Là một cán bộ ngành văn hóa tương lai và cũng là một người con được sinh ra và lớn lên tại làng Kim Mã, quận Ba Đình, nhận thực và hiều rõ vai trò, tầm quan trọng của quản lý nhà nước về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THU HOÀI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THU HOÀI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐINH THỊ MINH TUYẾT
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết
Tất cả hệ thống lý luận, các số liệu và những kết quả trong luận văn này
là trung thực, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Luận văn không sao chép, trùng lặp với bất kỳ luận văn nào
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thu Hoài
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, em đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy, cô và bạn bè Với lòng kính trọng em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới:
Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo Sau Đại Học, Học viện hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết, Khoa Quản lý nhà nước về xã hội, Học viện hành chính Quốc gia đã dành nhiều thời gian để chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Lời cảm ơn chân thành xin được gửi tới các anh, chị đang công tác tại Uỷ ban nhân dân quận Ba Đình đã cung cấp tư liệu giúp em hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất nghiêm túc và tâm huyết thực hiện luận văn, xong vẫn không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2020
TÁC GIẢ
Lê Thu Hoài
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 8
1.1 Khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Di sản văn hóa 8
1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa 9
1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 12
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 14
1.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế về di tích lịch sử văn hóa 14 1.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách về di tích lịch sử văn hóa 17 1.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa 17
1.2.4 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính, vật chất để bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 19
1.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hoá 21
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 22 1.3.1 Quan điểm, đường lối của Đảng 22
1.3.2 Thực trạng hệ thống di tích lịch sử văn hóa 23
1.3.3 Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý di tích lịch sử văn hóa 24
1.3.4 Trình độ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước 25
1.3.5 Hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa giữa các nước 26
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho quận Ba Đình 27
Trang 61.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ở một số
địa phương 27
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho quận Ba Đình 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Khái quát về điều kiện phát triển của quận Ba Đình 32
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
2.1.2 Điều kiện kinh tế 33
2.1.3 Điều kiện xã hội 35
2.2 Khái quát về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 35
2.2.1 Số lượng di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 35
2.2.2 Thực trạng kỹ thuật các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 38
2.2.3 Một số di tích tiêu biểu thuộc thẩm quyền quản lý của quận Ba Đình 40 2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 44
2.3.1 Tổ chức thực hiện thể chế về di tích lịch sử văn hóa 44
2.3.2 Tổ chức thực hiện chính sách về di tích lịch sử văn hóa 46
2.3.3 Tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa 51
2.3.4 Phân bổ và huy động nguồn lực tài chính, vật chất để bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 56
2.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 59
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 61
2.4.1 Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 61
2.4.2 Những hạn chế trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 63
Trang 72.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 64
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68
3.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 68
3.1.1 Quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa và di tích lịch sử văn hóa 68 3.1.2 Định hướng của thành phố Hà Nội về hoạt động di tích lịch sử văn hóa 70
3.1.3 Mục tiêu của quận Ba Đình về hoạt động di tích lịch sử văn hóa 71 3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 73
3.2.1 Chú trọng hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về di tích lịch sử văn hóa cho người dân trên địa bàn quận 73
3.2.2 Cụ thể hóa các chính sách về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 75
3.2.3 Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 84
3.2.4 Đẩy mạnh huy động nguồn lực từ xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 86
3.2.5 Thanh tra, kiểm tra thường xuyên, xử lý nghiêm các sai phạm trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 87
3.3 Khuyến nghị với các cơ quan quản lý các cấp 91
3.3.1 Khuyến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 91
3.3.2 Khuyến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 92
KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
7 VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
8 VH,TT&TT Văn hóa, Thông tin và Thể thao
9 VH, TT, TT&DL Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình 36 Bảng 2.2: Số lượng các loại hình di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn 37 quận Ba Đình 37
Bảng 2.3: Số lượng các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình được xếp
hạng cấp Quốc gia, cấp Thành phố trực thuộc trung ương 38
Bảng 2.4: Danh mục các DTLSVH chuẩn bị được đầu tư, tu bổ, tôn tạo giai đoạn
2017-2020 và các năm sau 47 Bảng 2.5: Các DTLSVH được trùng tu, tôn tạo với sự đóng góp 58 của nguồn vốn xã hội hóa 58
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hóa là nguồn tài nguyên quý báu, góp phần làm nên thương hiệu, hình ảnh của mỗi quốc gia Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, qua nhiều thời kỳ lịch sử cùng với đó là lớp lớp di sản của các nền văn hóa được hình thành và phát triển
