1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn phường cửa nam, quận hoàn kiếm, thành phố hà nội

124 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa tại phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội bằng các văn bản pháp quy là cơ sở, công cụ pháp luật để các cơ quan quản lý thực hiện đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VINH HỒNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG CỬA NAM, QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VINH HỒNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG CỬA NAM,

QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 8.34.04.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS THIỀU HUY THUẬT

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Thiều Huy Thuật Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

HỌC VIÊN

Nguyễn Vinh Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân đây em xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành của mình:

Em xin bày tỏ sự cảm ơn đến Ban Giám đốc, Khoa Sau đại học, cùng các thầy giáo, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện, giúp đỡ

và có những ý kiến đóng góp quý báu cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để em hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới TS Thiều Huy Thuật là người hướng dẫn khoa học cho em Thầy đã rất quan tâm, tận tình hướng dẫn

và định hướng cho em trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Nguyễn Vinh Hồng

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA 7

1.1 Văn hóa và dịch vụ văn hóa 7

1.1.1 Văn hóa 7

1.1.2 Dịch vụ văn hóa 12

1.1.3 Đặc điểm của dịch vụ văn hóa 13

1.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa 19

1.2.1 Quản lý nhà nước 19

1.2.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa 20

1.2.3 Chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa 21

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa 22

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa 28

1.3.1 Yếu tố bên trong 28

1.3.2 Yếu tố bên ngoài 31

1.4 Vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa 33

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm rút ra cho cho phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 36

1.5.1 Kinh nghiệm của các địa phương 36

1.5.2 Bài học kinh nghiệm đối với phường Cửa Nam, Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40

Trang 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG CỬA NAM, QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH

PHỐ HÀ NỘI 41

2.1 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa tại phường Cửa Nam 41

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội 41

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng 42

2.2 Tình hình hoạt động dịch vụ văn hóa của phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 47

2.2.1 Hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử, karaoke, vũ trường, khách sạn nhà hàng sử dụng nhạc 49

2.2.2 Về hoạt động kinh doanh điện ảnh và băng đĩa hình: 54

2.2.3.Hoạt động kinh doanh mỹ thuật, gallery, mỹ nghệ phẩm 55

2.2.4 Công tác tổ chức lễ hội tại các điểm di tích 57

2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam 58

2.3.1 Triển khai các văn bản pháp quy, thẩm định cơ sở hoạt động 58

2.3.2 Công tác cấp duyệt giấy phép hoạt động dịch vụ văn hóa 65

2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 73

2.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra 76

2.4 Đánh giá chung quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 80

2.4.1 Kết quả đạt được 80

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân: 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở PHƯỜNG CỬA NAM, QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 85

3.1 Phương hướng, mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam 85

Trang 8

3.1.1 Phương hướng chung 86

3.1.2 Mục tiêu đến năm 2025 87

3.2 Giải pháp 88

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ văn hóa 88

3.2.2 Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, những tổ chức, cá nhân tham gia dịch vụ văn hóa và quần chúng nhân dân 88

3.2.3 Xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch các loại dịch vụ văn hóa: 90

3.2.4 Củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, tăng cường công tác phối hợp, cải cách các thủ tục hành chính liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ văn hóa 96

3.2.5 Quy định về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, nhân viên phục vụ 103

3.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát về dịch vụ văn hóa 104

3.3 Kiến nghị 107

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 109

KẾT LUẬN 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu 2.1: Bảng tổng hợp dịch vụ văn hoá của Quận Hoàn Kiếm

( tính đến 31/12/2019) 50 Biểu 2.2: Tình hình đội ngũ cán bộ văn hoá của Quận Hoàn Kiếm

(Tính đến thời điểm 31/12/2019) 75 Biểu 2.3: Kết quả thanh tra, kiểm tra dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam

(Từ 1/1/2017 đến 31/12/2019 do UBND phường chủ trì tổ chức) 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dịch vụ văn hóa là hoạt động phổ biến và trao truyền các giá trị văn hóa đến đông đảo người dân, góp phần tích cực vào việc tuyền truyền, phổ biến các giá trị tinh hoa văn hóa của Việt Nam đến khắp bạn bè trên thế giới Các sản phẩm sách báo, băng đĩa và văn hóa phẩm với chủng loại phong phú, đa dạng đã và đang len lỏi đến từng khu phố, cụm dân cư, thôn xóm và bản làng nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của nhân dân Đây thực sự là món ăn tinh thần quý giá, nó thẩm thấu sâu vào nếp nghĩ, lối sống và biến thành hành vi của người dân trong lao động, sáng tạo, trong quan hệ cộng đồng và tinh thần yêu nước Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa dưới dạng tham gia dịch vụ như karaoke, vũ trường, cà phê ca nhạc, internet… cũng đang cuốn hút mọi tầng lớp từ thành thị đến nông thôn Loại hình văn hóa này ngày càng phát triển đã kéo theo nhiều nhà cung cấp dịch vụ ở mọi thành phần kinh tế khác nhau tham gia với quy mô hoạt động ngày càng rộng nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhà cung cấp Các sản phẩm văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần khi được phổ biến sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của con người và làm hình thành nhân cách con người Vì thế hoạt động văn hóa có giá trị giáo dục đặc biệt đối với

xã hội

Phường Cửa Nam, Quận Hoàn Kiếm nằm ở vị trí trung tâm Thủ đô, nơi hội tụ và kết tinh những tinh hoa văn hóa, truyền thống lịch sử của Thăng Long - Hà Nội Có diện tích nhỏ nhất Thành phố, nhưng quận Hoàn Kiếm là trung tâm chính trị - hành chính, trung tâm thương mại - dịch vụ - du lịch của thành phố Hà Nội, nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện chính trị, văn hóa

quan trọng của Thủ đô Chính vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước về dịch vụ văn

Trang 11

hóa ở quận Hoàn Kiếm được các cấp chính quyền thành phố Hà Nội hết sức quan tâm chú ý Việc kinh doanh các dịch vụ văn hóa luôn đem lại hiệu quả kinh tế cao, song tại đây cũng xảy ra nhiều vấn đề như: chèn ép khách du lịch

về giá cả, buôn bán mại dâm, ma túy, các quán karaoke trá hình, chèo kéo khách làm mất mỹ quan, chất lượng phục vụ du lịch kém, vệ sinh an toàn thực phẩm… còn diễn ra tại đây Bên cạnh đó, phương tiện khoa học phát triển khiến các sản phẩm văn hóa trở nên tinh vi hơn, đã đặt ra nhiều bức xúc, nan giải đòi hỏi phải có sự hoàn thiện thêm trong công tác quản lý Bởi các loại hình dịch vụ văn hóa tác động lớn đến nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, đạo đức, lối sống của công chúng, nhất là giới trẻ hiện nay

