiết kế quy hoạch xây dựng và quản lý điểm dân cư [33]
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Vì vậy, đề tài nghiên cứu về
Trang 15Chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì, tình Phú Thọ sẽ là đóng góp mới nhằm đưa ra các chính sách cụ thể để thực hiện xây dựng NTM
từ đó đề xuất giải pháp làm cơ sở để các cơ quan, ban, ngành thực hiện tốt hơn các chu trình thực hiện chính sách trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở địa phương, xây dựng thành công nông thôn mới
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện các chính sách về xây dựng NTM trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Trang 16+ Về không gian: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách xây dựng NTM tại 10 xã trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách xây dựng NTM Bên cạnh
đó, tác giả sử dụng các quan điểm khoa học được rút ra từ các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn kiện của Đảng,
văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và các công trình, bài viết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Đề tài cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mới phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên các thông tin số liệu mới nhất
mà tác giả có thể thu thập được từ các nguồn thông tin đáng tin cậy, từ đó phân tích và rút ra những kết quả đánh giá khách quan, dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tiếp theo
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận: luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về quá trình
thực hiện chính sách xây dựng NTM nói chung và quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM tại thành phố Việt Trì nói riêng
Trang 176.2 Về mặt thực tiễn:
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và làm tài liệu tham khảo để tuyên truyền trong quá trình xây dựng NTM trong
thời gian tiếp theo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Những vấn đề chung về nông thôn và xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn
Hiện nay, trên thế giới định nghĩa về nông thôn chưa được đưa ra một cách chuẩn xác nhất, vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng nông thôn được định nghĩa dựa vào tiêu chí trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị
Quan điểm khác cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu mức độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn
có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với vùng đô thị là thấp hơn Cũng có quan điểm đề xuất nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư
và số lượng dân trong vùng để xác định, theo đó vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Ở Việt Nam, nông thôn là bao gồm các địa bàn dân cư
có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỉ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhìn nhận từ góc độ quản lý, có thể hiểu khái niệm nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó
có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào hoạt động kinh tế - văn hoá – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [21]
Trang 19Theo Thông tư số 41/TT-BNNPTNT ngày 4 tháng 10 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, định nghĩa như sau: Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã [7]
Nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọn lại: đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lập với đô thị (nhất là về văn hóa) Như vậy, nông thôn theo quan niệm này được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội đặc thù và không phải là đô thị
1.1.1.2 Khái niệm nông thôn mới
Theo Nghị Quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; NTM được hiểu là nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [2]
Như vậy, NTM trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo
không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn
Trang 20Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá;
thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói
Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng
được nâng cao
Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi
trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái
Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo
tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phương
Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
1.1.1.3 Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí
Xây dựng NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng
trên cả nước Vì vậy, xây dựng NTM được hiểu là cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp, sản xuất phát triển toàn diện và đời sống của người dân được nâng cao; nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện
Tóm lại, xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
Trang 211.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn
đối với phát triển kinh tế - xã hội
- Nông nghiệp cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm và các nguyên
liệu gia dụng khác cho con người Dân số Việt Nam tính đến năm 2018 khoảng 95 triệu người, theo dự báo dân số Việt Nam đến năm 2020 là 97,5 triệu người, do đó để đảm bảo an ninh lương thực cho toàn dân đòi hỏi nền
nông nghiệp phải đáp ứng yêu cầu rất lớn
- Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời kích
thích các ngành khác phát triển như: chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt, giấy…đây là những ngành phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nông nghiệp Sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn còn góp phần cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho dân cư ở nông thôn Từ đó nhu cầu của những người dân về các sản phẩm như: ti vi, máy giặt, xe máy… và các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao… cũng ngày càng tăng Chính từ nhu cầu ngày càng lớn của người dân tại nông thôn về các sản phẩm cũng như dịch vụ nông nghiệp đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của các ngành công
nghiệp và dịch vụ
- Vai trò của nông thôn trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống và ngăn ngừa
thiên tai Phát triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên đưa nông thôn dần thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Cùng với việc khai thác các nguồn lợi đó phục vụ cho sự phát triển các vùng nông thôn cũng cần chú trọng tới công tác bảo vệ các loại tài nguyên trong quá trình sử dụng, nhằm duy trì môi trường sinh thái, phòng chống và ngăn ngừa thiên tai
- Nông nghiệp cung cấp hàng hóa xuất khẩu thu ngoại tệ Trong đó,
nhiều mặt hàng tăng trưởng xuất khẩu rất mạnh như rau quả tăng trên 40%,
cao su tăng trên 35%, tôm tăng 22% [9]
Trang 22- Nông nghiệp tạo việc làm cho người dân Hiện nay ở nước ta có tới
70% dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn và những người dân này chủ yếu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Đặc biệt ở nước ta hiện nay có khoảng
2000 làng nghề lao động trong đó có hơn 300 làng nghề là nghề truyền thống, 80% làng nghề theo quy mô hộ gia đình, tạo việc làm ổn định cho hơn bốn triệu lao động (Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh - Xã hội) Góp
phần tích cực cho vấn đề việc làm của người dân ở nông thôn
- Sự phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo chỗ dựa vững chắc cho sự
phát triển của các ngành kinh tế phi nông nghiệp, tạo việc làm cho nông dân
từ đó đời sống vật chất của nông dân được nâng lên, đời sống tinh thần cũng
được nâng cao, góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh xã hội
- Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho việc gìn
giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thồng tốt đẹp của dân tộc Bên cạnh ấy
sẽ bài trừ những tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu để tổ chức tốt hơn đời sống văn hóa
và tinh thần cho người dân khu vực nông thôn Tạo dựng vùng nông thôn nước
ta với những nét đẹp riêng mang đậm chất quê hương
Thứ hai, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong quá trình phát triển
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta vẫn còn nhiều thách thức và hạn chế
- Quy hoạch phát triển nông thôn chưa toàn diện, còn mang tính tự
phát, chưa đủ, chưa chi tiết về định hướng phát triển vùng nông thôn trong dài hạn và chưa thể hiện được tính tự chủ trong chính quyền, người dân tại vùng
Trang 23triệu/người/năm Đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo
chiếm tỉ trọng cao
- Sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự phát, manh mún, nhỏ lẻ; khoa
học - kĩ thuật còn thấp, chưa gắn liền việc sản xuất, chế biến với tiêu thụ sản phẩm Chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu, chất lượng và thương hiệu dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao
1.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Căn cứ theo Thông tư liên tịch số 26/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư; Bộ Tài chính về hướng dẫn một số nội dung thực hiện quyết định
số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020, chương trình gồm có các nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, các nội dung hoạt động của Chương trình mục tiêu Quốc
gia xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ (Sau đây là Bộ tiêu chí quốc gia NTM)
- Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là
chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ hướng dẫn và thực hiện, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định, tổ chức thực hiện
- Thứ ba, kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương
trình hỗ trợ các mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
- Thứ tư, thực hiện chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trang 24- Thứ năm, công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực;
tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
- Thứ sáu, xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
1.2 Chính sách và chính sách xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Khái niệm
Trong hệ thống các công cụ quản lý nhà nước, chính sách được coi là một trong những công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất vì nó là tiền đề, là nền tảng và định hướng cho các công cụ quản lý khác Hiện nay công cụ chính sách được sử dụng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội trên cả phạm vi vĩ mô và vi mô
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Chính sách là những chuẩn tắc vụ
thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hoá " [26, tr475] Theo định nghĩa này thì mục
đích của chính sách là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết những vấn đề công, nói cách khác nó
là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của Nhà nước
Chính sách công theo cuốn “Chính sách công - Những vấn đề cơ bản”
do PGS.TS Nguyễn Hữu Hải biên soạn đưa ra: “Chính sách công là kết quả ý
Trang 25chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề công trong xã hội” [25] Khái niệm cho thấy về bản chất,
chính sách công là do Nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định; nó là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức, phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội Điều kiện tồn tại của một chính sách công được thể hiện bằng nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, môi trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự bảo đảm bằng nhà nước
Như vậy, chính sách xây dựng nông thôn mới là chính sách công do
nhà nước ban hành bao gồm hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp nhằm xây dựng nông thôn theo những tiêu chí mới, hướng đến mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng, an ninh trật
tự được giữ vững
1.2.2 Vai trò của chính sách xây dựng nông thôn mới
Chính sách xây dựng NTM đóng vai trò tích cực trong sự phát triển của đất nước, vấn đề này dễ nhận thấy vì nước ta là một nước nông nghiệp phần lớn dân số sống ở nông thôn, sau hơn 30 năm đổi mới tuy chúng ta gặt hái nhiều kết quả song kinh tế xã hội ở nông thôn còn bấp bênh, đời sống tinh thần và vật chất còn nhiều hạn chế, trật tự xã hội thiếu ổn định cho nên việc xây dựng các chính sách xây dựng nông thôn mới được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm để người dân ở nông thôn được tiếp cận, hưởng thụ từng chính
Trang 26sách trên các lĩnh vực, nâng cao dân trí, đào tạo nghề nghiệp, tiếp cận khoa học kỹ thuật và mục đích cuối cùng là nâng cao mức sống của người dân Từ
đó mà niềm tin của người dân đặt chọn vào chính sách và đã tự giác thực hiện suốt thời gian qua và đã mang lại nhiều kết quả tích cực, chống lại những hoạt động gây mất ổn định chính trị của các thế lực thù địch trong và ngoài nước
Xây dựng nông thôn mới góp phần thúc đẩy kinh tế, nhất là kinh tế ở nông thôn phát triển tích cực, một quốc gia mà sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn, thiếu sự sự công bằng trong hưởng thụ thì sẽ gây ra nhiều khó khăn cho chiến lược phát triển chung của quốc gia đó, với ý nghĩa thiết thực của các chính sách hướng về nông thôn như: phát triển sản xuất, đào tạo nghề, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất cũng như đời sống đã làm cho người dân nông thôn phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập, tiếp cận các dịch
vụ y tế, giáo dục, bảo hiểm góp phần quan trọng vào sự phát triển và ổn định của đất nước, tạo sự bền vững trong chiến lược phát triển
Thông qua thực hiện các chính sách xây dựng NTM thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là điều kiện để phát triển đồng đều hơn giữa các vùng, miền, địa phương của đất nước, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khoảng cách vùng, miền, nông thôn, thành thị, giàu nghèo dần được điều chỉnh một cách hợp lý
Hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản sẽ được tiếp cận tốt hơn như: khám
và điều trị bệnh, giáo dục và đào tạo, bưu chính viễn thông việc cung cấp các dịch vụ này cơ bản sẽ là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh trật tự và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