Di sản văn hóa được cấu thành bởi di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, trong đó, di tích lịch sử văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng nhất Di tích lịch sử văn hóa là những dấu vết, dấu tích còn lại của quá khứ, phản ánh những biến cố, những sự kiện lịch sử văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử Không những thế, di tích lịch sử văn hóa còn là chứng tích, là tư liệu sống để các thế hệ mai sau tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử đã đi qua, từ đó giáo dục thế hệ trẻ truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc
Để tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng một cách bền vững, cần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại các địa phương thông qua các nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác này cũng như giá trị hệ thống di tích lịch sử văn hóa một cách toàn diện Trên cơ sở đó, chủ động điều chỉnh, hoàn thiện bộ máy quản lý, định hướng và xây dựng các kế hoạch, giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Ba Đình- một vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, giữ vị trí trọng yếu của thành Thăng Long, nay là một trong 4 quận trung tâm của thủ đô Hà Nội Quận Ba Đình tự hào khi có những di tích đã trở thành biểu tượng của Thăng Long- Hà Nội, như: chùa Một Cột, Cột Cờ Hà Nội và nhiều di tích khác -
Trang 11Là một cán bộ ngành văn hóa tương lai và cũng là một người con được sinh ra và lớn lên tại làng Kim Mã, quận Ba Đình, nhận thực và hiều rõ vai trò, tầm quan trọng của quản lý nhà nước về di sản văn hóa, em đã chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan tới chủ đề di sản, di tích lịch sử văn hóa, quản lý nhà nước về
di tích lịch sử văn hóa đã có nhiều nghiên cứu, cụ thể như sau:
Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả nêu lý luận về di sản văn hóa, vai trò và chức năng của di sản văn hóa Tác giả đã phân tích cụ thể
Trang 123
chính sách về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tốc qua các thời kỳ Đại hội của Đảng; đánh giá thực trạng di sản văn hóa; đưa ra những giải pháp cụ thể về giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
Nguyễn Doãn Tuân, chủ biên (2000), Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Cuốn sách đã đề cập tới một số vấn đề liên quan như: Công tác quản lý di tích ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian qua (Ngô Thị Hồng Hạnh); Công tác nghiên cứu khoa học bước đầu của việc quản lý nhà nước đối với di tích (Nguyễn Quốc Hùng); Quản lý nhà nước về
di tích lịch sử- văn hóa và danh thắng trên địa bàn Hà Nội (Nguyễn Quốc Hùng và Nguyễn Thế Hùng)
UBND quận Ba Đình (2009), Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Ba Đình, Nxb Khoa học xã hội Cuốn sách tổng hợp những bài viết của nhiều tác giả giới thiệu về 60 di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến tiêu biểu của quận Ba Đình, như Đền Quán Thánh, Chùa Một Cột, Hoàng thành Thăng Long…
UBND quận Ba Đình (2010), Thập Tam trại, một vùng văn hóa Thăng Long- Hà Nội Cuốn sách giới thiệu về lịch sử hình thành, phát triển của đời sống kinh tế - văn hóa cư dân Thập Tam trại – tên gọi dân gian để chỉ vùng đất phía Tây kinh thanh Thăng Long xưa, nay thuộc địa bàn quận Ba Đình Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội Di sản Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia là nhà nghiên cứu về công tác di sản văn hóa Một số nghiên cứu của ông được công bố trên Tạp chí Di sản Văn hóa như: “Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa” (Tạp chí Di sản Văn hóa, số 3 (40), năm 2012), “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa” (Tạp chí Di sản Văn hóa,
số 3 (36), năm 2011)
Trang 13Hầu hết các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều đề cập đến vấn
đề di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng; thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa ở nhiều góc độ khác nhau; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Những công trình nghiên cứu trên đã có những gợi mở quan trọng để tôi tiếp thu trong luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước
về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa kiến thức về di tích lịch sử văn hóa, quản lý nhà nước về
di tích lịch sử văn hóa;
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về
di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 145
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: từ năm 2016 đến nay
Về không gian: quản lý nhà nước về di tích lịch sử trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Về nội dung: quản lý nhà nước về di tích lịch sử theo quy định của pháp luật về cơ bản gồm có 8 nội dung, nhưng trong phạm vi luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế về di tích lịch sử văn hóa;
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách về di tích lịch sử văn hóa;
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa;
- Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính, vật chất để bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa nói riêng và văn hóa nói chung
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa Duy vật biện chứng; chủ nghĩa Duy vật lịch sử; các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lenin và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hóa dân tộc
Trang 156
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Khảo sát cụ thể tại các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận; đánh giá và phân tích thực trạng hệ thống di tích lịch sử văn hóa quận Ba Đình
Khảo sát tư liệu: tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước, qua đó bổ sung các luận cứ khoa học khi nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Trên cơ
sở đó, giải quyết những hạn chế về lý luận và thực tiễn trong hoạt động quản
lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình
Phương pháp so sánh: so sánh các mô hình quản lý tại các địa phương
để tìm ra các điểm mạnh, những hạn chế để khắc phục trong việc xây dựng
tổ chức bộ máy một các hợp lý và có hiệu quả