Công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa tại phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội bằng các văn bản pháp quy là cơ sở, công

cụ pháp luật để các cơ quan quản lý thực hiện được chức năng quản lý của mình trong lĩnh vực quản lý hoạt động dịch vụ văn hóa Các văn bản quy phạm pháp luật chính là cơ sở để các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng là công cụ để các cơ quan thực hiện các biện pháp quản lý của mình nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh các dịch vụ văn hóa tại phường Cửa Nam đáp ứng được nhu cầu của người dân và còn định hướng kinh doanh các dịch vụ văn hóa đi đúng theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng Thủ đô là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học của cả nước

Từ những điểm phân tích trên, học viên mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quản

lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ hóa đã và đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý

Trang 12

quan tâm nhằm tìm ra những giải pháp tích cực Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau được công bố thể hiện qua sách chuyên khảo, luận văn, bài báo Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của GS.TS Đinh Văn

Mậu (2011), Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Giáo trình đã cung cấp những kiến thức lý luận cơ bản nhất về nhà nước và pháp luật làm cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu các vấn đề thực tiễn về nhà nước, về quản lý nhà nước về xây dựng, thực hiện pháp luật, đồng thời để nghiên cứu sâu về các khoa học pháp lý, hành chính chuyên ngành

- Giáo trình Quản lý nhà nước về văn hóa của PGS.TS Nguyễn Văn

Tiến (2009), Nhà xuất bản văn hóa Giáo trình đã cung cấp những kiến thức

cơ bản về quản lý, quản lý nhà nước về văn hóa, vai trò của công tác quản lý nhà nước về văn hóa

- Luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” của học viên Nguyễn Thị Xuân Thư, chuyên

ngành Quản lý văn hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (2013-2015) Luận văn này sau khi nghiên cứu tổng quan vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa đối với sự phát triển văn hóa - xã hội quận Hai Bà Trưng, bước đầu đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực văn hóa để trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa ở quận Hai Bà Trưng

- Luận văn “Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa tại khu du lịch Cửa

Lò, Nghệ An” của học viên Nguyễn Thị Phương Quỳnh, chuyên ngành Quản

lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2013-2015) Luận văn đã khái quát một số vấn đề lý luận trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa, đánh giá được thực trạng công tác quản lý hoạt động dịch vụ văn hóa trên địa bàn thị xã Cửa Lò và đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao

Trang 13

chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn thị xã Cửa Lò trong giai đoạn tiếp theo

Bên cạnh những ấn phẩm, tài liệu khoa học và các nghiên cứu của luận văn cao học chuyên ngành văn hóa, quản lý công, luật thì các bài báo cũng đã

Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên là hết sức có giá trị đối

với những người đã và đang nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ văn hóa Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam,

quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Vì vậy, luận văn là công trình đầu tiên thực hiện đề tài này trong phạm vi một địa phương Tuy vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá để học viên tham khảo trong việc thực hiện đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về dịch vụ văn hóa đề xuất một số giải pháp nâng cao kết quả trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ:

3.2.1 Nghiên cứu hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dịch vụ văn hóa và quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa góp phần phòng ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật về dịch vụ văn hóa

Trang 14

3.2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam, từ đó đánh giá những mặt đạt được, những hạn chế tồn tại

và nguyên nhân của những tồn tại

3.2.3 Qua phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam, từ những hạn chế tồn tại, luận văn đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa ở phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu: Phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

- Thời gian: Từ năm 2017-2019

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm chỉ

đạo của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, những chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động dịch vụ văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Hệ thống các khái niệm và luận điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu trong thực tiễn được hình thành thông qua quá trình thu thập kiến thức từ các công trình nghiên cứu, các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về dịch vụ văn hóa

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh và khảo sát

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước, quản

lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho cấp ủy Đảng và chính quyền của thành phố Hà Nội nói chung, của quận Hoàn Kiếm và các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội trong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động dịch vụ văn hóa Luận văn này cũng có thể là tài liệu tham khảo của Sở Văn hóa Thông tin thành phố Hà Nội trong việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác chỉ đạo các hoạt động về dịch vụ văn hóa của thành phố Hà Nội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn

phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hiệu quả quản lý nhà

nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 16

Thứ nhất, văn hoá là một thực thể tồn tại khách quan Với đối tượng này, văn hoá là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học Người ta

đã đúc kết được hàng trăm định nghĩa về văn hoá (Về mặt lý thuyết thì do sự gia tăng của các chuyên ngành khoa học mới, số lượng định nghĩa về văn hoá vẫn có thể được bổ sung không ngừng) Song dù phong phú đến đâu, phần lớn những định nghĩa đó vẫn xoay quanh việc mô tả, phân tích cái thực thể văn hoá trên hoặc bằng cách định tính hay định lượng, cấu trúc hay chức năng, hoặc chia cắt văn hoá theo không gian hay thời gian để mô tả

Thứ hai, văn hoá là một lĩnh vực do con người sáng tạo nên, bao gồm hệ thống những giá trị hay hệ thống những biểu tượng thuộc về thế giới tinh thần của con người

Ai cũng biết con người tồn tại được nhờ biết thích ứng và khai thác thiên

nhiên quanh mình Đó là nó sống trong thế giới vật chất Trong cuốn Hệ tư tưởng

Đức, C.Mác và F Ăng-ghen viết: " muốn sống thì trước hết cần phải có ăn, uống, ở , mặc và một vài thứ khác nữa Vậy thì hành động lịch sử đầu tiên là sự sản xuất những tư liệu thoả mãn các nhu cầu đó, sự sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [5, tr.20] Nhưng con người chỉ thực sự thành người khi trong nó xuất hiện các nhu cầu về đời sống tinh thần Tín ngưỡng và tôn giáo, dưới góc độ nhìn

Trang 17

duy vật, là nhận thức sai lầm của con người về thế giới hiện thực, nhưng chính tín ngưỡng lại là dấu hiệu cơ bản để phân biệt người và động vật Khi người vượn có