Có thể nói chính sách xây dựng nông thôn mới có vai trò trong việc định hướng mục tiêu phát triển của đất nước, đời sống của nhân dân được cải thiện, dân chủ ở cơ sở được phát huy mạnh mẽ, vị trí của các chủ thể thực thi
Trang 27chính sách xây dựng nông thôn mới được thể hiện rõ nét và có sự lan toả, ảnh hưởng đến các vấn đề chính trị, trật tự an toàn của đất nước
1.2.3 Nội dung thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
1.2.3.1 Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách xây dựng NTM
Hệ thống văn bản hướng dẫn về thực hiện chính sách xây dựng NTM là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có quy tắc xử sự chung,
có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các vấn đề về xây dựng NTM Xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện về xây dựng NTM là rất cần thiết, giúp thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chủ trương, chính sách về NTM Thông qua hệ thống văn bản này, Nhà nước có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn trong công tác xây dựng NTM, kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với tình hình, yêu cầu mới, giúp quá trình quản lý, thực hiện đạt hiệu lực, hiệu quả cao
Nhận thấy nông nghiệp, nông thôn có vai trò hết sức quan trọng trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Chương trình mục tiêu Quốc gia NTM đã hình thành trên cơ sở lồng ghép nhiều chương trình MTQG vào một chương trình và triển khai đồng bộ tất cả các nội dung để phát triển nông thôn một cách toàn diện, bền vững Chính vì thế, Đảng và Nhà nước đã quan tâm xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xây dựng NTM nhằm chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương căn cứ thực hiện, như: Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24/2008/NĐ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc
Trang 28Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM, giai đoạn 2010 - 2020 Bên cạnh đó, các Bộ, ngành liên quan ở Trung Ương và địa phương cũng đã ban hành đồng bộ hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời để tiết kiệm nguồn vốn hiện
có, Nhà nước đã triển khai việc nối tiếp một số chương trình từ giai đoạn trước và trong giai đoạn 2006 – 2010
Đã có 11 CTMTQG được thực hiện trên địa bàn cả nước, tác động chủ yếu đến khu vực nông thôn, trong đó đáng chú ý là các chương trình như: xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ, phục vụ phát triển KT-XH NT và miền núi, giai đoạn 2004 - 2010; nước sạch và vệ sinh môi trường NT; kiên cố hóa kênh mương; điện nông thôn; xóa đói giảm nghèo
1.2.3.2 Tổ chức bộ máy và phân công trách nhiệm thực hiện chương trình xây dựng NTM
Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy thực thi chương trình xây dựng NTM là một trong các yếu tố giúp nhà nước triển khai hoạt động xây dựng NTM một cách thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, mang tính khoa học, nhất quán Nhà nước ta quy định rất rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan chuyên môn theo cấp hành chính để phối hợp thực hiện xây dựng NTM
Hệ thống các cơ quan, tổ chức được xây dựng và kiện toàn từ TW tới địa phương sẽ vận hành theo định hướng của Đảng và Nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để triển khai các nội dung Theo đó mỗi địa phương thành lập Ban chỉ đạo xây dựng NTM, Văn phòng điều phối, Ban quản lý, Ban Giám sát
để tuyên truyền, quản lý, chỉ đạo hướng dẫn thực hiện chương trình
Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1013/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010 - 2020, trên cơ sở đó Ban Chỉ đạo TW tiếp tục xây
Trang 29dựng và ban hành kế hoạch triển khai CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010 -
2020, trong đó nêu rõ việc thành lập BCĐ - cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về xây dựng NTM ở các cấp như sau:
a) BCĐ TW:
Theo Quyết định số 1013/QĐ-TTg, BCĐ TW CT MTQG XDNTM giai đoạn 2010 - 2020 gồm 24 thành viên; Ban hành Quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm cụ thể đối với các thành viên của BCĐ TW;
- Thành lập Thường trực BCĐ TW, gồm Trưởng ban, phó Trưởng ban
và 3 ủy viên là lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Xây dựng;
- Thành lập Văn phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định)
b) Cấp tỉnh:
+ BCĐ của tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban Phó Ban thường trực là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 Phó ban là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên BCĐ có thành phần tương tự BCĐ TW Thường trực BCĐ cấp tỉnh là Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3
ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xây dựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính;
+ Thành lập Văn phòng điều phối CT MTQG NTM đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, giúp BCĐ tỉnh thực hiện Chương trình trên địa bàn
c) Cấp huyện, thị xã (gọi chung là huyện):
+ BCĐ của huyện do Chủ tịch UBND dân huyện làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND là Phó Trưởng ban Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban
có liên quan của địa phương;
+ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) là cơ quan thường trực điều phối, giúp BCĐ huyện thực hiện Chương trình trên địa bàn
Trang 30d) Cấp xã:
Thành lập Ban Quản lý XDNTM xã do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND xã là Phó Trưởng ban Thành viên là một số đại diện
cơ quan chuyên môn và đại diện một số Ban, ngành, đoàn thể chính trị xã
Đi đôi với thành lập bộ máy giúp việc, cần tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở NT, đặc biệt là cán bộ chuyên trách về NTM Kinh nghiệm thành công trong xây dựng NTM chỉ ra rằng, một tập thể lãnh đạo có năng lực, có trách nhiệm chính là điều kiện quan trọng quyết định thành công Chính vì vậy, công tác đào tạo cán bộ cơ sở được coi trọng, bởi đây là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM Sự năng động
và tinh thần trách nhiệm của họ đã dẫn dắt và khơi dậy tính sáng tạo của nông dân Nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều Đề án về tuyển chọn, sử dụng và có những chế độ đãi ngộ để thu hút những người có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm chất tham gia xây dựng NTM (Đề án “Thí điểm tuyển chọn 500 trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia PT nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 - 2020”)
1.2.3.3 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách XDNTM
Để đảm bảo cho chính sách xây dựng NTM nhanh chóng và dễ dàng đi vào đời sống xã hội, chúng cần phải được cụ thể hóa bằng những kế hoạch hành động cụ thể để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động và có kết quả, hiệu quả
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng NTM được xây dựng trước khi đưa chính sách vào đời sống xã hội Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan
có trách nhiệm triển khai thực hiện chính sách từ trung ương đến địa phương
Trang 31đều phải xây dựng các kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng NTM bao gồm những nội dung cơ bản như; kế hoạch về tổ chức, điều hành; kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách xây dựng NTM; dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành
Kế hoạch thực hiện chính sách xây dựng NTM ở cấp nào sẽ do cơ quan chủ trì của cấp đó xây dựng Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện chính sách sẽ mang giá trị pháp lý, được các chủ thể triển khai thực hiện chính sách và cả đối tượng của chính sách nghiêm chỉnh thực hiện
1.2.3.4 Phổ biến, tuyên truyền chính sách xây dựng nông thôn mới
Sau khi bản kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách xây dựng NTM Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách và tính khả thi của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô của chính sách cũng như vai trò của chính sách xây dựng NTM đối với đời sống xã hội để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách xây dựng NTM được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực hiện, để mọi đối tượng
Trang 32cần tuyên truyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực tham gia vào thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng là người nông dân qua các phương tiện thông tin đại chúng
Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền, vận động cho phù hợp với điều kiện hiện có của cơ quan, đơn vị mình
1.2.3.5 Huy động nguồn lực thực hiện chính sách xây dựng NTM
Nguồn lực để thực hiện chính sách NTM là các điều kiện cần có về con người, nguồn vốn và các phương tiện cần thiết khác để đảm bảo thực hiện các mục tiêu mà chính sách đã đề ra Quá trình triển khai thực hiện chính sách đòi hỏi rất nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó phải kể đến các nguồn lực sau:
- Nguồn lực về con người (nguồn nhân lực) Trong số các nguồn lực thì nguồn nhân lực được xem là một trong những nguồn lực quan trọng nhất Bởi
lẽ, nguồn nhân lực là nguồn lực sống duy nhất có thể sử dụng và kiểm soát các nguồn lực khác, có thể khai thác tối đa khả năng, năng suất và hiệu quả của nguồn lực này