Phương pháp xử lý thông tin: thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu dưới dạng văn bản, sách, tạp chí liên quan đến di tích lịch sử văn hóa
6 Đóng góp của luận văn
Sau khi hoàn thành, luận văn có những đóng góp về các mặt sau
6.1 Về lý luận
Góp phần làm rõ cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa, vận dụng vào hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình và một số quận có điều kiện kinh tế- xã hội tương đồng
6.1 Về thực tiễn
Tái hiện thực trạng hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
Trang 167
Phân tích phương hướng đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, học tập, tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý di tích ở cơ sở
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sư văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 17Di sản văn hóa phi vật thể là là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, đươc lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác; bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức nghề y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Tuy nhiên, sự phân định này chỉ mang tính tương đối bởi trong thực tế, yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản
Trang 189
1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa
Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Theo từ điển Tiếng Việt, “di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa” [33, tr.254] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Hùng- người đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về di sản, di tích và việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa, cho rằng “Di tích là bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Di tích lịch sử là những di tích liên quan tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc” [10, tr.27]
Theo Điều 1, Hiến chương Venice năm 1964 quy định “Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một
sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [12, tr.12]
Theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Di sản Văn hóa năm 2009: “Di tích lịch sử văn hóa là công
trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công
trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [17, tr.34]
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Di tích lịch sử văn hóa là nơi lưu giữ một giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về lịch sử dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu ấn chiến công chống xâm lược, chống áp bức, những nơi có giá trị về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị Mỗi một di tích lịch sử văn hóa đều mang một giá trị văn hóa,
Trang 1910
lịch sử nhất đinh, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành, phát triển qua mỗi thời đại
Phân loại di tích lịch sử văn hóa
Theo Điều 28, Luật Di sản Văn hóa năm 2009 quy định, di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn kết với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [18, tr.5]
Như vậy, di tích được phân loại như sau:
Thứ nhất, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích, di tích lịch sử văn
hóa được chia thành 3 loại: Di tích quốc gia đặc biệt, Di tích quốc gia, Di tích cấp tỉnh
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt
Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh
Trang 2011
Thứ hai, dựa vào hình thức quản lý, di tích lịch sử văn hóa được chia
thành 3 loại: Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý; Di tích do cộng đồng dân
cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý; Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý, cụ thể như sau:
Di tích do Nhà nước quản lý là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các BQL di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý, Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa trực tiếp cho BQL di tích
Di tích do cộng đồng dân cư (dười hình thức tập thể) trực tiếp quản lý là các di tích quốc gia, di tích địa phương cấp tỉnh được giao cho tổ chức trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ
Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: nhà thờ dòng họ, nhà
ở dân cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ
Thứ ba, theo điều kiện khai thác, di tích lịch sử văn hóa gồm có: Di tích
có khả năng khai thác; Di tích chưa có khả năng khai thác
Di tích có khả năng khai thác là các di tích hấp dẫn khách tham quan, có giá trị khoa học có khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước do nguồn thu từ di tích, đáp ứng cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích như di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích gắn tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, những di tích có giá trị toàn cầu, di tích nằm trong khu vực có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, thuộc các tuyến đường tham quan
Trang 2112
1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Quản lý nhà nước là thuật ngữ chỉ “hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước tiến hành với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong
xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước” [11, tr.9]
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì: hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống của con người; hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” tích cực hoặc tiêu cực cho xã hội; hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa; chính vì vậy việc quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa cũng cần tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về di sản được đề cập trong Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm
2001 và Luật sửa đổi, bổ sung luật Di sản Văn hóa năm 2009
Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là sự chấp hành, điều hành của Nhà nước bằng các phương thức, công cụ quản lý như: pháp luật, chính sách, cơ chế quy hoạch, kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh những hoạt động của xã hội về lĩnh vực di sản văn hóa, di tích đi theo đúng hướng, đúng mục đích, theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước
Trang 2213
Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa, làm cho các giá trị của các di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DTLSVH cần được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả nhứng di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm và văn hóa của nhân dân
Chủ thể quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa Chính phủ là
cơ quan ban hành các chủ trương, các chính sách và văn bản chỉ đạo nói chung Các chính sách này của Chính phủ sẽ là cơ sở để các cơ quan chuyên môn quản lý về di tích lịch sử văn hóa cấp dưới cụ thể hóa thành các văn bản
cụ thể hơn
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch là cơ quan tham mưu cho Chính phủ ban hành các chính sách quản lý về di tích lịch sử văn hóa, trình Chính phủ phê duyệt các chủ trương, chính sách lớn đối với di tích lịch sử văn hóa Đồng thời, Bộ là cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, trong đó có di sản văn hóa,
di tích lịch sử văn hóa
UBND cấp tỉnh là cơ quan quản lý hành chính tại địa phương, chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh UBND cấp tỉnh ban hành các chính sách quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh trên cơ sở chính sách chung của cơ quan quản lý cấp trên là Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đồng thời
Trang 2314
phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa theo phân cấp quản lý
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý văn hóa nói chung, di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa nói riêng; các chính sách quản lý nhà nước về DTLSVH trên địa bàn tỉnh; là cơ quan thực hiện sự quản lý ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
UBND cấp huyện là cơ quan quản lý hành chính trên địa bàn huyện, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện
Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu cho UBND cấp huyện ban hành chính sách cũng như văn bản chỉ đạo, điều hành về quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn
UBND cấp xã là cơ quan hành chính ở cơ sở, thực hiện chức năng quản
lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn theo phân cấp; giúp việc cho UBND cấp
xã thực hiện chức năng này là cán bộ văn hóa xã
Như vậy, quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa nói riêng và di sản văn hóa nói chung có sự phân công chức năng, nhiệm vụ cụ thể, giúp cho hoạt động quản lý đồng nhất, tránh chồng chéo đồng thời đạt mục tiêu đề ra trong hoạt động về di tích lịch sử văn hóa
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế về di tích lịch sử văn hóa
Quản lý nhà nước về văn hóa trước hết phải gắn với việc xây dựng hệ thống thể chế Thể chế văn hóa là tổng hợp các phương pháp và cách thức
Trang 2415
thực hiện việc quản lý nhà nước; bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý văn hóa ban hành nhằm điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động; chế độ công vụ, tài chính, nhân
sự liên quan đến hệ thống văn hóa, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa của bộ máy hành chính nhà nước
Đảng và nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán về văn hóa đó
là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tôn trọng sự đa dạng văn hóa của các dân tộc cùng với chủ trương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cổ truyền của các dân tộc Một trong những công cụ để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa đó là hệ thống pháp luật
Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Những nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật
Quyết định số 36/2005/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/02/2005 về việc lấy ngày 23/11 hàng năm là “ngày Di sản văn hóa Việt Nam” Đây là một trong những hành động thiết thực khẳng định giá trị của di sản văn hóa, giúp cho người dân quan tâm và tôn vinh giá trị của di sản văn hóa, bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 06/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa Đây là văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn và cụ thể hóa những quy định trong Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi,
Trang 25Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch
sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy đinh về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Thông tư quy định về điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, báo cáo kinh tế- kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; nội dung hồ sơ thiết
kế tu bổ di tích, thẩm quyền thẩm định hồ sơ thiết kế tu bổ di tích; thi công tu
bổ di tích
Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế- kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Thông tư này hướng dẫn việc xác định chi phí lập quy hoạch,
dự án, báo cáo kinh tế- kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh sử dụng 30% vốn Nhà nước trở lên
Trang 2617
1.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách về di tích lịch sử văn hóa
Chính sách của Nhà nước được ban hành nhằm điều chỉnh nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau, trong đó văn hóa xã hội luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Hiện nay, Nhà nước rất quan tâm đến hoạt động bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa tại Việt Nam Để thực hiện điều này, Việt Nam đã có những chính sách nhằm xây dựng phương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức để thực hiện hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng
Hoạch định chính sách văn hóa phải dựa trên cơ sở mối tương quan giữa
ba thành phần chính cùng tham gia và chịu trách nhiệm trong việc xây dựng
và ban hành chính sách cụ thể, như: chủ thể quyết định chính sách là nhà lãnh đạo và quản lý; người thực hiện chính sách là người hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực văn hóa và người bị chính sách tác động là các tầng lớp nhân dân cũng như tiềm năng của lĩnh vực văn hóa Cơ chế thực hiện chính sách văn hóa yêu cầu thông tin hóa trong quản lý văn hóa bao gồm quá trình tiếp nhận thông tin, năng lực đánh giá, sử dụng thông tin và khả năng điều khiển thông tin; kế hoạch hóa trong quản lý nhà nước về văn hóa, xây dựng chiến lược phát triển văn hóa trong những thời kỳ khác nhau; xây dựng những chương trình văn hóa với những yêu cầu xác định mục tiêu chương trình văn hóa, chọn các hướng ưu tiên để đạt được mục tiêu, xác định nguồn lực cần huy động và có thể huy động được, xác định quy chế điều hành tối ưu đối với chương trình mục tiêu đó