ý thức về sự chết của bản thân và đồng loại, là lúc nó trở thành người khôn ngoan hiện đại (Homo-Sapiens) Như vậy, tín ngưỡng và tôn giáo được xem là một nhu cầu tinh thần của con người Sống trong thế giới vật chất, con người không ngừng

mở rộng những kích thước mới trong thế giới tinh thần của nó

Nét nghĩa “sản xuất tinh thần” của từ văn hoá đã xuất hiện từ rất sớm

Từ Cultura (văn hoá) trong tiếng La tinh ban đầu có nghĩa là “gieo cấy, vun trồng cây cối” tức sản xuất vật chất, sau đó nó chuyển nghĩa thành ''vun trồnq trí tuệ” trong câu “Filosofia của animi est ’ nghĩa là: triết học là sự vun trồng

trí tuệ, tức sản xuất tinh thần

Tuy nhiên, cụm từ sản xuất tinh thần hiểu như sự phân tích trên đây vẫn

là sự suy diễn ít nhiều mang tính tư biện, vì chưa được luận chứng một cách chặt chẽ về nội dung nghĩa của nó

Sản xuất tinh thần hiểu theo nghĩa đích thực của hoạt động sản xuất lần đầu tiên được C Mác và F Ăng-ghen đề cập đến trong cuốn sách Hệ tư tưởng

Đức Theo hai ông, đời sống xã hội loài người chỉ thực sự thoát khỏi “tính chất động vật” dựa trên sự phát triển của “phân công lao động” Mặt khác,

“phân công lao động” chỉ thực sự hiện hữu từ khi có sự phân công giữa lao

động vật chất và lao động tinh thần [5, tr 25,26] Nếu như lao động vật chất

là sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt thì lao động tinh thần là “sự sản xuất ra những tư tưởnq, biểu tượng và ý thức” Khái niệm sản xuất trong thuật ngữ

“sản xuất tinh thần ’ ở đây được c Mác và Ăng-ghen sử dụng không phải như một ẩn dụ văn học mà theo ý nghĩa “Kinh tế học” nghiêm ngặt của nó Trong Hệ tư tưởng Đức khi hai ông nói đến “tư liệu sản xuất vật chất”, thì cũng đồng thời nói đến “tư liệu sản xuất tinh thần nói đến “Những nqười sản xuất tư tưởng đến việc “điều tiết sự sản xuất và phân phối tư tưởng”

Trang 18

Sau này, trên cơ sở khảo sát toàn bộ những luận điểm của C Mác và

Ăng-ghen về xã hội, các nhà khoa học thuộc trường phái “xã hội học chức năng” về văn hoá của Liên Xô (cũ) đã nêu ra 5 tiểu hệ thống cấu thành nên xã

c) Hệ thống sản xuất tinh thần, làm chức năng bồi dưỡng con người về mặt tri thức, tình cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của xã hội d) Hệ thống giao tiếp xã hội, làm chức năng liên kết tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội, giúp cho xã hội hoạt động được như một xã hội hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp tạo thành những nhóm xã hội nhỏ trong hệ thống

biểu tượng, ý thức, làm cho con người tồn tại như một “sinh thể tinh thần”,

tức một sinh thể có văn hoá

Đến đây, có một điểm cần phải làm rõ: Văn hoá thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, nhưng không thể đồng nhất sản xuất tinh thần với văn hoá Bởi vì, văn hoá còn là lĩnh vực của giá trị, tức sản phẩm của nó bao giờ cũng chứa đựng những giá trị nhân bản, phục vụ cho tiến bộ xã hội Trong nền sản xuất tinh thần không phải mọi sản phẩm của nó đều có giá trị Chẳng hạn: ma

Trang 19

thuật, phù thuỷ là những hiện tượng văn hoá từng có chức năng quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội nguyên thuỷ, ngày nay khi khoa học đã phát triển thì chúng trở thành những hiện tượng lỗi thời, phản giá trị, không được coi là sản phẩm văn hoá Vì vậy, ở đây tác giả đã sử dụng thuật ngữ quá trình sản xuất văn hoá (hay hệ thống sản xuất văn hoá) thay cho hệ thống sản xuất tinh thần

Tóm lại, theo hướng tiếp cận xã hội học chức năng về văn hoá, chúng ta

có thể hiểu văn hoá như là “Một hệ thống sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu dùng văn hoá phẩm trong xã hội”

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu

là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì

do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương

Trang 20

thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[20, tr.320]

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy

và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ

về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [30]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam trang 1796 thì văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai

Tóm lại, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, mỗi định nghĩa

đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu luận văn, theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ pháp luật văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh

Trang 21

và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng

Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn

1.1.2 Dịch vụ văn hóa

Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các hàng hóa vật thể hữu hình còn có những loại dịch vụ mà người ta mua và bán trên thị trường Đó là, hàng hóa phi vật thể, hay còn gọi là hàng hóa - dịch vụ

Dịch vụ văn hóa là những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa có tổ chức và được trả công, nhằm phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của công chúng Dịch vụ văn hóa tồn tại ở nhiều dạng: văn hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh, văn hóa du lịch, văn hóa giải trí, văn hóa sinh hoạt xã hội…Những nhân

tố ảnh hưởng đến dịch vụ văn hóa bao gồm: nhân tố thời đại, nhân tố truyền thống, nhân tố lịch sử

Cơ bản có chín dạng dịch vụ văn hóa như sau:

a) Hoạt động nghệ thuật biểu diễn

b) Hoạt động điện ảnh và kinh doanh băng đĩa hình

c) Hoạt động mỹ thuật

d) Hoạt động đào tạo cán bộ văn hoá nghệ thuật

e) Hoạt động bảo tồn, bảo tàng

f) Hoạt động lễ hội truyền thống

g) Hoạt động nhà văn hoá, Trung tâm VHTT

h) Hoạt động bảo hộ bản quyền tác giả

i) Hoạt động xuất bản

Trang 22

1.1.3 Đặc điểm của dịch vụ văn hóa

Thứ nhất, dịch vụ văn hóa là nguồn lực của phát triển

Chúng ta đều biết là, cho đến nay chưa có một Nghị quyết, văn bản nào

của Đảng hay Nhà nước nói: “Văn hoá dân tộc như là nguồn lực của sự phát triển kinh tế- xã hội”

Trong thời kỳ bao cấp, do tiếp cận với những thành tựu của văn hóa học Xô -

Viết, chúng ta đã sử dụng thuật ngữ “sản xuất tinh thần” Nghị quyết 05 của Bộ chính trị BCH Trung ương khoá VI viết: “Văn hoá là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người” Thừa nhận “sản xuất tinh thần” như một tiểu hệ thống trong nền sản xuất xã hội, nhưng chúng ta mới

giải thích tiểu hệ thống này có chức năng bồi dưỡng con người về các mặt tri thức, tinh cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của xã hội Nói khác

đi là, trong thời kỳ bao cấp chúng ta đã phát huy chức năng giáo dục của văn hoá dân tộc, mà chưa mấy quan tâm đến chức năng kinh tế của nó