- Nguồn nhân lực để thực hiện chính sách xây dựng NTM là tất cả các cán bộ, công chức, các đối tượng của chính sách và các cá nhân khác trong xã hội tham gia vào quá trình triển khai thực hiện chính sách nhằm đưa chính sách vào đời sống xã hội Để triển khai thực hiện chính sách xây dựng NTM đúng đắn và hiệu quả, điều tất yếu là cần đến một đội ngũ cán bộ, công chức
có năng lực Quá trình tổ chức thực hiện chính sách là quá trình phân công, giao nhiệm vụ cho mỗi cơ quan, đơn vị mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ, công chức để họ đưa chính sách vào đời sống và duy trì chính sách để nó phát huy được hiệu quả đối với xã hội
Trang 33- Nguồn tài chính Chính sách xây dựng NTM tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên những người nông dân và hướng tới xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Do vậy nguồn tài chính để phục vụ cho quá trình này là không hề nhỏ Nguồn tài chính để phục vụ cho quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM được huy động từ các nguồn sau: nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; vốn đầu tư của doanh nghiệp; các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư
và nguồn vốn tín dụng
- Nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt
là tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản…)
là nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và xây dựng NTM Việc quản lý, phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này sẽ tạo ra động lực cho quá trình phát triển Những loại tài nguyên quan trọng nhất, ảnh hưởng đến sự phát triển KT-XH hội hầu hết là những loại tài nguyên hữu hạn Do vậy để thực hiện tốt chính sách xây dựng NTM cần quản lý, khai thác có hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên, để nguồn tài nguyên thực sự là một nguồn lực giúp cho Việt Nam có thể xây dựng NTM, đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai
1.2.3.6 Điều hành và phối hợp thực hiện chính sách xây dựng NTM
Để việc tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM thực sự có hiệu quả, phải có sự thống nhất cao về quan điểm, mục tiêu, chương trình, kế hoạch thực hiện; phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp, trách nhiệm của Ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong thực hiện chính sách xây dựng NTM
Trang 341.2.3.7 Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
Kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng NTM là việc Nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng đạt hay không đạt các tiêu chí về xây dựng NTM; đảm bảo việc tuân thủ những quy định của pháp luật trong tổ chức triển khai thực hiện xây dựng NTM theo các quy định, tiêu chí đã đề ra Đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ cần thiết để giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách, các thể chế quản lý của nhà nước, kịp thời phát hiện những sai sót
và ngăn chặn, chấn chỉnh các sai phạm, kiểm soát các sai lầm, lệch lạc; xử lý các vi phạm đồng thời điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp với tình hình thực
tế của địa phương
Đi đôi với kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để kịp thời tháo gỡ khó khăn, nhân rộng những kinh nghiệm, cách làm hay và những điển hình trong xây dựng NTM; biểu dương khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình, tạo động lực cho phong trào thi đua chung sức xây dựng NTM
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách xây dựng NTM
Là một nước có nền kinh tế được đánh giá thuộc nhóm nước đang phát triển, Việt Nam nói chung và khu vực nông thôn Việt Nam nói riêng đang từng bước phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá với xuất phát điểm là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu so với thế giới; trình độ dân trí chưa cao; sản xuất hàng hoá (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) chưa phát triển; hạ tầng kinh tế xã hội còn rất thiếu và chất lượng thấp; mức sống của đại bộ phận dân cư thấp…Đây là một yếu tố không thuận lợi, mang lại nhiều khó khăn, thách thức lớn cho quá trình xây dựng NTM của nước ta Song, bên cạnh những khó khăn, thách thức đó nền kinh tế của nước ta vẫn đang nỗ lực vươn lên, được thế giới đánh giá là một nến kinh tế năng động, đang nổi, với tốc độ tăng trưởng bình quân 05 năm 2010 – 2015 là 5,6
Trang 35%/năm, trình độ dân trí, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao tạo đà cho xây dựng NTM thành công trên toàn lãnh thổ