1.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
và chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa
Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ chức bộ máy quản lý
Luật Di sản văn hóa và một số văn bản liên quan quy định chi tiết thi hành luật di sản văn hóa đã quy định việc tổ chức một bộ máy chịu trách nhiệm quản lý di sản văn hóa từ trung ương đến địa phương
Trang 27UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa trong phạm vi địa phương
UBND cấp huyện chịu trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa trong phạm vi địa phương, tổ chức ngăn chặn, bảo vệ, xử lý vi phạm;
đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xếp hạng và xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo quản, tu bổ và phát huy giá trị của di tích
UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức bảo vệ cấp thiết di sản văn hóa; tiếp nhận những khai báo về di sản văn hóa để chuyển lên cấp trên; phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời hành vi làm ảnh hưởng đến an toàn của di sản văn hóa; ngăn chặn và xử lý các hoạt động mê tín dị đoan theo thẩm quyền
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn
Di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch mục tiêu phát triển kinh tế đất nước Do vậy, cần có một đội ngũ cán bộ, công chức văn hóa có phẩm chất đạo đức, có năng lực trình độ chuyên môn, có độ am hiểu về hoạt động mang tính đặc thù của ngành văn hóa nói chung, di sản văn
Trang 2819
hóa, di tích lịch sử văn hóa nói riêng Tuy vậy, phần đông các địa phương vẫn coi việc quản lý di sản như một hoạt động hành chính đơn giản dẫn tới một bộ phận cán bộ còn yếu ở tư duy quản lý, trình độ năng lực thực tiễn và phương pháp công tác Trong khi đó, việc quản lý nhà nước về DTLSVH là một nội dung mang tính khoa học, đảm bảo tính chuyên môn cao; do vậy, nếu việc quản lý không cặn kẽ sẽ không bảo vệ, tôn tạo và phát huy được giá trị của di tích
Việc quản lý DTLSVH cần thực hiện theo hướng: chính quyền các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về DTLSVH, ngành văn hóa, thể thao
và du lịch quản lý chuyên môn và chịu trách nhiệm tham mưu UBND các cấp trong việc bảo tồn và phát huy tác dụng của DTLSVH Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là cần xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng về chuyên môn- nghiệp vụ Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về DTLSVH là việc làm cần thiết, quan trọng; tăng cường mở lớp bồi dưỡng và gửi đi bồi dưỡng các trung tâm, cơ sở ở trong và ngoài nước Đối với người làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về DTLSVH, ngoài kiến thức chuyên ngành, cần bồi dưỡng kiến thức về bảo tàng học, Luật Di sản văn hóa, các chính sách, chế độ của nhà nước đối với di tích, lý luận và kỹ thuật tu bổ, tôn tạo di tích đồng thời chuyên tâm nghiên cứu để lĩnh hội những kiến thức mà bạn bè trong và ngoài nước đã phát minh, đúc kết để áp dụng, thúc đẩy khoa học bảo tồn bảo tàng ở Việt Nam
1.2.4 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính, vật chất để bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
Nguồn lực là yếu tố cơ bản, quyết định khả năng thực hiện chương trình trùng tu, bảo tồn cho di tích
Năm 2005, Luật Ngân sách nhà nước được ban hành, là giai đoạn đổi mới chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước theo chủ trương phát triển
Trang 2920
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các đơn vị nhà nước phải hoạt động trên cơ sở tự chủ tài chính, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm và kết quả sản xuất kinh doanh của mình, thúc đẩy và sử dụng vốn tài sản nhà nước, đảm bảo nhiệm vụ quốc phòng an ninh về đối ngoại
Sự đổi mới chính sách và cơ chế quản lý nhà nước đã tạo những điều kiện và cơ hội cho các đơn vị nhà nước trong ngành văn hóa phát huy mọi khả năng để phát triển
Đầu tư cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa bao gồm các lĩnh vực sau đây:
Đầu tư cho hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý di sản;
Đầu tư cho hoạt động của các cơ quan nghiên cứu về di sản văn hóa dân tộc; bao gồm cả kinh phí đầu tư cho việc nghiên cứu, khảo sát, sưu tầm, thống
kê, kiểm kê di sản;
Đầu tư cho các hoạt động của các cơ quan bảo lưu, gìn giữ các giá trị văn hóa dân tộc như bảo tàng, thư viện;
Đầu tư cho các hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ phân phối, sử dụng và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc như: các đơn vị trình diễn nghệ thuật, các đơn vị kinh doanh du lịch, các hoạt động văn hóa cơ sở; Đầu tư cho lĩnh vực đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, bảo tồn di sản Đối với hệ thống di tích lịch sử văn hóa, có 02 nguồn lực chủ yếu tham gia tích cực vào quá trình bảo vệ, tu bổ, đó là: Kinh phí từ ngân sách Nhà nước và Kinh phí từ hoạt động xã hội hóa
Kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp: Hàng năm nhà nước dành một khoản kinh phí khá lớn cho mục tiêu chống xuống cấp, trong đó có các di tích
đã được nhà nước xếp hạng ở cấp đặc biệt quan trọng và di tích quốc gia Bên
Trang 301.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hoá
Nhà nước thể hiện vai trò điều tiết, điều chỉnh các vấn đề xã hội trong đó
có hoạt động di tích lịch sử văn hóa thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát Thông qua đó, phát huy những giá trị văn hóa, đồng thời phát hiện
và ngăn chặn những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong công tác quản lý văn hóa, góp phần lành mạnh hóa các hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động di tích lịch sử văn hóa nói riêng
Các hình thức thanh tra, kiểm tra
Kiểm tra, thanh tra định kỳ, thường xuyên;
Kiểm tra, thanh tra đột xuất;
Kiểm tra, thanh tra khi đơn thư tố cáo, phản ánh của người dân
Nội dung thanh tra, kiểm tra
Luật Di sản văn hóa quy định rõ nội dung, nhiệm vụ của Thanh tra nhà nước về văn hóa thực hiện chức năng chuyên nghành về di sản văn hóa như sau: Thanh tra việc chấp hành pháp luật về di sản văn hóa;
Thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa;
Trang 3122
Tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa; Kiến nghị các biện pháp để bảo đảm thi hành pháp luật về di sản văn hóa
Để hoạt động thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả, một mặt cần hoàn thiện và
bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật; mặt khác cần tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chức năng, các đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội liên quan Đồng thời kiện toàn và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ thanh tra của ngành và liên ngành từ trung ương đến cơ sở
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.3.1 Quan điểm, đường lối của Đảng
Đường lối quan điểm của Đảng về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích là yếu tố quyết định Với tầm nhìn minh triết của một vĩ nhân- danh nhân văn hóa kiệt suất, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh gồm 6 điều, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác cổ học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất cả
cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, và nghiêm cấm việc phá hủy đền, đình, chùa, điện, thành quách, lăng mộ
Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7//1998 “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Có thể nói bản sắc dân tộc là sức sống bên trong của dân tộc, là quá trình dân tộc thường xuyên
tự ý thức, tự khám phá, tự vượt qua chính bản thân mình, biết cạnh tranh, hợp tác để tồn tại và phát triển Với quan điểm như vậy, Đảng đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho từng thời kỳ Nhờ vậy mà sau gần 30 năm đổi mới, văn hóa Việt Nam đã có sự chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu Những giá trị và đặc sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em được kế thừa và phát triển, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng Một
Trang 3223
số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam từng bước hình thành Các tài năng văn hóa - nghệ thuật được khuyến khích Nhiều di sản văn hóa - cả vật thể và phi vật thể - được giữ gìn, tôn tạo Việc phân phối các sản phẩm văn hoá đã nhanh và đều khắp hơn Hệ thống các sản phẩm văn hoá góp phần trực tiếp vào sự phát triển, tăng trưởng của ngành du lịch, của nền kinh
tế quốc dân Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá thực sự khởi sắc, góp phần làm cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; văn hoá, con người và cuộc sống Việt Nam được bạn bè hiểu biết rõ hơn Dân trí được nâng lên, cùng với văn hoá phát triển đã góp phần khơi dậy tính chủ động sáng tạo của nhân dân và nâng cao tính đồng thuận xã hội, tạo ra bầu không khí dân chủ, niềm tin của nhân dân được nâng lên không ngừng
1.3.2 Thực trạng hệ thống di tích lịch sử văn hóa
Lịch sử và văn hóa của nước ta không chỉ được lưu lại trong sử sách mà còn hiện diện trên mọi miền đất nước bởi hàng vạn di tích lịch sử văn hóa Tính đến năm 2020, Việt Nam có hơn 41.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 4.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 9.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 10 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (chiếm 56% số di tích quốc gia và 46% tổng số di tích) Trong số di tích quốc gia có 112 di tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có
8 di sản thế giới [37]
Hệ thống di tích danh thắng ở nước ta có quy mô vừa và nhỏ, phân bổ tương đối tập trung (chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ) và thường gắn với các khu dân cư Hệ thống di tích mang trên mình dấu ấn cội nguồn, lịch sử dựng nước
và giữ nước, lối sống, tôn giáo tín ngưỡng, bản sắc và tâm hồn Việt Nam
Hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở nước ta đã trải qua các cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Chiến tranh đã tàn phá các di tích dẫn đến sự biến dạng
và nhiều di tích chỉ còn là phế tích, mất các hiện vật, các chứng cứ liên quan
Trang 3324
đến di tích Các hoạt động phục dựng di tích dựa vào chính nhân dân địa phương, những người cao niên- những người có thể hồi tưởng, truyền miệng
để làm cơ sở phục dựng lại những di tích lịch sử văn hóa
Ngoài ra, do nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội nên việc bảo tồn và gìn giữ di tích ở một số địa phương đã không được coi trọng đúng mức Cảnh quản môi trường truyền thống của một số di tích bị biến dạng một phần hay toàn bộ do các công trình xây dựng xung quanh di tích không phù hợp với quy hoạch truyền thống của khu di tích về màu sắc, hình dáng, kiến trúc Việc khai thác đá hay xây dựng những nhà máy nhiệt điện đã trực tiếp hoặc gián tiếp phá hủy cảnh quan môi trường di tích
Hiện tượng tu bổ, tôn tạo và xây dựng mới di tích một cách tùy tiện còn diễn ra ở một số địa phương Việc này xuất phát từ quan điểm thích cái mới, cái to lớn, hoành tráng mà không hiểu được những giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ và kiến trúc
Bên cạnh đó, đặc điểm nổi bật của hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở nước ta là rất đa dạng về mặt loại hình (đình, đền, chùa, lăng tẩm, thành quách, cung điện, nhà cổ, di tích cách mạng kháng chiến…) và về chất liệu (gạch, đá, gỗ, tre, nứa, lá…), trong đó, hầu hết là chất liệu hữu cơ, rất dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều do vậy mà các di tích dễ dàng bị phong hóa Đặc điểm này đòi hỏi trong công tác bảo tồn, trùng tu di tích cần đặc biệt lưu tâm
1.3.3 Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là một loại “tài nguyên” không thể tái tạo Do vậy, công tác quản lý di tích cần phải căn cơ, có trách nhiệm để không chỉ cho ngày hôm nay mà còn gìn giữ được loại “tài nguyên không thể tái tạo này” cho thế hệ mai sau Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn hiện tượng tu bổ, tôn tạo làm sai lệch giá trị di tích Nguyên nhân phần lớn ở năng lực của đội ngũ quản lý
Trang 3425