Trong chính sách văn hoá của nước Nhật, các di sản văn hoá truyền thống được quan niệm như là những tài sản văn hoá (cultural Properties) Trong tương quan với khái niệm di sản văn hoá (cultural Heritage) thì tài sản văn hoá nhấn mạnh vào sự sở hữu tích cực của chủ thể - người quản lý tài sản văn hoá truyền thống chẳng những biết phát huy tác dụng giáo dục của tài sản ấy, mà còn phải biết làm cho nó có giá trị sử dụng - tức giá trị kinh tế trong xã hội đương đại Thế

là, ngay từ giữa thế kỷ XX, khi ban hành chính sách văn hoá, người Nhật đã ý thức được về nguồn lực vật thể và phi vật thể của những tài sản văn hoá truyền thống trong công cuộc khôi phục và phát triển đất nước của họ

Ngày nay, hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều xem các

di tích lịch sử - văn hóa, các danh thắng cảnh là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế du lịch

Trang 23

Thứ hai, dịch vụ văn hóa là nguồn lực vật thể của tài sản văn hóa dân tộc

Nguồn lực này gắn liền với các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh của đất nước Đó là một tiềm năng kinh tế lớn, mà ngành kinh doanh du lịch có thể khai thác

Kinh tế du lịch ngày nay đã chiếm một tỷ trọng đáng kể trong nền kinh

tế quốc dân Theo tuyên bố Osaka của Hội nghị bộ trưởng các nước bàn về du lịch quốc tế, họp tại Nhật Bản vào tháng 11/1994, thì du lịch quốc tế trên quy

mô lớn bắt đầu từ giữa thế kỷ XX và từ đó đến nay ngày càng phát triền mạnh Năm 1950 số lượng khách quốc tế là 150 triệu người, doanh thu từ du lịch đạt vào khoảng 2,1 tỷ USD, hơn 40 năm sau tức năm 1993 đã có khoảng

500 triệu lượt khách và thu nhập là 304 tỷ USD Trong khoảng thời gian này, nhịp độ tăng trưởng trung bình hàng năm về lượng khách là 7,2 %, về doanh thu tăng 12,2 % Dự báo năm 2018 số lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng gấp đôi, đạt vào khoảng 937 triệu lượt người

Ở Trung Quốc, các di tích như: Vạn lý trường thành, Cố Cung - Thiên

An môn ở Bắc Kinh, khu lăng mộ binh mã đời Tần ở Thiểm Tây, suối nước Tây Thi giặt lụa là Giang Tô, giếng Thịnh Dung Thanh Tuyền ở Phúc Kiến

đã góp phần đáng kể vào việc làm tăng trưởng kinh tế quốc dân nước này Tính từ năm 1991 đến tháng 3/1993 số khách vào Trung Quốc là 38,1 triệu

nqười Riêng năm 1992 có 6,3 triệu khách, tổng thu 3,95 tỷ USD”

Ở Tây Ban Nha, người ta đã xuất khẩu tại chỗ “Tắm và ánh nắng” cùng

với các lễ hội tôn giáo, dân gian và cả các cuộc thi đấu bò tót, hàng năm thu

10 tỷ USD với 50 triệu lượt khách [31]

Nước ta có nguồn vốn di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng khá dồi dào

Số liệu thống kê của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết, nước ta có vào khoảng 40.000 di tích lịch sử - văn hóa các loại, trong đó nhà nước đã công nhận là 2.727 di tích cấp quốc gia Có 5 di tích được công nhận là di sản thể giới:

Trang 24

- Quần thể di tích kiến trúc Huế;

- Di tích danh thắng vịnh Hạ Long;

- Khu di tích Hội An (Quảng Nam);

- Khu di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam);

- Khu di tích thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình);

- Và một di tích văn hóa phi vật thể là: nhã nhạc cung đình Huế

Tham gia vào nguồn lực vật thể còn phải kể đến các nhà bảo tàng, các khu lưu niệm danh nhân, các bãi tắm, nơi nghỉ mát trên núi, các khu bảo tồn thiên nhiên, các vùng sinh thái đặc biệt

Vấn đề đặt ra là phải đánh thức các tiểm năng sống dậy, biến chúng thành nguồn lực vật thể, tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thứ ba, dịch vụ văn hóa là nguồn lực phi vật thể của tài sản văn hóa dân tộc

Trên tạp chí “Người đưa tin UNESCO”, nguyên tổng giám đốc

UNESCO Federico Mayor đã dẫn lời nhà bác học Bernard Lowl - người được giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 1995 - khi nói rằng: Chỉ có những ai nhìn thấy cái vô hình, thì mới có thể thực hiện được cái không thể có

Trong bài “Thế kỷ XXI và văn minh Đông Á ” nhà nghiên cứu Nhật Bản

Ikeda Daisaku viết: Ngày nay người ta chuyển dần từ phạm trù năng lượng cứng (hard power) sang phạm trù năng lượng mềm (soft power) So với nhân

tố vật chất, nhân tố tinh thần dần dần được chú trọng sâu sắc hơn Vậy thì văn hóa khu vực Đông Á, đặc biệt là cái cấu thành huyết mạch của nó, tức là phong tục tập quán, nếp nghĩ, nếp cảm có đặc trưng gì? Đương nhiên đây tuyệt nhiên không phải là một thứ tính chất có thể bàn một cách bao trùm được, nhưng giả thử cần miêu tả nó một cách giản đơn, thi đại khái có thể nói:

khu vực này được xuyên suốt bởi một “Ethos cộng sinh” [Ethos có thể hiểu

là khí chất, đạo đức, tập tính] Một khuynh hướng tâm lý được nuôi dưỡng

Trang 25

nên trong một khí hậu, một phong thổ tương đối ổn định, tức là lấy “điều hòa” mà bỏ “đối lập”, lấy “cái tôi lớn” mà bỏ “cái tôi bé” Giữa người với

người, giữa người và tự nhiên cùng sinh tồn, nương tựa vào nhau cùng phồn

vinh Một trong những ngọn nguồn quan trọng của thứ khí chất này là “Nho giáo…”[21] Như vậy, theo Ikeda, thì “Ethos cộng sinh” là một trong những

tài sản vô hình của văn hóa Nho giáo ở vùng Đông Á

Lý luận nhận thức của triết gia người Anh gốc Hung Michael Polany

(1891 - 1976) đề xuất một khái niệm mới là “tri thức ngầm” (tacit

knowledge), chỉ lớp kinh nghiệm của con người, không được cấu âm và không chịu phản tư một cách hoàn toàn