Nhìn tổng thể đối với từng địa phương (tỉnh và thành phố, huyện trực thuộc tỉnh), điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của mỗi địa phương đều có thể tạo thuận lợi cho công tác xây dựng NTM, mặt khác nó cũng tiềm ẩn những khó khăn, hạn chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Địa hình vùng đồng bằng hay trung du miền núi; điều kiện tự nhiên thuận lợi hay khó khăn cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, thương mại…; xuất phát điểm của nền kinh tế; trình độ dân trí, mức sống của người dân của mỗi địa phương đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến công tác xây dựng NTM Vấn đề đặt ra là phải có cách để phát huy mặt tích cực và kìm chế mặt tiêu cực của từng yếu tố
1.3.2 Nhận thức và năng lực của chính quyền địa phương về chính sách xây dựng nông thôn mới
Chính quyền địa phương là người trực tiếp tổ chức thực hiện xây dựng NTM Chính vì vậy, hơn ai hết, các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương phải
là người nhận thức rõ về chương trình MTQG xây dựng NTM Đây là một chương trình có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa bàn nông thôn
Chủ trương chính sách, quan điểm của địa phương về xây dựng NTM
có thể xem là những bước đi đầu tiên nối bước cho Chương trình Có được những chủ trương chính sách như các chính sách về đất đai (dồn điền đổi thửa), chính sách về phát triển cây, con đặc sản, chính sách về hỗ trợ vay vốn sản xuất… có tác động mang tính tích cực tới nhận thức cũng như hành động của người dân trong xây dựng NTM
Ngoài các chủ trương, chính sách phù hợp để thực hiện xây dựng NTM cần thành lập bộ máy giúp việc, cần tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi
Trang 36dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở nông thôn, đặc biệt là cán bộ chuyên trách về NTM Kinh nghiệm thành công trong xây dựng NTM chỉ ra rằng, một tập thể lãnh đạo có năng lực, có trách nhiệm chính là điều kiện quan trọng quyết định thành công
Chính vì vậy, công tác đào tạo cán bộ cơ sở được coi trọng, bởi đây là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về xây dựng NTM Sự năng động và tinh thần trách nhiệm của
họ đã dẫn dắt và khơi dậy tính sáng tạo của nông dân Nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều Đề án về tuyển chọn, sử dụng và có những chế độ đãi ngộ để thu hút những người có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm chất tham gia xây dựng NTM [Đề án “Thí điểm tuyển chọn 500 trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 - 2020”]
1.3.3.Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng
Các chương trình thí điểm và chương trình mục tiêu quốc gia NTM đều thực hiện nguyên tắc chủ đạo trong triển khai các nội dung xây dựng NTM qua đó phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng dân cư ở các thôn, xã bàn bạc, quyết định và
tổ chức thực hiện Nguyên tắc này đã xác định NTM là một hoạt động “dựa vào cộng đồng”, phát huy sự tham gia đóng góp của cộng đồng là nguồn lực chính để xây dựng NTM ở từng địa phương
Nhận thức và sự tham gia của người dân vào việc xây dựng NTM được coi như một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của việc xây dựng NTM bởi vì: Chính sự tham gia lao động trực tiêp từ người dân vào hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, lao động sản xuất, kinh doanh, khuyến nông, khuyến lâm và những công việc liên quan đến quản lý, sử dụng công
Trang 37trình hạ tầng cơ sở ở vùng nông thôn Kết quả của hoạt động NTM là dành cho người dân, nhân dân được hưởng lợi ích và có trách nhiệm bảo vệ các kết quả
đó Như vậy người dân tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng NTM, bao gồm các hoạt động tham gia đóng góp, tham gia tổ chức, tham gia sử dụng
BCĐ thành phố đến nhiều địa phương làm điểm xây dựng NTM, và nhận thấy rằng phần lớn cán bộ và nhân dân đang có những biểu hiện lệch lạc trong nhìn nhận về việc triển khai chính sách Đặc biệt là người dân, chủ thể thực hiện chính sách lại nhận thức không đầy đủ và toàn diện về nội dung xây dựng NTM Ở một số địa phương, người dân thường mặc nhiên coi việc xây dựng NTM chỉ là sự đầu tư của cấp trên về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó có việc xây dựng “điện, đường, trường, trạm” Trong khi
đó, đây chỉ là một trong 5 nhóm của chương trình MTQG xây dựng NTM theo Bộ tiêu chí xây dựng NTM mà trung ương qui định
Và khi BCĐ xây dựng NTM của thành phố thực hiện khảo sát đối với
90 người dân về nhận thức của họ đối với chính sách xây dựng NTM thì kết quả như sau:
- Mục đích, ý nghĩa và các nội dung về xây dựng NTM có 81 người biết rõ, 9 người chưa biết rõ
- Người dân có hiểu được vai trò của mình trong quá trình tham gia quy hoạch, đề án, quyết định công việc thực hiện xây dựng NTM thì có 30 người biết rõ và 60 người biết chưa rõ
- Với nội dung huy động nguồn vốn thì chỉ có 38 người biết rõ còn lại
Trang 38Biểu đồ 2.1: Nhận thức của người dân trên địa bàn thành phố Việt Trì về
nội dung chính sách xây dựng NTM
(Nguồn: BCĐ xây dựng NTM thành phố Việt Trì)