di tích, đã chưa nhận thực được giá trị đích thực của di tích, chưa tuân thủ một cách nghiêm túc Luật Di sản văn hóa về việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, Nghị định của Chính phủ quy đinh thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Những sai phạm này làm phương hại đến giá trị di tích, làm ảnh hưởng đến phát triển bền vững
Tính đặc thù của nguồn nhân lực tham gia hoạt động quản lý di tích lịch
sử văn hóa ở nước ta hiện nay là tính đa nguồn về các lĩnh vực mà người học
đã được đào tạo tại các trường đại học (bảo tàng, sử học, kiến trúc, xây dựng, khảo cổ học, vật lý, hóa học, mỹ thuật…) do vậy mà có cách nhìn nhận khác nhau khi tham gia công tác quản lý di tích Đây là điều cần phải lưu ý trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
1.3.4 Trình độ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Kinh tế đất nước phát triển, nhu cầu du lịch, tìm hiểu các giá trị văn hóa lịch sử của nhân dân thông qua thăm quan di tích tăng nhanh, tạo điều kiện nâng cao nguồn thu của di tích Di sản văn hóa chính là động lực cho sự phát triển kinh tế, tạo ra thu nhập và công việc bền vững cho cộng đồng Di sản văn hóa và du lịch có mối tương quan mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để cùng phát huy tiềm năng và giá trị
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện chính sách liên quan đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa; các thành phần kinh tế có điều kiện tham gia đầu tư và bảo tồn, khai thác
di tích mạnh hơn
Bên cạnh đó việc bảo tồn di sản văn hóa cũng chịu nhiều sự tác động của
cơ chế thị trường Khi nền kinh tế phát triển, người dân có thể đáp ứng mọi nhu cầu về hàng hóa có sẵn trên thị trường mà không cần mất thời gian và công sức lao động để làm ra các sản phẩm đó Điều này làm ảnh hưởng đến
Trang 3526
sự phát triển bền vững đối với di sản, đó là các nghề thủ công truyền thống Một thách thức nữa là việc giữ gìn, kế tục, sử dụng và truyền dạy văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ còn hạn chế, người trẻ ít tìm hiểu, kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Nguyên nhân là do sự phát triển của các loại hình nghe nhìn khác làm cho giới trẻ có nhiều mối quan tâm khác hơn
là tìm hiểu văn hóa truyền thống
1.3.5 Hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa giữa các nước
Với xu thế hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa giữa các nước, chúng ta
có cơ hội tranh thủ các nguồn vốn viện trợ, công nghệ hiện đại và trao đổi chuyên gia, kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Những người làm công tác quản lý di sản có thể học tập các phương thức bảo tồn di sản văn hóa một cách khoa học và hiện đại của các nước phát triển để vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của địa phương nhằm phát huy giá trị di sản một cách tốt nhất
Đồng thời, nhu cầu du lịch tìm hiểu các nền văn minh khác thông qua tham quan di tích cũng tăng nhanh đặt ra yêu cầu cần có chính sách hấp dẫn khách du lịch các nước tới tham quan di tích của Việt Nam, nâng cao hiệu quả khai thác di tích
Bằng cách tích cực và chủ động mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, chúng ta có nhiều cơ hội tiếp xúc rộng rãi hơn với văn hóa thế giới và chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời giới thiệu với thế giới những giá trị tốt đẹp, độc đáo của văn hóa Việt Nam Kết quả đem lại là hàng loạt các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của Việt Nam đã đến được với bạn
bè quốc tế, đem lại sự ngạc nhiên thán phục của thế giới về tính độc đáo, đặc trưng của văn hóa Việt Nam Hàng loạt các di sản văn hóa Việt Nam đã được ghi danh, xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); Quan họ (Bắc Ninh), Ca trù, Nhã nhạc cung đình Huế… và gần đây nhất là “thực hành tín ngưỡng Tam phủ”…
Trang 3627
Bên cạnh những thành quả to lớn mang lại về kinh tế, văn hóa, xã hội, quá trình hội nhập nhanh và rộng của Việt Nam trong hơn 30 năm qua cũng dẫn đến nhiều hệ lụy không chỉ cho văn hóa, xã hội mà cả kinh tế, môi trường
và con người ở Việt Nam Đó là sự hình thành ngành công nghiệp văn hóa, thị trường sản phẩm văn hóa mà chưa có mô hình quản lý thích hợp, theo kịp, gây ảnh hưởng không nhỏ tới thị hiếu thẩm mỹ Á Đông, nhất là sự khủng hoảng về đạo đức và lối sống
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ở một
số địa phương và bài học kinh nghiệm cho quận Ba Đình
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa ở một
số địa phương
Qua tìm hiểu các tài liệu và qua các báo, đài, em đã nghiên cứu một số kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại một số địa bàn có đặc điểm tương đồng với quận Ba Đình, cụ thể như sau:
Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Giống với Ba Đình, Hoàn Kiếm là quận nằm ở vị trí trung tâm của Kinh thành Thăng Long xưa và Thủ đô Hà Nội ngày nay Nơi đây là đầu mối giao lưu với “tứ trấn” và cũng là điểm hội tụ nhân tài bách nghệ khắp 4 phường mà tên các phố hôm nay còn ghi đậm dấu ấn, như: Hàng Đào, Hàng Trống, Hàng Bạc, Hàng Khay, Hàng Quạt, Hàng Da Theo báo cáo của Sở Văn hóa và Thể Thao năm 2016, quận Hoàn Kiếm có 66 di tích, trong đó nổi bật nhất phải kể đến di tích quốc gia đặc biệt: Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.Thời gian qua, chính quyền quận Hoàn Kiếm đã có nhiều nỗ lực trong quản lý di tích văn hóa trên địa bàn với nhiều hành động,
cụ thể:
Các chính sách và văn bản pháp luật về di tích văn hóa đã được cụ thể hóa, hướng dẫn triển khai thực hiện
Trang 3728
Về tổ chức thực hiện hoạt động quản lý di tích văn hóa Căn cứ vào thực
tế trong quá trình quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích theo phân cấp quản lý di tích của Thành phố trên địa bàn quận Hoàn Kiếm từ trước đến nay, UBND quận giao cho phòng Văn hóa và thông tin quận là đơn vị hướng dẫn và quản lý về mặt chuyên môn, việc quản lý di tích vẫn được giao cho UBND các phường quản lý trực tiếp; đối với Khu phố cổ, UBND quận đã Quyết định giao cho Ban Quản lý phố cổ Hà Nội trực tiếp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị lịch sử văn hóa 04 di tích: Đình Đồng Lạc - 38 Hàng Đào, Ngôi nhà di sản - 87 Mã Mây, Đền Quan Đề - 28 Hàng Buồm, Đình Kim Ngân - 42 Hàng Bạc Công tác tuyên truyền, phổ biến, các văn bản pháp luật