Trong cuốn sách “Văn hóa chính trị Việt Nam - truyền thống và hiện đại”, cố GS Nguyễn Hồng Phong có giới thiệu quan điểm của Viện sĩ Alain Peyrefitte, xem “động lực phát triển của các nước xưa nay là yếu tố tinh thần” Giáo sư viết: các nhà kinh tế học cổ điển dù là tự do hay xã hội chủ

nghĩa đều xuất phát từ nguyên lý xem hai yếu tố tư bản và lao động có vai trò

quyết định trong phát triển Nhưng theo Alain Peyrefitte thì “Yếu tố thứ ba phi vật chất” mới là quan trọng nhất

Nhắc đến quan điểm của Viện sĩ Peyrefitte, cố giáo sư muốn mượn cách tiếp cận của ông để giải thích về công cuộc canh tân ở Đông Á - trước hết là Nhật Bản

Nước Nhật chuyển mình vào nửa cuối thế kỷ XIX và cất cánh ngay sau

đó 50 năm Một sự cất cánh kỳ điệu mà không thể cắt nghĩa bằng các tác nhân tài nguyên - những thứ mà vốn Nhật Bản rất nghèo Còn lao động thì Nhật Bản còn thua xa Trung Quốc [27, tr.141] Như vậy, các yếu tố tinh thần như:

ý chí tự cường, niềm tin vào dân tộc, quyết tâm đổi mới, tinh thần học tập để đuổi kịp các nước tiên tiến , tóm lại, các giá trị văn hóa tinh thẩn mới là điều kiện cho sự cất cánh của nưóc Nhật Bản vào nửa đầu thế kỷ XX

Trang 26

Ở nước ta, nguồn lực phi vật thể trong phát triển lần đầu tiên được để

cập đến trong Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX 06 “Văn hoá, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội” cũng do GS Nguyễn Hồng

Phong, nguyên Viện trưởng Viện sử học làm chủ nhiệm Chương trình này có

17 đề tài, trong đó đề tài KX 06/14 có tên gọi: “Những nhân tố phi kinh tế với

sự phát triển” do PGS Đặng Cảnh Khanh làm chủ nhiệm Sau khi kết thúc đã

in thành cuốn sách “Các nhân tố phi kinh tế- xã hội học về sự phát triển” do

nhà xuất bản Khoa học - xã hội ấn hành năm 1999 tại Hà Nội

Để giải thích khái niệm “nhân tố phi kinh tế tác giả cuốn sách trên đã

dẫn lời Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong phát biểu tại cuộc mít-tinh nhân

dịp quốc khánh nước ông ngày 21 - 8 - 1994 Ông nói: “Để tiếp tục thành công, chỉ có chính sách kinh tế đúng là không đủ Những yếu tố phi kinh tế khác cũng quan trọng - ý thức về cộng đồng và dân tộc, nhân dân cần cù, kỷ luật, những giá trị tinh thần và mối quan hệ gia đình vững chắc Cái đưa Singapore tiến lên không chỉ là chủ nqhĩa vật chất thuần tuý và việc chạy theo lợi nhuận cá nhân Điều quan trọng hơn là ý thức về lý tưởng và phụng sự được sinh ra từ tình cảm đoàn kết xã hội và bản sắc dân tộc Không có nhữnq yếu tố thiết yếu ấy, chúng ta không thể có một xã hội năng động và hạnh phúc” [18, tr 23, 24]

Ở nước ta, bất cứ địa danh nào cũng có thể trở thành địa danh lịch sử, ở

đó có thể xây dựng nên những khu tưởng niệm, những tượng đài, những lễ hội kỷ niệm danh nhân

Riêng về lễ hội, thống kê của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết, nước ta có 8.297 lễ hội Tham gia vào nguồn lực phi vật thể, còn phải kể đến các làng thủ công truyền thống, các làng văn hóa dân tộc, các trò chơi dân gian, diễn xướng dân gian, ẩm thực dân gian, v.v

Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao

Trang 27

động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người Từ đó, hoạt động dịch vụ trở thành một ngành kinh tế độc lập Dịch vụ văn hoá là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thoả mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại Thực

tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì hoạt động dịch vụ văn hoá không thể thiếu Theo

đó, dịch vụ văn hoá có các đặc điểm như sau:

- Giá trị sử dụng của sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật thể (hữu hình) mà tồn tại dưới hình thái phi vật thể

- Quá trình sản xuất ra hàng hóa dịch vụ hướng vào phục vụ trực tiếp người tiêu dùng với tư cách là những khách hàng (chữa bệnh, dạy học, cắt tóc, may đo…); quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời

- Do không mang hình thái vật thể và do quá trình sản xuất đồng thời cũng là quá trình tiêu dùng, nên hàng hóa dịch vụ không thể tồn tại độc lập không thể tích lũy hay dự trữ

Hiện nay, trong xã hội nước ta xuất hiện rất nhiều các loại hoạt động dịch vụ Chính quá trình này đã phát sinh nhiều biểu hiện cần được quan tâm:

- Rất nhiều hộ gia đình, sáng thức dậy đã nhận được giấy mẫu quảng cáo của các tổ chức kinh tế được nhét qua khe cửa hoặc quăng vào sân nhà mình Nào là quảng cáo bán gạo, bán tivi, đầu đĩa, máy giặt, máy điều hoà nhiệt độ…Thậm chí, có những ngôi nhà mới xây xong, quét vôi, sơn trắng toát, đẹp một cách mỹ miều, thế nhưng sáng mở mắt ra đã thấy trên tường nhà mình xuất hiện những dòng chữ đỏ lạnh lùng: “Nhận khoan, cắt, đập, phá bê tông” hoặc “Thuốc gia truyền, đặc trị trĩ - mạch lươn, yếu sinh lý”, kèm theo đó là

số điện thoại để liên hệ

- Nếp sống và những phong tục truyền thống ở một bộ phận dân cư ít nhiều đã có những thay đổi theo quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường

Trang 28

và sự da dạng của các loại hình dịch vụ Xã hội ngày nay, khi mà nhân tố con người được coi trọng và phát huy thì đó cũng chính là nhân tố kích thích con người lao vào công việc với sự nhiệt tình hơn, trách nhiệm hơn Chính vì thế,nếp sống văn hóa trong gia đình cũng có nhiều thay đổi Ngày nay, rất ít gia đình có những bữa cơm hội tụ đầy đủ các thành viên của gia đình mình, từ ông bà, cha mẹ, đến con cái Hầu như ai cũng chịu sự tác động của cơ chế thị trường và bị cơ chế này cuốn hút Cho nên tâm lý của một số bậc cha mẹ, mỗi sáng cứ phát tiền cho con cái ăn ngày ba bữa để khỏi phải bận rộn chuyện bếp núc Còn bên ngoài xã hội đã xuất hiện rất nhiều các loại dịch vụ phục vụ cho

bữa ăn: cơm trưa văn phòng, cơm phần, cơm hộp

1.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

1.2.1 Quản lý nhà nước

QLNN là một nội dung trong quản lý XH, là quản lý XH mang quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động của các cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước nhằm bảo đảm chấp hành pháp luật

và các nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội, nói cách khác, QLNN là hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước

Từ khi xuất hiện nhà nước thì phần quản lý XH quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm, tức là nhà nước đứng ra quản lý những quan hệ XH cơ bản nhất, bao trùm nhất của đời sống XH, đó chính là QLNN Cùng với chủ thể quản

lý đặc biệt là nhà nước, tham gia vào quản lý XH còn có một số chủ thể khác như các tổ chức XH, tổ chức tôn giáo , tuy nhiên, đối tượng và phạm vi điều chỉnh nhỏ hẹp hơn nhiều Vì thế có thể coi quản lý XH là một khái niệm bao hàm QLNN và quản lý phần công việc còn lại của XH

Trang 29

QLNN là quản lý XH do nhà nước thực hiện bằng bộ máy nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển KT-XH của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch

sử QLNN xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp và

tư pháp Thông qua ba hoạt động đặc thù này mà QLNN có những điểm khác biệt so với quản lý XH khác, cụ thể:

- QLNN chỉ xuất hiện khi nhà nước xuất hiện Khi nhà nước xuất hiện thì phần quan trọng các công việc của XH do nhà nước quản lý

- Pháp luật là phương tiện chủ yếu để QLNN Bằng pháp luật, nhà nước

có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động QLNN

- Chủ thể QLNN bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động QLNN hay nói cách khác, thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp

- Khách thể của QLNN là trật tự quản lý nhà nước, trật tự này do pháp luật quy định

Từ những nội dung nêu trên, có thể hiểu QLNN là sự tác động có mục đích, của các tổ chức, cá nhân mang quyền lực nhà nước lên đối tượng quản

lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước

1.2.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

Quản lý nhà nước là một công việc quan trọng trong quá trình vận động của nhà nước của mỗi một quốc gia nói riêng Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về hoạt động quản lý về dịch vụ văn hóa, có thể hiểu sơ lược là

sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào các yếu tố có liên quan về dịch vụ văn hóa bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế- xã hội có nhất trong điều kiện cụ thể do chủ thể là các cơ quan nhà nước tiến hành

Trang 30

Dịch vụ văn hóa là một trong những lĩnh vực được xem là những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia Vấn đề này có sự tác động không nhỏ đối với cộng đồng Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội, thì hoạt động QLNN về vấn đề này luôn được chú trọng, sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn QLNN về dịch vụ văn hóa cũng có thể hiểu là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong hoạt động này nhằm đảm bảo cho hoạt động dịch vụ văn hóa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức

năng, nhiệm vụ của nó

Hoạt động này là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật, tổ chức thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động dịch vụ văn hóa

1.2.3 Chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

1.2.3.1 Các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa

* Chính Phủ

* Cấp bộ: Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch

Trong đó, các cơ quan trực thuộc Bộ tham gia trực tiếp quản lý nhà nước

Trang 31

- Cục Văn hóa thông tin cơ sở;

* Cấp tỉnh : UBND cấp Tỉnh, Sở Văn hóa - thể thao và du lịch

Trong đó, các đơn vị tham gia trực tiếp quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa gồm:

- Thanh tra;

- Phòng Tổ chức pháp chế;

- Phòng Quản lý nghệ thuật;

- Phòng Quản lý văn hóa;

* Cấp quận, huyện: UBND cấp Quận, huyện

Phòng Văn hóa Thông tin Thể thao Trong đó, Phòng Văn hóa Thông tin Thể thao là cơ quan tham mưu cho UBND quận, huyện, thị về quản lý hành chính nhà nước về Văn hóa - Thể thao – Du lịch trên địa bàn gồm các đơn vị:

- Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

- Văn nghệ tuyên truyền, Thông tin lưu động

- Thư viện

- Truyền thanh, truyền hình

- Thể thao

* Cấp xã, phường: 01 biên chế công chức văn hóa cấp xã, phường

1.2.3.2 Các tổ chức, cá nhân tham gia dịch vụ văn hóa

Là các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động dịch vụ như sản xuất, kinh doanh phim nhựa, băng đĩa ca nhạc, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, triển lãm văn hóa nghệ thuật, tổ chức lễ hội, hoạt động vũ trường, karaoke, quảng cáo…

Chủ thể này tham gia dịch vụ văn hóa với mục đích tìm kiếm lợi ích về kinh tế Họ có thể là các hộ kinh doanh cá thể, hoặc hoạt động theo mô hình

doanh nghiệp, tùy vào điều kiện và quy mô mà họ muốn hướng đến

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

Dịch vụ văn hóa là một lĩnh vực phức tạp, đa chiều, nhà nước phải có

được một hình thức quản lý hiệu lực và hiệu quả nhất Quản lý theo hình thức

Trang 32

pháp luật là một trong những hình thức cơ bản nhất trong quản lý dịch vụ văn hóa trên phương diện lý luận và thực tiễn

Về cơ bản, QLNN về dịch vụ văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức,

có chủ đích của nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước nhằm phát triển dịch vụ văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong dịch vụ văn hóa và liên quan

Nội dung của quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa bao gồm:

1.2.4.1 Quy hoạch dịch vụ văn hóa

Công tác quy hoạch dịch vụ văn hóa trên phạm vi cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng địa bàn là yêu cầu cần thiết, thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với loại hình này

Quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, địa phương và cơ sở, trong đó chú trọng đến các yêu cầu giữ gìn và phát huy các bản sắc văn hóa truyền thống, nhu cầu phát triển du lịch, nhu cầu

và điều kiện sinh hoạt văn hóa của nhân dân ở từng khu vực khác nhau, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn dân cư

Quy hoạch dịch vụ văn hóa phải đi đôi với việc tăng cường quản lý nhà nước, đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra dịch vụ văn hóa để đảm bảo cho văn hóa phát triển đúng định hướng của Đảng và chính sách của Nhà nước

Trên thực tế cho thấy bên cạnh những mặt tích cực, dịch vụ văn hóa về karaoke, vũ trường, trò chơi điện tử, băng, đĩa - hình, internet, Quảng cáo… trong thời gian qua có phát sinh những tiêu cực, nhất là đối với hoạt động karaoke và vũ trường, quảng cáo tấm lớn Tuy nhiên, Chính phủ xác định karaoke và vũ trường là những hoạt động không khuyến khích kinh doanh Do vậy, cần tăng cường công tác quản lý chặt chẽ hơn so với các loại hình khác