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về thực hiện chính sách xây dựng NTM
1.4.1 Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, giai đoạn 2010-2015, huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định được công nhận đạt chuẩn NTM năm 2015 Trong lộ trình này, huyện có 35/35 xã, thị trấn đạt chuẩn NTM, trong đó có 6 xã đạt vào năm 2013, 29 xã đạt vào năm 2014 và là 1 trong 5 huyện đầu tiên trong cả nước đạt chuẩn xây dựng NTM
Trong lộ trình xây dựng NTM, giai đoạn 2016-2020, huyện Hải Hậu quyết tâm xây dựng NTM bền vững và phát triển với mục tiêu: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là sự tham gia trực tiếp của người dân để tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, mục tiêu chương trình xây dựng NTM bền vững và phát triển” Theo đó, các
Trang 39cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội từ cấp huyện đến cơ sở đều có nghị quyết, chương trình, kế hoạch về duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng NTM bền vững và phát triển giai đoạn 2016-2020 Lấy phương châm “Dân biết - dân bàn - dân làm - dân hưởng thụ” là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt Có cơ chế khuyến khích, động viên khen thưởng phù hợp
và tích cực huy động mọi nguồn lực từ các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, của con em quê hương ở mọi miền đất nước cũng như ở nước ngoài, đặc biệt là động viên nhân dân tích cực tham gia và đóng góp xây dựng NTM…
Huyện đã phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân Huyện cũng đã xây dựng đề án NTM sát với tình hình thực tế của địa phương, đảm bảo tính khả thi và khả năng huy động nguồn lực của địa phương; triển khai thực hiện đề án đảm bảo công khai, dân chủ, minh bạch
Để thực hiện thành công NTM, trước hết phải nghiên cứu kỹ và quán triệt sâu rộng chủ trương của Trung ương, của tỉnh về xây dựng NTM và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế của địa phương Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức để mỗi người dân hiểu được mục đích,
ý nghĩa và lợi ích thiết thực “Cống hiến và tự hưởng” khi xây dựng NTM Các cấp lãnh đạo, cấp ủy, vào cuộc kiên quyết; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể từ huyện đến cơ
sở Phân cấp, phân công nhiệm vụ cụ thật cụ thể gắn với trách nhiệm và sự nỗ lực, gương mẫu thực hiện của mỗi cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên Ví dụ: Hội cựu chiến binh mỗi người ủng hộ 100kg xi măng, Hội viên hội nông dân tự nguyện hiến đất xây dựng giao thông, xây dựng nhà văn hoá, ngày công nạo vét cống rãnh… Xác định nhiệm vụ trọng tâm của từng năm để tập trung chỉ đạo thực hiện, không dàn trải Chủ trương và khẩu hiệu xây dựng NTM của huyện Hải Hậu là: “Thực hiện từ đồng về nhà, từ nhà ra xóm và từ
Trang 40xóm ra xã” Thực hiện nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”; thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện, kịp thời và kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm, khuyết điểm làm ảnh hưởng đến phong trào xây dựng NTM
Với chủ trương đúng, cách làm sáng tạo, dân ủng hộ, xây dựng NTM mới của huyện Hải Hậu đã trở thành một phong trào thi đua sôi nổi giữa các gia đình, các xóm và các xã Đã huy động nhân dân đóng góp hàng triệu ngày công, hiến tặng gần 400 ha đất làm đường nội đồng, đường xóm và trên 500
tỷ đồng để cùng với nguồn hỗ trợ của trên cải tạo, nâng cấp gần 400km đường thôn xóm, 250 km đường giao thông nội đồng theo tiêu chí NTM, 170 km thoát nước khu dân cư, xây dựng mới 42 nhà văn hoá xóm, nâng cấp hệ thống trường học, trạm xá Làm thay đổi cảnh quan làng xóm và bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc Kinh tế phát triển, văn hoá đời sống của nhân dân được cải thiện nâng lên rõ rệt
1.4.2 Huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Đan Phượng là huyện ven đô nằm phía Tây Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm 20km, diện tích đất tự nhiên 7.735,48 ha, dân số 162.856 người Trước khi xây dựng NTM, Đan Phượng là một huyện nông nghiệp, qua khảo sát đánh giá các xã, toàn huyện mới đạt bình quân gần 10 tiêu chí, chưa có quy hoạch chung,
hạ tầng kỹ thuật còn khó khăn, không đồng bộ; số thu ngân sách hàng năm đạt thấp, đầu tư chủ yếu dựa vào ngân sách Thành phố, trong khi đó nhu cầu đầu tư xây dựng NTM rất lớn
Thực hiện Chương trình 02-CT/TU của Thành ủy Hà Nội về phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn
2011 - 2015, huyện Đan Phượng xác định đây là cuộc cách mạng trong nông nghiệp, nông thôn, là thách thức lớn về vai trò lãnh đạo của đảng bộ trong giai đoạn hiện nay, song đó cũng là thời cơ để cho huyện bứt phá phát triển nhanh