có liên quan đến công tác quản lý, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích di tích trên địa bàn quận đã được xây dựng chương trình theo các nhiệm kỳ, quán triệt nội dung chương trình đến đội ngũ cán bộ chủ chốt quận và cơ sở Đảng trực thuộc; thành lập Ban chỉ đạo chương trình do đồng chí Phó bí thư Thường trực Quận ủy làm Trưởng ban, đồng chí Phó chủ tịch UBND Thường trực Quận phụ trách văn hóa xã hội làm phó ban; thành viên là các đồng chí Quận ủy viên, trưởng các phòng, ban, đơn vị thuộc lĩnh vực văn hóa, Phòng Văn hóa và thông tin quận được giao là cơ quan thường trực
Về công tác thanh tra, kiểm tra: Hàng năm đều duy trì thường xuyên kiểm tra công tác tổ chức thực hiện tại một số đơn vị, tập trung chủ yếu là các phòng, ban chuyên môn, các phường, đánh giá cụ thể công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, tiến độ hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ, qua đó rút kinh nghiệm tiếp tục chỉ đạo trong thời gian tiếp theo Đồng thời bổ sung các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án về công tác quản lý
di tích Đã tổ chức sơ kết việc thực hiện các chương trình, đề án theo tiến độ
để ra, biểu dương các đơn vị cơ sở làm tốt, nghiêm túc kiểm điểm những nguyên nhân tồn tại, hạn chế, yếu kém để kịp thời khắc phục, đổi mới phương
Trang 3829
pháp lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu theo Nghị quyết đã đề ra Qua đó phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn Quận Công tác kiểm tra hoạt động tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích được thường xuyên coi trọng và duy trì tốt công tác kiểm tra chống vi phạm, bảo vệ di tích trên địa bàn theo phân cấp quản lý và Luật Di sản văn hóa, Luật Xây dựng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Chủ động hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các công trình bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích theo quy định của Nhà nước tại cơ sở
Huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Thủy Nguyên là một huyện ngoại thành thuộc thành phố Hải Phòng Địa hình Thủy Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía tây bắc xuống đông nam, vừa có núi đất, núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc Đây chính
là những điều kiện tự nhiên thuận lợi để huyện Thủy Nguyên phát triển một nền kinh tế đa dạng về ngành nghề bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản và du lịch Huyện Thủy Nguyên có khá nhiều
di tích lịch sử văn hóa nổi bật như: Quần thể di tích danh thắng Tràng Kênh, Bãi Cọc Cao Quỳ tại xã Liên Khê (được phát hiện năm 2019), di tích Bạch Đằng Giang Trong những năm qua, công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thủy Nguyên đã đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể: Huyện đã thực hiện công tác quản lý tại các di tích với tiêu chí “3 không” (không hàng quán, không thu phí dịch vụ và không rác thải) Qua đó, tạo sự thoải mái và hài lòng khi du khách đến tham quan, du lịch
Huyện đã triển khai một số điểm tham quan lịch sử tích hợp trải nghiệm đối với các bạn trẻ, các học sinh, sinh viên Các trường học trong và ngoài thành phố
có thể đưa học sinh đến tham quan, sinh hoạt ngoại khóa, tìm hiểu lịch sử dân
Trang 3930
tộc Đây là phương pháp giáo dục lịch sử kết hợp giữa lý thuyết và thực tế, thu hút các thầy, cô giáo, các phụ huynh và học sinh nhiệt tình tham gia
Về bộ máy cơ cấu tổ chức quản lý: huyện đã phân cấp quản lý đến cấp
xã, phường Xây dựng được cơ chế phối hợp giữa các đơn vị trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
Vai trò của cộng đồng: các BQL di tích đều có thành phần đại diện của cộng đồng tham dự Di tích do cộng đồng sáng tạo ra, tồn tại cùng cộng đồng nên việc để cộng đồng quản lý là phương thức hợp lý và đem lại hiệu quả cao Cộng đồng đóng góp kinh phí để tu bổ, tôn tạo các di tích, phục hồi các lễ hội hoặc các nghi lễ diễn ra tại di tích Thể hiện vai trò giám sát các hoạt động bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa Những việc làm sai lệch, vi phạm di tích được phát hiện và phản hồi đến chính quyền địa phương
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho quận Ba Đình
Qua những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa các địa phương trên, quận Ba Đình đã có thêm nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đó là:
Các chính sách và văn bản pháp luật về di tích lịch sử văn hóa cần được
cụ thể hóa, hướng dẫn triển khai thực hiện;
Phân cấp quản lý di tích cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương sẽ mang lại hiệu quả tích cực;
Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động di tích lịch sử văn hóa cần được thực hiện thường xuyên;
Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền đồng thời cần chú ý tới thế hệ trẻ, định hướng để cho thế hệ trẻ có sự nhìn nhận đúng về truyền thống văn hóa của dân tộc
Trang 4031
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về
di tích lịch sử văn hóa Chương gồm 4 nội dung chính, đó là: Một số khái niệm liên quan tới đề tài luận văn; Nội dung quản lý của nhà nước về di tích lịch sử văn hóa; Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa và kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Phần đầu chương đưa ra các khái niệm, thuật ngữ về di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa và quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa; đồng thời nêu các nội dung chính của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa, đó là: Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế; Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách; Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di tích lịch sử văn hóa; Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và vật chất cho hoạt động di tích lịch sử văn hóa; Thanh tra, kiểm tra, hoạt động về di tích lịch sử văn hóa
Qua việc nghiên cứu kỹ nội dung của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa, tác giả đã nêu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước
về di tích lịch sử văn hóa, bên cạnh đó nêu mô hình quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên một số địa bàn, và đưa ra các bài học kinh nghiệm đối với quận Ba Đình