1.2.4.2 Chính sách, pháp luật đối với dịch vụ văn hóa

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội nói chung và trên lĩnh vực văn hóa nói riêng, chủ yếu bằng pháp

Trang 33

luật và theo pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng đồng xã hội, do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm bảo toàn và phát triển xã hội theo các đặc trưng đã định

Ở nước ta, toàn bộ hệ thống các cơ quan Nhà nước đều có chức năng quản lý Nhà nước Hệ thống văn bản pháp luật trong quản lý Nhà nước ở lĩnh vực dịch vụ văn hóa, không chỉ là những văn bản pháp luật do các cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa ban hành, mà còn bao gồm những văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực và các cơ quan Nhà nước khác ban hành Chính sách ở lĩnh vực dịch vụ văn hóa là một trong các công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng để quản lý, nó có chức năng chung là tạo ra những kích thích cần thiết để biến đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội

Các quyết định quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực dịch vụ văn hóa chủ yếu được thể hiện dưới hình thức văn bản Trong hoạt động quản lý, văn bản vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện Vì vậy, không một cơ quan Nhà nước nào không dùng đến văn bản Các văn bản quản lý Nhà nước với các chức năng thông tin, chức năng pháp lý, chức năng quản lý, chức năng thống kê, nhằm đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý và là phương tiện truyền đạt các quyết định quản lý đến các đối tượng quản lý Mặt khác nội dung của văn bản còn là cơ sở để tiến hành công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của tổ chức và cá nhân

1.2.4.3 Xây dựng bộ máy tổ chức quản lý dịch vụ văn hóa

Việc tổ chức dịch vụ văn hóa không có nghĩa là khoán trắng cho toàn xã hội, Nhà nước vẫn phải giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho dịch vụ văn hóa phát triển Dịch vụ văn hóa phát triển càng mạnh, thì cần phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước Ở một số quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan), người ta

Trang 34

đặt các hoạt động văn hóa theo khuôn khổ pháp lý, quy định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu các tài sản văn hóa trong việc giữ gìn bảo quản và phổ biến trong toàn xã hội cũng như việc phối hợp với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ để làm công tác này

Với việc mở rộng các thành phần trong xã hội trực tiếp tham gia sáng tạo, cung cấp, phổ biến văn hóa, thì nhân dân là lực lượng đông đảo nhất, ngoài ra, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cá nhân có nhiệt tình đầu tư góp sức, góp công vào xây dựng và tổ chức các hoạt động dịch vụ văn hóa Chính sự đa dạng này đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp trong xã hội cùng tham gia và vì vậy cũng tạo nên sự đa dạng của các loại hình dịch vụ văn hóa, các thiết chế, các phương tiện và nội dung hoạt động

Với yêu cầu đó, cần có sự góp sức chung của cả hệ thống chính trị để tham gia tổ chức và quản lý hoạt động dịch vụ văn hóa: cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp, cơ quan chủ quản ngành văn hóa các cấp, các chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cơ quan, đơn vị sản xuất, lực lượng vũ trang cùng toàn thể nhân dân Trong đó, nội dung rất quan trọng là phải tổ chức cơ cấu bộ máy hợp lý của ngành văn hóa để đáp ứng yêu cầu và tính đặc thù của lĩnh vực này, kể cả phải tính đến yêu cầu về công tác cán bộ, nhân viên chuyên trách văn hóa ở cơ sở xã, phường, thị trấn,

tổ chức lực lượng cộng tác viên, tự quản, tự nguyện tham gia quản lý dịch vụ văn hóa

1.2.4.4 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và trang bị phương tiện phục vụ cho công tác quản lý dịch vụ văn hóa

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phải thay đổi các cách thức quản lý để có tác động thúc đẩy dịch vụ văn hóa phát triển năng động hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu đòi hỏi của xã hội

Vấn đề quan trọng là nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa

Trang 35

Trước đây, khi còn trong thời kỳ bao cấp, người cán bộ làm công tác văn hóa thường giữ vai trò quyết định các hoạt động văn hóa ở cơ sở có hiệu quả hay không hiệu quả Do được bao cấp gần như nhau, có nơi phong trào phát triển khá, có nơi phong trào chững lại, thậm chí yếu kém Trong nền kinh tế thị trường, cùng với việc đổi mới, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách về văn hóa cho phù hợp, đồng thời lại đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ văn hóa giỏi, năng động, luôn bám sát thực tiễn cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra vì sự nghiệp phát triển văn hóa

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và trang bị phương tiện phục

vụ cho công tác quản lý dịch vụ văn hóa là yêu cầu cần thiết Muốn việc thành công hay thất bại, trước hết đều xuất phát từ năng lực nhận thức và hành động của người cán bộ quản lý Nếu tốt, sẽ làm cho sự vật phát triển, và ngược lại

sẽ ngăn cản, thậm chí làm thụt lùi sự vận động của toàn xã hội ở lĩnh vực văn hóa Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cần phải làm thường xuyên và liên tục, bởi vì xã hội luôn vận động và phát triển, hoạt động dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn, cũng không kém phần tinh vi hơn để lẩn tránh những quy định của pháp luật Phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác này cũng phải được quan tâm, trang bị đầy đủ và đồng bộ cho ngành, cho cơ sở để có thể thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đúng theo pháp luật hiện hành

1.2.4.5 Tổ chức kiểm tra, giám sát dịch vụ văn hóa

Công tác kiểm tra, giám sát các loại hình hoạt động dịch vụ văn hóa trong đặc điểm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta là yêu cầu quan trọng, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm đảm bảo thể hiện vai trò quản lý Nhà nước, đưa dịch vụ văn hóa theo đúng quy định, định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Trang 36

Thực hiện yêu cầu này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 103/2009/NĐ/CP ngày 6/11/2009 ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của chính phủ về việc biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp, người mẫu, lưu hành kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc sân khấu, nghị định số 142/2018/NĐ-CP ngày 09/10/2018 của chính phủ sửa đổi 1 số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch; Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thể thao Du lịch và Quảng cáo; NĐ số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 quy định về hoạt động kinh doanh dịch vụ vũ trường; Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực hạ tầng kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ sở này, Phòng VHTT quận Hoàn Kiếm sẽ xây dựng kế hoạch hoạt động của đội kiểm tra liên ngành văn hóa trên địa bàn quận theo từng năm và trình lãnh đạo UBND quận phê duyệt và ban hành quyết định thành lập đội kiểm tra liên ngành trong đó Phòng VHTT là cơ quan thường trực, tham gia đội kiểm tra liên ngành có đội Quản lý thị trường, Công an Quận, Phòng Lao động Thương binh và xã hội, Phòng Kinh tế; Phòng Tài chính Kế hoạch; Phòng Y tế; Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận Hoàn Kiếm

UBND các phường trên địa bàn Quận Hoàn Kiếm căn cứ kế hoạch của quận, xây dựng kế hoạch kiểm tra và ban hành quyết định thành lập tổ kiểm tra liên ngành của phường và phối hợp với đội kiểm tra liên ngành của quận theo quy định

Ngoài ra, các đội thanh tra, kiểm tra chuyên ngành do Công an quản lý như: Đội An ninh văn hóa, Đội Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Đội Quản lý hành chính, Đội Cảnh sát hình sự, đội cảnh sát Ma túy … cũng có chức năng kiểm tra về lĩnh vực dịch vụ văn hóa

Trang 37

Đối với cấp thành phố, cũng hình thành lực lượng thanh tra, kiểm tra liên ngành và chuyên ngành như: Thanh tra ngành văn hóa thông tin, Công an, Đội Quản lý trật tự xã hội, Phòng chống tệ nạn xã hội và mại dâm ma túy, hình sự, LĐTB&XH … do Công an thành phố quản lý, có nhiệm vụ hướng dẫn nghiệp

vụ, phối hợp và hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra cho các cơ sở khi có yêu cầu

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa

Dịch vụ văn hóa diễn ra một cách phổ biến trong đời sống hàng ngày và đối với hầu hết mọi người trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nên

yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa rất đa

dạng và phức tạp, có thể nhìn nhận chúng dưới góc độ tác động bên trong và tác động bên ngoài như dưới đây:

1.3.1 Yếu tố bên trong

Hai là, hệ thống văn bản do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành theo thẩm quyền (dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật hành chính, văn bản

cá biệt) để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Môi trường thể chế là điều kiện tiên quyết để duy trì và bảo đảm sự vận hành của cả hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Các quy định này thể hiện trong bốn loại quan hệ: giữa cơ quan hành chính với cơ quan nhà nước nói chung; giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau; giữa cơ quan hành

Trang 38

chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp; giữa cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị Các cơ quan hành chính nhà nước chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong môi trường thể chế thuận lợi, gồm hệ thống văn bản chứa đựng các quy định được ban hành đúng thẩm quyền, kịp thời, phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội và bảo đảm sự bao quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý từ trung ương đến địa phương

* Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một yếu tố thay đổi sẽ kéo theo các nhân

tố khác thay đổi Đó là các yếu tố như cơ cấu, tổ chức, chức năng của các cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức, chế độ công vụ… Vấn đề chủ yếu ở đây là sự phân công trong nội bộ hệ thống tổ chức, việc xác định nhiệm

vụ cho các cơ quan khác nhau để tạo được sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của hệ thống các cơ quan hành chính và cả bộ máy nhà nước nói chung Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tránh được sự chồng chéo, vướng mắc, dễ dàng phối hợp, điều chỉnh công việc trong thực hiện nhiệm vụ, tiết kiệm thời gian; ngược lại nếu cơ cấu bất hợp lý

sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động Bộ máy hành chính là một chỉnh thể và mỗi

cơ quan hành chính là một bộ phận, cả bộ máy chỉ hoạt động tốt khi mỗi bộ phận vừa thực hiện tốt nhiệm vụ của mình vừa phối hợp tốt với các bộ phận khác để hoàn thành được mục tiêu chung

* Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Chất lượng nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Một nền hành chính chuyên nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tương ứng mang tính

Trang 39

chuyên nghiệp Trình độ, năng lực chuyên môn phụ thuộc trước hết vào chất lượng và chuyên môn đào tạo Do vậy, theo quy định chung, việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm là giải pháp quan trọng hàng đầu không thể thay thế, đồng thời, nắm vững kỹ năng hành chính gắn với chuyên môn đào tạo và kinh nghiệm làm việc Xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các kỹ năng cần thiết trong hoạt động công vụ được cụ thể hóa thành quy trình, quy phạm đòi hỏi phải được thực hiện một cách thống nhất Ngoài việc tinh thông nghiệp vụ, nắm vững trình tự, thủ tục giải quyết công việc, tính chuyên nghiệp của công chức, viên chức còn thể hiện thông qua nhiều khía cạnh khác, kể cả sử dụng các công cụ hỗ trợ (như ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin…) cũng như khả năng thích nghi, giao tiếp, hợp tác thông qua phối hợp nhóm hoặc giải quyết mâu thuẫn,…Có ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương và đề cao văn hóa công vụ, nhất là văn hóa giao tiếp, ứng xử Cũng như đối với các hình thức lao động quyền lực khác, ý thức tôn trọng và chấp hành kỷ luật, kỷ cương, việc gương mẫu thực hiện văn hóa công vụ là đòi hỏi khách quan, bắt nguồn từ tính chất của hoạt động quản lý, không chỉ là biểu hiện của đạo đức công vụ mà còn là thước đo tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức

* Tài chính và cơ sở vật chất, kỹ thuật

Những bảo đảm về mặt tài chính và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý nhà nước phụ thuộc một phần vào nhu cầu quản lý, nhưng chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn Việc đầu tư về tài chính, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy và hoạt động của chế độ công vụ, công chức vừa là điều kiện, vừa là một trong những tiêu chí chủ yếu đánh giá hiệu quả của nền hành chính Mặc dù mức chi tiêu cụ thể cho bộ máy hành chính luôn

Trang 40

là vấn đề gây tranh cãi và khó thống nhất quan điểm, nhưng thước đo chủ yếu vẫn là hiệu quả hoạt động của nền hành chính, mức chi tiêu phải phù hợp với trình độ phát triển, nhu cầu quản lý và coi đó là nguồn đầu tư cho phát triển

1.3.2 Yếu tố bên ngoài

* Sự tham gia và ủng hộ của người dân

Sự tham gia và ủng hộ của người dân đối với quản lý nhà nước không chỉ góp phần đảm bảo việc phát huy dân chủ của nhà nước ta, đảm bảo quyền của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước, khẳng định bản chất của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân, mà còn là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước Thực tiễn cho thấy, sự tham gia, ủng hộ của người dân đối với cơ quan nhà nước càng lớn thì hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước càng dễ dàng đạt được mục tiêu và chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới thực sự thành công

Nhân dân tham gia quản lý nhà nước là nguyên tắc hiến định được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật phòng, chống tham nhũng,… đã quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước (như việc các đại biểu dân cử, các cơ quan nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết những đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội…)

Nhân dân tham gia quản lý nhà nước đảm bảo tính khách quan trong công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng, giúp

Ngày đăng: 31/10/2020, 15:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w